mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2102
mod_vvisit_counterHôm Qua7127
mod_vvisit_counterTuần Này18115
mod_vvisit_counterTuần Trước64276
mod_vvisit_counterTháng Này168888
mod_vvisit_counterTháng Trước108912
mod_vvisit_counterTất cả14252544

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 137 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Xin Cha giải thích các thắc mắc sau :
1-Làm sao biết được Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời ?
2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không ?
3- Đức Mẹ có nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô hay không?

Trả lời:
1- Trong Kinh Tin Kính Nicene ( đọc ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng) và Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đều tuyên xưng Chúa Giê-su Kitô, " chết, sống lại, lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha".
Lời tuyên xưng này bắt nguồn từ chính lời Chúa Giê su trả lời cho viên thượng tế Cai pha và trước toàn thể thượng Hội Đồng thương tế , kỳ mục và kinh sư Do Thái họp nhau lại để tìm cách buộc tội Chúa với án tử hình. Viên thượng tế đã hỏi Chúa xem có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.
Chúa đã trả lời như sau: " Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến."( Mt 26: 64; Mc 14: 62; Lc 22: 69)
Như thế lời tuyên xưng của Giáo Hội về chỗ ngồi của Chúa Kitô, bên hữu Chúa Cha trên Nước Trời có nguồn gốc vững chắc là chính lời Chúa Giê su đã nói và được ghi lại trong các Tin Mừng, như bằng chứng trên đây.
2-Tín điều Đức Mẹ là Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?
Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nhắc lại một lần nữa là vào thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, có một linh mục tên là Arius thuộc Tòa Thượng Phụ Alexandria ( Ai Cập) đã lạc giáo ( heretic) khi cho rằng Chúa Giê-su Kitô có hai bản tính riêng rẽ là nhân tính( humanity) và thần tính ( Divinity) khi xuống trần gian làm Con Người. Vì thế Đức Mẹ Maria chỉ là Mẹ của Chúa Giêsu về phần nhân tính mà thôi. Quan điểm lạc giáo này đã bị Công Đồng Nicaea năm 325 A.D lên án và bác bỏ hoàn toàn vì đi ngược với niềm tin của Giáo Hội về sự đồng nhất bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa ( Trinity) và về hai bản tính không tách rời nhau của Chúa Cứu Thế Giêsu.Nghĩa là, Chúa Giê-su Kitô là Thiên Chúa thật và là Con Người thật, Chúa vừa có Thần tính ( Divinity) như Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vừa có nhân tính ( humanity) như mọi con người , và hai bản tính này không hề tách rời nhau. Arius đã lạc giáo khi cho rằng Chúa Kitô có hai bản tính tách rời nhau, nên Mẹ Maria chỉ là Mẹ Chúa Giêsu trong phần nhân tính mà thôi. chứ không thể là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) như các Giáo Phụ dạy và Giáo Hội sơ khai đã tin .Quan điểm sai lầm trên đến đầu thế kỷ thứ 5, (428 A.D) lại được tán đồng bởi Thượng Phụ Nestorius thành Constantinople, là người cũng cho rằng Đức Mẹ chỉ là Mẹ phần xác ( nhân tính) của Chúa Giê su-Kitô để phủ nhận điều các Giáo Phụ từ thời tiên khởi đã dạy rằng : Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Deipara= Theotokos= God bearer =Đấng cưu mang Thiên Chúa.
Các Công Đồng Nicaea ( 325) và Ê-phê sô ( 431) đều lên án tư tưởng lạc giáo của Arius và Nestorius để khẳng định rằng Chúa Giê-su đồng bản tính ( bản thể= substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Lại nữa, Chúa Kitô có hai bản tính không hề tách rời nhau là nhân tính ( Humanity và Thiên tính ( Divinity). Do đó, Đức Mẹ là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, nên Mẹ được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa=( Deipara=Theotokos= God bearer) như Giáo Hội đã dạy không sai lầm
Sau đây là bằng chứng Kinh Thánh :
Khi Đức Mẹ đến viếng thăm người chị em họ là bà Ê-i-sa-bét ( Elizabeth), thì bà này đã được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa ( Mother of my Lord) đến với tôi thế này Lc 43: 39- 43)
Bà Eli-sa-bét chắc chắn đã được Chúa Thánh Thần soi sáng nên đã thốt ra những lời trên để ca tụng Đức Mẹ. Như thế đủ cho thấy Giáo Hội ,từ đầu, đã không sai lầm khi tuyên xưng Đức Trinh Nữ Mara là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Giê su-Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, đồng bản tính ( bản thể= Substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Holy Trinity).
Nhưng cho dầu với địa vị cao trọng làm vậy, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa mà chỉ được tôn kính( veneration) ở mức Hyperdulia trong khi Thiên Chúa được tôn thờ ( adoration) ở mức Latria trong phụng vụ thánh của Giáo Hội.Nghĩa là chúng ta chỉ phải thờ lậy ( adore), ngượi khen, vinh danh một mình Thiên Chúa mà thôi, chứ không thờ lậy Đức Mẹ, mà chỉ tôn kính ( venerate) Mẹ cách đặc biệt ( hyperdulia) hơn các Thánh nam nữ khác, được tôn kính ở mức Dulia.
Do đó, trong thực hành, người tín hữu phải cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Mẹ và các Thánh chuyển giúp cầu thay, chứ không cầu xin Mẹ hay bất cứ Thánh Nam nữ nào như nguồn ban phát mọi ơn phúc.Chỉ có Chúa là cội nguồn của mọi ơn phúc mà chúng ta phải cầu xin cho được an vui trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là biết sống xứng đáng là con cái của Cha trên trời để được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô và sự phù giúp đắc lực của Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.
Lại nữa, khi vào nhà thờ hay nhà nguyện nào, thì phải bái lậy trong tâm tình thờ lậy Chúa trong nhà tạm ( Tabernacle) trước khi bái kính ảnh tượng Đức Mẹ , Thánh Cà Giuse, hay Thánh nam nữ nào khác.Phải nói điều này vì có một số người, khi vào nhà thờ, đã chạy ngay đến nơi có thánh thượng Đức Mẹ để cầu xin mà quên bái quỳ thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện thực sự trong nhà tạm.
Tóm lại, sùng kính Đức Mẹ là việc đạo đức rất tốt đẹp và đáng khuyến khích cho mọi tín hữu, nhưng đừng quên là trên hết phải thờ lậy Chúa là Đấng mà Mẹ Maria cũng phải tôn thờ cùng các Thánh nam nữ và các Thiên Thần, mặc dù Mẹ có địa vị cao trọng là Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa như Giáo Hội dạy.
3- Mẹ Maria có nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không ?
Theo giáo lý của Giáo Hội, chúng ta phải tin Mẹ được diễm phúc thụ thai không mắc tội nguyên tổ ( immaculate Conception) và mọi tội khác như mọi người trong nhân loại, cũng như được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần như đã nói ở trên. Nhưng Mẹ không cao hơn Chúa và không cùng một bản thể ( substance) với Ba Ngôi Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô như chính Mẹ đã tuyên xưng như sau:
" Linh hồn tôi ngượi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi...." ( My Savior)
( Bài ca Ngượi khen Magnificat, Lc 1: 46-55)
Vì là Mẹ Chúa Kitô, nên Mẹ được diễm phúc khỏi tội tổ tông và mọi tội cá nhân từ khi được thụ thai cho đến khi về trời cả hồn xác. Mẹ được sinh ra như mọi tạo vật khác, trừ đặc ân được giữ gìn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể.
Nhưng việc nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu ,Con của Mẹ, không làm thương tổn địa vị cao trọng của Mẹ là Mẹ Ngôi Hai và là Mẹ Thiên Chúa. Ngược lại, Mẹ đã vinh danh Chúa Cứu Thế Giêsu khi nhận ơn cứu chuộc của Chúa, vì " ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh ấy mà được cứu độ." ( Cv 4 :12)
Như thế khi nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, Mẹ đã tôn vinh Chúa là Đấng cứu thế duy nhất đã hòa giải con người với Thiên Chúa qua vâng phục và hy sinh chịu chết trên thập giá năm xưa, mặc dù Mẹ không có tội lỗi nào cần phải được tha thứ nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa.
Chúng ta cảm tạ Mẹ Maria thật nhiều vì Mẹ đã " xin vâng" với Thiên Chúa để làm Mẹ Chúa Cứu Thế Giêsu, và cộng tác với Con của Mẹ trong sứ mệnh cứu chuộc cho nhân loại khỏi phải chết vì tội. Vai trò của Mẹ thật quan trọng trong Chương Trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, Con của Mẹ.
Vậy chúng ta hãy siêng năng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay cho chúng ta được mọi ơn cần thiết của Chúa trong cuộc lữ hành về quê Trời giữa bao khốn khó , gian nan vì cản trở và đánh phá của ma quỷ , cám dỗ của thế gian với đầy rẫy gương xấu, dịp tội và vì bản chất yếu đuối nơi mỗi người chúng ta.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 136 = THANH CLEOPAT PDF Print E-mail

