mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4574
mod_vvisit_counterHôm Qua6711
mod_vvisit_counterTuần Này17659
mod_vvisit_counterTuần Trước54281
mod_vvisit_counterTháng Này163900
mod_vvisit_counterTháng Trước249069
mod_vvisit_counterTất cả15501646

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 143 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA VIỆC NGHE LỜI CHÚA VÀ LÃNH NHẬN CÁC BÍ TÍCH THÁNH THỂ, HÒA GIẢI VÀ SỨC DẦU.
Tôi đã có đôi lần giải thích sự khác biệt về mặt bí tích giữa Công Giáo, Chính Thông Giáo và Tin lành. Nay xin được nói rõ hơn về những khác biệt này.
Trước hết, phải nói ngay là chỉ có các Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên mới có đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mang các lợi ích thiêng liêng lớn lao cho các tín hữu trực thuộc.
Ngoài hai Giáo Hội trên ra, các giáo phải Tin Lành nói chung, và Anh giáo ( Anglican Communion) nói riêng đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( vì họ đã ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo ( Reformations) vào thể kỷ 16) nên họ đều không có các bí tích hữu hiệu – trừ bí tích Rửa tội .
Sứ vụ quan trọng đối với họ là giảng Kinh Thánh, vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi. Nhưng cách hiểu và cắt nghĩa Kinh Thánh của họ có nhiều điểm khác với cách hiểu và cắt nghĩa Kinh Thánh của Công Giáo.
Thí dụ, họ cũng đọc lời Chúa trong Gioan 20: 23 trong đó Chía Giê su đã
truyền cho các Tông Đồ mệnh lệnh như sau:
"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)
Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo coi đây là nền tảng của bí tích Hòa giải
Và các thừa tác viên có chức thánh của Giáo Hội như linh mục và giám mục có quyền tha tội cho mọi hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Ngược lại, anh em Tin lành không công nhận vai trò trung gian của các thừa tác viên ( Ordained Ministers) con người nên họ chủ trương chỉ xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Lại nữa, lời Chúa trong các Tin Mừng của Matthêu, Mac-cô và Lu ca
nói về Bữa Ăn sau hết của Chúa Giê su với 12 Tông Đồ, trong đó Chúa Giesu đã lập Bi Tích Thánh Thể và Chức Linh mục thừa tác ( ministerial priesthood ) để các Tông Đồ và những người kế vị tiếp tục diễn lại Bữa tiệc ly và dâng Hy tế đền tội của Chúa cách bí tích trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích của Hy Tế thập giá mà Chúa đã một lần dâng lên Chúa Cha xưa trên thập giá. Đây là niềm tin và thực hành của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Nhưng anh em Tin Lành không chia sẻ niềm tin này, và không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện ( real presence) trong hình bánh và rượu. Vì thế khi hội họp để giảng Kinh Thánh, có một số nhóm Tin Lành cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho, nhưng vì họ không có chức linh mục hữu hiệu và nhất là vì không tin có sự biến đổi bản thể ( transubstantiation) của bánh và rượu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể ( Eucharist) được, dù thừa tác viên của họ có đọc lại lời Chúa khi bẻ bánh và uống rượu.Anh em Anh Giáo cũng vậy. Họ không có chức linh mục hữu hiệu ( valid priesthood) nên bánh họ bẻ và rượu họ uống chỉ thuần túy là bánh và rượu mà thôi, chứ không phải là Mình Máu Chúa Kitô hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu nho như Giáo Hội Công Gáo và Chính Thông Giáo tin mỗi khi cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn.
Như thế Chức Linh mục thừa tác ( Ministerial Priesthood ) là vô cùng quan trọng, vì không có Chức thánh này thì không thể có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải và Sức dầu bệnh nhân.Các giáo phái Tin Lành và Anh giáo không có các bí tích trên vì họ không có chức linh mục thừa tác hữu hiệu, do không có nguồn gốc Tông Đồ như Công Giáo và Chính Thống.Vì thế, khi họ trở lại với Giáo Hội Công Giáo. Thừa tác viên hay linh mục ( Anh Giáo) của họ đều phải được huấn luyện lại để chịu chức linh mục của Giáo Hội, nếu họ muốn.
Các Bí Tích là những phương tiện hữu hiệu thông ban ơn cứu độ của Chúa Kitô qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô được thiết lậptrên nền tảng Tông Đồ để tiếp tục Sứ mệnh cứu chuộc của Chúa Giê su-Kitô cho đến ngày mãn thời gian. Do đó, muốn được nhận lãnh ơn cứu chuộc vô giá đó, nhất thiết chúng ta phải gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa, lớn lên trong đức tin nhờ bí tích Thêm sức, được bổ sức thiêng liêng cho hành trình tiến về quê trời nhờ bí tich Thánh Thể và được làm hòa với Chúa qua bí tích Hòa giải,
Nghe lời Chúa trong Kinh Thánh rất quan trọng và cần thiết , vì " người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng ĐỨC CHÚA phán ra" ( Đnl: 7 : 3; Mt 4 :4; Lc 4: 4)
Do đó, có siêng năng đọc và nghe lời Chúa trong Kinh Thánh, chúng ta mới được
soi sáng và biết được ý muốn của Chúa cho mỗi người chúng ta để từ đó biết sống theo đường lối của Chúa, và nhiên hậu được cứu rỗi, vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2:4)
Nhưng nghe lời Chúa không thôi thì không đủ, mặc dù là rất cần thiết. Nghe lời Chúa như anh em Tin Lành rao giảng mà không lãnh nhận các ơn ích lớn lao
Chúa Kitô ban dồi dào qua các bí tích Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải , thì thật là một thiếu sót rất đáng tiếc.
