mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7174
mod_vvisit_counterHôm Qua10683
mod_vvisit_counterTuần Này33102
mod_vvisit_counterTuần Trước57668
mod_vvisit_counterTháng Này98989
mod_vvisit_counterTháng Trước249539
mod_vvisit_counterTất cả15179447

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 154 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Hỏi :
1- xin cha cho biết vì sao trong quá khứ Tòa Thánh lại ở Avignon, Nước Pháp?
2- Cuộc ly giáo Tây Phương xảy ra trong Giáo Hội vì nguyên do nào ?
Trả lời :
1- Trong lịch sử Giáo Hội, đây là thời kỳ duy nhất Tòa Thánh La Mã phải "di cư" sang Pháp, đóng tại thành phố Avignon trong một thời gian khá lâu dài là 68 năm, kể từ năm 1309 đến năm 1377 . Các sử gia đã gọi thời kỳ này là " cuộc lưu đầy Babilone của Ngôi vị Giáo Hoàng (The Babilonian captivity of the papacy) .
Nguyên nhân của " cuộc lưu đầy" này có thể được tóm tắt như sau :
Thời kỳ cuối thế kỷ cuối 12 và trong thế kỷ 13 , các phe phái chính trị và tôn giáo ở Ý và Pháp muốn tranh dành ảnh hưởng đối với Giáo Hội Công Giáo La Mã, nên đã là nguyên nhân chính khiến Ngai Tòa Phêrô bị di chuyển từ Rôma sang Avignon, Pháp, từ năm 1309 dưới triều Đức Giáo Hoàng Clement V ( người Pháp ) ( 1305- 1316).
Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên năm 1309 với hy vọng làm dịu bớt căng thẳng giữa các phe người Pháp và Ý đang muốn dành ảnh hưởng đối với Giáo Hôi sau những năm sóng gió dưới triều Đức Giáo Hoàng Boniface VIII ( 1294- 1303).
Vì là người Pháp, nên Đức Clement V đã mang Tòa Thánh từ Rome về Avignon, một thành phố phía nam nước Pháp, năm 1309 để tránh phải đương đầu với gia đình Colonna, đầy quyền lực ở Ý , đang muốn nắm quyền cai trị về mọi phương diện chính trị, xã hội và tôn giáo ở Rôma thời đó. Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên ngôi Giáo Hoàng năm 1309 như một nhượng bộ nhằm hòa giải giữa hai phe người Ý và Pháp đang có ảnh hưởng lớn trong Giáo Hội Công Giáo Tây phương lúc bấy giờ, nhưng đã không đạt được mục đích mong muốn .Vì thế, Đức Giáo Hoàng Clement V đã mang Tòa Thánh về Avignon để tránh áp lực của các thế lực người Ý đang muốn dành quyền chi phối Giáo Hội trong gian đoạn khó khăn đó.
Tuy nhiên, khi cư trú trên đất Pháp, thì 7 Giáo Hoàng kế tiếp nhau lên ngôi ở đây cũng không tránh được bị chi phối và ảnh hưởng cúa các nhà vua trị vì Nước Pháp trong suốt thời kỳ đó. Dầu vậy, truyền thống Tông Đồ ( Apostolic succession) vẫn được tôn trọng trong việc chọn Giáo Hoàng cũng như sứ vụ tông đồ vẫn được tiếp tục theo truyền thống trong việc cai quản Giáo Hội, mặc dù có bị thế quyền Pháp chi phối phần nào do việc Giáo Hội nằm trên lãnh thổ của Nước Pháp trong suốt 68 năm, với 7 Giáo Hoàng được bầu lên cách hợp pháp và có tên sau đây :
1- Clement V ( 1305-1316)
2- Joan XXII ( 1316-1334)
3- Benedict XII ( 1334-1342)
4- Clement VI ( 1342-1352
5- Innocent VI ( 1352-1362)
6- Urban V ( 1362-1370)
7- Gregory XI ( 1370- 1378)
Đức Gregory XI là Giáo Hoàng cuối cùng tại Avigon, đã quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma năm 1377, do công khởi thủy của Đức Giáo Hoàng Urban V ( 1362- 13700) và đặc biệt thể theo lời khẩn khoản nài van của nữ tu bí nhiệm Dòng ĐaMinh ( Mystic Dominican Sister) mà sau này đã trở thành Thánh Nữ Catherine thành Sienna.
Nhưng dù Tòa Thánh được mang trở lại Rôma với Đức Giáo Hoàng Gregory XI , Giáo Hội vẫn chưa an vị được ở Rôma, mà còn xảy ra cuộc ly giáo Tây phương ( Western Schism) giữa những người cùng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã về phía Tây phương vì lý do sau đây:
2- Ly Giáo Tây Phương( Western Schism)
Từ ngữ ly giáo ( schism) xuất phát từ nguyên ngữ Hy lạp " schisma" có nghĩa là xé rách ra ( tear).Do đó, từ ngữ này được dùng để chỉ một tình trạng hay sự kiện rạn nứt trong sự hiệp nhất của Giáo Hội ( Unity in the Church) .Nhưng khác với tà giáo hay lạc giáo ( heresy) và bội giáo ( Apostacy) , ly giáo ( schism)không nhằm chối bỏ một chân lý nào của Kitô Giáo, hay đặt lại vấn đề về một tín lý nào,( dogma) mà chỉ là gương xấu đưa đến hậu quả làm mất sự hiệp thông ( communion) và hiệp nhất ( unity ) trong Giáo Hội do một vài phe nhóm chủ xướng mà thôi.
Cụ thể, quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma của Đức Giáo Hoàng Gregory XI đã bị các Hồng Y và thế quyền Pháp chống đối, nên sau khi Đức Gregory XI qua đời ngày 27 tháng 3 năm 1378, Đức Urban VI được bầu lên kế vị ở Rôma , thì các Hồng Y người Pháp ở Avignon lại bầu một ngụy Giáo Hoàng (antipope) lên ngôi và lấy danh hiệu là Clement VII để tranh ngôi Giáo Hoàng với Đức Urban VI ở Rôma . Và đây là nguyên nhân gây ra cuộc ly giáo Tây Phương trong Giáo Hội, kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417 với hai Giáo Hoàng tại chức , một ở Avignon và một ở Roma; và sau này có thêm một Giáo Hoàng nữa do Công Đồng Pisa bầu lên, như sẽ nói dưới đây.