Thánh Cơ-lê-ô-pát là ai ? - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Cantuar.blogspot.
May 2 at 10:26 PM

Thánh sử Lu-ca cho biết rằng có hai người đàn ông trên đường đi Em-mau ngày Chúa Nhật phục sinh thì Đức Ki-tô hiện ra với họ và làm cho họ nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh. Một trong hai ông là Cơ-lê-ô-pát. Đây là đoạn Phúc Âm theo Thánh sử Lu-ca:

Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?". Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay" (Lc 24:13-18).

Cơ-lê-ô-pát là ai? Cornelius Lapide đã dẫn chứng lời Thánh Giê-rô-ni-mô nói rằng Thánh Cơ-lê-ô-pát là "em của Thánh Giu-se, Phu Quân của Đức Maria, là cha của Thánh Gia-cô-bê Nhỏ và Thánh Giu-đa (Ta-đê-ô), đồng thời là ông của Thánh Gia-cô-bê Lớn và Thánh Gio-an, hai con của Thánh Ma-ri-a Sa-lô-mê, con gái của Thánh Cơ-lê-ô-pát".

Chúng ta cùng xem xét:

1. Cơ-lê-ô-pát là em của Thánh Giu-se và là em rể của Đức Mẹ (Thánh Giê-rô-ni-mô nói vậy).

2. Cơ-lê-ô-pát là cha của Tông đồ Gia-cô-bê Nhỏ, Tông đồ Giu-đa (Ta-đê-ô) và Ma-ri-a Sa-lô-mê.

3. Cơ-lê-ô-pát là ông của Tông đồ Gia-cô-bê Lớn và Tông đồ Gio-an vì Maria Sa-lô-mê (con gái của Cơ-lê-ô-pát) là mẹ của Tông đồ Gia-cô-bê lớn và Tông đồ Gioan.

Điều này làm cho Thánh Cơ-lê-ô-pát trở thành cha của hai Tông đồ và ông của hai Tông đồ khác. Điều này cũng cho biết rằng Thánh Gia-cô-bê Nhỏ và Thánh Giu-đa là hai ông chú của Thánh Gia-cô-bê Lớn và Thánh Gio-an.