Thật vậy, Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là " nguồn mạch và đỉnh cao của tất cả đời sống Kitô giáo." ( Lumen Gentium, số 11) vì mỗi khi cử hành Mầu nhiệm này, Giáo Hội diễn lại bữa Tiệc Ly sau hết của Chúa Kitô và Hy Tế đền tội của Người một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá để xin ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi. Vì thế, mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế (1 Cor 10:17) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG ,số 3)
Nghĩa là , Thánh Lễ ngày nay, về một phương diện, cũng là Hy Tế thập giá Chúa Kitô lại dâng lên Chúa Cha cách bí tích để xin ơn tha thứ cho chúng ta cùng thể thức và mục đích của Hy Tế lần đầu Người dâng trên thập giá năm xưa.Do đó, tham dự Thánh Lễ cách xứng hợp và trọn vẹn ( sốt sắng, sạch tội trọng và rước Mình Thánh Chúa) là được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, bảo đảm cho phần rỗi mai sau, khi đã chấm dứt hành trình đức tin trên trần gian này.
Mặt khác , được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể cử hành trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ ơn, là bảo đảm nữa cho sự sống đời đời của mỗi người chúng ta như Chúa Giêsu đã hứa:
" Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6 :54)
Chắc chắn Chúa không hứa suông, mà Người sẽ giữ lời hứa cho những ai yêu mến Người cách cụ thể là ăn thịt và uống máu Người, tức là rước Mình Thánh Chúa cách xứng đáng ( sạch tội trọng) khi tham dự Thánh lễ Tạ Ơn.
Mặt khác, là con người ai cũng yếu đuối trong bản tính do hậu quả của Tội Nguyên Tổ ( original sin), lại thêm cám dỗ mạnh mẽ của ma quỉ và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong môi trường sống, nên cũng không ai tránh được khuyết điểm, lầm lỗi và tội lỗi nặng nhẹ.Vì thế Chúa Kitô đã ban bí tích hòa giải để giúp con người làm hòa lại với Thiên Chúa, và lấy lại tình thương của Người, sau khi lỡ sa phạm tội.
Kinh nghiệm cá nhân cho chúng ta biết rằng mỗi khi thật lòng sám hối và đi xưng tội cách ngay lành ( không dấu tội nào) với một linh mục, và được ơn tha tội ( absolution) thì chúng ta cảm thấy sung sướng và an vui trong tâm hồn, một thứ an vui mà không một tâm lý gia hay bác sĩ tâm thần nào có thể mang lại cho bệnh nhân đến xin trị liệu.
Nếu chỉ sám hối và không đi xưng tội, như anh em Tin Lành rao giảng, thì không bao giờ chúng ta có thể cảm nghiệm được niềm an vui nội tâm như sau khi xưng tội cách xứng hợp ( không dấu tội nào, đặc biệt là tội trọng) và được ơn tha thứ. Chúa Kitô thực sự hiện diện trong bí tích Hòa giải để chính Người ban cho chúng ta ơn bình an, vui thỏa nội tâm đó qua tay một linh mục , dù bất xứng đến đâu theo con mắt người đời.
Các anh em ngoài Công Giáo không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, nếu họ chỉ đọc và nghe lời Chúa trong Kinh Thánh mà không biết đến các bí tích tối quan trọng là Thánh Thể và Hòa giải, là các phương tiện hữu hiệu thông ban ơn cứu độ của Chúa Kitô cho những ai thành tâm và tin tưởng tìm đến.Và chỉ trong Giáo hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương mới có các nguồn suối tuôn đổ ơn sủng này của Chúa cho con người mà thôi.
Lại nữa, với bí tích sức dầu bệnh nhân, người tín hữu , khi đau ốm, sẽ nhận được ơn an ủi để vui lòng chịu khó , chống lại những lo buồn thối chí. Bí tích này cũng đôi khi chữa lành cả bệnh tật thể xác nữa. Kinh nghiệm mục vụ cho tôi biết điều này vì có nhiều bệnh nhân lâm vào tình trạng hôn mê ( coma), nhưng sau khi được sức dầu, đã tỉnh lại và qua được cơn bệnh nguy kịch, khiến thân nhân thêm lòng trông cậy Chúa và tin tưởng hiệu năng của bí tích sức dầu.
Các giáo phái Tin Lành và Anh giáo kể cả Do Thái giáo ( Judaism) đều không có các bí tích trên, nên tín đồ của họ không thể lãnh nhận được những lợi ích thiêng liêng đến từ các bí tích quan trọng đó.
Tóm lại, nghe và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh không thôi, thì không đủ cho ta lãnh nhận các ơn ích ơn lao qua các bí tích Thánh Thể và hòa giải và sức dầu bệnh nhân, như kinh nghiệm thực tế của mỗi người tín hữu chúng ta đã cảm nghiệm được , phù hợp với lời dạy không sai lầm của Giáo Hội về tầm quan trọng và lợi ích thiêng liêng của các bí tích trên.
Chúng ta vô cùng cám ơn Chúa đã ban các phương tiện thánh hóa và chữa lành đó để giúp chúng ta được thăng tiến trong đời sống thiêng liêng nhờ năng rước Minh Thánh Chúa, năng xưng tội và được sức dầu thánh mỗi khi đau yếu.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 142 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Hỏi: xin cha giải đáp thắc mắc sau :
1- Có được phép đem tro người chết thả ngoài sông, hồ hay biển được không?
2- Khi rước Lễ, có thể chỉ rước Mình Thánh hay Máu Thánh được không?
3- Các tu sĩ nam hay nữ có được phép rửa tội và chứng hôn không?
Trả lời:
1-Có được phép bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển ?
Trước hết, phải nói lại một lần nữa là việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng từ xưa đến nay trong Giáo Hội và trong mọi nền văn hóa nhân loại. Riêng trong Giáo Hội Công Giáo, việc đạo đức này được đặc biệt tôn trọng vì niềm tin " xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này.Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội đều có các nghĩa trang được làm phép để chôn người chết cho con cháu, thân nhân đến viếng thăm quanh năm , và đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 dương lịch). Ai viếng thăm nghĩa trang và cầu cho các linh hồn mà xác đang còn nằm ở đây thì được ân đại xá nhưng phải nhường lại ân huệ này cho các linh hồn thân nhân hay các linh hồn khác có xác đang nằm trong nghĩa trang. Đây là việc đạo đức mà các tín hữu được khuyến khích siêng năng làm để cầu cho các linh hồn còn đang được thanh tẩy trong nơi Luyện tội ( Purgatory)
