mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1754
mod_vvisit_counterHôm Qua7127
mod_vvisit_counterTuần Này17767
mod_vvisit_counterTuần Trước64276
mod_vvisit_counterTháng Này168540
mod_vvisit_counterTháng Trước108912
mod_vvisit_counterTất cả14252196

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 142 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Hỏi: xin cha giải đáp thắc mắc sau :
1- Có được phép đem tro người chết thả ngoài sông, hồ hay biển được không?
2- Khi rước Lễ, có thể chỉ rước Mình Thánh hay Máu Thánh được không?
3- Các tu sĩ nam hay nữ có được phép rửa tội và chứng hôn không?
Trả lời:
1-Có được phép bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển ?
Trước hết, phải nói lại một lần nữa là việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng từ xưa đến nay trong Giáo Hội và trong mọi nền văn hóa nhân loại. Riêng trong Giáo Hội Công Giáo, việc đạo đức này được đặc biệt tôn trọng vì niềm tin " xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này.Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội đều có các nghĩa trang được làm phép để chôn người chết cho con cháu, thân nhân đến viếng thăm quanh năm , và đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 dương lịch). Ai viếng thăm nghĩa trang và cầu cho các linh hồn mà xác đang còn nằm ở đây thì được ân đại xá nhưng phải nhường lại ân huệ này cho các linh hồn thân nhân hay các linh hồn khác có xác đang nằm trong nghĩa trang. Đây là việc đạo đức mà các tín hữu được khuyến khích siêng năng làm để cầu cho các linh hồn còn đang được thanh tẩy trong nơi Luyện tội ( Purgatory)
Trước đây, có thời Giáo Hội đã cấm thiêu xác người chết ( cremation) vì có bè rối ( heretics) chủ trương đốt xác kẻ chết để thách đố Giáo Hội xem còn lấy gì để tin xác kẻ chết sẽ sống lại như Giáo Hội dạy. Sau này bè rối đó tan và từ sau Công Đông Vaticanô II ( 1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép đốt xác nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong nơi gọi là hỏa ngục.( hell) trong ngày cánh chung.( . Mt 25 : 31-46)
Giáo Lý và giáo luật của Giáo Hội đều dạy phải tôn kính thi hài của người quá cố được an táng trong nghĩa trang Công giáo để chờ ngày sống lại.
Nếu chọn hỏa táng ( cremation) thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự sống lại của kẻ chết. ( giáo luật số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690). Nghĩa là phải tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với linh hồn trong ngay sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, hoặc ở tư gia hay trong nhà thờ nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được phép mang tro này ra trải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết đang làm. Vì không tin, nên họ đã trải tro của thân nhân họ ra sông , hồ hay biển cả , vì cho rằng con người là hư không, chết là hết, nên thả tro ra sông, biển để nói lên sự hư không này của thân phận con người.
Ngược lại, vì người Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết trải ra ngoài sông, biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem trải tro người chết ra sông, hay biển thì vô tình chia sẻ niềm tin của những người không tin có sự sống lại của thân xác hay sao ?
2- Có được phép chỉ rước Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ ?
Từ xa xưa, việc rước Lễ của giáo dân chỉ trong giới hạn rước Mình Thánh Chúa mà thôi, vì Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong hình bánh,và chỉ có linh mục cử hành Thánh lễ được rước cả hai Mình và Máu Thánh Chúa.
Nay vì muốn diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Thánh Lễ, về một phương diện, là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ. Trong Bữa Ăn lịch sử này, Chúa đã lập Bi tích Thánh Thể khi biến bánh và rượu thành Mình Máu Người cho các Tông Đồ ăn và uống lần đầu tiên.Vì thế , ngày nay Giáo Hội cho phép giáo dân được rước cả hai hình thức Thánh Thể là bánh và rượu đã được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ. Nhưng ở các Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) các Giám mục vẫn có toàn quyền để cho phép rước Thánh thể cả hai hình thức hay một hình thức như cũ..
Tuy nhiên, ở nơi nào cho rước cả hai hình thức Thánh Thể, thì giáo dân, hoặc chọn rước cả hai hay chỉ một Mình Thánh mà thôi. Nghĩa là không được chọn rước một hình thức là Máu Thánh mà không rước Mình Thánh. Nói rõ hơn , rước một Mình Thánh thì được , nhưng không được phép chỉ rước Máu Thánh không thôi.
Tuy nhiên, trong trường hợp một bệnh nhân không thể rước Mình Thánh vì không nuốt được chất đặc nào qua miệng, thì có thể chỉ cần rước Máu Thánh là đủ.
Riêng hàng tư tế , tức linh mục và Giám mục, thì buộc phải rước cả hai hình thức Thánh Thể khi chủ tế hay đồng tế Thánh Lễ.
3- Tu Sĩ có được phép rửa tội, sức dầu và chứng hôn không ?
Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt như sau:
Tu sĩ ( religious) là những người có ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh ( chastity) và vâng phục trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập đúng theo giáo luật.
Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh ( độc thân) và vâng phục mà thôi. Giáo sĩ không phải là Tu sĩ. Nhưng nam tu sĩ có thể trở thành giáo sĩ nếu có các chức thánh nói trên, mặc dù vẫn thuộc hàng tu sĩ, vì có ba lời khấn trong Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Giáo sĩ thì thuộc về một địa phận dưới quyền của một Giáo mục, và được gọi là các linh mục triều ( diocesan priests), trong khi các tu sĩ linh mục thì được gọi là các linh mục Dòng ( religious priests),
Liên quan đến câu hỏi đặt ra, nếu chỉ là Tu sĩ ( religious ) )có lời khấn Dòng mà không có chức Phó tế, Linh mục hay giám mục, thì không ai được phép cử hành bất cứ bí tích nào. Phải nói rõ điều này vì ở một địa phương kia, có cha xứ đã cho một nữ tu rửa tội cho trẻ em ở nhà thờ trước sự chứng kiến của cha xứ ! và cả hai đã bị bề trên liên hệ khiển trách nặng, vì đã làm việc hoàn toàn sai trái về kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Nhưng nếu Tu sĩ cũng là giáo sĩ ( nam tu sĩ), nghĩa là có chức linh mục hay giám mục thì vẫn có năng quyền để cử hành các bí tích như mọi giáo sĩ. Dĩ nhiên, linh mục Triều hay Dòng, muốn làm mục vụ trong giáo hội địa phương ( giáo phận), thì phải có phép của Đấng bản quyền địa phương, nghĩa là phải xin năng quyền ( faculties) của Tòa Giám mục.
Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì tu sĩ ( nam nữ) hay giáo dân đều có thể được phép rửa tội ở bất cứ nơi nào, nhưng phải theo đúng công thức của Giáo Hội, nghĩa là phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 141 = BI AN NUOC TROI PDF Print E-mail

Bí ẩn Nước Trời - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Today MAY 13-14 at 9:28 AM

Bí ẩn Nước Trời

Alex Tresniowski viết: "Đối với một nơi chúng ta mơ ước tới, thật đặc biệt biết bao khi chúng ta biết rõ về Nước Trời. Không có sách nào cho biết vẻ đẹp của Nước Trời, chẳng có video nào trên Youtube hoặc hình ảnh nào đưa lên Facebook. Tất cả chúng ta phải xem cách mô tả của Kinh Thánh về nơi rộng rãi và lung linh đó: 'Thành phố đó sẽ không còn đêm tối nữa, sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời' (Kh 22:5). Chúng ta có ký ức của những người như Crystal McVea, một người mẹ và một giáo viên ở Oklahoma đã tỉnh lại sau khi chết tại bệnh viện và nay mô tả kinh nghiệm đó trong cuốn "Waking Up In Heaven" (Bước Vào Thiên Đàng).