Danh sách tử đạo của Giáo Hội Công Giáo xác định ngày tháng tử đạo của Thánh Cơ-lê-ô-pát là ngày 25 tháng 9, do chính quyền Do Thái tại Giu-đê.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Cantuar.blogspot.com)

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 135 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Hỏi: xin cha giải đáp thắc mắc sau :
1- Có được phép đem tro người chết thả ngoài sông, hồ hay biển được không?
2- Khi rước Lễ, có thể chỉ rước Mình Thánh hay Máu Thánh được không?
3- Các tu sĩ nam hay nữ có được phép rửa tội và chứng hôn không?
Trả lời:
1-Có được phép bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển ?
Trước hết, phải nói lại một lần nữa là việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng từ xưa đến nay trong Giáo Hội và trong mọi nền văn hóa nhân loại. Riêng trong Giáo Hội Công Giáo, việc đạo đức này được đặc biệt tôn trọng vì niềm tin " xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này.Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội đều có các nghĩa trang được làm phép để chôn người chết cho con cháu, thân nhân đến viếng thăm quanh năm , và đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 dương lịch). Ai viếng thăm nghĩa trang và cầu cho các linh hồn mà xác đang còn nằm ở đây thì được ân đại xá nhưng phải nhường lại ân huệ này cho các linh hồn thân nhân hay các linh hồn khác có xác đang nằm trong nghĩa trang. Đây là việc đạo đức mà các tín hữu được khuyến khích siêng năng làm để cầu cho các linh hồn còn đang được thanh tẩy trong nơi Luyện tội ( Purgatory)
Trước đây, có thời Giáo Hội đã cấm thiêu xác người chết ( cremation) vì có bè rối ( heretics) chủ trương đốt xác kẻ chết để thách đố Giáo Hội xem còn lấy gì để tin xác kẻ chết sẽ sống lại như Giáo Hội dạy. Sau này bè rối đó tan và từ sau Công Đông Vaticanô II ( 1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép đốt xác nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong nơi gọi là hỏa ngục.( hell) trong ngày cánh chung.( . Mt 25 : 31-46)
Giáo Lý và giáo luật của Giáo Hội đều dạy phải tôn kính thi hài của người quá cố được an táng trong nghĩa trang Công giáo để chờ ngày sống lại.
Nếu chọn hỏa táng ( cremation) thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự sống lại của kẻ chết. ( giáo luật số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690). Nghĩa là phải tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với linh hồn trong ngay sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, hoặc ở tư gia hay trong nhà thờ nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được phép mang tro này ra trải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết đang làm. Vì không tin, nên họ đã trải tro của thân nhân họ ra sông , hồ hay biển cả , vì cho rằng con người là hư không, chết là hết, nên thả tro ra sông, biển để nói lên sự hư không này của thân phận con người.
Ngược lại, vì người Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết trải ra ngoài sông, biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem trải tro người chết ra sông, hay biển thì vô tình chia sẻ niềm tin của những người không tin có sự sống lại của thân xác hay sao ?
2- Có được phép chỉ rước Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ ?
Từ xa xưa, việc rước Lễ của giáo dân chỉ trong giới hạn rước Mình Thánh Chúa mà thôi, vì Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong hình bánh,và chỉ có linh mục cử hành Thánh lễ được rước cả hai Mình và Máu Thánh Chúa.
Nay vì muốn diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Thánh Lễ, về một phương diện, là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ. Trong Bữa Ăn lịch sử này, Chúa đã lập Bi tích Thánh Thể khi biến bánh và rượu thành Mình Máu Người cho các Tông Đồ ăn và uống lần đầu tiên.Vì thế , ngày nay Giáo Hội cho phép giáo dân được rước cả hai hình thức Thánh Thể là bánh và rượu đã được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ. Nhưng ở các Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) các Giám mục vẫn có toàn quyền để cho phép rước Thánh thể cả hai hình thức hay một hình thức như cũ..
Tuy nhiên, ở nơi nào cho rước cả hai hình thức Thánh Thể, thì giáo dân, hoặc chọn rước cả hai hay chỉ một Mình Thánh mà thôi. Nghĩa là không được chọn rước một hình thức là Máu Thánh mà không rước Mình Thánh. Nói rõ hơn , rước một Mình Thánh thì được , nhưng không được phép chỉ rước Máu Thánh không thôi.
Tuy nhiên, trong trường hợp một bệnh nhân không thể rước Mình Thánh vì không nuốt được chất đặc nào qua miệng, thì có thể chỉ cần rước Máu Thánh là đủ.
Riêng hàng tư tế , tức linh mục và Giám mục, thì buộc phải rước cả hai hình thức Thánh Thể khi chủ tế hay đồng tế Thánh Lễ.
3- Tu Sĩ có được phép rửa tội, sức dầu và chứng hôn không ?
Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt như sau:
Tu sĩ ( religious) là những người có ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh ( chastity) và vâng phục trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập đúng theo giáo luật.
Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh ( độc thân) và vâng phục mà thôi. Giáo sĩ không phải là Tu sĩ. Nhưng nam tu sĩ có thể trở thành giáo sĩ nếu có các chức thánh nói trên, mặc dù vẫn thuộc hàng tu sĩ, vì có ba lời khấn trong Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Giáo sĩ thì thuộc về một địa phận dưới quyền của một Giáo mục, và được gọi là các linh mục triều ( diocesan priests), trong khi các tu sĩ linh mục thì được gọi là các linh mục Dòng ( religious priests),
Liên quan đến câu hỏi đặt ra, nếu chỉ là Tu sĩ ( religious ) )có lời khấn Dòng mà không có chức Phó tế, Linh mục hay giám mục, thì không ai được phép cử hành bất cứ bí tích nào. Phải nói rõ điều này vì ở một địa phương kia, có cha xứ đã cho một nữ tu rửa tội cho trẻ em ở nhà thờ trước sự chứng kiến của cha xứ ! và cả hai đã bị bề trên liên hệ khiển trách nặng, vì đã làm việc hoàn toàn sai trái về kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Nhưng nếu Tu sĩ cũng là giáo sĩ ( nam tu sĩ), nghĩa là có chức linh mục hay giám mục thì vẫn có năng quyền để cử hành các bí tích như mọi giáo sĩ. Dĩ nhiên, linh mục Triều hay Dòng, muốn làm mục vụ trong giáo hội địa phương ( giáo phận), thì phải có phép của Đấng bản quyền địa phương, nghĩa là phải xin năng quyền ( faculties) của Tòa Giám mục.
Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì tu sĩ ( nam nữ) hay giáo dân đều có thể được phép rửa tội ở bất cứ nơi nào, nhưng phải theo đúng công thức của Giáo Hội, nghĩa là phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 134 = LOI TRE Y GIA PDF Print E-mail