Trước đây, có thời Giáo Hội đã cấm thiêu xác người chết ( cremation) vì có bè rối ( heretics) chủ trương đốt xác kẻ chết để thách đố Giáo Hội xem còn lấy gì để tin xác kẻ chết sẽ sống lại như Giáo Hội dạy. Sau này bè rối đó tan và từ sau Công Đông Vaticanô II ( 1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép đốt xác nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong nơi gọi là hỏa ngục.( hell) trong ngày cánh chung.( . Mt 25 : 31-46)
Giáo Lý và giáo luật của Giáo Hội đều dạy phải tôn kính thi hài của người quá cố được an táng trong nghĩa trang Công giáo để chờ ngày sống lại.
Nếu chọn hỏa táng ( cremation) thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự sống lại của kẻ chết. ( giáo luật số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690). Nghĩa là phải tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với linh hồn trong ngay sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, hoặc ở tư gia hay trong nhà thờ nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được phép mang tro này ra trải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết đang làm. Vì không tin, nên họ đã trải tro của thân nhân họ ra sông , hồ hay biển cả , vì cho rằng con người là hư không, chết là hết, nên thả tro ra sông, biển để nói lên sự hư không này của thân phận con người.
Ngược lại, vì người Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết trải ra ngoài sông, biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem trải tro người chết ra sông, hay biển thì vô tình chia sẻ niềm tin của những người không tin có sự sống lại của thân xác hay sao ?
2- Có được phép chỉ rước Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ ?
Từ xa xưa, việc rước Lễ của giáo dân chỉ trong giới hạn rước Mình Thánh Chúa mà thôi, vì Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong hình bánh,và chỉ có linh mục cử hành Thánh lễ được rước cả hai Mình và Máu Thánh Chúa.
Nay vì muốn diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Thánh Lễ, về một phương diện, là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ. Trong Bữa Ăn lịch sử này, Chúa đã lập Bi tích Thánh Thể khi biến bánh và rượu thành Mình Máu Người cho các Tông Đồ ăn và uống lần đầu tiên.Vì thế , ngày nay Giáo Hội cho phép giáo dân được rước cả hai hình thức Thánh Thể là bánh và rượu đã được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ. Nhưng ở các Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) các Giám mục vẫn có toàn quyền để cho phép rước Thánh thể cả hai hình thức hay một hình thức như cũ..
Tuy nhiên, ở nơi nào cho rước cả hai hình thức Thánh Thể, thì giáo dân, hoặc chọn rước cả hai hay chỉ một Mình Thánh mà thôi. Nghĩa là không được chọn rước một hình thức là Máu Thánh mà không rước Mình Thánh. Nói rõ hơn , rước một Mình Thánh thì được , nhưng không được phép chỉ rước Máu Thánh không thôi.
Tuy nhiên, trong trường hợp một bệnh nhân không thể rước Mình Thánh vì không nuốt được chất đặc nào qua miệng, thì có thể chỉ cần rước Máu Thánh là đủ.
Riêng hàng tư tế , tức linh mục và Giám mục, thì buộc phải rước cả hai hình thức Thánh Thể khi chủ tế hay đồng tế Thánh Lễ.
3- Tu Sĩ có được phép rửa tội, sức dầu và chứng hôn không ?
Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt như sau:
Tu sĩ ( religious) là những người có ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh ( chastity) và vâng phục trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập đúng theo giáo luật.
Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh ( độc thân) và vâng phục mà thôi. Giáo sĩ không phải là Tu sĩ. Nhưng nam tu sĩ có thể trở thành giáo sĩ nếu có các chức thánh nói trên, mặc dù vẫn thuộc hàng tu sĩ, vì có ba lời khấn trong Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Giáo sĩ thì thuộc về một địa phận dưới quyền của một Giáo mục, và được gọi là các linh mục triều ( diocesan priests), trong khi các tu sĩ linh mục thì được gọi là các linh mục Dòng ( religious priests),
Liên quan đến câu hỏi đặt ra, nếu chỉ là Tu sĩ ( religious ) )có lời khấn Dòng mà không có chức Phó tế, Linh mục hay giám mục, thì không ai được phép cử hành bất cứ bí tích nào. Phải nói rõ điều này vì ở một địa phương kia, có cha xứ đã cho một nữ tu rửa tội cho trẻ em ở nhà thờ trước sự chứng kiến của cha xứ ! và cả hai đã bị bề trên liên hệ khiển trách nặng, vì đã làm việc hoàn toàn sai trái về kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Nhưng nếu Tu sĩ cũng là giáo sĩ ( nam tu sĩ), nghĩa là có chức linh mục hay giám mục thì vẫn có năng quyền để cử hành các bí tích như mọi giáo sĩ. Dĩ nhiên, linh mục Triều hay Dòng, muốn làm mục vụ trong giáo hội địa phương ( giáo phận), thì phải có phép của Đấng bản quyền địa phương, nghĩa là phải xin năng quyền ( faculties) của Tòa Giám mục.
Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì tu sĩ ( nam nữ) hay giáo dân đều có thể được phép rửa tội ở bất cứ nơi nào, nhưng phải theo đúng công thức của Giáo Hội, nghĩa là phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 141 = BI AN NUOC TROI PDF Print E-mail