Tresniowski cho biết: "Tôi đủ may mắn để là đồng tác giả với Crystal, và trong thời đại chúng ta, tôi cũng biết về lòng can đảm về Đức Tin, vâng, một nơi đẹp đẽ được gọi là Nước Trời. Mới đây, tôi cùng Crystal lại nói về những điều kỳ lạ mà bà phát hiện trong hành trình của bà".

Trên Nước Trời, không có những điều tương tự như thời gian. Crystal cho biết: "Đó là điều đầu tiên tôi biết về Nước Trời — mọi thứ xảy ra ngay lập tức. Không có sự nối tiếp cảu các sự kiện, không có phút hoặc giờ, hoặc bất kỳ thứ gì như vậy. Khi tôi nhắm mắt trong bệnh viện và mở mắt ở trên trời, tôi có cảm giác là mọi thứ biến mất trước mắt tôi ngay, nhưng không có cảm giác về sự vội vàng hoặc khẩn cấp. Thậm chí bây giờ tôi còn khó giao tiếp vì cuộc sống trên thế gian bị chi phối bởi đồng hồ và thời khóa biểu, nhưng trên trời không có thời khóa biểu. Chỉ có cảm giác kỳ lạ và nhận biết tức thời, cảm thấy bình an và yêu thương".

Trên Nước Trời, người ta biết chính mình: "Bạn biết đó, chúng ta nghĩ chúng ta biết chính mình ở trên thế gian, điều tôi biết được là chúng ta chỉ biết một phần nhỏ thông tin về chính mình mà thôi. Còn trên trời, chúng ta biết rõ thông tin về chính mình, biết mình là ai trước thời gian ở trên thế gian, và mình sẽ là ai đời đời. Như tôi nói trong cuốn sách này, trên trời chúng ta nhận thức sâu xa hơn mọi niềm hy vọng, mọi nỗi sợ, mọi ước mơ, và mọi vết nhơ xác định chúng ta trên thế gian. Thật là thú vị!".

Trên Nước Trời, người ta cảm thấy ánh sáng: "Tôi biết điều này lạ lắm, nhưng đó là cách tốt nhất tôi có thể mô tả kinh nghiệm như thế nào về mọi thứ trên trời — thay vì có 5 giác quan, tôi như có 500 giác quan. Do đó tôi trải nghiệm mọi thứ theo cách đầy đủ và mới lạ hơn như tôi từng cảm nhận trên thế gian. Ánh sáng chói lọi bao quanh chúng ta, còn hơn là ánh sáng nữa, đó là cái gì đó tuôn đổ vào chúng ta, và chúng ta cảm nghiệm đầy đủ. Ánh sáng của Thiên Chúa là cái gì đó mà bạn không chỉ nhìn thấy mà còn nghe được, nếm được, và sờ được, cảm nghiệm với mọi thớ thịt của chính mình".

Trên Nước Trời, người ta không bao giờ lầm lẫn: "Đây là một trong các sự thật kỳ lạ nhất về Nước Trời, vì khi nhìn lại, mọi thứ tôi cảm nghiệm đều khiến tôi ngạc nhiên. Nhưng ở trên trời, mọi thứ đều cảm nhận được. Không có gì làm tôi lầm lẫn hoặc làm tôi ngạc nhiên. Tôi có ý nói là nó hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu của con người và tôi vượt qua nhờ lòng yêu mến Thiên Chúa, nhưng không như tôi bị trở ngại bởi những thứ khó tin đã xảy ra. Tôi không bao giờ cảm thấy cần hỏi Chúa điều gì. Mọi thứ tôi cảm nghiệm là cần chúc tụng Ngài".

Trên Nước Trời, người ta không thể cúi đầu: "Ở trên trời, chúng ta không có các dạng cảm giác của thế gian. Chúng ta ở trong dạng tinh thần. Do đó chúng ta không có chân tay như trên thế gian. Tôi cảm thấy khó cúi đầu vì không có thân thể thật như trên thế gian. Nhưng lại vẫn có thân thể, vì tôi biết rằng tôi ở trước mặt Thiên Chúa, tôi thực sự cảm thấy bị thúc giục cúi đầu và phục lạy dưới chân Ngài để thờ lạy Ngài, đó là dạng tôi cảm thấy như thế. Người ta không thể cúi đầu nhưng cảm thấy chỉ muốn hướng về Thiên Chúa theo cách người ta có thể".

Người ta không tới Nước Trời, mà người ta trở về Nước Trời. Crystal nói: "Trên Nước Trời, tôi không gặp Chúa nhiều khi tôi nhận biết Ngài. Cũng vậy, trên trời không có cảm giác là nơi mới lạ, mà cảm thấy như ở nhà mình. Đó là một trong các sự thật tốt đẹp nhất về Nước Trời — tới đó mà thấy rất quen thuộc. Giống như bạn nhớ về kinh nghiệm lần đầu. Bằng cách có thể, Nước Trời y như nhà mình vậy".

Trên Nước Trời, không có hỏi và đáp. Crystal nói: "Bạn nghĩ mình sẽ có những câu hỏi để hỏi Chúa, nhưng không phải vậy. Bạn nghĩ bạn sẽ hỏi những câu như: Tại sao có đau khổ và bạo lực? Nhưng rồi bạn liền choáng ngợp cảm giác biết chắc Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn hoàn hảo. Không có điều gì bạn cần biết về Chúa hoặc Nước Trời như bạn từng muốn biết khi còn ở thế gian, bạn không cảm thấy gì khác ngoài cảm giác được yêu thương".

Nước Trời không thể mô tả. Crystal nói: "Tôi luôn dùng từ sáng chói, tốt đẹp và kỳ lạ, nhưng đó chỉ là những chữ chúng ta có thể dùng để mô tả một cái gì đó đẹp. Nước Trời còn hơn cả thực tế minh bạch và rực rỡ hơn bất cứ thứ gì khác mà chúng ta có thể cảm nhận trên thế gian, không thể hiểu hết và không có từ ngữ nào đủ mô tả về Nước Trời".

Tresniowski viết: "Vẻ đẹp câu chuyện của Crystal McVea là chúng ta có thể giao tiếp với bà — một người mẹ, một giáo viên, một người phạm tội, một người tự nghi ngờ mình, một người cố gắng chiến đấu trong những lúc khó khăn, một người luôn tự hỏi Thiên Chúa có thật hay không. Nhưng lúc tôi gặp Crystal, bà biết Thiên Chúa có thật, Nước Trời có thật, và Nước Trời tuyệt đẹp. Bà có Đức Tin sâu sắc và tình yêu mãnh liệt dành cho Thiên Chúa".

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Nhớ ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, 13-5-1917

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 140 = NHAN BIET ON THIEN TRIEU PDF Print E-mail

May 11 at 9:57 PM
Nhận biết Ơn Thiên Triệu
(Theo Thánh Thomas Aquinô, Thánh Inhaxiô, và Thánh Gioan Phaolô II)
JOSEPH BOLIN

Đối với người Công giáo, có 2 cách chọn đường đi trong cuộc sống. Người ta có thể bắt đầu bằng suy nghĩ về mục đích sống, và suy nghĩ về điều gì sẽ hữu ích nhất trong việc đạt mục đích đó, hoặc người ta có thể tự vấn về điều Thiên Chúa muốn mình làm trong cuộc sống. Các phương pháp này khác nhau và bổ túc lẫn nhau, nhưng chỉ khi nào sách về ơn gọi áp dụng 2 phương pháp khác nhau cơ bản này. Cuốn sách này nhằm kiểm tra 2 phương pháp cơ bản này đối với vấn đề ơn gọi, những thuận lợi và những nguy hiểm tiềm ẩn của mỗi phương pháp, và đề nghị cách nhìn đơn giản về những ơn gọi tìm cách duy trì những lợi ích của mỗi phương pháp.