Lời Trẻ Ý Già - JANA DUCKETT - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Apr 13 at 9:00 PM

Lời Trẻ Ý Già

JANA DUCKETT

Đôi khi trẻ em có nhưng câu hỏi khiến người lớn lúng túng, nhất là về Kinh Thánh và Đức tin Kitô giáo. Lời trẻ nhưng không ngây ngô đâu. Đôi khi những câu hỏi của chúng lại khiến chúng ta thấy thú vị và hiểu rõ vấn đề hơn. Đây là 20 câu hỏi của trẻ em và cách trả lời dành cho phụ huynh.

1. Tại sao Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ?

KINH THÁNH: Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất... Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (St 1:1-31).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa tạo dựng thế giới và mọi vật trong đó vì Ngài thích làm nên mọi vật và Ngài muốn ở với chúng ta. Ngài muốn làm cho chúng ta trở nên các thành viên trong đại gia đình của Ngài. Ngài sáng tạo thế giới để chúng ta sinh sống và tận hưởng. Chúng ta như tấm gương phản chiếu vinh quang của Ngài qua thế giới.

CHA MẸ LƯU Ý: Đây là lúc thuận tiện để nói cho con cái biết rằng kế hoạch của Thiên Chúa có liên quan chúng. Hãy cho chúng biết rằng Thiên Chúa dựng nên chúng với mục đích đặc biệt mà chỉ có chúng mới có thể làm được.

2. Trên tàu của ông Nôe có khủng long không?

KINH THÁNH: Kìa xem con thú Bơ-hê-mốt, Ta dựng nên nó như đã dựng nên ngươi, nó ăn cỏ như bò. Hãy nhìn nó đi: lưng mạnh mẽ, bụng rắn chắc, đuôi vươn dài tựa cây bá hương, gân đùi quấn chằng chịt, xương cốt tựa ống đồng, tứ chi như thanh sắt. Nó quả là tác phẩm tuyệt vời trong các công trình Thiên Chúa dựng nên; nhưng Đấng Sáng Tạo lại trao gươm cho nó, vì núi non cung cấp cho nó cỏ ăn và mọi dã thú nô đùa ở đó (G 40:15-20).

TRẢ LỜI: Đa số các chuyên gia Kinh Thánh đều cho rằng khủng long đã tuyệt chủng từ trước Đại Hồng Thủy, nghĩa là chúng không có trên tàu ông Nôe. Một lý do khác chúng ta biết về khủng long là vì Kinh Thánh không hề nói tới. Kinh Thánh không là sách khoa học nên chỉ nói về nhân loại và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

CHA MẸ LƯU Ý: Kinh Thánh không nói riêng về khủng long, nhưng nói rõ tổng quát: "Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành" (Ga 1:3). Hãy nhắc nhở con cái rằng Thiên Chúa trung thành và đáng tin cậy ngay cả khi Ngài không giải thích đầy đủ.

3. Tại sao Thiên Chúa tạo dựng con người?

KINH THÁNH: Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất". Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ (St 1:26-27).

TRẢ LỜI: Người ta khác loài vật vì Thiên Chúa tạo nên chúng ta giống hình ảnh Ngài (St 1:27). Chúng ta có thể nói chuyện với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện, có tính sáng tạo và yêu thương người khác. Loài người là một phần trong công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa nên chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Ngài.

4. Thiên Chúa nhìn như thế nào?

KINH THÁNH: Thiên Chúa là thần khí, những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật (Ga 4:24). Ông Mô-sê đi lên cùng với ông A-ha-ron, Na-đáp, A-vi-hu và bảy mươi người trong hàng kỳ mục Ít-ra-en. Họ nhìn thấy Thiên Chúa của Ít-ra-en; dưới chân Người như có nền lát bằng lam ngọc, trong vắt như chính bầu trời (Xh 24:9-10).

TRẢ LỜI: Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa ở trong loại ánh sáng không ai có thể tới gần và Ngài là Thần Khí, nghĩa là Ngài không bị giới hạn vào hình thể như chúng ta. Ngài có dạng thể lý qua Đức Kitô và thể hiện cho chúng ta biết cách sống trên thế gian, cách "tỏa sáng" của chúng ta. Kinh Thánh nói Thiên Chúa là "Đấng dựng nên muôn tinh tú" (Gc 1:17), Ngài có thể tạo hình dáng đẹp nhất, Thiên Chúa Cha đầy sự tốt lành mà chúng ta luôn phải học theo: "Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5:48).

5. Thiên Chúa có bạn bè hay chỉ một mình?

KINH THÁNH: Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người (1 Ga 1:3).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa muốn cho chúng ta biết và Ngài cũng muốn chúng ta biết Ngài. Thiên Chúa là Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì vậy, Ngài không bao giờ một mình, và nhờ Chúa Giêsu mà chúng ta không tách khỏi Gia đình của Thiên Chúa. Chúng ta thuộc Gia đình của Ngài.