Cuộc ly giáo trên đã xẩy ra vì có hai phe tranh giành ngôi vị Giáo Hoàng trong thời gian sóng gió đó. Trước hết phe các nước nói tiếng Latinh và Pháp ủng hộ Giáo Hoàng Clement VII ở Avignon , đối đầu với phe người Đức và Anh ủng hộ Giáo Hoàng Urban VI ở Rome..
Giáo Hoàng Clement VII mất năm 1394 và người kế vị được bầu lên thay là Benedict XIII, tiếp tục cai trị ở Avignon. Ở bên kia, Giáo Hoàng Urban VI cũng mất năm 1397, và người kế vị được bầu lên là Gregory XII, người Roman. Như vậy trong thời kỳ này có hai giáo hoàng cùng tranh ngôi , một ở Pháp và một ở Rôma
Để giải quyết tình trạng này, các Hồng y và nghị phụ đã họp Công đồng tại Písa ngày 29-3-1409 và bầu Giáo Hoàng mới lấy danh hiệu là Alexander V, nhưng ngài chưa kịp về Roma nhậm chức thì đã mất ở Bologna ngày 3-5-1410, và người kế vị được bầu lên ngày 17-5-1411 đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Nhưng tân Giáo Hoàng tỏ ra là người không có đủ tài đức và khả năng lãnh đạo Giáo Hội, lại được bầu lên nhờ áp lực và tham vọng cá nhân, nên bị coi là nguy giáo hoàng ( antipope), và buộc phải thoái vị.
Như vậy, Giáo Hội một lúc có tới ba Giáo Hoàng cùng tranh giành Ngôi Tòa Phê rô: Đó là Gioan XXIII do Công Đồng Pisa bầu lên ngôi ngày 17-5-1411, trong lúc có hai Giáo Hoàng nữa đang tại chức là Benedict XIII ở Avignon và Gregory XII ở Rome như đã nói ở trên.
Vì thế, để giải quyết tình trạng bế tắc và gây tai tiếng trên đây , theo sáng kiến của Hoàng Đế Rôma là Sigismund of Luxembourg, Công Đồng Constance được triệu tập ngày 1-11-1417 như một cố gắng cuối cùng để giải quyết tình trạng ly giáo do việc ba Giáo Hoàng trên cùng tranh nhau quyền cai trị Giáo Hội. Kết quả, Công Đồng đã thuyết phục được Giáo Hoàng Gregory XII từ chức, hạ bệ ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII, và truất phế vắng mặt Giáo Hoàng Benedict XIII ở Avignon.( ông này đã bỏ chậy trốn khi biết không còn hy vọng ở yên trên ngôi vị Giáo Hoàng được nữa)
Sau đó, ngày 11-11-1417 Công Đồng Constance đã bầu được Giáo Hoàng mới là Oddo Colonna , một nghị phụ tham dự Công Đồng, lên ngôi với danh hiệu Martin V để chấm dứt cuộc ly giáo Tây Phương kéo dài từ năm 1378 đến năm 1417.
Martin V là một thường dân ( layman) trí thức, đạo đức nhưng không có chức chức linh mục và giám mục. Nên sau khi được bầu lên, ngài đã được truyền chức linh mục và giám mục trước khi đăng quang Giáo Hoàng với danh hiệu Marin V.
Như thế , Công Đồng Constance đã đạt được thành quả lớn : đó là chấm dứt cuộc ly giáo Tây phương kéo dài từ năm 1378 đến 1417. Cuộc ly giáo này xảy ra chỉ vì các phe nhóm có thế lực ở Âu Châu, cụ thể là Pháp và Ý, đã tranh dành ảnh hưởng để dành địa vị Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã. Có thể nói tắt một điều : đây là hậu quả của thời kỳ thế quyền và thần quyền lẫn lộn tranh giành quyền cai trị Giáo Hội nên đã gây ra cuộc ly giáo đáng tiếc nói trên.
Có một chi tiết đáng chú ý trong giai đoạn ly giáo này là sự kiện Giáo Hoàng Gioan XXIII , lên ngôi năm 1410, bị coi là ngụy giáo hoàng ( antipope) vì không được bầu lên cách hợp pháp , lại thêm kém tài đức và nhân cách.Vì thế, sau này, khi Đức Hông Y Roncali được bầu Giáo Hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, để kế vị Đức Thánh Cha Piô XII qua đời ngày 9-10-1958, ngài đã lấy lại danh hiệu Gioan XXIII để cai trị Giáo Hội cho đến ngày qua đời. ( 3-6-1963)
Trên đây là đại cương nguyên nhân và diễn tiến cuộc ly giáo Tây Phương, một vết thương trong thân thể của Giáo, mặc dù chỉ kéo dài trong 38 năm., trong khi một vết thương khác lớn hơn và kéo dài hơn nữa cho đến nay : đó là cuộc ly giáo Đông Phương ( Eastern Schism) xảy ra giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống Constantinople ( Hy Lạp) bắt đầu từ năm 1054 cho đến nay. Và chưa biết đến bao giờ mới có thể chấm dứt vĩnh viễn để Giáo Hội của Chúa Kitô được hiệp thông và hiệp nhất trong cùng một sứ mệnh tuyên xưng đức tin Kitô Giáo và phúc âm hóa thế giới, để mang ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với hết mọi người trên toàn thế giới, không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa, cho đến ngày mãn thời gian.
Vấn đề này xin được nói trong một dịp khác.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho sự hợp nhất của Giáo Hội sớm được thực hiện qua cố lực đại kết ( ecumenism) mà cả hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Đông Phương đều đã có thiện chí theo đuổi trong mấy thập niên qua.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 153 = CO HOA NGUC KHONG? PDF Print E-mail