Bí ẩn Nước Trời - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Today MAY 13-14 at 9:28 AM

Bí ẩn Nước Trời

Alex Tresniowski viết: "Đối với một nơi chúng ta mơ ước tới, thật đặc biệt biết bao khi chúng ta biết rõ về Nước Trời. Không có sách nào cho biết vẻ đẹp của Nước Trời, chẳng có video nào trên Youtube hoặc hình ảnh nào đưa lên Facebook. Tất cả chúng ta phải xem cách mô tả của Kinh Thánh về nơi rộng rãi và lung linh đó: 'Thành phố đó sẽ không còn đêm tối nữa, sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời' (Kh 22:5). Chúng ta có ký ức của những người như Crystal McVea, một người mẹ và một giáo viên ở Oklahoma đã tỉnh lại sau khi chết tại bệnh viện và nay mô tả kinh nghiệm đó trong cuốn "Waking Up In Heaven" (Bước Vào Thiên Đàng).

Tresniowski cho biết: "Tôi đủ may mắn để là đồng tác giả với Crystal, và trong thời đại chúng ta, tôi cũng biết về lòng can đảm về Đức Tin, vâng, một nơi đẹp đẽ được gọi là Nước Trời. Mới đây, tôi cùng Crystal lại nói về những điều kỳ lạ mà bà phát hiện trong hành trình của bà".

Trên Nước Trời, không có những điều tương tự như thời gian. Crystal cho biết: "Đó là điều đầu tiên tôi biết về Nước Trời — mọi thứ xảy ra ngay lập tức. Không có sự nối tiếp cảu các sự kiện, không có phút hoặc giờ, hoặc bất kỳ thứ gì như vậy. Khi tôi nhắm mắt trong bệnh viện và mở mắt ở trên trời, tôi có cảm giác là mọi thứ biến mất trước mắt tôi ngay, nhưng không có cảm giác về sự vội vàng hoặc khẩn cấp. Thậm chí bây giờ tôi còn khó giao tiếp vì cuộc sống trên thế gian bị chi phối bởi đồng hồ và thời khóa biểu, nhưng trên trời không có thời khóa biểu. Chỉ có cảm giác kỳ lạ và nhận biết tức thời, cảm thấy bình an và yêu thương".

Trên Nước Trời, người ta biết chính mình: "Bạn biết đó, chúng ta nghĩ chúng ta biết chính mình ở trên thế gian, điều tôi biết được là chúng ta chỉ biết một phần nhỏ thông tin về chính mình mà thôi. Còn trên trời, chúng ta biết rõ thông tin về chính mình, biết mình là ai trước thời gian ở trên thế gian, và mình sẽ là ai đời đời. Như tôi nói trong cuốn sách này, trên trời chúng ta nhận thức sâu xa hơn mọi niềm hy vọng, mọi nỗi sợ, mọi ước mơ, và mọi vết nhơ xác định chúng ta trên thế gian. Thật là thú vị!".

Trên Nước Trời, người ta cảm thấy ánh sáng: "Tôi biết điều này lạ lắm, nhưng đó là cách tốt nhất tôi có thể mô tả kinh nghiệm như thế nào về mọi thứ trên trời — thay vì có 5 giác quan, tôi như có 500 giác quan. Do đó tôi trải nghiệm mọi thứ theo cách đầy đủ và mới lạ hơn như tôi từng cảm nhận trên thế gian. Ánh sáng chói lọi bao quanh chúng ta, còn hơn là ánh sáng nữa, đó là cái gì đó tuôn đổ vào chúng ta, và chúng ta cảm nghiệm đầy đủ. Ánh sáng của Thiên Chúa là cái gì đó mà bạn không chỉ nhìn thấy mà còn nghe được, nếm được, và sờ được, cảm nghiệm với mọi thớ thịt của chính mình".

Trên Nước Trời, người ta không bao giờ lầm lẫn: "Đây là một trong các sự thật kỳ lạ nhất về Nước Trời, vì khi nhìn lại, mọi thứ tôi cảm nghiệm đều khiến tôi ngạc nhiên. Nhưng ở trên trời, mọi thứ đều cảm nhận được. Không có gì làm tôi lầm lẫn hoặc làm tôi ngạc nhiên. Tôi có ý nói là nó hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu của con người và tôi vượt qua nhờ lòng yêu mến Thiên Chúa, nhưng không như tôi bị trở ngại bởi những thứ khó tin đã xảy ra. Tôi không bao giờ cảm thấy cần hỏi Chúa điều gì. Mọi thứ tôi cảm nghiệm là cần chúc tụng Ngài".

Trên Nước Trời, người ta không thể cúi đầu: "Ở trên trời, chúng ta không có các dạng cảm giác của thế gian. Chúng ta ở trong dạng tinh thần. Do đó chúng ta không có chân tay như trên thế gian. Tôi cảm thấy khó cúi đầu vì không có thân thể thật như trên thế gian. Nhưng lại vẫn có thân thể, vì tôi biết rằng tôi ở trước mặt Thiên Chúa, tôi thực sự cảm thấy bị thúc giục cúi đầu và phục lạy dưới chân Ngài để thờ lạy Ngài, đó là dạng tôi cảm thấy như thế. Người ta không thể cúi đầu nhưng cảm thấy chỉ muốn hướng về Thiên Chúa theo cách người ta có thể".