Không như đa số những sách khác về ơn gọi, sách này không là một luận thuyết thần học hướng dẫn những người trí thức, cũng không là sách hướng dẫn ơn gọi, mà gồm những lời khuyên chi tiết về cách chọn ơn gọi. Hơn nữa, sách này tìm cách đưa ra viễn cảnh sâu xa mà đơn giản và khả dĩ tiếp cận về ơn gọi, cho cả những người tìm kiếm ơn gọi và các vị linh hướng về ơn gọi để có nền tảng vững chắc, có thể hình thành phán đoán tốt về những tình huống đặc biệt mà họ đang xử lý.

Bất kỳ phương pháp nào chúng ta áp dụng cho ơn gọi thì sự tập trung chú ý vẫn phải là tình yêu. Mỗi ơn gọi phải được tập trung xoay quanh tình yêu, vì chính nhờ tình yêu mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, và mọi người tìm thấy sự viên mãn nơi Ngài. Do đó, đời sống chúng ta sẽ hoàn thiện hơn, tới mức mà tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn. Yêu cầu cơ bản để sống trong tình yêu là chúng ta tuân giữ các giới răn. Thánh Gioan nói: "Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài" (1 Ga 5:3). Thêm vào các giới răn, chúng ta được trao những lời khuyên hữu ích để phát triển trong tình yêu. Nhưng chính tình yêu phải luôn luôn duy trì tiêu chuẩn mà cách chọn lựa của chúng ta được đo lường. Yếu tố quyết định trong ơn gọi là sự hiến dâng để theo đuổi sự phát triển không ngừng trong tình yêu. Cường độ của tính kiên định của sự quyết tâm theo đuổi sự thánh thiện bằng cách dùng phương tiện chúng ta sử dụng, đó là điều rất quan trọng hơn cả phương tiện chúng ta chọn. Chẳng hạn, nên tìm kiếm sự thánh thiện trong hôn nhân toàn tâm toàn ý hơn là tìm kiếm sự thánh thiện trong đời sống tu trì toàn tâm toàn ý. Nhưng khi hiến dâng, chúng ta sẽ phát triển trong tình yêu chắc chắn hơn và mau chóng hơn nếu chúng ta sống theo cách thích hợp với việc phát triển trong tình yêu, chẳng hạn bằng cách sống theo lời khuyên Phúc âm (evangelical counsels).

Khi chọn con đường riêng để sống sẽ dẫn đến tình yêu, phương pháp của Thánh Thomas là suy nghĩ về sự tốt lành khách thể và tính khả dĩ của cách sống. Chẳng hạn, ngài nói rằng không cần phải suy nghĩ lâu dài trước khi quyết định đi tù, vì "như thế chắc chắn tốt hơn" và "vì những người đi tu không dựa vào sức mạnh riêng mình"1 nhưng tin cậy Thiên Chúa ban sức mạnh cần thiết để mình sống ơn gọi đó. Nhưng người ta phải tìm kiếm ý muốn đi tu từ Thiên Chúa, Thánh Thomas nói rằng nếu ước muốn đó chân thật, vì ý hướng tốt, đó là từ Thiên Chúa. Không thành vấn đề nếu Thiên Chúa có là nguồn trực tiếp của động thái đó hoặc tìm cách lôi kéo ai đó đi tu hay không. Thậm chí nếu chính ma quỷ là nguồn trực tiếp của ý muốn này thì chính ý muốn đó vẫn tốt, và cuối cùng vẫn từ Thiên Chúa.

Thánh Teresa Avila đã sống và hành động theo các quy luật này của Thánh Thomas. Bà thấy điều gì tốt thì nhất quyết làm. "Mặc dù tôi không tiếp tiếp tục có ý muốn làm nữ tu, tôi vẫn thấy đó là cách tốt nhất và an toàn nhất, và cứ dần dần, tôi quyết định bắt mình ấp ủ điều đó" (1). Bà tiếp tục nói về cách mà Thiên Chúa thưởng cho "sự mãnh liệt" như vậy (x. Mt 11:12) với chính điều đó (2). "Khi tôi đã quen, Thiên Chúa liền cho tôi hiểu và cách Ngài ủng hộ những người ép buộc chính mình trong việc phụng sự Ngài" (3).

Tương phản với Thánh Thomas, Thánh Inhaxiô Loyola mới đầu coi đó là "tìm kiếm Ý Chúa". Thánh Inhaxiô đưa ra "3 cách" để người ta có thể chọn cách sống hợp với Ý Chúa: (a) Khi người ta có kinh nghiệm trực tiếp về điều chắc chắn là Ý Chúa, và điều đó hướng dẫn người ta về cách sống; (b) Khi mà nhờ nhiều kinh nghiệm và sự tìm kiếm sự tác động của Chúa Thánh Thần, người ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần đang mời gọi hoặc lôi kéo người ta vào cách sống nào đó, hoặc ý muốn đó phát xuất từ Chúa Thánh Thần; (c) Khi bắt đầu bằng một thái độ tách biệt đối với các tạo vật, và nếu có thể, bằng sự yêu thích những gì phù hợp hơn với Ý Chúa, người ta cẩn trọng chọn cách sống đó là cách pụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Mỗi phương pháp này đều có thuận lợi riêng và nguy cơ riêng. Phương pháp của Thánh Thomas có thuận lợi về khách quan hơn, do đó ít có khả năng lừa dối, nhưng cũng có nguy cơ là quá trừu tượng, và do đó quá xa rời thực tế và sống kết hiệp với Thiên Chúa. Phương pháp của Thánh Inhaxiô có thuận lợi là riêng tư hơn, nhưng cũng có nguy cơ là ơn gọi sẽ được coi là gánh nặng bắt buộc (obligatory burden) bị Thiên Chúa áp đặt, không là lời mời gọi tự do sống tình yêu lớn lao hơn. Thánh Anphong Ligouri và Von Balthasar có vẻ có sự sai lầm này, vì quá nhấn mạnh vào đặc tính riêng của ơn gọi.

Nhưng dù 2 phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản, cuối cùng chúng vẫn tương thích. Một mặt nó khách quan tốt hơn để theo Ý Chúa hơn theo ý mình. Một mặt cho thấy khi chúng ta tìm kiếm Ý Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy có những cái để xác định Ý Chúa không chỉ đặc biệt mà còn tổng quát và khách quan. Như vậy Thánh Anphong, theo phương pháp tổng quát của Thánh Inhaxiô, không cói các dấu hiệu của Ý Chúa là điều phải có để người ta nuôi dưỡng ý hướng tu trì; người ta chỉ cần 2 dấu hiệu như Thánh Thomas yêu cầu: Ý hướng vừa tốt lành vừa kiên định, và không trở ngại.

Nếu chúng ta áp dụng trường hợp người ta không trở ngại, và dịnh hướng tích cực – phải thích hợp cách sống – rồi chúng tacó những điều kiện chính mà Giáo hội đòi hỏi về ơn gọi. Về yếu tố đầu tiên, ý muốn kiên định và muốn có cách sống đặc biệt (giả sử cách chọn đó hợp pháp và tốt lành), là cần thiết cho ơn gọi, mà Thánh Phanxicô Salê nói rằng ước muốn kiên định như thế chính là ơn gọi. Tuy nhiên, đối với sự kiên định của ơn gọi, chúng ta vẫn cần điều kiện thứ ba, nghĩa là sự chấp thuận của Giáo hội. Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta tới sự thánh thiện đơn giản là những cá nhân, mà là các thành viên của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì thế, nhiệm vụ của Giáo hội là trắc nghiệm và phê chuẩn ơn gọi, nhất là ơn gọi tu trì và linh mục.