CÓ HỎA NGỤC KHÔNG, VÀ Ở ĐÂU ?
Trong niềm tin Kitô Giáo, căn cứ vào Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội thì chắc chắn phải có nơi gọi là hỏa ngục ( Hell) đối nghịch với nơi gọi là Thiên Đàng.
Nếu Thiên Đàng là nơi dành cho những ai , khi sống trên trần gian này, đã quyết tâm đi tìm Chúa và sống theo đường lối của Người, để xa lãnh mọi sự dữ, sự tội và bước đi theo Chúa Kitô, là : "Con đường là Sự thật và sự Sống" ( Ga 14: 6) thì hỏa ngục phải là nơi dành cho những kẻ đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa để sống theo ý muốn của mình , và buông mình theo những quyến rũ của ma quỉ và thế gian để làm những sự dữ như giết người, cướp của , và dâm ô thác loạn mà không hề biết ăn năn sám hối và từ bỏ nếp sống tội lỗi.
I-Thánh Kinh đã cho ta biết về nơi gọi là hỏa ngục như sau :
" Khi ra vê, mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta,vi giòi bọ rúc tỉa, chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi. Chúng sẽ là đồ ghê tởm cho mọi người phàm." ( Ís 60:24)
Khi đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nói đến hỏa ngục và hình phạt ở nơi này như sau:
" Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã, thì móc nó đi; thà chột một mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, nơi giòi bọ không hề chết, lửa không hề tắt." ( Mc 9: 47-48)
Nơi khác, Chúa còn nói rõ hơn nữa :
" anh em đừng sợ những kẻ giết chết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn , anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục
( Mt 10: 28; Lc 11: 4-5)
II- Giáo lý của Giáo Hội về Hỏa ngục
Giáo lý của Giáo Hội nói rõ hỏa ngục là " nơi này dành cho những ai- cho đến lúc chết- vẫn từ chối tin và trở lại. Đó là nơi cả hồn lẫn xác sẽ bị hư mất . Và danh từ " hỏa ngục " được dùng để chỉ tình trạng ly khai chung cuộc khỏi mọi hiệp thông với Thiên Chúa và các Thánh ở trên Trời", ( x. SGLGHCG số 633, 1033).
Vì thế, Giáo Hội luôn cảnh giác các tin hữu về thảm họa đáng sợ này để mong mọi người ý thức rõ và quyết tâm sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này hầu tránh hậu quả phải hư mất đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục. Cụ thể , giáo lý của Giáo Hội nói rõ thêm như sau:
" linh hồn của những người chết trong tình trạng đang có tội trọng, sẽ lập tức xuống hỏa ngục, lửa vĩnh viễn." ( x. SGLGHCG số 1035)
III- Hỏa ngục đang có ở đâu ngay trên trần gian này ?
Nhìn vào thực trạng sống của con người ở khắp nơi trong thế giới vô luân tục hóa ngày nay, chúng ta có thể thấy rõ hỏa ngục đang có mặt ở những nơi sau đây:
1- Buôn người, Mãi dâm và ấu dâm (prostitution & child prostitution):
Mãi dâm thì đã có từ khi có con người trên trần thế này.Nhưng buôn bán phụ nữ cho nô lê tình dục ( sexual slavery) và ấu dâm ( child prostitution) thì mới có trong thời đại vô luân tục hóa ngày nay mà thôi.
Thật vậy, ở khắp nơi đang có những kẻ đi tìm thú vui xác thit nơi các trẻ em còn thơ dại và nơi những phụ nữ bị lừa dối ,dụ dỗ cho đi làm có lương , nhưng thực tế là để làm nô lệ tình dục do bọn ma cô và tú bà khai thác để làm tiền trên thân sác và tinh thần đau khổ của các nạn nhân. . Đây là tội ác vô cùng khốn nạn đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở Hoa Kỳ. Và Việt Nam, là một trong những nguồn cung cấp trẻ em và phụ nữ cho hoạt động đầy tội ác này.
Điều buồn hơn nữa là có những cha mẹ đã mất hết lương tri, và bản chất con người ( human nature) nên đã lạm dụng tình dục với chính con cái của mình. Tệ hại hơn nữa là có những người cha đã hiếp dâm con gái của mình mới 4-5-5-7 tuổi rồi bán chúng cho bọn buôn người đem đi bán lại cho bọn ma cô, tú bà đang hành nghề "ấu dâm" ở trong và ngoài nước; theo như tin cho biết của một linh mục đang dấn thân lo cứu giúp các trẻ em nạn nhân này.
Như thế, tất cả cha mẹ liên hệ, bọn ma cô buôn người và các kẻ đi tìm thú vui vô cùng khốn nạn và tội lỗi trên, đều đang sống trong hỏa ngục do chính chúng tạo ra ngay ở trên trần gian này, chứ không cần phải đợi đến chết mới được xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt đời đời. Tội lỗi của bọn này thật ghê sợ vì không những chúng tạo hỏa ngục cho chúng, mà còn mang hỏa ngục đó đến cho các nạn nhân đáng thương, là những trẻ thơ còn trong trắng, nhưng đã bất hạnh sa vào cạm bẫy tội lỗi của chúng, khiến thể xác bị thương tật và tinh thần bị trấn thương nặng . Đây là tội ác chỉ có trong thời đại vô luân vô đạo hiên nay mà thôi. Và những kẻ đang làm sự dữ này đã phỉ nhổ vào mọi niềm tin có Thượng Đế, có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, đầy yêu thương, nhưng chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ.
Cho nên, chúng xứng đáng để nghe lời chúc dữ sau đây của Chúa Giêsu :
" Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Những khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này vấp ngã." ( Lc 17: 1-2)
Thánh Phaolô cũng lên án tội dâm ô và các tội khác như sau :
" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ : đó là dâm bôn ô uế, phóng đãng ...và những điều khác giống như vậy. Tôi báo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa." ( Gl 5: 19-21)
Những sự dữ mà bọn người nói trên đang làm là một tội vô cùng lớn lao, vì nó đi ngược lại hoàn toàn với bản chất thánh thiện , trọn tốt trọn lành của Thiên Chúa, và chỉ thích hợp với bản chất của ma quỷ, tức bè lũ Sa tăng, kẻ thù của Thiên Chúa, của các Thánh, các Thiên Thần trên Trời mà thôi.
Thực tế đã cho biết là các đường dây buôn người, buôn bán phụ nữ và trẻ em đang hoạt động mạnh ở trong và ngoài nước để cung cấp thú vui vô luân vô đạo cho bọn người đang bán linh hồn cho ma quỉ và giữ chỗ trước trong hỏa ngục đời sau.
Tại sao lại có những cha mẹ đem bán con cái ( con gái) của mình cho bọn buôn người nói trên ???. Thật là điều đau buồn mà những ai còn chút lương tri phải rùng mình ghê sợ và lên án, vì đây là thảm trạng chưa từng thấy trong xã hội loài người từ xưa đên nay.Chỉ có loài thú vật mới không biết gì là liêm sỉ, vì không có lý trí và lương tâm nên chúng có thể ăn thịt nhau và làm tình lẫn lộn với nhau mà không hề biết xấu hổ.
