mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7480
mod_vvisit_counterHôm Qua10683
mod_vvisit_counterTuần Này33408
mod_vvisit_counterTuần Trước57668
mod_vvisit_counterTháng Này99295
mod_vvisit_counterTháng Trước249539
mod_vvisit_counterTất cả15179753

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 149 = SONG NGHEO DE LAM CHUNG PDF Print E-mail

TẠI SAO PHẢI THỰC SỰ KHÓ NGHEO VÀ CÔNG BẰNG ĐỂ RAO GIẢNG CHÚA KITÔ CÁCH HỮU HIỆU ?
Đức Thánh Cha Phanxiô quả thực là người đã sống và rao giảng cách thuyết phục tinh thần khó nghèo của Phúc Âm nói chung và của Thánh Phanxicô khó khăn thành Assisi cách riêng.
Đây là môt gương sáng chói cho mọi người trong Giáo Hội noi theo để Giáo Hội của Chuá Kitô không chỉ rao giảng mà thực sự phải sống tinh thần khó nghèo của Chúa " Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9) .
Nhưng nghèo khó ở đây không có nghĩa là phải đói rách, vô gia cư về mặt thể lý , mà cốt yếu là phải thực sự khinh chê của cải, tiền bạc và sa hoa vật chất cùng danh vọng phù phiếm ở đời này. Phải khinh chê để không chạy theo và làm nô lệ cho của cải , và tiền bạc , khiến sao nhãng việc trọng yếu hơn là rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô và sống điều mình rao giảng để trở nên nhân chứng đích thực cho Chúa và nhiên hậu thuyết phục được người khác tin và sống điều mình rao giảng cho họ.
Phải nói lại điều này một lần nữa, vì thực trạng sống của hàng giáo sĩ ở trong và ngoài nước quả có mâu thuẫn với tinh thần khó nghèo của Phúc Âm, của Chúa Kitô, Đấng thực sự khó nghèo đến nỗi " không có chỗ dựa đầu, trong khi chim trời có tổ và con chồn có hang." ( Mt 8: 20)
Ai dám nói là Chúa đã đóng kịch khó nghèo, hay dạy ta điều không thể thực hiện được ?
Nếu không, thì quả thật Chúa đã đích thực sống khó nghèo ngay từ khi sinh ra trong chuồng bò, lớn lên sống lang thang như người vô gia cư , và chết trần trụi trên thập giá để "hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20 : 28) được cứu độ để sống hạnh phúc, giầu sang phú quí với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Như vậy, rao giảng Chúa cho người khác thì không thể bỏ quyên nét đặc thù này trong đời sống của Chúa Kitô. Nghĩa là không phải chỉ nói suông, giảng mơ hồ về lý thuyết mà quan trọng là phải thực sự sống cái tinh thần khó nghèo của Chúa từ trong tâm hồn ra đến đời sống bên ngoài , thì lời giảng dạy của mình mới có sức thuyệt phục người nghe. Nói khác đi, là linh mục, nếu không sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô để ham mê tiền của, chỉ muốn đi đến các xứ giầu có để kiếm tiền, làm thân với người giầu để trục lợi cá nhân , chê lễ có bổng lễ ( mass stipend) thấp , hay không có bổng lễ , để chỉ nhận làm lễ có bổng lễ cao...thì làm sao nói được là sống "cái nghèo" của Chúa Kitô ? Và như thế, lời giảng dạy của mình về đức khó nghèo sẽ thuyết phục được ai nghe nữa ?
Liên quan đến việc này, phải nói thêm về thực trạng duy nhất chỉ có ở bên nhà.
Đó là các linh mục không được trả lương, khiến ít ai muốn đến phục vụ cho những xứ nghèo và ở xa xôi nơi miền quê. Ai cũng muốn đến những xứ giầu có ở thành thị để có được nhiều bổng lộc. Đây là một tệ trạng, bất công gây ra bởi giáo quyền từ bao đời nay đã không quan tâm giải quyết cách thỏa đáng vấn đề này để các linh mục được an tâm phục vụ , không bị chi phối với nhu cầu vật chất thiết thực như có của nuôi thân, có phương tiện chữa bệnh khi đau yếu, có chỗ an dưỡng khi về hưu.Câu ngạn ngữ " có thực mới vực được đạo" rất chính xác áp dụng vào trường hợp này .
Nếu cứ để tình trạng hiện này kéo dài, thì chinh giáo quyền đã và đang là nguyên nhân khiến cho một số linh mục phải bon chen tìm về những xứ giầu , chê xứ nghèo không có nguồn lợi vật chất. Đây là thực trạng phải nhìn nhận để giải quyết , chứ không phải là điều tưởng tượng nhằm phê phán.
Tại sao không thể làm được như các giáo hội Âu Mỹ là trả lương tối thiểu đồng đều cho các linh mục đi coi xứ hay làm việc trong giáo phận , còn tài sản của giáo xứ thì thuộc quyền quản trị của giáo xứ.? Nếu giáo xứ không đủ khả năng trả lương theo qui định của giáo quyền địa phương, thì địa phận liên hệ phải trả lương cho linh mục phục vụ ở các xứ nghèo, thiếu thốn kia.. Có làm được việc này, thì mới giải quyết được bất công trong việc bổ nhiệm linh mục đi phục vụ ở các xứ đạo trong toàn địa phận. Nói khác đi , nếu cứ duy trì tình trạng hiện nay, thì tệ trạng sẽ vẫn tiếp diễn là nếu giáo xứ giầu, thì cha xứ giầu, xứ nghèo thì cha xứ không có những phương tiện sống tối thiểu, khiến cứ phải chạy đi đó đâu để kiếm tiền, và sao lãng bổn phận thiêng liêng là rao giảng Tin Mừng và làm nhân chứng cho Chúa Kitô , " Đấng đến không phải để được người ta phục vu, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người." Mt 20: 28)
Phải chăng vì thế mà cho đến nay, vẫn còn nhiều linh muc và tu sĩ nam nữ thi nhau ra nước ngoài kiếm tiền cho những nhu cầu dường như bất tận ở bên nhà ?
Mặc dù ở Mỹ người ta đã cấm xin tiền từ lâu rồi , nhưng ở những nơi có đông người Công giáo Việt Nam như Houston , Dallas, New Orleans và California.. , mỗi Chúa Nhật, người ta vẫn thấy có các cha, các nữ tu đến gặp giáo dân ngoài cửa nhà thờ hay đi đến các tư gia để xin tiền !