Các phương pháp của Thánh Thomas và của thánh Inhaxiô không chỉ tương thích về lý thuyết, mà còn liên kết tới một mức nào đó theo phác thảo về ơn gọi của Thánh Gioan Phaolô II. Theo mô tả của ngài, ơn gọi luôn bắt đầu với Chúa Kitô, Đấng đến với mỗi cá nhân trong tình yêu, hướng dẫn người đó tìm ra cách sống thích hợp với tình yêu đó. Khi cầu nguyện đối thoại với Chúa Kitô, ngài đã kiểm tra những trường hợp riêng của ngài để tìm ra con đường sống mà ngài có thể biến nó thành tặng phẩm của mình trong tình yêu.

Phương pháp kết hợp này có thể là cách tốt nhất để suy nghĩ về ơn gọi. Mục đích cuối cùng của sự suy nghĩ cân nhắc nên đáp lại tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, ưu tiên việc "tìm kiếm" ơn gọi, hoặc "quyết định" cách sống, chúng ta phải cố gắng ưu tiên thanh luyện tâm hồn mình, để yêu thật và tìm kiếm Chúa trên hết mọi sự, và đưa tình yêu vào việc chọn cách sống. Chỉ khi đó chúng ta mới sử dụng tặng phẩm Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta – khối óc và con tim – để quyết định về cách sống.

Khi tìm kiếm ơn gọi, yếu tố này hay yếu tố khác – khối óc hoặc con tim – có thể giữ vai trò chủ đạo. Mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng ý chí: sau khi suy nghĩ và cân nhắc các yếu tố thích hợp, chúng ta có thể biết cái gì là phương tiện tốt nhất để thực hiện tình yêu và phát triển trong tình yêu, và hãy chọn phương tiện đó. Hoặc mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng con tim: trong vài cách có thể cái nào cũng tốt để thực hiện tình yêu và phát triển nó trong tình yêu, chúng ta có thể chọn cách mà chúng ta có khuynh hướng nhiều – không theo xu hướng thoáng qua, nhưng là khuynh hướng bền vững, nghĩa là theo tình yêu đích thực.

Khi suy nghĩ và chọn cách sống, chúng ta nên luôn nghĩ rằng con đường chúng ta chọn không là ý muốn riêng mình, mà là thiết kế của Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta ở một vị trí riêng trong thế giới, cho nên chúng ta có thể chọn con đường riêng để đến với Chúa. Và như vậy, sau khi đã chọn con đường để sống, chúng ta nên tạ ơn Chúa về tình yêu của Ngài, cơ hội và lời mời gọi yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.

Ý muốn kiên định nên theo cách chọn lựa của chúng ta. Ý muốn kiên định này sẽ làm cho chúng ta có thể tận hiến để thực hiện việc yêu mến Chúa và tha nhân theo cách chúng ta đã chọn, và kiên trì trong mọi khó khăn. Ý muốn kiên định này là muốn phụng sự Thiên Chúa theo cách sống mà thường tạo ra sự bình an tâm hồn. Sự bình an tâm hồn liên quan cách chọn riêng là dấu hiệu kiên định của ơn gọi, và có thể được gọi là dấu hiệu của ơn gọi.

Phương pháp trực tiếp này là cách tiếp cận ơn gọi. Giữa cách của Thánh Thomas và của Thánh Inhaxiô, thực sự có nhiều cách khác mà chúng ta có thể dùng để chọn cách sống. Vấn đề là thanh tẩy tâm hồn chúng ta, chân thành sống vì tình yêu lớn lao hơn, luôn tuân phục các giáo huấn của Giáo hội và tuân theo sự cẩn trọng Kitô giáo, đồng thời cởi mở theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, dù Ngài đưa dẫn chúng ta đi đâu. Việc tìm kiếm và theo đuổi ơn gọi không nên là máy móc hoặc xử lý lo âu, mà là sống và vui mừng với Thiên Chúa, vì "Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự" (1 Ga 3:20).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ PathsOfLove.com)

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO #138 = DUC MARIATRONG CAC TON GIAO PDF Print E-mail

Đức MARIA trong các tôn giáo khác - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-abou
May 7 at 9:29 PM

Đức MARIA trong các tôn giáo khác

Tháng 12-2003, Đức Mẹ xuất hiện trên bìa 3 tạp chí lớn của Tin lành với hơn 500.000 bản. Các bài viết ở cả 3 tạp chí kia đều đồng ý rằng các tín đồ Tin lành đã không chú ý Đức Mẹ quá lâu, và đó là đỉnh điểm để các tín đồ Tin lành tái nhận biết vị trí của Đức Mẹ trong đạo Tin lành. Thật vậy, càng ngày càng có nhiều người ngoài Công giáo bắt đầu phát hiện vị trí của Đức Mẹ trong tôn giáo của mình.

Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!

Đức Mẹ là chủ đề trong nhiều cuộc thảo luận đại kết (ecumenical discussions) – những cuộc thảo luận giữa các thần học gia Công giáo, các học giả Tin lành, Hồi giáo, và các tôn giáo khác với mục đích tìm ra những "điểm chung" giữa các tôn giáo. Tháng 6-2001, sau khi trở về từ hội nghị liên tôn được tổ chức tại Lộ Đức, ĐHY Francis Arinze, lúc đó là chủ tịch Hội đồng Đối thoại Liên tôn, nói rằng Đức Mẹ là khởi điểm để giới thiệu sứ điệp Kitô giáo cho các tín đồ của các tôn giáo khác. Các tham dự viên hội nghị này là các đại biểu Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, Tin lành Lutheran và các thần học gia. ĐHY Arinze giải thích: "Chúng ta phải tạ ơn Chúa về ý nghĩa tích cực về Mẹ Maria đối với các tôn giáo khác".

Đức Mẹ có vị trí nào trong các tôn giáo khác, nhất là trong Hồi giáo và Tin lành? Đức Mẹ có vị trí nào trong tương lai? Có cơ hội nào, dù xa, cho các tôn giáo lớn cùng kết hợp dưới áo Đức Mẹ?

Đức Mẹ và Hồi giáo

Nhiều người Công giáo không biết rằng Đức Mẹ rấ được các tín đồ Hồi giáo yêu mến và tôn kính. Đức Mẹ là phụ nữ duy nhất được nhắc tên 34 lần trong kinh Koran – hơn cả số lần trong Kinh thánh! Có cả một chương "Mẹ Maria" (Mariam), và được các tín đồ Hồi giáo diễn tả là chương hay nhất trong toàn bộ kinh Koran. Chương III trong kinh Koran la chương Imran, theo tên của Thân phụ Đức Mẹ.

Kinh Koran nói về việc Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ Giêrusalem, về lễ tẩy trần, về cuộc truyền tin, về sự trinh thai và về việc sinh Chúa Giêsu. Đức Mẹ được Hồi giáo nhận biết và tôn kính là người được thánh hóa và cao trọng nhất trong các phụ nữ, và là sự hoàn hảo tâm linh: "Các thiên thần nói: 'Lạy Mẹ Maria! Thiên Chúa đã chọn Mẹ và thanh tẩy Mẹ – chọn Mẹ hơn hẳn các phụ nữ ở mọi quốc gia. Lạy mẹ Maria! Xin thờ lạy Thiên Chúa: Xin phủ phục, và quỳ gối (khi cầu nguyện) với những người cùng quỳ gối" (Koran 3:42-43).