CHA MẸ LƯU Ý: Nếu con cái không hiểu về Chúa Ba Ngôi, hãy dùng quả trứng để biểu thị cho chúng biết rằng quả trứng có ba lớp (vỏ, tròng rắng và tròng đỏ) nhưng vẫn chỉ là một quả trứng.

6. Thiên Chúa sống ở đâu?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu nói: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 14:23-24).

TRẢ LỜI: Nhà của Thiên Chúa là Trời, nhưng Ngài cũng muốn sống với những ai yêu mến Ngài. Kinh Thánh nói rằng Thiên Chúa sống trong lời ca tụng của dân Ngài, cũng có nghĩa là ở đâu có vài người cầu nguyện nhân danh Ngài thì Ngài hiện diện ở đó (Mt 18:20). Khi chúng ta cho phép sự sống của Thiên Chúa sống trong chúng ta, sự sống đó sẽ vươn xa tới người khác.

7. Thiên Chúa có ngủ hoặc nghỉ ngơi?

KINH THÁNH: Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành! (Tv 121:3-4).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa không bị giới hạn vào thể lý như chúng ta, do đó Ngài không cần ăn uống hoặc ngủ nghỉ. Khi Kinh Thánh nói Thiên Chúa "nghỉ ngơi", có ý nói là Ngài ngưng những gì Ngài làm. Chúa Giêsu nói rằng Ngài phải làm việc vì Chúa Cha luôn làm việc.

CHA MẸ LƯU Ý: Có thể đây là thời điểm tốt để nói thật rằng Thiên Chúa không hẳn giống như con người. Các của Ngài không như cách của chúng ta, và tư tưởng của Ngài cũng khác hẳn tư tưởng của chúng ta.

8. Ai tạo nên Thiên Chúa?

KINH THÁNH: Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn. Ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên, địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành, Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời (Tv 90:1-2).

TRẢ LỜI: Không ai tạo nên Thiên Chúa. Ngài luôn luôn hiện hữu và không lệ thuộc vào bất cứ thứ gì. Chúng ta cần sự hiện hữu của Ngài để sống khỏe và sống mạnh. Thiên Chúa không có khởi đầu, ở giữa hoặc kết thúc. Đó là lý do Ngài nói Ngài là "Đấng Hằng Hữu" (Xh 3:14), cũng là Đấng Hiện Hữu hoặc Đấng Tự Hữu.

9. Tại sao chúng ta thấy Thiên Chúa?

KINH THÁNH: Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi (1 Cr 13:12).

TRẢ LỜI: Chúng ta không thể thấy Thiên Chúa vì Ngài vô hình, nhưng chúng ta có thể nhận ra Ngài qua những việc Ngài làm trong cuộc đời của chúng ta và của người khác. Như trái bóng đầy hơi mà chúng ta có thể nhìn thấy, chúng ta thấy trái bóng càng lúc càng lớn hơn khi chúng ta thổi hơi vào. Thiên Chúa vô hình vì Thiên Chúa là Thần Khí, nhưng chúng ta có thể nhận thấy Ngài qua cách sống của các Kitô hữu khi họ biết yêu thương nhau hơn.

10. Các Kitô hữu có nghe thấy Thiên Chúa nói?

KINH THÁNH: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài (Dt 1:1-2).

TRẢ LỜI: Có. Thiên Chúa nói với chúng ta qua Kinh Thánh, qua các vị lãnh đạo tinh thần và Ngài cũng nói trực tiếp trong linh hồn chúng ta. Có một số người trong Kinh Thánh đã nghe được tiếng Chúa, chẳng hạn là cậu bé Samuel (1 Sm 3:10). Thiên Chúa luôn ở với chúng ta và không bao giờ bảo chúng ta làm điều gì ngược với những điều Ngài nói trong Kinh Thánh.

11. Bố ơi, tại sao con cần hai người cha là Thiên Chúa và cả bố nữa?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu nói: "Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?" (Mt 7:11).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa là Cha của mọi người, vì Ngài tạo dựng nên chúng ta, bảo vệ chúng ta và là nguồn sống của chúng ta. Ngài ban cho chúng ta có ông bà, cha mẹ và những người chăm sóc chúng ta trên thế gian. Đó là lý do Thiên Chúa bảo con cái phải vâng lời cha mẹ như Cha trên trời – vì ích lợi cho chúng.

12. Đức Giêsu có là Thiên Chúa?

KINH THÁNH: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1-2).

TRẢ LỜI: Chúa Giêsu thực sự là Thiên Chúa. Khi đến thế gian và sinh ra làm con Đức Maria, Chúa Giêsu cũng là một con người có thân xác như chúng ta. Vì thế, Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Ngài khiêm nhường chọn cách làm con người để Ngài có thể cứu chúng ta thoát khỏi tội lỗi và đem chúng ta về với Thiên Chúa.

13. Thiên Chúa có biết khóc?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu khóc (Ga 11:35).

TRẢ LỜI: Là con người, Chúa Giêsu cũng khóc chảy nước mắt khi lo buồn. Ngày nay Thiên Chúa không khóc, nhưng Ngài vẫn cảm thấy buồn khi người ta làm hại nhau, khi họ không vâng lời Ngài và không tin vào Ngài. Chúng ta có thể làm cho Ngài vui bằng cách sống tốt lành, thể hiện tình yêu thương đối với người khác, và nói với người khác về Đức Kitô.

14. Chúa Giêsu đi trên nước thế nào?

KINH THÁNH: Các môn đệ thấy Đức Giêsu đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền (Ga 6:19).

TRẢ LỜI: Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ và chứng tỏ quyền năng của Ngài là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và là Đấng sáng tạo cao cả. Phép lạ Chúa Giêsu đi trên mặt biển cho thấy rằng Ngài quyền phép vượt qua luật tự nhiên, Ngài có thể đi trên nước khi Ngài muốn.