Nhưng là con người , và là cha mẹ mà đem bán cái cái cho bọn buôn người , nhất là lại hãm hiếp con gái trước khi bán chúng cho bọn bất lương, thì quả thật là điều ghê tởm không thể tưởng tượng được, như đang xẩy ra trong hoàn cảnh của một xã hội phi luân, vô đạo hiện nay.Những cha mẹ này cùng với bọn ma cô, tú bà và những kẻ đi tìm thú vui vô cùng khốn nạn kia quả thực đang sống trong hỏa ngục trần gian do chúng tạo ra cho chúng và nhẫn tâm xô đẩy biết bao trẻ em thơ dại,và phụ nữ bị lường gạt vào cái hỏa ngục của bọn chúng. Do đó, những vui thú mà bọn người man rợ kia đi tìm - tức khách mua vui đủ mọi lớp tuổi, cùng với tiền bạc mà bọn buôn người , bọn ma cô tú bà kiếm được nhờ hoạt động tội lỗi này, đã giúp cho bọn chúng có dư điều kiện để mua lò hỏa ngục tối tân cho chúng được thiêu đốt đời đời mai sau.Chắc chắn như vậy
Nhưng tại sao lại có loại hỏa ngục này ?
Phải chăng vì môi trường xã hội đã quá hư thối không còn chất luân lý, đạo đức nào như thực trạng bên nhà , hoặc vì tự do quá trớn và luật pháp có nhiều khe hở như ở Hoa kỳ này, đã làm phát sinh những thảm họa như nạn buôn người- hay nói đúng hơn, là buôn phụ nữ và trẻ em bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ở rất nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Á Châu, như Trung cộng, Ấn Độ, Cambốt Thai Lan, Lào, Sri Lanka, Phi luật Tân, Mã lai và Việt Nam ?
Theo thống kê không chính thức thì có khoảng 31 triệu nạn nhân của nạn buôn người ( human traffickers ) buôn bán trẻ em cho kỹ nghệ nô lệ tình dục, mãi dâm và ấu dâm trên khắp thế giới hiện nay ! Đây là hỏa ngục mà bọn bất lương kia đang tạo ra cho các nạn nhân đáng thương của chúng, đặc biệt là cho các trẻ em dưới tuổi thành niên.Tạo hỏa ngục cho các nạn nhân đó là giữ chỗ trước cách chắc chắn cho bọn chúng được vào hỏa ngục để bị thiêu đốt sau này .
2-Nạn bất công, bóc lột và hà hiếp người thấp cổ bé miệng:
Thiên Chúa là sự công bằng, chính trực tuyết đối, nên ai bất công, bóc lột sức lao động và tiền bạc của người khác là xúc pham đến sự công bằng của Chúa.
Thật vậy, chỉ vì có những kẻ muốn vơ vét của cải cho đầy túi tham mà nạn bóc lột xảy ra trong chế độ cai trị hà khắc, bất công, vô nhân đạo và bạo tàn. Đây là thứ hỏa ngục khác đang tồn tại ở những nơi có bất công xã hội, vắng bóng luân lý và đạo đức, vì người cai trị cố bám lầy quyền bính để kéo dài sự đau khổ và bất công cho người dân không may rơi vào ách thống trị của tập đoàn trộm cướ p, núp dưới danh nghĩa cai trị dân, nhưng thực chất chỉ để thỏa mãn tham vọng quyền lực và vơ vét của cải , làm giầu cho bọn chúng trên xương máu của người dân xấu số. Chúng không có lương tri nên không hề quan tâm gì đến phúc lợi của người dân, cách riêng của người nghèo đói, nạn nhân của chế độ bóc lột và bất công như thực trạng đang phơi bày ở nơi có hỏa ngục này.
3- khủng bố vì cuồng tin tôn giáo và tham vọng chính trị:
Thế giới đang sống trong đe dọa của khủng bố ( terrorism), vì bọn cuồng tín tôn giáo muốn độc tôn giáo phái của mình, nên tìm mọi cách để triệt hạ tôn giáo khác bằng hành động khủng bố, bắt cóc, giết người và đốt phá cơ sở thờ phượng của các tôn giáo khác. Đây là tai họa đang xảy ra cho các Kitô hữu ( Christians) thuộc các Giáo hội Công Giáo Đông Phương, Chính Thống giáo và Tin Lành ở các nước Iraq, Iran, Ai Cập, Syria ,Lybia , Sudan...mà cộng đồng thế giới , đặc biệt là Mỹ và Âu Châu, đang làm ngơ khiến cho các Kitô hữu thiểu số ở các nước có đông Hồi giáo nói trên phải khốn khổ vì bị bách hại bởi những kẻ cuồng tín muốn tiêu diệt KitôGiao( Christianity) để độc quyền thống trị cả về tôn giáo lẫn chính trị. Đây là hỏa ngục mà bọn cuồng tín kia đang gây ra cho những người mà chúng coi là kẻ thù phải thanh toán, để chúng được độc tôn truyền bá tôn giáo và tham vọng chính trị của chúng .Đây là hỏa ngục do chúng tạo ra cho người khác , vì không một Thượng Đế nào-mà những kẻ cuồng tín kia muốn nhân danh-, lại có thể chấp nhận được chủ trương bạo động để tiêu diệt các tôn giáo khác, như bọn chúng đang làm và gây đau khổ cho biết bao nạn nhân từ mấy năm nay.
Sau hết, những kẻ đang cai trị độc ác , cha truyền con nối ở một số nơi trên thế giới, cũng tạo hỏa ngục cho chính người dân chẳng may sống dưới ách cai trị độc đoán và bất lương của chúng. Bọn cai trị độc ác này cũng đang mua trước cho chúng một chỗ an nghỉ đời đời trong chốn hỏa ngục , nếu chúng không biết ăn năn sám hối kịp thời để từ bỏ con đường gian ác.
Tóm lại, trong thế giới tục hóa, vô luân ngày nay, con người đã tạo hỏa ngục ở nhiều nơi cho chính mình và cho người khác, chẳng may sa vào vòng tay tội lỗi của họ. Dù họ có niềm tin hay không, nhưng cách sống của họ chắc chắn đã vô tình nói lên khát vọng muốn được thiêu đốt đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục. Và chắc chắn phải có nơi này, vì tội ác của những kẻ đang làm những sự dữ nói trên sẽ dẫn đưa chúng cuối cùng phải dừng chân ở chốn này, để được thiêu đốt cho xứng với những sự dữ mà chúng đang làm, đang tạo hỏa ngục cho người khác - đặc biệt là cho các trẻ em nạn nhân của thú "ấu dâm"vô cùng khốn nạn, cũng như cho các nạn nhân của bọn cuồng tín tôn giáo và độc tài chính trị.
Chúng ta cùng tha thiết cầu nguyện để xin Chúa sớm phá tan những sự dữ nói trên, hầu cho con người ở khắp nơi được sống trong lành mạnh, an bình, tự do và nhân ái để phát huy mọi giá trị tinh thần và đạo đức, xứng đáng với nhân phẩm và phù hợp với niềm tin có Thiên Chúa hayThượng Đế, là Đấng tối cao chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ do ma quỷ xúi dục và con ngưởi mất lương tri đang tích cực cộng tác ở khắp nơi trên thế giới phi nhân và phi luân này.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 152 = PHU NU TOI LOI PDF Print E-mail