Nhưng thử hỏi : tiền xin được đem về có ai biết được là bao nhiêu và dùng vào việc gì hay không ? Lại nữa, nếu người này đi và xin được nhiều tiền, thì sẽ lôi kéo người khác đi theo, và tình trạng này sẽ không bao giờ chấm dứt được chỉ vì hấp lực của đồng dollar, gây trở ngại lớn lao cho người tông đồ lớn nhỏ sống và thực thi tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô. Đây là thực tế không thể chối cãi hay biện minh cách nào khác cho hợp lý được.
Chưa hết, còn tệ trạng này nữa : thông thường trong Giáo Hội, linh mục hay tu sĩ chỉ nên ghi nhớ kỷ niệm thụ phong hay khấn Dòng của mình được 25 năm ( ngân khánh) hay 50 năm ( Kim khánh) mà thôi. Chứ không bao giờ năm nào cũng kỷ niệm, hay cứ 10 năm, 15 năm, 35 năm, 40 năm lại mừng kỷ niệm để mời nhiều khách đến ăn ở nhà hàng hầu kiếm lợi cho mình và làm phiền cho nhiều người khác. Phải nói là làm phiền vì lâu lâu lại được mời đi dự kỷ niệm thụ phong, 25 năm 35 năm, 40 năm và sẽ 45 năm.. của ai không biết ngượng, khi cứ mời mãi mọi người quen biết đến dự kỷ niệm thụ phong của mình.Muốn mừng nhiều lần như vậy , thì sao không âm thầm mừng riêng trong gia đình mình thôi, mà lại phải ồn ào mời khách đến nhà hàng để họ phải mừng tiền cho mình làm giầu như vậy, thì làm sao sống được " cái nghèo" của Chúa Kitô ?
Dù sống ở Mỹ, Canada hay ÚC châu thì đời sống của giáo dân không phải ai ai cũng có dư tiền của để chi phí xã giao hay làm việc bác ái. Có nhiều gia đình đã than là mỗi tuần nhận được 3, 4 thiệp cưới nên không thể đi dự hết được. Dầu vậy vẫn phải gửi tiền mừng. Nếu mỗi tuần nhận được 2 thiệp cưới lại thêm thiệp mừng 35 năm , 40, 45 năm năm của linh mục nào nữa thì ngân sách gia đình có lợi tức thấp làm sao cung ứng cho đủ ??? mà nếu cứ phải đi mừng thì người ta có vui để làm việc này hay không ? Vậy, hãy đặt mình vào trường hợp đa số người có lợi tức thấp , hay những ông bà già sống bằng tiền già hay trợ cấp SSI thì mời họ đi dự tiệc của mình nhiều lần như vậy có phải là việc xã giao bác ái phải làm , hay chỉ là lợi dụng lòng tốt của người ta để kiếm lợi cho mình ???.
Thử hỏi với số khách mời trên dưới 1000 người và ăn ở nhà hàng sang trọng thì lợi tức thu về sẽ là bao nhiêu, và người tổ chức dùng số tiền khổng lồ này vào việc gì cho xứng đáng và phù hợp với tinh thần khó nghèo của Phúc Âm mà mình được mong đợi phải sống để làm gương và thuyết phục người khác tin điều mình rao giảng về đức khó nghèo cho họ.
Chúa nói " ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 8: 8)
Chưa hết, ở bên Mỹ còn có tệ trạng này nữa , là các linh mục, ở một vài nơi có đông giáo dân VN, thường đua nhau đi "đồng tế" cuối tuần trong các lễ cưới, lễ tang để nhận phong bì của gia chủ.
Đi đồng tế vì thân quen với gia đình có đám cưới hay tang lễ thì không nói làm gì. Nhưng đi "đồng tế" chỉ vì được mời cho có đông linh mục để gia chủ được hãnh diện với công đoàn giáo xứ, thì đây là điều không nên làm. Không nên làm để tránh nhận phong bì của gia chủ , khiến cho mình khó sống tinh thần nghèo khó, vì linh mục ở Mỹ đều có lương của giáo xứ. Do đó, nếu mỗi cuối tuần kiếm thêm vài ba trăm nữa là điều không cần thiết cho nhu cầu của bản thân . Hơn nữa, còn làm cho các gia đình nghèo, không quen biết nhiều linh mục, buồn tủi vì lễ cưới hay lễ tang của gia đình họ không có nhiều cha đồng tế,
Liên quan đến việc này, tôi thấy cần phải nói lại một lần nữa là ơn Chúa ban xuống cho ai còn sống hay đã qua đời tuyệt đối không dính dáng gì đến việc có đông hay không có linh mục nào đồng tế.
Nếu sống mà không đi tìm Chúa, không yêu mến Chúa trên hết mọi sự, mà chỉ đi tìm những vui thú, lợi lãi tội lỗi ở đời này, thì khi chết dẫu có cả trăm linh mục , giám mục, hồng y dâng lễ và đồng tế thì cũng vô ích mà thôi.
Ngược lại, nếu đã thực tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người, thì khi chết, dẫu không có ai làm lễ an táng, hay không có linh mục nào đồng tế thì cũng không hề thiệt thòi gì về mặt thiêng liêng, vì đời sống của mình trên trần thế đã đủ để được Chúa đoái thương và ân thưởng phúc trường sinh. Đây là điều các linh mục phải dạy bảo cho giáo dân biết để không ai bị lừa dối chậy theo những vẻ hào nhoáng bề ngoài như đốt nhiều đèn nến trong nhà thờ , kéo chuông ầm ỹ và có nhiều linh mục đồng tế.
Chúa là tình thương và giầu lòng tha thứ. Tuy nhiên , con người cũng phải tỏ thiện chí muốn đáp lại tình thương của Chúa bằng quyết tâm từ bỏ ma quỉ và mọi quyến rũ của thế gian và ham muốn tội lỗi của xác thịt. Nếu cứ lấy cớ Chúa nhân từ để buông mình sống theo thế gian, gian tham lừa dối, thay chồng đổi vợ, - nhất là làm sự dữ vô cùng khốn nạn và ghê sợ là hiếp dâm con gái mới 4, 5 tuổi rồi bán chúng cho bọn buôn người vô nhân đạo; theo tin cho biết của một linh mục đang xả thân lo cho các trẻ em nạn nhân, thì Chúa không thể cứu những người đó được, dù họ có bỏ ra bao nhiêu tiền xin lễ, mời đông linh mục đồng tế khi chết thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.
Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô sống trong thế giới tục hóa ngày nay, mọi người , từ hàng giáo phẩm , giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đều được mong đợi sống nhân chứng cho Chúa về tinh thần khó nghèo, về đức công bằng, thực thi bác ái, giầu lòng nhân đạo và trong sạch để đẩy lui bóng đen của tội lỗi, của gian ác và sự dữ vô luân , vô đạo đang lộng hành ở khắp nơi trong và ngoài nước hiện nay.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 148 = GIAO HOANG TIEN KHOI PDF Print E-mail