Người ta không tới Nước Trời, mà người ta trở về Nước Trời. Crystal nói: "Trên Nước Trời, tôi không gặp Chúa nhiều khi tôi nhận biết Ngài. Cũng vậy, trên trời không có cảm giác là nơi mới lạ, mà cảm thấy như ở nhà mình. Đó là một trong các sự thật tốt đẹp nhất về Nước Trời — tới đó mà thấy rất quen thuộc. Giống như bạn nhớ về kinh nghiệm lần đầu. Bằng cách có thể, Nước Trời y như nhà mình vậy".

Trên Nước Trời, không có hỏi và đáp. Crystal nói: "Bạn nghĩ mình sẽ có những câu hỏi để hỏi Chúa, nhưng không phải vậy. Bạn nghĩ bạn sẽ hỏi những câu như: Tại sao có đau khổ và bạo lực? Nhưng rồi bạn liền choáng ngợp cảm giác biết chắc Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn hoàn hảo. Không có điều gì bạn cần biết về Chúa hoặc Nước Trời như bạn từng muốn biết khi còn ở thế gian, bạn không cảm thấy gì khác ngoài cảm giác được yêu thương".

Nước Trời không thể mô tả. Crystal nói: "Tôi luôn dùng từ sáng chói, tốt đẹp và kỳ lạ, nhưng đó chỉ là những chữ chúng ta có thể dùng để mô tả một cái gì đó đẹp. Nước Trời còn hơn cả thực tế minh bạch và rực rỡ hơn bất cứ thứ gì khác mà chúng ta có thể cảm nhận trên thế gian, không thể hiểu hết và không có từ ngữ nào đủ mô tả về Nước Trời".

Tresniowski viết: "Vẻ đẹp câu chuyện của Crystal McVea là chúng ta có thể giao tiếp với bà — một người mẹ, một giáo viên, một người phạm tội, một người tự nghi ngờ mình, một người cố gắng chiến đấu trong những lúc khó khăn, một người luôn tự hỏi Thiên Chúa có thật hay không. Nhưng lúc tôi gặp Crystal, bà biết Thiên Chúa có thật, Nước Trời có thật, và Nước Trời tuyệt đẹp. Bà có Đức Tin sâu sắc và tình yêu mãnh liệt dành cho Thiên Chúa".

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Nhớ ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, 13-5-1917

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 140 = NHAN BIET ON THIEN TRIEU PDF Print E-mail

May 11 at 9:57 PM
Nhận biết Ơn Thiên Triệu
(Theo Thánh Thomas Aquinô, Thánh Inhaxiô, và Thánh Gioan Phaolô II)
JOSEPH BOLIN

Đối với người Công giáo, có 2 cách chọn đường đi trong cuộc sống. Người ta có thể bắt đầu bằng suy nghĩ về mục đích sống, và suy nghĩ về điều gì sẽ hữu ích nhất trong việc đạt mục đích đó, hoặc người ta có thể tự vấn về điều Thiên Chúa muốn mình làm trong cuộc sống. Các phương pháp này khác nhau và bổ túc lẫn nhau, nhưng chỉ khi nào sách về ơn gọi áp dụng 2 phương pháp khác nhau cơ bản này. Cuốn sách này nhằm kiểm tra 2 phương pháp cơ bản này đối với vấn đề ơn gọi, những thuận lợi và những nguy hiểm tiềm ẩn của mỗi phương pháp, và đề nghị cách nhìn đơn giản về những ơn gọi tìm cách duy trì những lợi ích của mỗi phương pháp.

Không như đa số những sách khác về ơn gọi, sách này không là một luận thuyết thần học hướng dẫn những người trí thức, cũng không là sách hướng dẫn ơn gọi, mà gồm những lời khuyên chi tiết về cách chọn ơn gọi. Hơn nữa, sách này tìm cách đưa ra viễn cảnh sâu xa mà đơn giản và khả dĩ tiếp cận về ơn gọi, cho cả những người tìm kiếm ơn gọi và các vị linh hướng về ơn gọi để có nền tảng vững chắc, có thể hình thành phán đoán tốt về những tình huống đặc biệt mà họ đang xử lý.

Bất kỳ phương pháp nào chúng ta áp dụng cho ơn gọi thì sự tập trung chú ý vẫn phải là tình yêu. Mỗi ơn gọi phải được tập trung xoay quanh tình yêu, vì chính nhờ tình yêu mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, và mọi người tìm thấy sự viên mãn nơi Ngài. Do đó, đời sống chúng ta sẽ hoàn thiện hơn, tới mức mà tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn. Yêu cầu cơ bản để sống trong tình yêu là chúng ta tuân giữ các giới răn. Thánh Gioan nói: "Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài" (1 Ga 5:3). Thêm vào các giới răn, chúng ta được trao những lời khuyên hữu ích để phát triển trong tình yêu. Nhưng chính tình yêu phải luôn luôn duy trì tiêu chuẩn mà cách chọn lựa của chúng ta được đo lường. Yếu tố quyết định trong ơn gọi là sự hiến dâng để theo đuổi sự phát triển không ngừng trong tình yêu. Cường độ của tính kiên định của sự quyết tâm theo đuổi sự thánh thiện bằng cách dùng phương tiện chúng ta sử dụng, đó là điều rất quan trọng hơn cả phương tiện chúng ta chọn. Chẳng hạn, nên tìm kiếm sự thánh thiện trong hôn nhân toàn tâm toàn ý hơn là tìm kiếm sự thánh thiện trong đời sống tu trì toàn tâm toàn ý. Nhưng khi hiến dâng, chúng ta sẽ phát triển trong tình yêu chắc chắn hơn và mau chóng hơn nếu chúng ta sống theo cách thích hợp với việc phát triển trong tình yêu, chẳng hạn bằng cách sống theo lời khuyên Phúc âm (evangelical counsels).