Thật vậy, điều ngạc nhiên đối với nhiều người Công giáo là Hồi giáo chấp nhận "sự đồng trinh trọn đời" của Đức Mẹ, gián tiếp có nghĩa là Vô nhiễm Nguyên tội – hai tín điều chính về Đức Mẹ. Trong kinh Koran, Đức Mẹ được nhận biết là thụ tạo duy nhất không mắc Tội Tổ Tông từ trước khi làm người, được giữ khỏi mọi tội suốt cả đời. Chúng ta đọc lời cầu nguyện của Đức Mẹ trong kinh Koran: "Lạy Chúa, con dấn thân phục vụ Ngài từ trong lòng con. Xin Ngài thương nhận. Chỉ mình Ngài lắng nghe và thấu suốt mọi sự". Và khi Đức Mẹ sinh Chúa Con, Đức Mẹ nói: "Lạy Chúa, con được gọi là mẹ của Người. Xin bảo vệ con và con cháu khỏi Satan... và xin Con Chúa chấp nhận con" (Koran 3:35-37).

Ở phần khác, kinh Koran nói: "Thiên thần nói: 'Hỡi Cô Maria, Allah đã chọn Cô và thanh tẩy Cô. Ngài đã chọn Cô hơn hẳn các phụ nữ khác. Hỡi Cô Maria, hãy tận hiến cho Thiên Chúa" (Koran 3: 42-43). Kinh Koran nói về sự đồng trinh của Đức Mẹ: "Đối với các tín hữu, Thiên Chúa thiết lập một tấm gương... Maria... người đã giữ mình đồng trinh và nơi cung lòng ấy, chúng ta hít thở Chúa Thánh Thần; Đấng đã làm Mẹ tin Lời Chúa và Kinh thánh, đồng thời rất đạo hạnh" (Koran 66:11-12).

Đức Mẹ và đạo Tin lành

"Đức Kitô có là người duy nhất được tôn thờ? Hoặc Mẹ Thiên Chúa không được tôn kính? Đây là phụ nữ đã đạp đầu con rắn. Hãy nghe chúng tôi. Vì Chúa Con không từ chối điều gì". Đó là câu nói của ông Martin Luther, nhà cải cách Tin lành hồi thế kỷ XVI, thành lập phong trào Tin lành và ly khai với Công giáo. Đó là câu nói trong bài giảng cuối cùng của Luther tại Wittenberg hồi tháng 1-1546, vài tháng trước khi ông qua đời. Điều đó cho thấy rằng ông Luther tôn sùng Đức Mẹ cả đời.

Càng ngày càng có nhiều học giả Tin lành xuất bản các phát hiện của họ về lòng sùng kính Đức Mẹ của những người thành lập đạo Tin lành – Martin Luther, John Calvin, và Ulrich Zwingli. Trong ba người này, Martin Luther là người sùng kính Đức Mẹ nhất và đức tin của họ vẫn phù hợp với giáo lý Công giáo – một tiếng kêu từ việc kết án gay gắt về những gì liên quan Đức Mẹ nơi nhiều người Tin lành chính thống (fundamentalist Protestants) và các Kitô hữu Tái sinh (Born Again Christians) ngày nay. Các tín đồ Tin lành đã bị bỏ lại phía sau về việc dạy rằng bất kỳ điều gì liên quan Đức Mẹ đều ngược với Tin lành, và bất cứ điều gì liên quan Đức Mẹ đều làm giảm việc tôn thờ Đức Kitô. Nhưng có bằng chứng đủ để nói rằng các nhà cải cách Tin lành không bao giờ có ý "chống Đức Mẹ" (anti-Marian).

Nhiều học giả Tin lành đồng ý rằng Martin Luther sùng kính Đức Mẹ cả đời, cũng như niềm tin của ông trong các giáo huấn chính yếu về Đức Mẹ. Thật vậy, Martin Luther tin mọi giáo lý về Đức Mẹ – Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, lên trời, và ngay cả việc vô nhiễm nguyên tội.

Chính Luther đã viết và tin Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội – 300 năm trước khi Giáo hội Công giáo chính thức tuyên bố tín điều này vào năm 1854! Đây là cách hiểu của Luther về Vô nhiễm Nguyên tội: "Nhưng quan niệm khác, nghĩa là sự truyền thụ của linh hồn, đó là điều được tin thích hợp và đạo đức, là không có tội, để khi linh hồn được truyền thụ, Đức Mẹ cũng được tẩy sạch khỏi tội nguyên tổ và được trang điểm bằng những Ơn Chúa để nhận linh hồn thánh thiện đã được truyền thụ. Và như vậy, trong chính lúc Đức Mẹ bắt đầu sống thì Đức Mẹ đã không nhiễm tội...".

Trong cuốn "Against the Roman Papacy: An Institution of the Devil" (Chống lại Giáo hoàng Rôma: Tổ chức của Ma quỷ), xuất bản năm 1545 (một năm trước khi qua đời), Luther đã nói: "... Đức Maria đồng trinh, không nhiễm tội và không thể phạm tội mãi mãi". Như vậy, ngay lúc bị coi là chống lại giáo hoàng, Luther vẫn không bào giờ lung lay niềm tin về vấn đề Vô nhiễm Nguyên tội của Đức Mẹ.

Một số học giả nổi bật của Tin lành cũng đồng ý rằng cả đời ông Luther vẫn tin Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội. Trong số các học giả đó là Arthur Carl Piepkorn, Eric Gritsch, Jaroslav Pelikan, kể cả 11 học giả theo Tin lành Lutheran thuộc Ủy ban Đối thoại Tin lành Lutheran và Công giáo (Lutheran-Catholic Dialogue Committee).

Về vấn đề Đức Mẹ lên trời cũng tương tự, tín điều được công bố trong thế kỷ XX, nhưng từ thế kỷ XVI, Luther đã tin là "tư tưởng đạo hạnh và vui lòng". Về thiên chức Mẹ Thiên Chúa, Luther viết: "Đức Mẹ được mời gọi không chỉ là Mẹ của nhân loại, mà còn là Mẹ Thiên Chúa... Chắc chắn Mẹ Maria là Mẹ của Thiên Chúa thật".

Về niềm tin cả đời ông Luther đối với sự đồng trinh trọn đời của Đức Mẹ, ông viết: "Vấn đề đức tin là Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và vẫn đồng trinh".

Khác với Martin Luther, John Calvin không khen Đức Mẹ như Martin Luther, dù ông không phủ nhận tầm quan trọng và sự nổi trội của Đức Mẹ trong lĩnh vực đức tin. Cũng như Martin Luther, John Calvin tin Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và trọn đời đồng trinh: "Bà Êlidabét gọi Maria là mẹ Thiên Chúa, vì sự duy nhất của con người có hai bản tính của Đức Kitô, Đức Mẹ có thể nói rằng con người hay chết được tạo nên trong cung lòng Đức Mẹ cũng là Thiên Chúa vĩnh hằng".

Đây là một số tài liệu mà Calvin nói về Đức Mẹ:

– "Không thể phủ nhận việc Thiên Chúa đã chọn và tiền định Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa Ngôi Con, và được ban cho sự kính trọng cao nhất".

– "Tới ngày nay, chúng ta không thể hưởng phúc lành nơi Đức Kitô nếu không nghĩ đồng thời Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ sự cao trọng, theo ý của Đức Mẹ chấp nhận là Mẹ của Con Một Thiên Chúa".

Tài liệu của Ulrich Zwingli:

– "Tôi đánh giá cao Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh và vô nhiễm nguyên tội".

– "Thật thích hợp khi Chúa Con nên có một Người Mẹ Thánh".