Jun 27 at 4:39 PM

Giáo hoàng tiên khởi

Theo Tân ước và truyền thống Kitô giáo, Thánh Phêrô là một trong 12 Tông đồ của Chúa Giêsu và là vị lãnh đạo tiên khởi của Kitô giáo. Ngài "nổi bật" trong Phúc Âm và sách Công vụ, đồng thời được tôn kính là Thánh Giáo hoàng tiên khởi trong Giáo hội Công giáo, Giáo hội Đông phương, và Giáo hội Chính thống. Là con trai của ông Gioan (Ga 1:42) hoặc Giona, ngài người làng Bếtsaiđa, thuộc Galilê hoặc Gaulanitis. Em trai ông là Anrê cũng thuộc Nhóm Mười Hai.

Thánh Phêrô có công thành lập Giáo hội ở Antiôkia và cai quản Giáo đoàn này 7 năm. Đích thân hoặc qua thư từ, lời của ngài đã tới được Pontus, Galatia, Cappadocia, Tiểu Á và Bithynia, được người Do-thái và dân ngoại chấp nhận. Ngài tới Rôma vào năm thứ hai trong triều đại của Hoàng đế Claudius Germanicus, ngài đã lật đổ pháp sư Simon Magus.

Có hai thư được coi là của Thánh Phêrô. Phúc Âm theo Thánh Mác-cô đều cho thấy sự ảnh hưởng từ việc rao giảng của Thánh Phêrô. Vài sách khác mang tên ngài như Công vụ Thánh Phêrô, Phúc Âm theo Thánh Phêrô, Lời giảng của Thánh Phêrô, Khải huyền của Thánh Phêrô, và Phán quyết của Thánh Phêrô, nhưng tất cả các sách này không được Giáo hội Công giáo chấp nhận.

Chính ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu, rồi ông gặp em mình là ông Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia" (Ga 1:41). Sau đó ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Simon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha" (Ga 1:42). Kêpha nghĩa là Phêrô, tức là Đá tảng.

Khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ nhận biết Ngài là ai, Thánh Phêrô mạnh dạn tuyên xưng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16). Thật ngon lành! Và Chúa Giêsu khen ông và trao quyền: "Này anh Simon, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mt 16:17-19).

Thánh Phêrô là một trong ba nhân chứng trong cuộc biến hình của Chúa Giêsu. Thánh Phêrô như được xuất thần, khoái chí thưa ngay với Chúa Giêsu: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia" (Mt 17:4).

Thánh Phêrô còn được Chúa Giêsu cho "biểu diễn ngoạn mục" là bước đi trên mặt biển. Đêm hôm đó vào khoảng canh tư, Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Ngài đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: "Ma đấy!", và sợ hãi la toáng lên. Thấy vậy, Đức Giêsu liền bảo: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!". Ông Phêrô thấy Thầy đi trên nước ngon ơ, nhưng vẫn bán tín bán nghi: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài" (Mt 14:28). Đức Giêsu bảo ông: "Cứ đến!". Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước để đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, chả biết thật hay đùa, ông càng nghi ngờ là ma chứ chắc gì là Thầy. Thấy mình cứ chìm dần, ông la hoảng: "Thưa Ngài, xin cứu con với!" (Mt 14:30). Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?" (Mt 14:31). Ông Phêrô một phen hú hồn hú vía!

Khi quân lính hùng hổ vào Vườn Ghếtsimani để tìm bắt Chúa Giêsu, Thánh Phêrô thấy "nóng gáy", sẵn thanh gươm trong tay, ngài liền vung lên chém đứt tai của Man-khô, một đầy tớ của vị Thượng tế (Ga 18:10). Thật can đảm khi dám hành động như vậy!

Thánh Phêrô từng tuyên bố chắc nịch như đinh đóng cột: "Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không" (Mt 14:29). Thậm chí ông còn quả quyết hơn: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy" (Mc 14:31). Thế nhưng sau đó không lâu, chỉ mấy đứa con gái là đầy tớ quèn bảo ông thuộc nhóm của Chúa Giêsu, ông liền giả nai, tỉnh bơ chối phăng 3 lần: "Tôi không biết" (Ga 18:17-27). Nói trước bước không qua. Tồi tệ thật, được báo trước mà vẫn không tránh khỏi!

Nhưng thông cảm mà! Lúc đó ai mà không hoảng sợ chứ? Cả trung đội lính lăm le gươm giáo, đằng đằng sát khí, mặt mày bặm trợn, thấy mà té đái chứ đâu giỡn chơi. Kẻ thì chạy mất dép, kẻ thì chối leo lẻo, kẻ thì bỏ của chạy lấy người. Trong số đó có một cậu thanh niên bị bọn lính túm được áo, cậu ta liền chơi liều luôn: "Anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng" (Mc 14:52). Mác-cô nhà ta chứ ai trồng khoai đất này!

Khi Sư Phụ Giêsu đi ngang qua, Giáo hoàng tiên khởi Phêrô thấy ánh mắt Thầy tha thiết và bí ẩn quá, nhưng đầy lòng thương xót, ánh mắt ấy xoáy vào tâm khảm ông, rồi tự thấy mình thật đáng trách, quá xấu hổ và sám hối nên ông đã chạy ra ngoài "khóc lóc thảm thiết" (Mt 26:75; Lc 22:62).

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho Thánh Phêrô trước. Ông không chịu, nhưng sau khi được Chúa Giêsu giải thích, ông hớn hở như trẻ được quà: "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa" (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!" (Ga 13:10).