Khi chọn con đường riêng để sống sẽ dẫn đến tình yêu, phương pháp của Thánh Thomas là suy nghĩ về sự tốt lành khách thể và tính khả dĩ của cách sống. Chẳng hạn, ngài nói rằng không cần phải suy nghĩ lâu dài trước khi quyết định đi tù, vì "như thế chắc chắn tốt hơn" và "vì những người đi tu không dựa vào sức mạnh riêng mình"1 nhưng tin cậy Thiên Chúa ban sức mạnh cần thiết để mình sống ơn gọi đó. Nhưng người ta phải tìm kiếm ý muốn đi tu từ Thiên Chúa, Thánh Thomas nói rằng nếu ước muốn đó chân thật, vì ý hướng tốt, đó là từ Thiên Chúa. Không thành vấn đề nếu Thiên Chúa có là nguồn trực tiếp của động thái đó hoặc tìm cách lôi kéo ai đó đi tu hay không. Thậm chí nếu chính ma quỷ là nguồn trực tiếp của ý muốn này thì chính ý muốn đó vẫn tốt, và cuối cùng vẫn từ Thiên Chúa.

Thánh Teresa Avila đã sống và hành động theo các quy luật này của Thánh Thomas. Bà thấy điều gì tốt thì nhất quyết làm. "Mặc dù tôi không tiếp tiếp tục có ý muốn làm nữ tu, tôi vẫn thấy đó là cách tốt nhất và an toàn nhất, và cứ dần dần, tôi quyết định bắt mình ấp ủ điều đó" (1). Bà tiếp tục nói về cách mà Thiên Chúa thưởng cho "sự mãnh liệt" như vậy (x. Mt 11:12) với chính điều đó (2). "Khi tôi đã quen, Thiên Chúa liền cho tôi hiểu và cách Ngài ủng hộ những người ép buộc chính mình trong việc phụng sự Ngài" (3).

Tương phản với Thánh Thomas, Thánh Inhaxiô Loyola mới đầu coi đó là "tìm kiếm Ý Chúa". Thánh Inhaxiô đưa ra "3 cách" để người ta có thể chọn cách sống hợp với Ý Chúa: (a) Khi người ta có kinh nghiệm trực tiếp về điều chắc chắn là Ý Chúa, và điều đó hướng dẫn người ta về cách sống; (b) Khi mà nhờ nhiều kinh nghiệm và sự tìm kiếm sự tác động của Chúa Thánh Thần, người ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần đang mời gọi hoặc lôi kéo người ta vào cách sống nào đó, hoặc ý muốn đó phát xuất từ Chúa Thánh Thần; (c) Khi bắt đầu bằng một thái độ tách biệt đối với các tạo vật, và nếu có thể, bằng sự yêu thích những gì phù hợp hơn với Ý Chúa, người ta cẩn trọng chọn cách sống đó là cách pụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Mỗi phương pháp này đều có thuận lợi riêng và nguy cơ riêng. Phương pháp của Thánh Thomas có thuận lợi về khách quan hơn, do đó ít có khả năng lừa dối, nhưng cũng có nguy cơ là quá trừu tượng, và do đó quá xa rời thực tế và sống kết hiệp với Thiên Chúa. Phương pháp của Thánh Inhaxiô có thuận lợi là riêng tư hơn, nhưng cũng có nguy cơ là ơn gọi sẽ được coi là gánh nặng bắt buộc (obligatory burden) bị Thiên Chúa áp đặt, không là lời mời gọi tự do sống tình yêu lớn lao hơn. Thánh Anphong Ligouri và Von Balthasar có vẻ có sự sai lầm này, vì quá nhấn mạnh vào đặc tính riêng của ơn gọi.

Nhưng dù 2 phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản, cuối cùng chúng vẫn tương thích. Một mặt nó khách quan tốt hơn để theo Ý Chúa hơn theo ý mình. Một mặt cho thấy khi chúng ta tìm kiếm Ý Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy có những cái để xác định Ý Chúa không chỉ đặc biệt mà còn tổng quát và khách quan. Như vậy Thánh Anphong, theo phương pháp tổng quát của Thánh Inhaxiô, không cói các dấu hiệu của Ý Chúa là điều phải có để người ta nuôi dưỡng ý hướng tu trì; người ta chỉ cần 2 dấu hiệu như Thánh Thomas yêu cầu: Ý hướng vừa tốt lành vừa kiên định, và không trở ngại.

Nếu chúng ta áp dụng trường hợp người ta không trở ngại, và dịnh hướng tích cực – phải thích hợp cách sống – rồi chúng tacó những điều kiện chính mà Giáo hội đòi hỏi về ơn gọi. Về yếu tố đầu tiên, ý muốn kiên định và muốn có cách sống đặc biệt (giả sử cách chọn đó hợp pháp và tốt lành), là cần thiết cho ơn gọi, mà Thánh Phanxicô Salê nói rằng ước muốn kiên định như thế chính là ơn gọi. Tuy nhiên, đối với sự kiên định của ơn gọi, chúng ta vẫn cần điều kiện thứ ba, nghĩa là sự chấp thuận của Giáo hội. Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta tới sự thánh thiện đơn giản là những cá nhân, mà là các thành viên của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì thế, nhiệm vụ của Giáo hội là trắc nghiệm và phê chuẩn ơn gọi, nhất là ơn gọi tu trì và linh mục.

Các phương pháp của Thánh Thomas và của thánh Inhaxiô không chỉ tương thích về lý thuyết, mà còn liên kết tới một mức nào đó theo phác thảo về ơn gọi của Thánh Gioan Phaolô II. Theo mô tả của ngài, ơn gọi luôn bắt đầu với Chúa Kitô, Đấng đến với mỗi cá nhân trong tình yêu, hướng dẫn người đó tìm ra cách sống thích hợp với tình yêu đó. Khi cầu nguyện đối thoại với Chúa Kitô, ngài đã kiểm tra những trường hợp riêng của ngài để tìm ra con đường sống mà ngài có thể biến nó thành tặng phẩm của mình trong tình yêu.