– "Loài người càng tôn thờ và yêu mến Chúa Kitô thì càng nên tôn kính và yêu mến Đức Mẹ".

Do đó, sùng kính Đức Mẹ là phần cơ bản của Tin lành. Các Giáo hội Tin lành Lutheran vẫn giữ ảnh tượng Đức Mẹ, và thậm chí hạn chế sùng kính Đức Mẹ (như kinh Ave Maria và Magnificat), dù gần 100 năm sau khi Luther qua đời. Giáo hội Lutheran dạy đề cao Đức Mẹ đồng trinh là mẫu gương nhân đức của các Kitô hữu.

Việc sắp xếp các "yếu tố ẩn giấu" này về lòng sùng kính Đức Mẹ và tinh thần của những người sáng lập Tin lành có thể là lý do để mới đây có nhiều sách của Tin lành kêu gọi tái khám phá Đức Mẹ. Một học giả Tin lành còn "đi xa" hơn và nói rằng: "Đã đến lúc người Tin lành về nhà".

Đức Mẹ đối với các quốc gia

Có thể ngày đó không bao giờ đến khi nhiều tôn giáo sẽ phá bỏ các rào chắn giáo lý kết hợp. Các bất đồng cơ bản về các giáo huấn chủ yếu sẽ có thể không bao giờ được vượt qua. Chẳng hạn, người Công giáo sẽ không bao giờ thỏa hiệp việc tin có Thiên tính của Chúa Giêsu Kitô, còn Hồi giáo sẽ không bao giờ nâng cao thân phận của Chúa Giêsu khỏi vị trí chỉ là một "tiên tri vĩ đại" của Thiên Chúa.

Nhưng có thể có một mẫu số chung giữa các tôn giáo để có thể là nền tảng của cuộc đối thoại lâu dài vào một ngày nào đó, để tạo sự kết hợp giữa các tôn giáo mà chúng ta thấy ngày nay. Đức Mẹ là Lady of All Nations (Đức Mẹ của mọi quốc gia).

Hồi giáo duy trì việc đánh giá cao và tuyên bố Đức Mẹ là người cao trọng nhất. Tin lành bắt đầu nhận biết vị trí của Đức Mẹ trong tôn giáo của họ. Thậm chí có người của các tôn giáo không độc thần như Phật giáo cũng đang coi Đức Mẹ là chứng cớ đã được các Phật tử tường trình tại Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Tại các hội nghị đại kết liên tôn, Đức Mẹ càng ngày càng là khởi điểm của việc đối thoại.

Đức Mẹ đã vượt qua mọi rào cản giáo lý, là ánh sáng soi vào nơi thâm sâu nhất và tối tăm nhất của bóng tối. Đức Mẹ là dấu hiệu của sự kết hợp, không bao giờ chia rẽ chúng ta.

Thật vậy, dù tôn giáo nào hoặc giáo phái nào, mọi người đều thấy dễ chấp nhận là Người Mẹ tốt nhất trong lịch sử (Best Mother in all history) – đạo hạnh nhất, kính sợ Chúa nhất, mạnh mẽ nhất, và sùng kính nhất.

Điều này chính xác vì "cương vị làm mẹ" của Đức Maria mà Mẹ có thể được gọi là "Mẹ của các dân tộc", Người Mẹ đã được Đức Kitô trao ban cho nhân loại, khi Ngài bị treo trên Thập giá: "Đây là mẹ của con" (Ga 19:27).

Có lần ông Luther nói: "Việc tôn kính Đức Maria được khắc ghi sâu đậm trong trái tim con người". Ý nghĩa của các từ ngữ mà ông Luther đã dùng rõ ràng: Trong sâu thẳm của mọi tâm hồn, dù tôn giáo nào hoặc dù dân tộc nào, đều được ghi khắc sự khao khát tự nhiên và tình yêu tự nhiên đối với Người Mẹ của các quốc gia, một ngày nào đó, nhờ lời cầu nguyện của chúng ta, sẽ quy tụ mọi con cái dưới bóng Mẹ.

AD JESUM PER MARIAM – NHỜ MẸ ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU.

TOTUS TUUS EGO SUM, ET OMNIA MEA TUA SUNT. ACCIPIO TE IN MEA OMNIA. PRAEBE MIHI COR TUUM, MARIA – CON HOÀN TOÀN THUỘC VỀ MẸ, VÀ MỌI SỰ CỦA CON ĐỀU LÀ CỦA MẸ. CON XIN DÂNG MẸ TẤT CẢ MỌI SỰ CỦA CON. LẠY MẸ MARIA, XIN BAN CHO CON TRÁI TIM CỦA MẸ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 139 = PHU NU TRONG KINH THANH PDF Print E-mail

Phụ nữ trong Kinh Thánh - TRẦM THIÊN THU
May 5 at 10:09 PM

Phụ nữ trong Kinh Thánh

Có nhiều loại hoa, với muôn hương và muôn sắc. Hoa là biểu tượng của vẻ đẹp dịu dàng. Có một loài hoa đặc biệt là "hoa biết nói cười", là công trình kỳ diệu của Thiên Chúa, đó chính là Phụ Nữ.

Jean de La Bruyère (1645-1696, triết gia và nhà luân lý) đã nhận xét tinh tế: "Khuôn mặt đẹp là cái đẹp nhất của tất cả cảnh sắc và nhịp điệu êm ái nhất là giọng nói của người phụ nữ ta yêu". Còn danh nhân Eunpide so sánh: "Nơi người phụ nữ quyến rũ lòng người nhất không phải là cái đẹp mà là sự cao quý".

Sách Talmud của Do Thái có ghi: "Phụ nữ đi ra từ chiếc xương sườn của người nam, chứ không từ bàn chân chàng để làm tấm thảm chùi chân chàng, cũng không từ cái đầu để mà cao hơn chàng, mà từ cạnh sườn chàng để làm người đồng hàng với chàng, ngay bên dưới cánh tay chàng để được che chở, và cạnh trái tim chàng để được yêu thương".

Câu nói trên đây rất "gần gũi" với sách Sáng Thế của Công giáo, về việc Thiên Chúa dựng nên phụ nữ từ chiếc xương sườn của đàn ông, nghĩa là một nữ và một nam được Thiên Chúa liên kết thành vợ chồng qua bí tích Hôn Phối, như Chúa Giêsu xác định: "Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly" (Mt 19:6). Sự kết hợp Âm Dương cũng kỳ lạ: Nữ giới là Âm, nam giới là Dương; đất là Âm, trời là Dương; đêm là Âm, ngày là Dương. Con người "phát hiện" quy luật đó nhờ Tạo Hóa đã sáng tạo, Đấng đó chính là Thiên Chúa.

Phụ nữ rất nhiều chuyện để nói, xưa nay người ta nói tới rất nhiều mà vẫn chẳng hết chuyện. Kẻ ưa, người ghét; kẻ bênh vực, người đả phá. Chính phụ nữ cũng có người hiền lành, chịu đựng, nhưng cũng có người ma mãnh, thâm độc. Ở đây, chúng ta chỉ nhắc tới đôi nét về một số phụ nữ trong Kinh Thánh mà thôi.