Khi Chúa Giêsu phục sinh, Thánh Phêrô là người đầu tiên bước vào mộ Chúa Giêsu, dù các phụ nữ và Tông đồ Gioan đã biết trước (Ga 20:1-9). Trong chương cuối của Phúc Âm theo Thánh Gioan, Thánh Phêrô "bị" Chúa Giêsu hỏi 3 lần: "Anh có yêu mến Thầy không" (Ga 21:15-17). Đó là để "bù đắp" vào 3 lần Thánh Phêrô đã chối Chúa và cũng là để xác định vị thế của vị Giáo hoàng tiên khởi.

Sách Công vụ, chương 12, cho biết Thánh Phêrô bị vua Hêrôđê bỏ tù, nhưng ngài được Thiên thần giải cứu. Tại Công đồng Giêrusalem (khoảng năm 50), Thánh Phaolô và các vị lãnh đạo Giáo hội Giêrusalem đã quyết định tiếp nhận dân ngoại trở lại. Sách Công vụ phác họa chân dung Thánh Phêrô là người thành công trong việc chấn chỉnh người Pharisêu khi họ cứ khăng khăng bám vào phép cắt bì.

Thánh Phêrô bị xử tử dưới triều Hoàng đế Nero Augustus Caesar vào khoảng năm 64-67. Truyền thống cho biết rằng Thánh Phêrô xin được đóng đinh ngược vì cảm thấy không xứng đóng đinh xuôi như Thầy Giêsu. Truyền thống cũng xác minh rằng nơi Thánh Phêrô bị đóng đinh được người ta xây dựng Nguyện đường Clementine. Một số xương và hài cốt của Thánh Phêrô còn được lưu giữ tại hầm Confessio trong Đền thờ Thánh Phêrô, nơi mà ĐGH Phaolô VI đã cho khai quật năm 1968, đó là hầm mộ đầu tiên của Rôma. Từ năm 1736, cứ đến ngày 29-6 thì tượng Thánh Phêrô tại Đền thờ Thánh Phêrô lại được "trang điểm" với dây giáo hoàng, nhẫn ngư phủ, và trang phục giáo hoàng, như một phần nghi thức trong ngày lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô.

Thánh Phêrô vốn là ngư dân, bản tính chất phác, chân thật, có sao nói vậy, thẳng thắn nên nóng tính, không nên không phải thì "phang" liền. Con người của thánh nhân cũng tội lỗi, ăn năn, và hoàn thiện, đồng thời hoàn thành trách nhiệm được trao. Đó là hành trình của phàm nhân, những con người luôn mỏng dòn và yếu đuối, nhưng luôn được Thiên Chúa hải hà thương xót, thứ tha và thánh hóa.

Thật vậy, là phàm nhân nên ai cũng lần mò về Nhà Cha trên con đường tội lỗi và thứ tha. Thánh nhân nào cũng có một quá khứ, và tội nhân nào cũng có một tương lai. Không ai lại không phạm tội, nhưng hơn nhau là đứng dậy và trở về để dìm mình trong Dòng Tình Thương Xót của Thiên Chúa.

Lạy Thánh Phêrô, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con, những tội nhân đang cố gắng hoàn thiện từng ngày trên đường lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # # 147 =TU TE-NGON SU-VUONG DE PDF Print E-mail