Người phụ nữ tội lỗi là ai? - TRẦM THIÊN THU
Jul 21 at 1:02 PM

Người phụ nữ tội lỗi là ai?

Hằng năm, vào ngày 22 tháng Bảy, Giáo hội Công giáo kính nhớ Thánh nữ Maria Mácđala (Kitô hữu Việt Nam quen gọi là Thánh Maria Mađalêna hoặc Mađalêna), người phụ nữ được Chúa Giêsu trừ bảy quỷ. Sau đó, bà theo Chúa Giêsu đi khắp nơi, và bà là một trong các phụ nữ can đảm đứng dưới chân Thập giá.

Xưa nay, khi nói tới Thánh nữ Maria Mácđala, người ta thường nghĩ ngay về một phụ nữ tội lỗi và sám hối, một thời đàng điếm, trác táng, là gái hạng sang nên nổi danh cả một vùng lớn: Maria ở TP Mácđala, gọi tắt là Maria Mácđala – kiểu nói giống như nghệ sĩ Út (ở) Trà Ôn, nghệ sĩ Bà Năm (ở) Sa Đéc, anh Năm (ở) Saigon, chị Ba (ở) Cần Thơ,...

Xưa nay, người ta thường cho rằng người phụ nữ đã xức dầu thơm chân Chúa Giêsu, rồi khóc rơi nước mắt ướt chân Ngài và lấy tóc mình mà lau chân Ngài, không ai khác là chính Thánh nữ Maria Mácđala. Thật là "nỗi oan Thị Kính" đối với thánh nữ quá chừng! Chúng ta cùng đọc lại Kinh Thánh để xem "người phụ nữ tội lỗi" kia là ai, vô danh hay hữu danh?

Về việc Đức Giêsu được xức dầu thơm tại Bêtania, có ba thánh sử kể lại.

1. Thánh sử Mátthêu (Mt 26:6-13) cho biết: Đức Giêsu đang ở làng Bêtania, tại nhà ông Simon Cùi, có một người phụ nữ đến gần Người, mang theo một bình bạch ngọc đựng một thứ dầu thơm đắt giá. Cô đổ dầu thơm trên đầu Người, lúc Người đang dùng bữa. Thấy vậy, các môn đệ lấy làm bực tức nói: "Sao lại phí của như thế? Dầu đó có thể bán được nhiều tiền mà cho người nghèo". Biết thế, Đức Giêsu bảo các ông: "Sao lại muốn gây chuyện với người phụ nữ này? Quả thật, cô ấy vừa làm cho Thầy một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em; còn Thầy thì không phải lúc nào anh em cũng có đâu! Cô ấy đổ dầu thơm trên mình Thầy là hướng về ngày mai táng Thầy. Thầy bảo thật anh em: Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô".

Thánh sử Mátthêu tường thuật các chi tiết khá rõ ràng về "sự việc" xảy ra hôm đó: Chúa Giêsu đã thẳng thắn trách người ta dám vô cớ "gây chuyện" với người-phụ-nữ-tội-lỗi này, đặc biệt là người ta "kể lại việc cô làm mà nhớ tới cô" mỗi khi nói về Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.

2. Thánh sử Máccô (Mc 14:3-9) cho biết: Lúc đó, Đức Giêsu đang ở làng Bêtania, tại nhà ông Simon Cùi. Giữa lúc Người dùng bữa, có một người phụ nữ đến, mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Có vài người lấy làm bực tức, nói với nhau: "Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo". Rồi họ gắt gỏng với cô. Nhưng Đức Giêsu bảo họ: "Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô".

Thánh sử Máccô tường thuật các chi tiết rõ ràng tương tự Thánh sử Mátthêu. Nhưng cách dịch Việt ngữ khác một chút: Trong trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, "chủ từ ngôi thứ nhất" (Chúa Giêsu) được dịch là THẦY, còn trong trình thuật Tin Mừng theo Thánh Máccô, "chủ từ ngôi thứ nhất" được dịch là TÔI.

3. Thánh sử Gioan (Ga 12:1-8) cho biết: Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu đến làng Bêtania, nơi anh Ladarô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giêsu; cô Mácta lo hầu bàn, còn anh Ladarô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giêsu, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. Một trong các môn đệ của Đức Giêsu là Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói: "Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo?". Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp, y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. Đức Giêsu nói: "Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu".

Cả ba Thánh sử Mátthêu, Máccô và Gioan đều nói rõ vùng theo địa lý là LÀNG BÊTANIA. Về địa điểm cụ thể, Thánh sử Mátthêu và Thánh sử Máccô nói là NHÀ ÔNG SIMON CÙI, còn Thánh sử Gioan nói là NƠI ANH LADARÔ Ở.

Cách kể chuyện của Thánh Gioan khác với Thánh Mátthêu và Thánh Máccô, chi tiết cũng khác. Đọc Tin Mừng theo Thánh Mátthêu và Thánh Máccô, chúng ta không biết danh tính người-phụ-nữ-tội-lỗi kia, nghĩa là vô danh. Nhưng Tin Mừng theo Thánh Gioan nói rõ danh tính người-phụ-nữ-tội-lỗi đó: "Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giêsu, rồi lấy tóc mà lau".

Trong Tân Ước, ngoài Đức Maria Mẹ Thiên Chúa (Mt 1:16), ai cũng đã rõ, chúng ta thấy có vài phụ nữ khác cũng tên là Maria: Maria Mácđala và một Maria khác (Mt 28:1), Maria vợ ông Cơlôpát (Ga 19:25), Maria mẹ ông Giô-xết (Mc 15:47), Maria mẹ ông Giacôbê (Mc 16:1). Maria mẹ ông Giacôbê (Thứ, Nhỏ, khác với Giacôbê Lớn) và Maria mẹ ông Giô-xết cũng là một: "Có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết, cùng bà Salômê" (Mc 15:40).

Nói về các phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, Thánh sử Luca cho biết: "Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ" (Lc 8:1-3).

Thánh Máccô cho biết rõ: "Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mácđala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ" (Mc 16:9). Rõ ràng Maria Mácđala chính là người-được-trừ-khỏi-bảy-quỷ (Chúa Giêsu chữa), tức là Maria ở Mácđala, chắc chắn khác với Maria ở Bêtania. Bêtania là nơi mà Thánh Gioan xác định: "Bêtania cách Giêrusalem không đầy ba cây số" (Ga 11:18).

Thánh sử Gioan (Ga 12:9-11) cho biết thêm điều liên quan dạ tiệc mà Chúa Giêsu được một phụ nữ xức dầu thơm: "Một đám đông người Do-thái biết Đức Giêsu đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giêsu, nhưng còn để nhìn thấy anh Ladarô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. Các thượng tế mới quyết định giết cả anh Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giêsu".

Trước đó, Thánh sử Gioan (Ga 11:1-2) đã cho biết: "Có một người bị đau nặng, tên là Ladarô, quê ở Bêtania, làng của hai chị em cô Mácta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh Ladarô, người bị đau nặng, là em của cô". Thánh Gioan cho biết các chi tiết rất rõ ràng. Sau đó, Thánh Gioan cho biết rằng Ladarô chết và được Đức Giêsu cho sống lại, dù đã an táng 4 ngày và nặng mùi rồi.

Như vậy, rõ ràng người phụ nữ mà chúng ta gọi là tội nhân kia KHÔNG PHẢI là Maria Mácđala, mà chính là Maria ở Bêtania, em gái của Mácta và là chị của Ladarô.

Còn Maria Mácđala thì sao? Trong lúc "dầu sôi lửa bỏng", Thánh Gioan cho biết: "Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala" (Ga 19:25). Không thấy nói tới hai chị em Mácta và Maria.

Khi Chúa Giêsu đã được an táng trong mộ đá: "Bà Maria Mácđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ" (Ga 20:11). Khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài hiện ra với bà Maria Mácđala nhưng bà tưởng người làm vườn. Chúa Giêsu gọi tên bà. Nghe giọng quen, bà nhận ra Ngài. Sau đó, "bà Maria Mácđala đi báo cho các môn đệ: 'Tôi đã thấy Chúa', và bà kể lại những điều Người đã nói với bà" (Ga 20:18). Thánh Maria Mácđala là nhân chứng thứ nhất của Đức Kitô phục sinh.