CHA MẸ LƯU Ý: Thiên Chúa làm cho mặt trời và mặt trăng đứng tại chỗ (Kbc 3:11).

15. Tại sao Thiên Chúa yêu thương loài người?

KINH THÁNH: Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta (Rm 5:8).

TRẢ LỜI: Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4:8). Yêu thương là bản chất của Ngài. Thiên Chúa yêu thương chúng ta không vì chúng ta tốt lành và dễ thương, chẳng có ai xứng đáng được Thiên Chúa yêu thương, nhưng Ngài vẫn yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta không vâng lời Ngài và làm ngơ Ngài.

CHA MẸ LƯU Ý: Có thể đây là lúc nói về sự khác biệt giữa tình yêu có điều kiện và tình yêu vô điều kiện.

16. Nước Trời như thế nào?

KINH THÁNH: Khi tôi xuất thần, người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê (Kh 21:10-11).

TRẢ LỜI: Cách mô tả Thành Thánh cho chúng ta có cái nhìn thấu vào Nước Trời. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng các con đường làm bằng vàng, khảm ngọc quý và đặc biệt nhất là có Chúa Giêsu ở đó. Ngài hứa chuẩn bị chỗ ở cho chúng ta, để Ngài ở đâu thì chúng ta cũng được ở đó (Ga 14:3).

17. Chúa Giêsu ở trong chúng ta như thế nào?

KINH THÁNH: sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Đó là điều bí ẩn: Đức Kitô ở trong lòng chúng ta qua niềm hy vọng của vinh quang (x. 1 Ga 1:3).

TRẢ LỜI: Khi chúng ta nói bằng cả tấm lòng là chúng ta sống và tin. Thiên Chúa thực sự ở trong chúng ta vì chúng ta là Đền Thờ của Thiên Chúa hằng sống (2 Cr 6:16; 1 Cr 3:16). Chúa Thánh Thần là Đấng trợ giúp chúng ta có những quyết định đúng đắn làm vui lòng Thiên Chúa.

CHA MẸ LƯU Ý: Hãy hỏi con cái xem chúng có bao giờ cảm thấy gì khi chúng sắp làm điều gì sai trái, điều gì đó khiến chúng thay đổi ý định. Hãy giải thích cho chúng biết rằng Chúa Thánh Thần cho chúng ta cảm giác để giữ chúng ta đi vào đường đúng, muốn vậy thì phải biết lắng nghe, chứ Ngài không ép buộc chúng ta.

18. Tại sao một số người chết khi chưa già?

KINH THÁNH: Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi. Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô, điều này tốt hơn bội phần: nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em (Pl 1:21-24).

TRẢ LỜI: Có tội lỗi vào thế gian nên có sự chết, từ khi ông bà nguyên tổ phạm tội. Mọi thứ sống trên thế gian rồi sẽ chết: cây cối, động vật và con người. Sự chết có thể đến qua tai nạn giao thông, bệnh tật, tuổi già hoặc xảy ra bất thình lình. Thiên Chúa kiểm soát từng nhịp thở của chúng ta để chúng ta có thể vui sống, vì chúng ta biết rằng khi chúng ta chết thì chúng ta sẽ được sống đời đời trong sự sống viên mãn của Đức Kitô.

CHA MẸ LƯU Ý: Hãy nói chắc với con cái rằng cái chết không là điều sợ hãi, đó chỉ là như sự kết thúc của mọi câu chuyện hay mà chúng vẫn nghe và thấy thú vị mà thôi. Chết là chấm dứt cuộc đời tạm để được sống đời đời.

19. Trên Thiên Đàng có đồ ăn ngon không?

KINH THÁNH: Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: "Ở đây anh em có gì ăn không?". Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông (Lc 24:41-43).

TRẢ LỜI: Kinh Thánh cho biết rằng sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, Ngài đã ăn món cá nướng. Nhưng chắc chắn rằng ở Thiên Đàng không cần ăn uống như trên thế gian nữa.

20. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, vậy tại sao mình phải tới nhà thờ?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu nói: "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" (Mt 18:20). Thánh Phaolô nói: "Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp, như vài người quen làm; trái lại, phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đã gần" (Dt 10:25).