CHỨC VỰ TƯ TẾ, VƯƠNG ĐẾ VÀ NGÔN SỨ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ GÌ ?
Qua Phép rửa, người tín hữu giáo dân được tham dự vào địa vị vương đế, chức vụ tư tế và ngôn sứ của Chúa Kitô.
Đây là một đặc ân cao quý và cũng là trách nhiệm của những ai đã gia nhập Giáo Hội của Chúa Kitô qua Phép Rửa.Các giáo phụ ( Church Fathers) xa xưa đã dạy rằng người tín hữu giáo dân là Đức Kitô thứ hai ( Alter Christus) nhờ Phép rửa cho phép họ được tham dự vào các chức vụ kia của Chúa Kitô.
Danh xưng Đức Kitô thứ hai sau này cũng được dùng để chỉ các tư tế phẩm trật ( ordained Ministers) như linh mục và giám mục, là những người thực sự thay mặt và nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) khi cử hành các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải Xức dầu và Truyền Chức Thánh ( dành riêng cho giám mục) Các Bí tích Rửa tội và Hôn phối thì phó tế có thể làm , kể cả giáo dân trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử. Hai người phối ngẫu có thể kết hôn thành sự với sự chứng kiến của hai nhân chứng trong trường hợp nguy tử, không tìm được linh mục hay phó tế chứng hôn.( x giáo luật số, 1116 &1)
Danh từ giáo dân( lay persons) được dùng để chỉ những người không có chức thánh ( giáo sĩ =clerics) hoặc tu sĩ có lời khấn Dòng ( religious life). Họ chính là thành phần dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội và tham dự vào chức vụ Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế của Chúa Kitô theo cách thức riêng của họ.
Thánh Công Đồng Vaticanô II , trong Hiến Chế Tin Lý Lumen Gentium, đã phân biệt chức linh mục thông thường của giáo dân.( the common priesthood of the laity) khác với chức vụ linh mục biệt tác của hàng giáo sĩ thừa tác ( extraordinary ministerial Priesthood of the clerics) như sau:
Hàng giáo sĩ thừa tác thì hành chức năng tư tế khi cử hành các bí tích , cách riêng bí tích Thánh Thể và Hòa giải nhân danh Chúa Kitô ( Personna Christi). Nghĩa là chính Chúa Kitô cử hành các bí tích qua tay các thừa tác viên con người là Phó tế, linh mục và giám mục.Vì thế, bí tích luôn thành sự ( valid) khi thừa tác viên nhân danh Chúa và cử hành đúng nghi thức ( rites) mà Giáo hội đã qui định.
Thí dụ, rửa tội phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì bí tích không thành sự, dù cho thừa tác viên là linh mục hay giám mục.Cũng vậy, khi cử hành bí tích Thánh Thể trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ Ơn, nếu thừa tác viên không dùng đúng chất thể là bánh không men và rượu nho đúng theo qui đinh của Giáo Hội, hoặc không đọc đúng kinh Nguyện Tạ Ơn và lời truyền phép ( consecration) theo chữ đỏ ( rubric) thì bí tích sẽ không thành sự . Ngược lại, nếu không có chức linh mục hữu hiệu hay thành sự, thì cho dù có đọc và làm đúng theo lễ qui vẫn không có bí tích được , và người cử hành sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết , vì không có chức linh mục mà dám cử hành Thánh Lễ hay giải tội cho ai.( x giáo luật số 1378 triệt 1 và 2).
Tiếp đến, hàng giáo sĩ thừa tác thi hành chức năng ngôn sứ của Chúa Kitô qua việc rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và giáo lý của Giáo hội cho giáo dân ở khắp nơi để giúp họ biết sống đức tin ,đức cậy và đức mến cách đích thực để được cứu rỗi theo lòng mong muốn của Thiên Chúa, "Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 :4)
Mặt khác, hàng giáo sĩ và tu sĩ cũng được mong đợi sống phù hợp với lời mình rao giảng và dạy dỗ để làm chứng cho Chúa Kitô, "Đấng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 28)
Đây là sứ mệnh mở mang Vương Quôc của Chúa Kitô, Vương Quốc của yêu thương, tha thứ, công bình và thánh thiện trong lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới
Trên đây là cách thức hàng giáo sĩ tham dự vào chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô, với tư cách là tư tế thừa tác ( ministerial sacerdoce)
Người giáo dân, nhờ bí tích Rửa tội, cũng tham dự vào các chức năng trên nhưng theo cách thức riêng của họ như sau:
Liên quan đến chức năng ngôn sứ, người giáo dân không rao giảng lời Chúa trong nhà thờ, nhà nguyện như các linh mục, giám mục, mà rao giảng bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa để giúp họ nhân biết và tin yêu Chúa nhờ gương sống đức tin của mình.
Nghĩa là, trong khi những người không có niềm tin, hay có mà không dám sống niềm tin ấy, nên họ ăn gian nói dối, cờ bạc , gian dâm, thay vợ đổi chồng, buôn bán gian lận, thù ghét người khác, phá thai , ly dị... thì người có niềm tin Chúa phải sống ngược lại với cách sống của những người vô đạo hay chối đạo kia để " họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm , mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên Trời." ( Mt 5 :16), như Chúa Giê su đã dạy các môn đệ xưa.
Đây chính là trách nhiệm " phúc âm hóa môi trường sống" của người tin hữu giáo dân, góp phần hứu hiệu với hàng giáo phẩm và giáo sĩ trong sứ mệnh "phúc âm hóa thế giới" để mở mang Nước Chúa trên trần thế.Chính nhờ gương sống chứng nhân của mình mà người giáo dân sẽ thuyết phục được nhiều người khác nhận biết và tin yêu Chúa . Vì thề, Công Đồng Vaticanô II đã dạy rằng:
" ...Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian." ( LG, số 33)
Nói khác đi, khi sống giữa những người khác tin ngưỡng hay vô tín ngưỡng, người tín hữu công giáo làm chứng cho Chúa Kitô và rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống công bình, bác ái,vị tha, trong sạch để đối nghịch với lối sống vô luân, gian tham, xảo trá, gian manh, vô nhân đạo của người đời. Nghĩa là. Khi không hùa theo cách sống của họ và có can đảm sống theo đường lối của Chúa từ trong gia đình ra đến ngoài cộng đồng xã hội để không thay chồng đổi vợ, không ly dị, phá thai, không thù oán ai, không buôn bán gian lận, không lui tới những nơi tội lỗi như sòng bài và nhà điếm, thì người giáo dân đã chu toàn chức vụ ngôn sứ của mình là rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô cách hùng hồn bằng chính đời sống của mình cho những người sống vô luân vô đạo ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Và đây mới chính là cách thi hành chức vụ ngôn sứ của người giáo dân trong Giáo Hội để góp phần mở mang Nước Chúa bằng lời nói và việc làm của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa.