TRẦM THIÊN THU

Hông chuyển

 
HOC HOI DE SONG DAO # 151 = GIAI ĐAP THAC MAC PDF Print E-mail

Giải đáp thắc mắc :
1- Có Thánh lễ nào mà mục đích chỉ để kính riêng một mình Đức Mẹ hay Thánh Nam nữ nào không ?
2- Có thể lần chuỗi Mân Côi để kính Thánh Nam nữ nào được không ?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cầu cho một linh hồn hay cho một ý chỉ riêng nào không ?
Trả lời :
1- Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc phụng vụ cao trọng nhất nhằm diễn lại cách bí tích trên bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Giêsu-Kitô với 12 Tông Đồ và Hy Tế Chúa dâng lên Chúa Cha một lần trên thập giá năm xưa để đền tội thay cho nhân loại khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội.
Phải nói là Lễ Tạ Ơn( Thanksgiving Mass) vì Chúa Kitô đã " dâng lời cảm tạ Chúa Cha, bẻ bánh và trao cho các môn đệ hiện diện ăn, rồi cũng cảm tạ và trao chén rượu nho đã biến thành máu Người cho các ông uống".
Vì thế, Thánh Lễ là hành động cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và diễn lại Hy tế đền tội của Chúa, như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế tín lý Lumen Gentium, là " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( 1 Cor 5: 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG số 3)
Như thế, mọi Thánh Lễ đều qui chiếu về mục đích thờ lậy, ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội dâng trên bàn thờ nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích mà Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể nhân loại.
Do đó, không có Thánh Lễ nào được dâng mà trọng tâm là để kính riêng một thánh nam nữ nào, kể cả Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse, vì trọng tâm của mọi Thánh Lễ đều phải qui chiếu về một mục đích duy nhất là ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su-Kitô, Đấng đã dâng mình tế lễ Chúa Cha trên thập giá như đã nói ở trên .
Tuy nhiên , Phụng vụ của Giáo Hội có dành lễ kinh Đức Mẹ trong nhiều dip quanh năm, kính Thánh Cả Giuse hai lần ( 19 tháng 3 và 1 tháng 5, Kinh Thánh Gioan Tẩy Giả 2 lần ( 24 tháng 6 và 29 tháng 8)
Các Thánh Tông Đồ ( Phêrô. Phaolô, Philiphê, Joan, Giacô- bê...) mỗi vị một lần trong năm. Nhưng dù là lễ trọng ( Solemnity) hay lễ kính ( Feast Day) Đức Mẹ, hoặc các Thánh Nam Nữ, thì trọng tâm của Thánh Lễ vẫn là để ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Chúa Cha , nhờ Chúa Kitô, chứ không bao giờ là chỉ để tôn kính riêng Đức Mẹ hay bất cứ Thánh Nam Nữ nào.
Có khác chăng là trong mọi lễ kinh Đức Mẹ , Thánh Cả Giuse , các Thánh Tông Đồ , các Thánh Nam Nữ ( 1-11) các Thánh Tử Đạo, các Thánh Trinh nữ và Tu Sĩ...và lễ cầu cho một tín hữu đã qua đời, thì tất cả đều có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc Thánh Lễ , cũng như có Kinh Tiền Tụng ( Preface) riêng cho mỗi lễ kính mà thôi.
Thí dụ, trong Lễ Kinh Đức Mẹ và các Thánh, Giáo Hội cảm tạ Chúa về hồng ân và những sự lạ lùng Chúa đã làm nơi Đức Mẹ và các Thánh. Cụ thể, trong Kinh Tiền Tụng Lễ Kinh Đức Mẹ, Giáo Hội nguyện cầu như sau:
....Trong ngày lễ ( sinh nhật Đức Mẹ, Đức Mẹ Mân côi, Mẹ lên trời cả hồn xác...) của Đức Maria diễm phúc trọn đời đồng trinh, chúng con cùng ca ngượi, chúc tụng và tung hô Chúa. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã thụ thai Con Một Chúa, và đã chiếu giãi vào thế gian ánh sáng vĩnh cửu là Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng con..
Hoặc : Chúng con tuyên xưng Chúa là Đấng kỳ diệu trong việc Chúa tôn phong các Thánh. Nhất là khi kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, chúng con hiệp với lời ca tụng, tạ ơn của Người ( Mẹ Maria) mà tôn vinh lòng nhân hậu của Chúa...
Như thế, lễ kính Đức Mẹ trong mọi dịp chỉ có mục đích cảm tạ Thiên Chúa đã ban nhiều hồng ân cho riêng mình Mẹ, như được sinh ra mà không mắc tội Tổ Tông và các tội khác, trọn đời đồng Trinh và lên trời cả hồn xác.Ngượi khen và cảm tạ Chúa và chúc mừng Mẹ được diễm phúc hơn mọi thần thánh trên trời và mọi tạo vật dưới thế.Đó là tâm tình chúng ta phải có mỗi khi mừng lễ kinh Đức Mẹ.
Chinh Đức Mẹ và các Thánh Nam Nữ và các Thiên Thần cũng hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội khi Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành trên bàn thờ ngày nay để cùng ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha , vì Người đã ban tặng cho nhân loại món quà quí giá nhất là Con Một của Người là Chúa Giê-su Kitô, Đấng đã đến trần gian và "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 : 28)
Đức Mẹ - với địa vị cao sang là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, nên được tôn kính ở mức Hyperdulia trong phụng vụ thánh, nhưng không được tôn thờ ở mức Latria là mức chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi.Nghĩa là , trong mọi Thánh Lễ Tạ Ơn chỉ một mình Thiên Chúa được ngượi khen và tôn thờ, trong khi Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ khác, kể cả Thánh Giuse là bạn thanh sạch của Mẹ và là dưỡng phụ của Chúa Kitô, thì được tôn kính ( venerate) ở mức Hyperdulia ( Đức Mẹ) và Dulia ( các Thánh) mà thôi.
Cụ thể, ngay cả những lễ được gọi là lễ kính riêng Đức Mẹ như Mẹ Thiên Chúa ( Moher of God 1-1), Mẹ Vô nhiễm thai ( Immaculate Conception 8-12) Mẹ lên trời cả hồn xác ( Assumption 15-8) ... thì trọng tâm vẫn là để thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô . Chỉ có khác một điều khác là trong lễ kính Đức Mẹ thì có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc thánh lễ, có Kinh Tiền Tụng ( Preface, ) riêng, và được đặc biệt nhắc đến trong các Kinh Nguyện Thánh Thể ( Kinh Nguyện Tạ Ơn) như : "Chúng con kính nhớ trước hết là Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh, Mẹ của Chúa Giê su-Kitô ...( Kinh Nguyện Thánh Thể I) . Hay " Người ( Chúa Kitô) đã nhập thể bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Trinh Nữ sinh ra...( Kinh Nguyện Thánh Thể II & IV)