Phương pháp kết hợp này có thể là cách tốt nhất để suy nghĩ về ơn gọi. Mục đích cuối cùng của sự suy nghĩ cân nhắc nên đáp lại tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, ưu tiên việc "tìm kiếm" ơn gọi, hoặc "quyết định" cách sống, chúng ta phải cố gắng ưu tiên thanh luyện tâm hồn mình, để yêu thật và tìm kiếm Chúa trên hết mọi sự, và đưa tình yêu vào việc chọn cách sống. Chỉ khi đó chúng ta mới sử dụng tặng phẩm Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta – khối óc và con tim – để quyết định về cách sống.

Khi tìm kiếm ơn gọi, yếu tố này hay yếu tố khác – khối óc hoặc con tim – có thể giữ vai trò chủ đạo. Mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng ý chí: sau khi suy nghĩ và cân nhắc các yếu tố thích hợp, chúng ta có thể biết cái gì là phương tiện tốt nhất để thực hiện tình yêu và phát triển trong tình yêu, và hãy chọn phương tiện đó. Hoặc mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng con tim: trong vài cách có thể cái nào cũng tốt để thực hiện tình yêu và phát triển nó trong tình yêu, chúng ta có thể chọn cách mà chúng ta có khuynh hướng nhiều – không theo xu hướng thoáng qua, nhưng là khuynh hướng bền vững, nghĩa là theo tình yêu đích thực.

Khi suy nghĩ và chọn cách sống, chúng ta nên luôn nghĩ rằng con đường chúng ta chọn không là ý muốn riêng mình, mà là thiết kế của Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta ở một vị trí riêng trong thế giới, cho nên chúng ta có thể chọn con đường riêng để đến với Chúa. Và như vậy, sau khi đã chọn con đường để sống, chúng ta nên tạ ơn Chúa về tình yêu của Ngài, cơ hội và lời mời gọi yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.

Ý muốn kiên định nên theo cách chọn lựa của chúng ta. Ý muốn kiên định này sẽ làm cho chúng ta có thể tận hiến để thực hiện việc yêu mến Chúa và tha nhân theo cách chúng ta đã chọn, và kiên trì trong mọi khó khăn. Ý muốn kiên định này là muốn phụng sự Thiên Chúa theo cách sống mà thường tạo ra sự bình an tâm hồn. Sự bình an tâm hồn liên quan cách chọn riêng là dấu hiệu kiên định của ơn gọi, và có thể được gọi là dấu hiệu của ơn gọi.

Phương pháp trực tiếp này là cách tiếp cận ơn gọi. Giữa cách của Thánh Thomas và của Thánh Inhaxiô, thực sự có nhiều cách khác mà chúng ta có thể dùng để chọn cách sống. Vấn đề là thanh tẩy tâm hồn chúng ta, chân thành sống vì tình yêu lớn lao hơn, luôn tuân phục các giáo huấn của Giáo hội và tuân theo sự cẩn trọng Kitô giáo, đồng thời cởi mở theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, dù Ngài đưa dẫn chúng ta đi đâu. Việc tìm kiếm và theo đuổi ơn gọi không nên là máy móc hoặc xử lý lo âu, mà là sống và vui mừng với Thiên Chúa, vì "Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự" (1 Ga 3:20).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ PathsOfLove.com)

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO #138 = DUC MARIATRONG CAC TON GIAO PDF Print E-mail

Đức MARIA trong các tôn giáo khác - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-abou
May 7 at 9:29 PM

Đức MARIA trong các tôn giáo khác

Tháng 12-2003, Đức Mẹ xuất hiện trên bìa 3 tạp chí lớn của Tin lành với hơn 500.000 bản. Các bài viết ở cả 3 tạp chí kia đều đồng ý rằng các tín đồ Tin lành đã không chú ý Đức Mẹ quá lâu, và đó là đỉnh điểm để các tín đồ Tin lành tái nhận biết vị trí của Đức Mẹ trong đạo Tin lành. Thật vậy, càng ngày càng có nhiều người ngoài Công giáo bắt đầu phát hiện vị trí của Đức Mẹ trong tôn giáo của mình.

Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!

Đức Mẹ là chủ đề trong nhiều cuộc thảo luận đại kết (ecumenical discussions) – những cuộc thảo luận giữa các thần học gia Công giáo, các học giả Tin lành, Hồi giáo, và các tôn giáo khác với mục đích tìm ra những "điểm chung" giữa các tôn giáo. Tháng 6-2001, sau khi trở về từ hội nghị liên tôn được tổ chức tại Lộ Đức, ĐHY Francis Arinze, lúc đó là chủ tịch Hội đồng Đối thoại Liên tôn, nói rằng Đức Mẹ là khởi điểm để giới thiệu sứ điệp Kitô giáo cho các tín đồ của các tôn giáo khác. Các tham dự viên hội nghị này là các đại biểu Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, Tin lành Lutheran và các thần học gia. ĐHY Arinze giải thích: "Chúng ta phải tạ ơn Chúa về ý nghĩa tích cực về Mẹ Maria đối với các tôn giáo khác".

Đức Mẹ có vị trí nào trong các tôn giáo khác, nhất là trong Hồi giáo và Tin lành? Đức Mẹ có vị trí nào trong tương lai? Có cơ hội nào, dù xa, cho các tôn giáo lớn cùng kết hợp dưới áo Đức Mẹ?