Nói khác đi, nếu người tín hữu Chúa Kitô- giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân- mà cũng ham mê tiền của, chạy theo những lôi cuốn về danh lợi với người đời thì sẽ trở thành phản chứng ( anti-witness) thay vì là nhân chứng ( witness) cho Chúa Kitô
" Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)
Mặt khác, khi người tín hữu Chúa Kitô - giáo sĩ ,tu sĩ và giáo dân- sống công bình bác ái, trong sạch và vị tha, yêu thương, tha thứ từ trong gia đình ra đến cộng đồng xã hội thì cũng mang Vương Quốc của Chúa là Vương Quốc yêu thương, công bình, an vui và thánh thiện đến với những ai đang sống trong hận thù, bất công, bóc lột người khác, vô luân vô đạo và dửng dưng trước sự nghèo đói của biết bao anh chị em đồng loại sống quanh mình.
Sau hết, người tín hữu giáo dân thi hành chức năng tư tế của mình bằng cách dâng đời sống cá nhân hay gia đình với mọi vui buồn , sướng, khổ, thành công hay thất bại để hiệp thông với sự đau khổ của Chúa Kitô một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá , để đền tội thay cho nhân loại, và còn tiếp tục dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội ngày nay.
Tóm lại, người tín hữu giáo dân thi hành các chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của mình theo cách thức đã trình bày trên đây, để thông hiệp cùng với hàng giáo sĩ thừa tác tế lễ, rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để mở mang Vương Quốc yêu thương, công bình và thánh thiện của Người đến với mọi tâm hồn con người ở khắp mọi nơi, để đánh tan bóng đen tội lỗi của văn hóa sự chết, của chủ nghĩa tục hóa ( vulgarism) tôn thờ tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, đang ngày một bành trướng ở khắp nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 146 = THAC MAC BO DAO PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC PHÉP BỎ ĐẠO CÔNG GIÁO ĐỂ GIA NHẬP MỘT GIÁO PHÁI TIN LÀNH NÀO KHÔNG ?
Thực tế ngày nay là có rất nhiều người Công Giáo không còn hiệp thông với Giáo Hội vì không tham dự và thực hành đời sống bí tích như đi dự lễ các ngày Chúa Nhật và xưng tội rước lễ nữa.
Lại có những người đã bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái Tin Lành, vì cho rằng các mục sư Tin Lành giảng đạo hay hơn các linh mục và không ngăm đe những ai sống bê bối như thay chồng đổi vợ, phái thai, cờ bạc, buôn bán gian lận
v.v.Thêm vào đó cũng có nhều người cho rằng chỉ cần đọc Kinh Thánh là đủ, không cần đi tham dự Thánh Lễ và rước mình máu Chúa Kitô.
lại nữa,cũng không thiều gì những người không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước lễ , mặc dù đang ngoại tình hay chung sống không kết hôn với người khác.
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những người đang sống trên đây ?
Trước hết, chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa là tình yêu. Người chậm bất bình và hay tha thứ .Chúng ta cũng tin Chúa Kitô, Đấng "đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người," (Mt 20: 28)
Tuy nhiên , chúng ta không được quên, hay coi thường những lời dạy của Chúa Kitô về điều kiện cho ta được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành.
Vì thế, nếu chỉ cần nghe lời Chúa mà không phải làm gì về phần mình, thì Chúa Kitô đã chẳng nói với dân chúng đến nghe Người rao giảng Tin Mừng xưa kía như sau:
" Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" ( Mc 1: 15)
Tại sao phải sám hối ? phải sám hối để nhìn nhận mình là kẻ có tội để xin Chúa thứ tha. Phải tin vào Tin Mừng vì đó là ánh sáng chỉ đường cho ta đến với Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Tin vào Tin Mừng cũng có nghĩa là sống theo những lời Chúa dạy các Tông Đồ và dân chúng xưa để được cứu rỗi.
Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Người trên nền tảng các Tông Đồ để chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với mọi người trong nhân loại mà Chúa đã hy sinh đổ máu mình ra và chết trên thập giá để cho nhiều người được cứu rỗi.
Cho nên, gia nhập Giáo Hội của Chúa qua phép rửa là việc tối cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô qua Giáo Hội là " Thân Thể Nhiệm Mầu" của Người ở giữa trần gian.Cho mục đích cứu độ, Giáo Hội của Chúa được ví như Con Tầu của ông Nô-e trong ngày Đại Hồng Thủy , khi Thiên Chúa cho mưa rơi làm lụt cả địa cầu, và chỉ những người và sinh vật được đưa lên Tầu của ông Nô-e mới thoát chết mà thôi. ( St 6-7).
Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, đã dạy rằng :
" Giáo Hội ấy tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.." ( LG số 8)
Nói rõ hơn, Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trên trần thế như phương tiện hữu hiệu chuyên chở ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với nhưng ai muốn hưởng nhờ ơn này qua Giáo Hội.
Do đó, " những ai biết rằng Giáo Hội Công Giáo, được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giê suKitô, như phương tiện cứu rỗi cần thết mà vẫn không muốn gia nhập , hoặc không muốn kiên trì sống trong Giáo Hội này thì không thể được cứu rỗi." ( LG, số 14)
Như vậy, không thể lấy lý do linh mục không giảng hay bằng các mục sư Tin Lành
để rời bỏ Giáo Hội mà gia nhập một nhánh Tin Lành nào như một số người đã làm.
Nhưng thế nào là giảng hay ?
Giảng hay vì nói hùng hồn hấp dẫn người nghe, hay vì có nội dung sâu sắc mời gọi người nghe thêm lòng yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người ?
Nếu chỉ nói hấp dẫn mà không có nội dung thuyết phục thì không thể nói là giảng hay được, vì bài giảng của linh mục trong Thánh Lễ phải ưu tiên cắt nghĩa lời Chúa qua các bài đọc, cách riêng bài Phúc Âm, và đưa ra được những áp dụng thiết thực đánh động tâm hồn người nghe để giúp họ thêm yêu mến và sống lời Chúa hàng ngày thì mới đạt mục đích giảng lời Chúa. Ngược lại, chỉ nói cho hấp dẫn với những câu truyện vui tai mà không liên hệ gì đến nội dung lời Chúa thì không thể
nói là giảng hay được. Về điểm này, chúng ta phải công nhận các nhà giảng thuyết Tin Lành trên các băng tầng TV có tài giảng thuyêt rất hùng hồn , hấp dẫn người nghe. Nhưng đa số chỉ nói cách chung chung về lời Chúa mà không đưa ra được những áp dụng cụ thể giúp người nghe nhìn lại đời sống và niềm tin của mình xem có phù hợp với tình yêu của Chúa hay không.