Hoặc: " Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng con trở nên của lễ muôn đời dâng lên Chúa, để chúng con được thừa hưởng gia nghiệp cùng với các người Chúa đã chọn, nhất là với Đức Trinh Nữ Maria , Mẹ Thiên Chúa...( Kinh Nguyện Thánh Thể III)
Tóm lại, không có Lễ nào chỉ dành riêng để kính Đức Mẹ, hay Thánh Nam nữ nào mà lại không có lời chúc tụng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa của Giáo Hội hiệp thông cũng với Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha khi cử hành ThánhLễ Tạ Ơn . Do đó, khi nói xin lễ tạ ơn Đức Mẹ, hay Thánh Giuse hoặc Thánh Nam Nữ nào, thì phải được hiểu là Lễ tạ ơn Chúa đã thương ban ơn qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và các Thánh, vì chỉ có một mình Thiên Chúa ban phát mọi phúc lành cho chúng ta, nhờ công nghiệp Chúa Kitô và nhờ lời nguyện giúp cầu thay rất đắc lực của Đức Me, Thánh Cả Giuse, và các Thánh Nam nữ khác đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.
Đức Mẹ và các Thánh không ban ơn mà chỉ xin ơn Chúa cho chúng ta mà thôi.Dĩ nhiên chúng ta cũng phải cám ơn Mẹ và các Thánh đã cầu bầu thay cho chúng ta trước Tòa Chúa. Điều muốn nhấn mạnh trong bài viết này là chúng ta không được quên phải cảm tạ Chúa trước hết vì Người đã ban cho ta những ơn lành hồn xác, và cám ơn Đức Mẹ hay Thánh Nam Nữ nào đã nguyện giúp cầu thay cho chúng ta.
Xin nhớ kỹ điều này để trong thực hành khi vào nhà thờ cầu xin điều gì, thì không nên chạy thẳng đển nơi có thánh tượng Đức Mẹ hoặc Thánh Nam nữ nào để cầu xin như thể Đức Mẹ và các Thánh có thể ban phát mọi ơn lành cho chúng ta. Trái lại, phải đến thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện trong nhà tạm ( Tabernacle), trước khi chạy đến với Đức Mẹ , Thánh Giuse hay Thánh Nam Nữ nào khác. Phải thờ lậy Chúa Kitô, cũng là thờ lậy Ba Ngôi Thiên Chúa, vì ở đâu có Chúa Kitô thì ở đấy có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần .
Đó là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa , Đức Mẹ và các Thánh mà chúng ta phải hiểu rõ và thực hành cho phù hợp với đức tin và phụng vụ.
2- Về câu hỏi thứ 2, xin nói rõ là Kinh Kinh Mừng là lời Sứ Thần Grabriel chào kinh Đức Trinh Nữ Maria và loan báo cho Trinh Nữ biết là Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Đó là nội dung phần đầu của Kinh Kính Mừng. Phần hai của Kinh là lời cầu xin Đức Maria của Giáo Hội cho con cái mình được những ơn phúc của Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria.
Như vậy, Kinh Kính Mừng chỉ dành riêng để kinh Đức Mẹ mà thôi.Do đó, không thể đọc kinh Kinh Mừng, hay lần chuỗi mân côi để kính bất cứ Thánh Nam Nữ nào, vì mục đích của Kinh không được soan ra để kinh Thánh Nam nữ nào mà chỉ để dành riêng kinh Đức Mẹ mà thôi.Thánh nào có kinh được soạn riêng thì đọc. Còn nếu không, thì tư ý cầu xin với Thánh đó là đủ, chứ không thích hợp để đọc kinh Lậy Cha,Kinh Kinh mừng và Sáng Danh khi cầu nguyện với Thanh Nam Nữ nào.Mà nếu có đọc thì phải đọc trong tâm tình kính Đức Mẹ, thờ lậy Chúa là Cha và vinh danh Chúa cùng các Thánh và các Thiên Thần để nhờ Thánh Nam nữ nào nguyện giúp cầu thay cho mình được những điều mong muốn.
Lại nữa, khi đọc Kinh Kinh Mừng ta phải đọc trong tâm tình mừng kinh vinh phúc của Mẹ được chọn làm Mẹ Ngôi Hai, và xin Mẹ nguyện giúp cầu thay cho ta được Chúa đoái thương ban cho những ơn ta đang cần đến trong cuộc sống trên trần thế này, chờ ngày về vui hưởng hạnh phúc cùng Mẹ trên Thiên Đàng.
3- Về câu hỏi thứ 3, xin trả lời là mục đích của Thánh Lễ là để ngượi khen, cảm tạ và thờ lậy Chúa như đã nói ở trên, nên không hề có lễ nào chỉ để cầu riêng cho một hay nhiều người còn sống hay đã qua đời. Nói xin lễ cầu bình an cho người còn sống hay cho người đã ly trần chỉ có nghĩa là chủ tế phải nhớ đến ý lễ mình dâng để được hưởng bổng lễ ( mass stipend) theo qui định của giáo luật. Nhưng ngay trong lễ có người xin để cầu cho một linh hồn đã ly trần, thì vẫn có lời nguyện cầu chung cho Đức Thánh cha, cho giám mục giáo phận và cho các tín hữu đã ly trần như ta đọc thấy trong mọi Kinh Nguyện Thánh thể đều có lời cầu chung như sau : " Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt là các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa.Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng tôn Nhan Chúa..( KNTT 1, 2, 3, 4)
Nếu có người xin lễ cầu cho một hay hai linh hồn, thì có thêm lời nguyện riêng như sau : " Xin nhớ đến tôi tá Chúa là....mà ( hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa, thì cũng được sống lại như Người."
Nhưng dù có lời nguyện riêng cho thân nhân ai xin lễ, thì vẫn có lời cầu xin chung cho các tin hữu còn sống cũng như đã ly trần như đã nói ở trên.
Như vậy, không có lễ nào chỉ dành để cầu riêng cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai thắc mắc tại sao lễ mình xin cầu cho người thân đã ly trần mà vẫn thấy cha chủ tế cầu cho các người khác nữa. Phải cầu cho các người còn sống cũng như đã qua đời vì phụng vụ thánh qui đinh như vậy, và không ai có quyền thay đổi theo ý mình.
Chính vì thế mà cũng cần nói lại một lần nữa là không có linh hồn nào được coi là " mồ côi" ở trong chốn luyện hình, khiến phải xin cầu nguyện cho họ, vì trong các Thánh Lễ, Giáo Hội đều cầu xin cho " các tính hữu đã ly trần" mặc dù có hay không có ai xin lễ cầu riêng cho họ.
Tóm lại, là tín hữu trong Giáo Hội, chúng ta cẩn biết rõ ý nghĩa và mục đích của phụng vụ thánh, tức toàn bộ việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, cũng nhờ ơn thông hiệp và cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Lm P. X Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 150 = VA TUYET THONG LA GI PDF Print E-mail