PHỤ NỮ TRONG CỰU ƯỚC

Kinh Thánh nhắc tới nhiều phụ nữ trong nhiều hoàn cảnh và nhiều lý do. Phụ nữ được ví là "hoa biết nói" và được mệnh danh là "người đẹp", dù là Chung Vô Diệm hoặc Thị Nở thì họ vẫn... "dễ thương". Có lẽ "cái đẹp" ở phụ nữ không là ngoại hình mà là sự dịu dàng, yểu điệu, duyên dáng,... Như Jean de La Bruyère đã xác định: "Không có phụ nữ xấu, mà chỉ có phụ nữ không biết làm đẹp". Cựu ước cho biết:

– Khi gần vào Ai-cập, ông Áp-ram nói với bà xã xinh đẹp là bà Xa-ra: "Bà coi, tôi biết bà là một người phụ nữ có nhan sắc. Khi người Ai-cập thấy bà, họ sẽ nói: 'Vợ hắn đấy!', họ sẽ giết tôi và để cho bà sống. Vậy xin bà cứ nói bà là em tôi, để vì bà, người ta xử tốt với tôi, và nhờ bà, tôi được sống" (St 12:11-13).

– Ông Áp-ra-ham cầu nguyện với Thiên Chúa và Thiên Chúa chữa lành vua A-vi-me-léc, vợ vua và các nữ tỳ của vua, cho họ có thể sinh con, bởi trước đấy Đức Chúa đã làm cho mọi phụ nữ trong gia đình vua A-vi-me-léc không sinh đẻ được, vì chuyện bà Xa-ra, vợ ông Áp-ra-ham (St 20:17-18).

– Khi Ê-xau được bốn mươi tuổi thì lấy hai người vợ là Giu-đi-tha, con gái ông Bơ-ê-ri người Khết, và Ba-xơ-mát, con gái ông Ê-lôn người Khết. Hai người phụ nữ này làm cho ông I-xa-ác và bà Rê-bê-ca phải cay đắng trong lòng (St 26:34-35).

– Khi chiến mã của Pha-ra-ô cùng với chiến xa và kỵ binh tiến vào biển, Đức Chúa cho nước biển ập xuống trên họ, còn con cái Ít-ra-en thì đi giữa lòng biển khô cạn. Nữ ngôn sứ Mi-ri-am, em ông A-ha-ron, cầm lấy trống; mọi phụ nữ theo bà đi ra, đánh trống và nhảy múa. Bà Mi-ri-am xướng lên rằng: "Hãy hát mừng Đức Chúa, Đấng cao cả uy hùng, kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương" (Xh 15:19-21).

– Các ngươi phải thờ phượng Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi; Người sẽ chúc phúc cho bánh ngươi ăn, cho nước ngươi uống. Ta sẽ đẩy bệnh tật xa ngươi. Trong xứ của ngươi, sẽ không có phụ nữ sẩy thai hay son sẻ. Ta sẽ cho ngươi sống đầy đủ số năm tháng ngày giờ dành cho ngươi (Xh 23:25-26).

– Mọi phụ nữ khéo tay đã tự mình dệt, rồi đem những gì đã dệt đến: vải đỏ tía và vải điều, vải đỏ thẫm và vải gai mịn. Mọi phụ nữ có nhiệt tâm và khéo tay thì lấy lông dê mà kéo sợi (Xh 35:25-26).

– Ông Bơ-xan-ên làm cái vạc đồng có đế cũng bằng đồng, với những gương soi cho phụ nữ phục vụ ở cửa Lều Hội Ngộ (Xh 38:8).

– Khi một phụ nữ khấn hứa với Đức Chúa và tự buộc mình làm điều gì, lúc thiếu thời còn ở nhà cha, và nếu cha người ấy nghe nói về lời khấn hứa và điều người ấy tự buộc mình làm, mà ông vẫn im lặng, thì mọi lời khấn hứa của người ấy có hiệu lực, và mọi điều người ấy tự buộc mình làm cũng đều có hiệu lực. Nhưng nếu cha người ấy phản đối ngay trong ngày ông nghe biết được, thì mọi lời khấn hứa và mọi điều người ấy tự buộc mình làm, không có hiệu lực. Đức Chúa sẽ dung thứ cho người ấy, vì cha người ấy đã phản đối (Ds 30:4-6).

– Nếu người phụ nữ ấy đi lấy chồng, khi vẫn còn phải giữ những lời khấn hứa hay bị ràng buộc bởi một lời hứa thiếu suy nghĩ nào miệng người ấy đã thốt ra, và nếu người chồng nghe biết được mà vẫn im lặng trong ngày nghe biết được chuyện ấy, thì những lời khấn hứa của người phụ nữ ấy có hiệu lực, và những điều mà người ấy tự buộc mình làm cũng đều có hiệu lực. Nhưng nếu trong ngày nghe biết được, chồng người ấy phản đối, thì anh ta huỷ bỏ lời khấn hứa còn ràng buộc người vợ, và lời hứa thiếu suy nghĩ người vợ đã tự buộc mình phải giữ, Đức Chúa sẽ dung thứ cho người phụ nữ ấy (Ds 30:7-9).

– Lời khấn hứa của người đàn bà goá hoặc bị chồng bỏ, và mọi điều người ấy tự buộc mình làm, đều có hiệu lực đối với người ấy. Nếu tại chính nhà chồng, một phụ nữ đã khấn hứa hoặc lấy lời thề tự buộc mình làm điều gì, và nếu người chồng nghe biết được mà vẫn im lặng, không phản đối, thì mọi lời khấn hứa của người ấy có hiệu lực, và mọi điều người ấy tự buộc mình làm cũng đều có hịệu lực. Nhưng nếu người chồng huỷ bỏ ngay trong ngày nghe biết, thì mọi điều miệng người vợ thốt ra khi khấn hứa và tự buộc mình làm, sẽ không có hiệu lực: người chồng đã huỷ bỏ, thì Đức Chúa cũng dung thứ cho người phụ nữ ấy (Ds 30:10-13).

– Ông Mô-sê nói với họ: "Sao anh em lại để cho cả bọn đàn bà này sống? Chính bọn chúng đã nghe lời Bi-lơ-am, mà lôi cuốn con cái Ít-ra-en phạm tội bất trung với Đức Chúa trong vụ Pơ-o, nên tai hoạ đã giáng xuống cộng đồng của Đức Chúa. Vậy bây giờ, hãy giết hết các con trai, cũng như mọi phụ nữ đã biết đến việc vợ chồng, đã ăn ở với đàn ông. Còn mọi con gái nhỏ tuổi chưa ăn ở với đàn ông, thì hãy để cho chúng sống và thuộc về anh em. Về phần anh em, ai đã giết người, ai đã đụng tới người bị sát hại, hãy đóng quân ngoài trại trong bảy ngày. Anh em cũng như các tù nhân đều phải thanh tẩy mình vào ngày thứ ba và thứ bảy. Anh em phải thanh tẩy mọi quần áo, mọi đồ bằng da, mọi sản phẩm bằng lông dê và mọi đồ gỗ" (Ds 31:15-20).

– Ông Mô-sê và tư tế E-la-da làm như Đức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê. Trong số chiến lợi phẩm, có 675.000 chiên dê, 72.000 bò bê, 61.000 con lừa, và 32.000 phụ nữ chưa ăn ở với đàn ông (Ds 31:31-35).

– Về gia nghiệp của phụ nữ có chồng, các gia trưởng của thị tộc con cái ông Ga-la-át, con ông Ma-khia, cháu ông Mơ-na-se, trong số các thị tộc con cái ông Giu-se, tiến đến và lên tiếng trước mặt ông Mô-sê và các đầu mục cũng là gia trưởng của con cái Ít-ra-en mà rằng: "Đức Chúa đã truyền lệnh cho đức ông phải dùng lối bắt thăm mà chia đất cho con cái Ít-ra-en làm gia nghiệp. Đức ông cũng nhận được lệnh của Đức Chúa bắt phải ban gia nghiệp của ông Xơ-lóp-khát, người anh em của chúng tôi, cho các con gái ông ấy. Mà nếu các cô này lấy chồng thuộc các chi tộc con cái Ít-ra-en, gia nghiệp của họ sẽ bị xén khỏi gia nghiệp cha ông chúng tôi. Gia nghiệp của họ sẽ nhập vào gia nghiệp của chi tộc mà họ sẽ là thành viên, và như vậy phần gia nghiệp của chúng tôi sẽ bị xén bớt. Đến lúc con cái Ít-ra-en mừng năm toàn xá, gia nghiệp của họ sẽ nhập vào gia nghiệp của chi tộc mà họ là thành viên, và sẽ bị xén khỏi gia nghiệp của chi tộc cha ông chúng tôi" (Ds 36:1-4).