Thiên Chúa là tình yêu. Đó là điều Giáo Hội và mọi giáo phái Tin Lành và Anh Giáo phải nhìn nhận và rao giảng.Nhưng ca tụng tình yêu của Chúa mà không biết sống cho phù hợp với tình yêu ấy thì không ích gì, căn cứ trên chính lời Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu; mà chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi,." ( Mt 7: 21)
Nghĩa là nghe giảng hay, hấp dẫn về tình yêu của Chúa nhưng chỉ nghe cho vui tai mà không áp dụng thiết thực vào đời sống của mình thì cũng vô ích mà thôi.
Cụ thể, nếu nghe giảng hay hùng hồn về Chúa nhưng vẫn sống phản chứng như cờ bạc, ngoại tình, dâm đãng gian tham, thù nghét người khác và dửng dưng trước sự thiếu thốn đau khổ của người nghèo khó, thì nghe giảng hay có ích lợi gì ?
Ngược lại, không được nghe giảng hay, nhưng biết qui hướng đời mình vào lời Chúa để sống theo đường lối của Chúa, là xa lánh tội lỗi và mọi thói hư tật xấu của người đời thì đó mới là " thi hành ý muốn của Cha Thầy" để được vào Nước Trời như Chúa Giêsu đã dạy trên đây.
Như vậy , ai bỏ Đạo Công Giáo để đi theo một nhánh Tin Lành nào đó, chỉ vì muốn nghe giảng hay, hấp dẫn thì đó không phải là lý do để tự dối mình , rời bỏ Giáo Hội để đi theo giáo phái khác không có nguồn gốc Tông đồ, thiếu các bí tích ban sự sống như Thánh Thể và Hòa giải là những phương tiện cứu độ hữu hiệu mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội của Người là Giáo Hội Công Giáo.
Vậy ai đã đi vào con đường này thì cần phải nghĩ lại để kịp thời quay về với Giáo Hội để hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Mặt khác, là người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, mọi người được mời gọi không những siêng năng nghe lời Chúa trong Kinh Thánh, trong phụng vụ và qua các bài giảng của linh mục trong các Thánh Lễ, mà cần thiết phải năng rước Mình Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể và năng xưng tội để tâm hồn luôn được sống bình an trong ơn nghĩa Chúa, là bảo đảm cho sự cứu rỗi để vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau trên Nước Trời.Nói cách khác, đọc và nghe lời Chúa là cần thiết nhưng cũng cần thiết không kém là năng lãnh nhận các bí tích ban sự sống như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải và Xức dầu mà chỉ Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương có mà thôi. Anh em in Lành và Anh Giáo không có các bí tích quan trọng này nên tin đồ của họ đã thiếu hẳn nguồn ơn ích thiêng liêng đến từ các bí tích đó.
Không ai có thể phủ nhận những ơn thánh đặc biệt Chúa ban qua Bí Tích Thánh Thể và Hòa giải để giúp con người ngày càng trở nên giống Chúa Kitô, là " đường, là sự thật và là sự sống." ( Ga 14:6), những lợi ích thiêng liêng lớn lao mà các giáo phái ngoài Công Giáo không thể có được, dù họ có nói hay, giảng giỏi đến đây chăng nữa.
Ngay cả người Công giáo mà không siêng năng lãnh nhận Mình Thánh Chúa Kitô cũng như năng chậy đến với bí tích hòa giải thì chắc chắn không thể lớn lên trong đời sống thiêng liêng và trong thân tình với Chúa được , vì " ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất." ( Mt 13: 12) .Nói rõ hơn, ai siêng năng cầu nguyện và lãnh các bí tích Thánh Thể và hòa giải, thì sẽ tiến lại gần Chúa hơn, và nhiên hậu trở nên thánh thiện hơn.
Ngược lại, ai thờ ơ, không cầu nguyện, ít lãnh rước Mình Máu Chúa Kitô, không bao giờ đi xưng tội, thì tâm hồn sẽ nguội lạnh, đức tin sẽ mong manh và lòng mến cũng sẽ tàn lụi theo thời gian, vì không được bổ sức thiêng liêng đến từ các bí tích quan trọng đó..
Lại nữa, giáo lý của Giáo Hội dạy ta phải sạch tội nhất là tội trọng thì mới xứng đấng lãnh nhận Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ.( x. giáo luật số 916. SGLGHCG số 1415) Do đó, nếu đang sống chung với ai như vợ chồng mà không kết hôn, hay đã li dị mà chưa được tháo gỡ hôn phối cũ theo giáo luật mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Không phải cứ đi lễ là lên rước lễ mà không cần biết mình đang sống trong tình trạng nào, có tội hay đang bị trở ngại về hôn phối. Chúa mời gọi mọi người ăn uống Mình Máu thánh Người. Tuy nhiên, phải loại trừ những trở ngại cho việc kết hơp với Chúa qua bí tích Thánh Thể như đã nói trên.
Tóm lại, ai không kiên trì sống trong Giáo Hội và siêng năng lãnh nhận các bí tích ban sự sống thì sẽ không thể góp phần hữu hiệu của cá nhân vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn cho mọi người chúng ta.Chúa muốn cứu độ chúng ta, nhưng chúng ta cũng phải tỏ thiện chí muốn được cứu rỗi bằng quyết tâm sống theo đường lối của Người, xa lánh những nguy cơ đe dọa cho niềm tin có Chúa như thuyết vô thần, vô luân, tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, chuộng khái lạc ( hedonism) dâm ô sa đọa, là bộ mặt rất nhơ nhuốc của thế giới tục hóa ngày nay.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 145 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Xin cha giải đáp thắc mắc sau:
1- Thuyết tương đối ( relativism) là gì và nguy hại ra sao ?
2- Người ly dị có được phép xưng tội và rước Lễ hay không ?
3- Tại sao các giáo phải Tin Lành và cả Chính Thống Giáo đều cho linh mục
( mục sư Tin Lành) kết hôn mà Giáo Hội Công Giáo lại cấm ?
Trả lời :
1- Thuyết tương đối ( relativism) là một triết thuyêt ( philosophy) chủ yếu phủ nhận mọi tiêu chuẩn hay chân lý tuyệt đối về luân lý, vì cho rằng mọi luật lệ cá nhân hay phổ quát về luân lý chỉ là do con người áp đặt nên không có cơ sở vững chắc để bắt buộc ai phải tuân giữ.
Thuyết này chia ra ba loại chính sau đây:
a-Tương đồi về tâm lý( psychological relativism) : cho rằng mọi ý thức về luân lý của một người là kết quả đào luyện của người đó trong môi trường gia đình.
Nghĩa là nếu cá nhân chịu ảnh hưởng tốt trong gia đình thì có quan niệm tốt về luân lý và ngược lại.
b- Tương đối về xã hội ( social relativism) :cho rằng mọi ý thức về luân lý là kết quả của việc giáo dục trong môi trường xã hội. Nghĩa là hoàn cảnh xã hội và việc giáo dục cấu tạo nên ý thức luân lý của một người chịu ảnh hưởng đó
c- Tương đối về mặt kinh tế: ( Economic relativism) đây là quan điểm của Carl Max, một trong những lý thuyết gia của chủ nghĩa cộng sản ( communism) và xã hội chủ nghĩa ( sociolism) chủ trương rằng ý thức luân lý của con người chỉ là kết quả chi phối bởi tình trạng kinh tế của người chịu ảnh hưởng đó.