Trang chủ Sống Đạo Vạ Tuyệt Thông Là Gì?
Vạ Tuyệt Thông Là Gì?

Để trả lời cho câu hỏi "Vạ tuyệt thông là gì?", chúng ta cần tìm hiểu tín điều "Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế nầy, các thánh thông công" (kinh Tin Kính các Tông Đồ), thì mới hiểu "Vạ tuyệt thông" được rõ ràng hơn.

1. Các thánh thông công.

Trên nguyên tắc, tất cả những ai được rửa tội, đều là thánh, vì đã được sạch tội tổ tông và tội riêng (từ khi sinh ra cho tới lúc lãnh nhận bí tích rửa tội, nếu là người lớn), được gia nhập vào Nhiệm Thể của Chúa Kitô. Trong Nhiệm Thể nầy, mỗi chi thể thông hiệp với nhau, vì cùng chung một Nhiệm thể của Chúa Kitô, Người là Đầu (x.GLCG. 92, 947). Nên:

Tất cả các tín hữu còn sống hay đã qua đời - đã được lên thiên đàng hay còn đang ở luyện tội - đều có thông hiệp mật thiết. Đó là tín điều Các Thánh thông công.

- Các tín hữu còn sống làm thành Giáo hội lữ hành.

- Các Thánh trên thiên đàng làm thành Giáo hội khải hoàn.

- Các linh hồn trong luyện tội làm thành Giáo hội thanh luyện.

Các tín hữu tôn kính, cầu xin Các Thánh. Còn Các Thánh cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Thiên Chúa.

Các tín hữu làm việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn. Còn các linh hồn cầu bầu cùng Chúa cho các tín hữu còn đang sống.

Các tín hữu đều thông công với nhau: mỗi người đều có quyền hưởng nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của tất cả những người khác (x. SGL CG 92, 946-959). Hiểu như vậy, từ đây, chúng ta đi sang phần vạ tuyệt thông.

2. Vạ tuyệt thông.

Vạ tuyệt thông (hay dứt phép thông công, rút phép thông công) là một hình phạt của Giáo hội Công giáo hoàn vũ dành cho những giáo sĩ và giáo dân phạm trọng tội và ngoan cố không chịu sửa đổi hay sám hối. Khi một người bị tuyên án vạ tuyệt thông thì về bản chất, người đó bị tách rời ra khỏi sự "hiệp thông" với những tín hữu khác trong Giáo hội, về hình thức là bị khai trừ khỏi tổ chức Giáo hội.

Theo Giáo luật có hai hình thức vạ tuyệt thông:

Vạ Tuyệt thông tiền kết và Vạ Tuyệt thông hậu kết.

1. Vạ tuyệt thông tiền kết: được ấn định cho một số tội. Ngay sau khi phạm, đương sự lập tức bị vạ (ipso facto), không cần Giáo hội phải ra công bố, nhưng nếu có công bố thì đó là một tội phạm công khai, để ngăn chặn những hệ luỵ xấu đi kèm. Theo Bộ Giáo luật hiện hành, hiện nay chỉ còn bảy loại vi phạm bị chế tài Vạ tiền kết. Các vạ đó là:

1. Người bỏ đạo, rối đạo hay ly khai khỏi Giáo hội, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết (đ.1364§1).

2. Ai ném bỏ Mình Máu Thánh Chúa, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ. 1367).

3. Người nào hành hung Đức Giáo hoàng sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1370§1).

4. Người phá thai trực tiếp (đ.1398), hay người đồng lõa: như chỉ chỗ, giúp phương tiện và việc phá thai có kết quả (đ.1329§2), sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.

Những tội mà một giáo sĩ có thể vi phạm:

5. Giải tội cho người đồng phạm chiếu theo điều 977, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1378§1).

6. Cha giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1388§1).

7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư Giáo hoàng mà phong chức Giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do Giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1382).

Trong bảy qui định vạ trên đây, có năm loại vạ tuyệt thông chỉ được giải do chính Tòa thánh (2, 3, 5, 6 và 7), còn hai loại vạ kia (1 và 4) có thể được giải do Giám mục giáo phận hay những linh mục được ủy thác.

2. Vạ tuyệt thông hậu kết: được ấn định cho một số tội sau khi vi phạm, đương sự chưa lập tức bị vạ. Đương sự chỉ bị vạ sau khi Giáo hội ra công bố hay phán quyết.

3. Quyền phạt và tha vạ tuyệt thông

1. Vạ tuyệt thông hậu kết chỉ ràng buộc phạm nhân sau khi vạ được tuyên án. Một Giám mục có thể ra vạ tuyệt thông hậu kết cho người ngoan cố không chịu sửa lỗi nặng đã được cảnh cáo. Nếu chịu hối lỗi thì Giám mục có thể tha vạ này.

2. Vạ tuyệt thông tiền kết nghĩa là đương nhiên bị vạ này khi phạm một trong những tội hay lỗi nghiêm trọng ghi trên đây, chỉ có Giáo hoàng hay những người được luật quy định mới giải vạ này.

Tuy nhiên, trong trường hợp nguy tử thì bất cứ linh mục nào cũng được phép tha mọi tội và giải vạ tuyệt thông tiền hay hậu kết.

Giáo luật nói rõ những hậu quả của vạ tuyệt thông như sau:

- Không được cử hành hay lãnh nhận mọi bí tích kể cả á bí tích của Giáo hội.

- Đối với giáo sĩ và tu sĩ: không được hành xử mọi chức vụ, tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào cũng như bị cấm hưởng dùng các đặc ân đã được ban cấp trước đó.

Người mang vạ tuyệt thông là người tự tách mình ra khỏi mọi hiệp thông với Giáo hội. Cho nên, chính họ không được lãnh nhận hay cử hành mọi bí tích là nguồn cội của sự thông hiệp vào Nhiệm Thể Chúa Kitô trong yêu thương và hiệp nhất. Vì thế, họ tạm thời ở bên ngoài Giáo hội cho đến khi vạ được tha bởi người có thẩm quyền trong Giáo hội.

Hình phạt chỉ là biện pháp sau cùng, sau khi đã sửa sai trong tình huynh đệ, đã cảnh cáo.... nhưng vẫn không có kết quả nên phải áp dụng hình phạt. Khoản Giáo Luật 1341 cũng nói rằng: Đấng bản quyền Giáo phận là Đấng có thẩm quyền để áp dụng hình phạt nhằm: tái tạo công bình - hàn gắn hậu quả những tai hại và hoán cải phạm nhân.

Vạ tuyệt thông, dù là hình phạt nặng nhất của Giáo hội, nhưng không có nghĩa là lời kết án vĩnh viễn cho ai phải ra khỏi sự hiệp thông với cộng đồng Dân Chúa. Mà chỉ là hình phạt dược hình (phương thuốc chữa bệnh). Nghĩa là Giáo hội vẫn mở rộng cửa để đón nhận trở lại những ai phạm tội có thiện chí ăn năn, và xin được tha tội. Vì thế, theo Giáo hội hình phạt này chỉ tạm thời cho những người ngoan cố không chịu ăn năn, sửa lỗi.

(trích Nguyệt San Mục Vụ Giáo Phận Vĩnh Long tháng 6 năm 2014

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 122 of 162