TRẢ LỜI: Như các gia đình đi đâu cũng đi chung với nhau, chúng ta cũng cần tới nhà thờ. Chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau và gặp gỡ mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi giai cấp, mọi nghề nghiệp,... Đó là phản ánh Đức Kitô trên thế gian. Khi gia đình của Chúa quy tụ bên nhau, có điều đặc biệt xảy ra là Thiên Chúa sẽ ngự ở giữa.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 133 = GIẢI ĐÁP THẮC MẮC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Hỏi: xin cha giải đáp giúp mấy thắc mắc sau đây :
1- Cha xứ có quyền ra vạ tuyệt thông cho ai không ?
2- Có thể xưng mãi một tội với nhiều cha khác nhau không ?
3- Ai được phép hưởng ân xá của Giáo Hội ?
Trả lời:
1-Vạ Tuyệt Thông ( anthema=excommunication) là hình phạt nặng nhất mà Giáo Hội bất đắc dĩ phải áp dụng trong những trường hợp gia trọng như bội giáo ( apostasy) ly giáo( schism) và lạc giáo ( heresy) ( can.751) hành hung Đức Thánh Cha ( can. 370&1) giết người hay giết thai nhi , tiết lộ bí mật trong tòa giải tôi ( can. 1388& 1) v.v
Vạ tuyệt thông có hai loại là tiền kết ( latae sententiae) và hậu kết ( ferendae sententiae):
A- Vạ tiền kết là vạ đương nhiên hay tự động ( automatically incurred) có hiệu lực khi vi phạm điều đã cấm, và chỉ dành cho Tòa Thánh quyền tháo gỡ mà thôi. Những trường hợp bị vạ tuyệt thông tiền kết gồm có những lỗi phạm sau đây:
1 -Hành hung đức Thánh Cha ( can. 370& 1)
2 - Không có phép Đức Thánh Cha mà dám truyền chức Giám mục cho ai. Cả
Người truyền chức và người chịu chức đều đương nhiên mắc vạ. ( can.1382)
3 -Vi phạm ấn tòa giải tội.( Seal of confessions) tức linh mục tiết lộ cho ai
tội đã nghe của hối nhân trong tòa giải tội ( can.1388& 1)
4 - Ném bỏ Mình Thánh hay đem về nhà với mục đích phạm thánh ( Sacrilege)
( can. 1367)
5- Người bội giáo =apostate là người hoàn toàn chối bỏ đức tin KitôGiáo
Tà giáo hay rối Đạo= Heretic= là người chối bỏ một số tín điều hay giáo lý của của Giáo Hội.
Ly giáo ( schimatic) là người công khải bỏ Đạo để gia nhập đạo hay giáo phái khác. Tất cả 3 tội này đều bị vạ tuyệt thông tiền kết. ( can. 751)
6- Phá thai hay giúp phá thai có kết quả ( can. 1398)
Như đã nói ở trên, vạ tiền kết là vạ đương nhiên hay tự động ( automatically incurred) có hiệu lực cho ai lỗi phạm điều đã cấm, và chỉ Tòa Thánh mới có quyền tháo gỡ hay tha vạ này mà thôi.
B- Vạ tuyệt thông hậu kết ( ferendae sententiae)
Vạ này được áp dụng cho những người ngoan cố không chịu sửa lỗi nặng mặc dù đã được thẩm quyền Giáo Hội khuyến cáo vô hiệu quả. ( can 1347 &1) .Cụ thể, cách nay trên 20 năm , nhân vụ " lôn xộn " ở San Jose, California, Đức Giám mục địa phương đã ngăm đe ra vạ tuyệt thông cho một vài người chủ chốt nếu họ không chấm dứt " tranh đấu" và vâng phục giáo quyền địa phương.
Như thế, chỉ có Giám mục mới có quyền ra vạ tuyệt thông hậu kết cho ai không vâng phục để sửa lỗi đã phạm dù đã được khuyến cáo ít là một lần.
Ngoài ra, không linh mục nào, dù là chánh hay phó xứ, được phép đe dọa ra vạ tuyệt thông cho ai. Sở dĩ phải nói điều này là vì ở bên nhà, nghe nói có nơi linh mục chánh xứ đã dọa vạ tuyệt thông cho những ai đi dự tiệc cưới của đôi hôn phối chưa kết hôn trong Giáo Hội. Chưa kết hôn trong Giáo Hội mà ăn ở với nhau như vợ chồng thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải chứ không thể bị " trục xuất ra khỏi Giáo Hội" với vạ tuyệt thông tiền hay hậu kết được, vì không có giáo luật nào cho phép phạt vạ như vậy.
Lại càng vô lý hôn nữa là đe dọa vạ tuyệt thông cho ai đi dự tiệc cưới của họ. Đây là một lạm dụng đáng tiếc về hình phạt vạ tuyệt thông cần được sửa chữa trong Giáo Hội địa phương. Cũng cần nói thêm là ngày nay Giáo Hội đã cho phép hôn nhân hỗn hợp ( mixed marriage ) nghĩa là một người Công Giáo có thể được phép kết hôn với người theo đạo khác, nhưng phải xin phép chuẩn ( dispensation) ở Tòa Giám mục . Khi đã có phép chuẩn cho phía có Đao Công Giáo rồi thì hôn phối được phép cử hành ở nhà thờ như mọi đôi hôn phối khác. Có điều khác biệt là chỉ người có Đạo mới được rước Mình Thánh trong lễ cưới mà thôi.Hôn nhân này là hợp pháp trong Giáo Hội nên không ai được phép chỉ trích hay đe dọa vạ tuyệt thông" cho người đi dự tiệc cưới của họ.
Tóm lại, khi nói đến vạ tuyệt thông, tiền hay hậu kết, có nghĩa là hình phạt tạm thời không được hiệp thông với Giáo Hội trong mọi lãnh vực thực hành đức tin như cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích bao lâu chưa được tha vạ.Như vậy, phải hết sức thận trọng khi nói đến vấn đề này để không làm hoang mang cho giáo dân về kỷ luật và hình phạt bất đắc dĩ của Giáo Hội
2-Có thể xưng mãi một tội hay không ?
Là con người , ai cũng yếu đuối trong bản tính. Thêm vào đó là những cám dỗ của ma quỉ và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong môi trường xã hội , tức hoàn cảnh sống của mỗi người, nên người ta dễ sa phạm tội nặng hay nhẹ.
Chính vì biết rõ như vậy, nên Chúa Kitô - trước khi về Trời- đã ban bí tích hòa giải cho các Tông Đồ để các ngài và những người kế vị thay mặt Chúa tha tội cho mọi người trong Giáo Hội như Chúa đã truyền cho các ngài:
" anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị căm giữ" ( Ga 20 : 23)