Dĩ nhiên , Giáo Hội , dựa trên niềm tin và lý lẽ hay lý trí ( faith and reason) đã hoàn toàn bác bó thuyết tương đối nói trên vì nó đi ngược lại với giáo lý và niềm tin có Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối trọn tốt trọn lành . Ngài dựng nên con người có lý trí , có ý muốn tự do ( free will) và lương tâm để biết việc thiện phải làm và điều gian ác, xấu sa phải tránh. Vì thế , Thiên Chúa chỉ phán đoán riêng con người về những gì con người làm với lý trí , ý muốn tự do và lương tâm . Mặt khác, Giáo Hội cũng tin và dạy không sai lầm rằng phải có chân lý phổ quát về luân lý ( universal truth of morality) buộc mọi người ở khắp mọi nơi và mọi thời đại phải tuân theo để con người khác biệt với mọi loài cầm thú chỉ sống với bản năng và không có ý thức gì về lành dữ. Luật luân lý phổ quát này ngăn cấm những hành động nhân linh( human act) như giết người ( trừ trường hợp tự vệ chính đáng) , hiếp dâm, thù nghịch, gian ác, gian dâm, mãi dâm, ấu dâm ( child prostitution) gian tham, bất công, bóc lột, kỳ thị về mầu da, hành hạ súc vật...là những sự dữ tự bản chất ( intrinsic evils) nên không thể biện minh được vì bất cứ lý do và hoàn cảnh nào. Nghĩa là không thể lấy lý do giáo dục gia đình hay môi trường xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế để biện minh cho việc giết người, hiếp dâm, bóc lột người khác, thù ghét ai vì mầu da , tiếng nói và nhất là phá thai hay giết thai nhi được. Không có hoàn cảnh nào cho phép làm những sự dữ nói trên theo luân lý Kitôgiáo. Chắc chắn như vậy.
Thánh Phaolô cũng đã liệt kê nhữ ng sự xấu , xét về mặt luân lý, là sai trái như sau:
" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ: đó là dâm bôn, ô uế, phóng đãng , thờ quấy , phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa.." ( Gl 5: 19-21)
Tóm lại thuyết tương đối là một nguy hại cho niềm tin có luân lý phổ quát buộc con người phải xa tránh những sự dữ tự bản chất như nói ở trên để làm những sự thiện, mưu ích cho phần rỗi của mình và cho người khác.
2-Những người li dị có được xưng tội rước lễ hay không ?
Để trả lời âu hỏi này, ta cần phân biệt hai trường hợp sau đây :
a- Nếu đã li dị ngoài tòa án dân sự mà chưa được tháo gỡ hôn phối ( tiêu hôn =annulment) của toà án hôn phối của Giáo phận ( Diocesan Tribunal) mà lại sống chung với người khác như vợ, chồng thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Nghĩa là không được xưng tội và rước lễ bao lâu tình trạng hôn phối chưa được giải quyết thỏa đáng theo giáo luật,chứ không theo luật của xã hội.Giáo Hội không công nhận việc li dị ở ngoài tòa án dân sự, mà chỉ cứu xét xem việc kết hôn của ai đó đã thành bí tích ngay từ đầu chưa để quyết định cho tiêu hôn hay không.
b- Nhưng nếu sau khi li dị mà không sống chung với ai như vợ, chồng thì không có ngăn trở gì để đi xưng tội và rước Mình Thánh Chúa.
Vậy nếu biết ai rơi vào các trường hợp trên thì xin khuyên bảo họ cho thích hợp.
3-Tại sao Giáo Hội Công Giáo không cho giáo sĩ và tu sĩ kết hôn ?
Các giáo phái Tin Lành, Anh giáo và cả Chính Thống Đông Phương đều không có luật độc thân ( celibacy) thì đó là quyền của họ.Riêng Chính Thống chỉ chọn giám mục trong số linh mục độc thân và cho phép các giáo sĩ , trước khi lãnh chức linh mục, được tự do chọn kết hôn hay không. Nếu đã không chọn kết hôn ở cấp phó tế, thì sẽ không được kết hôn sau khi làm linh mục. Vì thế, trong hàng linh mục Chính Thống có hai thành phần kết hôn và không kết hôn.Chỉ có giám mục buộc phải độc thân mà thôi.
Riêng Giáo Hội Công Giáo, thì luật độc thân mới chỉ có từ thế kỷ thứ 11 trở lại đây thôi. Trước đó, trong ba thế kỷ đầu sau ngày Chúa Giêsu về Trời, tuy không có luật rõ rệt , nhưng đa số các giáo sĩ ( giám mục và linh mục) đều tự nguyện sống khiết tịnh ( continence). Mãi sau năm 305, Công Đồng Elvira và Công Đồng Rôma năm 386 và hai Công Đồng nữa họp ở Carthage, đã đưa đến khuyến cáo giám mục và linh mục phải sống khiết tịnh. Nhưng mãi sau thế kỷ 11, dưới thời cố Giáo Hoàng Gregory VII ( 1073- 85) luật độc thân ( celibacy) mới chính thức được áp dụng cho đến nay.
Nhưng phải nói rõ là luật độc thân áp dụng cho hàng giáo sĩ, tu sĩ Công giáo không phải là luật của Chúa mà là của Giáo Hôi đặt ra vì lợi ích cho sứ vụ ( ministry) phục vụ của Giáo Hội hầu mang lợi ích thiêng liêng cho dân Chúa được trao phó cho mình , cụ thể là cho các giám mục và linh mục coi sóc, dẫn dắt và thánh hóa với các Bí tích. Giáo Hội , khi ban luật độc thân này, chắc đã đọc lời Chúa Giêsu trả lời cho các môn đệ trong Matthêu 19: 11-12 như sau:
"không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu, mới hiểu. Quả vậy, có những người là hoạn nhân vì từ lòng mẹ sinh ra đã như thế. Có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn. Và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu."
Thánh Phaolô cũng khuyến khích ý nghĩa và giá trị sống độc thân như sau:
" Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng vợ. Như thế họ bị chia đôi. ( 1 Cor 7: 32- 34).
Tóm lại, kỷ luật độc thân cho hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo được áp dụng vì lợi ích cho sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và làm chứng cho Tin Mừng của hàng giáo sĩ, tu sĩ. Đây là sự khôn ngoan của Giáo Hội và cũng thể hiện ước muốn hy sinh tự nguyện sống khiết tịnh vì Nước Trời của hàng giáo sĩ, tu sĩ, căn cứ trên chính lời của Chúa Kitô nói trên đậy.
Chúng ta cầu xin và hy vọng Giáo Hội sẽ không bỏ luật độc thân để chiều theo đòi hỏi của thời đại tục hóa ngày nay.Nếu chiều theo, thì còn phải cho cả phụ nữ có chồng làm linh mục nữa, và như vậy Giáo Hội sẽ tự mâu thuẫn với chính mình và làm mất niềm tin của con cái muốn trung thành với những truyền thống tốt đẹp được lưu truyền lại từ các Thánh Tông Đồ.
Giáo Hội không phải là một cơ chế chính trị, mà phải thay đổi theo trào lưu của thời đai. Ngược lại, Giáo Hội là một định chế thiêng liêng ( sacred Institution) được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ, với sứ mệnh cao cả là tiếp tục Sứ Mệnh cứu chuộc của Chúa Kitô cho đến ngày mãn thời gian. Và để trung thành với Sứ Mệnh đó, Giáo Hội phải có can đảm đi ngược dòng thác lũ của những chủ thuyết vô thần, vô luân, tôn thờ vật chất, chủ nghĩa tương đối và tục hóa ( vulgarism) đang bành trướng ở khắp nơi để lôi kéo con người vào thảm họa chối bỏ Thiên Chúa là Nguồn mạch phát sinh mọi sự tốt lành, thiện hảo, hạnh phúc và bình an. Chúa nói : " Ai có tai nghe thì nghe."( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 14: 35)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 123 of 162