– Về chiến tranh, Kinh Thánh nói: "Ai là người đã đính hôn với một phụ nữ mà chưa cưới? Người ấy hãy đi về nhà, kẻo bị chết trận và người khác sẽ cưới nàng" (Đnl 20:7).

PHỤ NỮ TRONG TÂN ƯỚC

Bà tổ Eva đã nghe lời đường mật của ma quỷ mà bất tuân lệnh Thiên Chúa, và rồi bà còn cám dỗ ông tổ Ađam cùng ăn trái cấm bằng những lời "ngọt như mía lùi". Vì thế, chính vẻ yếu đuối lại chính là thế mạnh của phụ nữ. Họ khiến nam giới "sập bẫy" mà không ngờ. Tân ước cũng nói nhiều về phụ nữ:

– Chúa Giêsu nhắc nhở nam giới về đôi mắt: "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5:28).

– Sau khi được truyền tin, Đức Maria đi thăm người chị họ là bà Ê-li-da-bét. Thấy cô em, bà Ê-li-da-bét chúc mừng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc" (Lc 1:42).

– Khi Đức Giêsu đang ở làng Bê-ta-ni-a tại nhà ông Si-mon Cùi, có một người phụ nữ đến gần Người, mang theo một bình bạch ngọc, đựng một thứ dầu thơm đắt giá. Cô đổ dầu thơm trên đầu Người, lúc Người đang dùng bữa. Thấy vậy, các môn đệ lấy làm bực tức nói: "Sao lại phí của như thế? Dầu đó có thể bán được nhiều tiền mà cho người nghèo". Biết thế, Đức Giêsu bảo các ông: "Sao lại muốn gây chuyện với người phụ nữ này? Quả thật, cô ấy vừa làm cho Thầy một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em; còn Thầy, thì không phải lúc nào anh em cũng có đâu! Cô ấy đổ dầu thơm trên mình Thầy là hướng về ngày mai táng Thầy. Thầy bảo thật anh em: Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô" (Mt 26:7-13). Nhưng Chúa Giêsu nói: "Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít" (Lc 7:47).

– Đức Giêsu biết có người sờ vào áo mình nên ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh" (Mc 5:32-34).

– Đức Giêsu đi đến thành kia gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: "Bà đừng khóc nữa!" (Lc 7:13). Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài và cho người con sống lại.

– Khi Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ (Lc 8:1-3).

– Đức Giêsu vào làng kia, có một người phụ nữ tên là Mác-ta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên là Ma-ri-a. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!". Chúa đáp: "Mác-ta! Mác-ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi" (Lc 10:38-42).

– Khi Đức Giêsu đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người: "Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!" (Lc 11:27). Nhưng Người đáp lại: "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11:28).

– Một ngày sa-bát kia, Đức Giêsu giảng dạy trong một hội đường. Ở đó, có một phụ nữ bị quỷ làm cho tàn tật đã mười tám năm. Lưng bà còng hẳn xuống và bà không thể nào đứng thẳng lên được. Trông thấy bà, Đức Giêsu gọi lại và bảo: "Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!". Rồi Người đặt tay trên bà, tức khắc bà đứng thẳng lên được và tôn vinh Thiên Chúa (Lc 13:11-13).

– Khoảng 12 giờ trưa tại giếng Gia-cóp, có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giêsu nói với người ấy: "Chị cho tôi xin chút nước uống!". Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: "Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?". Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. Đức Giêsu trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: 'Cho tôi chút nước uống', thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống" (Ga 4:7-10).

– Một lần nọ, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?". Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi" (Ga 8:3-7). Tất nhiên chẳng ai dám làm gì người phụ nữ đó.

– Nhóm Sa-đốc không tin có sự sống lại, nên họ hỏi Chúa Giêsu về một phụ nữ lấy bảy anh em trai làm chồng, thế thì phụ nữ đó sẽ là vợ ai trong bảy anh chồng, Chúa Giêsu nói: "Trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời" (Mt 22:30; Mc 12:25; Lc 20:36).

– Trên đường vác Thập giá lên Đồi Sọ, Chúa Giêsu bảo các phụ nữ xót xa cho Ngài: "Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu" (Lc 23:28).

– Khi Chúa Giêsu trút hơi thở trên Thập giá tại Đồi Sọ, có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giêsu từ Ga-li-lê để giúp đỡ Người. Trong số đó, có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp, và bà mẹ các con ông Dê-bê-đê (Mt 27:55-56).

– Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: "Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay". Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giêsu hay (Mt 28:5-8).

Sách Khải Huyền cũng đề cập hình ảnh phụ nữ:

– Có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con (Kh 12:1-2).

– Có điềm khác xuất hiện trên trời: Một Con Mãng Xà đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà. Bà đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người. Còn người Phụ Nữ thì trốn vào sa mạc; tại đó Thiên Chúa đã dọn sẵn cho bà một chỗ ở, để bà được nuôi dưỡng ở đó, trong vòng một ngàn hai trăm sáu mươi ngày (Kh 12:3-6).

– Khi Con Mãng Xà thấy mình đã bị tống xuống đất, nó liền đuổi bắt người Phụ Nữ đã sinh con trai. Bà được ban cho đôi cánh đại bàng, để bay vào sa mạc, vào nơi dành cho bà, tại đó bà được nuôi dưỡng một thời, hai thời và nửa thời, ở xa Con Rắn (Kh 12:13-14).

– Con Mãng Xà nổi giận với người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và giữ lời chứng của Đức Giêsu (Kh 12:17).

– Những người ấy đã không ra ô uế bởi phụ nữ, vì họ còn tân. Con Chiên đi đâu, họ cũng đi theo đó. Họ đã được chuộc về từ giữa loài người, làm của đầu mùa dâng lên Thiên Chúa và Con Chiên (Kh 14:4).

Ngày nay, người ta không còn "gay gắt" như ngày xưa về quan niệm "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" (một trai coi như là CÓ, mười gái cũng chỉ là KHÔNG), cho thấy mức bình đẳng giới đã biến chuyển. Vì phụ nữ bị coi thường nên thế giới đã có Ngày Quốc Tế Phụ Nữ (8-3) để tôn vinh nữ giới, đồng thời có những hoạt động bảo vệ phụ nữ, và thế giới còn dành Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Năm là Ngày Hiền Mẫu – tôn vinh những người mẹ và cũng là tôn vinh nữ giới. Đó là bước tiến khả quan. Ngày nay, chúng ta thấy có những phụ nữ làm được những việc rất lợi ích cho cộng đồng, thậm chí có những phụ nữ trở thành thủ tướng hoặc nguyên thủ quốc gia.

Người phụ nữ đầu tiên trên thế giới là Bà Tổ Eva, Bà được mệnh danh là MẸ CỦA CHÚNG SINH (St 3:20). Có một phụ nữ nhận mình là nữ tỳ, luôn khiêm nhường và sẵn sàng xin vâng, đó là Đức Maria, được mệnh danh là MẸ THIÊN CHÚA (Lc 1:43). Qua đó, chúng ta thấy phụ nữ có vị trí quan trọng chứ không như người ta nghĩ......

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 122 of 160