Chúa đầy lòng thương xót và hay tha thứ. Đúng, nhưng con người không được lợi dụng lòng thương xót tha thứ này để cứ phạm tội rồi đi xưng tội. Xưng tội vì lỡ sa ngã do bản tính yếu đuối, vì ma quỷ và thế gian cám dỗ. Nhưng cũng phải cố gắng hết sức về phần mình và nương nhờ vào ơn Chúa để tránh phạm tội hầu được sống trong tình thương và ơn nghĩa với Chúa. Đó là điều Chúa mong muốn nơi mỗi người tín hữu chúng ta. Sở dĩ nói Chúa mong muốn chứ không ép buộc , vì con người còn có ý muốn tự do (free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng để hoặc tự do chọn Chúa và xa tránh sự dữ, sự tội, hay khước từ Chúa để tự do sống theo ý muốn của mình và làm những điều trái nghịch với tình thương, công bình và thánh thiện của Chúa.
Nếu chọn Chúa thì phải quyết tâm sống theo đường lối của Chúa là con đường dẫn đưa đến hạnh phúc Nước Trời. Đó là con đường cứu thoát mà ít người muốn đi qua như Chúa Giê su đã trả lời cho một người hỏi Chúa xem có phải rất ít người được cứu thoát hay không. Chúa đáp :
" Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được." ( Lc 13: 24)
Cửa hẹp mà Chúa muốn nói ở đây là kỷ luật mà chúng ta phải khép mình vào để không chạy theo những quyến rũ của tiền bạc, danh lợi chóng qua ở đời này cùng những thú vui vô luân vô đạo là con đường rộng thênh thang mà nhiều người thích đi trên đó, nhưng không biết sẽ đi vào cõi chết đời đời. Cụ thể, đó là những kẻ tôn thờ chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa vật chất và khoái lạc ( hedonism) khiến họ đang tìm tiền của cách bất chính để làm giầu như buôn bán gian lận, mở sòng bài bạc, nhà điếm, sản xuất sách báo và phim ảnh dâm ô đồi trụy, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Nếu người có niềm tin Thiên Chúa mà cũng đi vào con đường đó , nghĩa là cũng ăn gian nói dối, cờ bạc đỏ đen, thay vợ, đổi chồng, dâm ô trác táng, bất công với người khác và lãnh cảm trước sự nghèo đói của anh chị em đồng loại, thì dù có mang danh là người Công giáo, vẫn đi lễ ngày Chúa nhật, vẫn kêu tên Chúa Kitô và hát Alleluia, Alleluia như anh em Tin Lành, thì cũng vô ích mà thôi, căn cứ vào chính lời Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa !, lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là xa tránh tội lỗi và mọi cách sống mâu thuẫn với Tin Mừng Cứu Độ để bước đi theo Chúa Kitô, là " con đường, là sự thật và là sự sống." ( Ga 14: 6)
Như thế, trong thực hành, nếu không cố gắng khép mình vào kỷ luật nội tâm và nương nhờ ơn Chúa nâng đỡ, để xa tránh tội lỗi và trở nên hoàn thiện mỗi ngày, thì hãy nghe lại lời Chúa cảnh cáo như sau trong Sách Khải Huyền:
" Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẵn hay nóng hẵn đi.Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3: 15-16)
Nói khác đi, nếu đi xưng tội mà không có quyết tâm chừa tội để cứ sa đi ngã lại, cứ xưng mãi một tội quen phạm thì sẽ trở thành là người chẳng nóng, chẳng lạnh, cứ hâm hâm, nửa nóng nửa lạnh, như Chúa cảnh cáo trên đây.Và như vậy chắc chắn không thể sống đẹp lòng Chúa và đáng được cứu độ. Chúa nói: " Ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 4: 23; Lc 8: 8).
4- Ai được lãnh ơn xá ?
Ân xá ( Indulgence) là ơn Giáo Hội lấy từ kho tàng ơn Cứu Độ của Chúa Kitô để tha các hình phạt hữu hạn ( temporary punishment) của các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải.( x SGLGHCG số 1471)
Nghĩa là, sau khi xưng tội cách ngay lành ( không dấu tội nào) và được tha qua bí tích hòa giải, thì hối nhân phải làm việc đền tội do cha giải tội giao cho. Việc đền tội này có mục đích tẩy xóa sạch những hậu quả do tội để lại trong tâm hồn hối nhân, dù mọi tội nặng nhẹ đã được tha. Nếu ai không làm đủ việc đền tội này khi còn sống thì phải đền phạt trong luyện tội ( purgatory) sau khi chết.( x SGLGHCG, số 1030-1031)
Và đây là lý do Giáo Hội ban ơn xá để tha hình phạt hữu hạn nói trên.
Ơn ( Ân ) xá có thể là toàn phần, hay còn gọi là Ơn đại xá ( full indulgence)
để tha hết mọi hình phạt hữu hạn , hay từng phần ( partial indulgence) để tha một phần hình phạt trên ( x.giáo luật số 993)
Ơn xá có thể lãnh nhận cho chính mình hoặc nhường lại cho các linh hồn trong Luyện tội , nhưng không thể nhường cho người khác còn sống ( x. giáo luật số 994).
Muốn lãnh nhận ơn xá cách có hiệu quả thì phải sạch tội trọng và làm một số việc lành như xưng tội , dự lễ, rước Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ và đọc các kinh lậy Cha, Kinh mừng, Sáng danh, Kinh Tin Kính và cầu nguyện theo ý Đức Thánh cha.
Ân xá được ban trong những dịp trọng đại như Năm Thánh ( Jubilee Year),
Kỷ niệm thành lập Giáo Phận, hay Dòng Tu, viếng nghĩa trang trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) hoặc dự lễ mở tay của tân linh mục...
Chỉ có Đức Thánh Cha, hoặc thẩm quyền tối cao dưới quyền ngài, mới có quyền ban ân xá cho Giáo Hội hoàn vũ hay Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) ( giáo luật số 995).
Giáo phận hay Dòng Tu nào muốn hưởng đặc ân này nhân kỷ niệm trọng đại của mình, thì phải xin phép nơi thẩm quyền tối cao của Tòa Thánh.
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xavê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 123 of 160