Đức Mẹ và Hồi giáo

Nhiều người Công giáo không biết rằng Đức Mẹ rấ được các tín đồ Hồi giáo yêu mến và tôn kính. Đức Mẹ là phụ nữ duy nhất được nhắc tên 34 lần trong kinh Koran – hơn cả số lần trong Kinh thánh! Có cả một chương "Mẹ Maria" (Mariam), và được các tín đồ Hồi giáo diễn tả là chương hay nhất trong toàn bộ kinh Koran. Chương III trong kinh Koran la chương Imran, theo tên của Thân phụ Đức Mẹ.

Kinh Koran nói về việc Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ Giêrusalem, về lễ tẩy trần, về cuộc truyền tin, về sự trinh thai và về việc sinh Chúa Giêsu. Đức Mẹ được Hồi giáo nhận biết và tôn kính là người được thánh hóa và cao trọng nhất trong các phụ nữ, và là sự hoàn hảo tâm linh: "Các thiên thần nói: 'Lạy Mẹ Maria! Thiên Chúa đã chọn Mẹ và thanh tẩy Mẹ – chọn Mẹ hơn hẳn các phụ nữ ở mọi quốc gia. Lạy mẹ Maria! Xin thờ lạy Thiên Chúa: Xin phủ phục, và quỳ gối (khi cầu nguyện) với những người cùng quỳ gối" (Koran 3:42-43).

Thật vậy, điều ngạc nhiên đối với nhiều người Công giáo là Hồi giáo chấp nhận "sự đồng trinh trọn đời" của Đức Mẹ, gián tiếp có nghĩa là Vô nhiễm Nguyên tội – hai tín điều chính về Đức Mẹ. Trong kinh Koran, Đức Mẹ được nhận biết là thụ tạo duy nhất không mắc Tội Tổ Tông từ trước khi làm người, được giữ khỏi mọi tội suốt cả đời. Chúng ta đọc lời cầu nguyện của Đức Mẹ trong kinh Koran: "Lạy Chúa, con dấn thân phục vụ Ngài từ trong lòng con. Xin Ngài thương nhận. Chỉ mình Ngài lắng nghe và thấu suốt mọi sự". Và khi Đức Mẹ sinh Chúa Con, Đức Mẹ nói: "Lạy Chúa, con được gọi là mẹ của Người. Xin bảo vệ con và con cháu khỏi Satan... và xin Con Chúa chấp nhận con" (Koran 3:35-37).

Ở phần khác, kinh Koran nói: "Thiên thần nói: 'Hỡi Cô Maria, Allah đã chọn Cô và thanh tẩy Cô. Ngài đã chọn Cô hơn hẳn các phụ nữ khác. Hỡi Cô Maria, hãy tận hiến cho Thiên Chúa" (Koran 3: 42-43). Kinh Koran nói về sự đồng trinh của Đức Mẹ: "Đối với các tín hữu, Thiên Chúa thiết lập một tấm gương... Maria... người đã giữ mình đồng trinh và nơi cung lòng ấy, chúng ta hít thở Chúa Thánh Thần; Đấng đã làm Mẹ tin Lời Chúa và Kinh thánh, đồng thời rất đạo hạnh" (Koran 66:11-12).

Đức Mẹ và đạo Tin lành

"Đức Kitô có là người duy nhất được tôn thờ? Hoặc Mẹ Thiên Chúa không được tôn kính? Đây là phụ nữ đã đạp đầu con rắn. Hãy nghe chúng tôi. Vì Chúa Con không từ chối điều gì". Đó là câu nói của ông Martin Luther, nhà cải cách Tin lành hồi thế kỷ XVI, thành lập phong trào Tin lành và ly khai với Công giáo. Đó là câu nói trong bài giảng cuối cùng của Luther tại Wittenberg hồi tháng 1-1546, vài tháng trước khi ông qua đời. Điều đó cho thấy rằng ông Luther tôn sùng Đức Mẹ cả đời.

Càng ngày càng có nhiều học giả Tin lành xuất bản các phát hiện của họ về lòng sùng kính Đức Mẹ của những người thành lập đạo Tin lành – Martin Luther, John Calvin, và Ulrich Zwingli. Trong ba người này, Martin Luther là người sùng kính Đức Mẹ nhất và đức tin của họ vẫn phù hợp với giáo lý Công giáo – một tiếng kêu từ việc kết án gay gắt về những gì liên quan Đức Mẹ nơi nhiều người Tin lành chính thống (fundamentalist Protestants) và các Kitô hữu Tái sinh (Born Again Christians) ngày nay. Các tín đồ Tin lành đã bị bỏ lại phía sau về việc dạy rằng bất kỳ điều gì liên quan Đức Mẹ đều ngược với Tin lành, và bất cứ điều gì liên quan Đức Mẹ đều làm giảm việc tôn thờ Đức Kitô. Nhưng có bằng chứng đủ để nói rằng các nhà cải cách Tin lành không bao giờ có ý "chống Đức Mẹ" (anti-Marian).

Nhiều học giả Tin lành đồng ý rằng Martin Luther sùng kính Đức Mẹ cả đời, cũng như niềm tin của ông trong các giáo huấn chính yếu về Đức Mẹ. Thật vậy, Martin Luther tin mọi giáo lý về Đức Mẹ – Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, lên trời, và ngay cả việc vô nhiễm nguyên tội.

Chính Luther đã viết và tin Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội – 300 năm trước khi Giáo hội Công giáo chính thức tuyên bố tín điều này vào năm 1854! Đây là cách hiểu của Luther về Vô nhiễm Nguyên tội: "Nhưng quan niệm khác, nghĩa là sự truyền thụ của linh hồn, đó là điều được tin thích hợp và đạo đức, là không có tội, để khi linh hồn được truyền thụ, Đức Mẹ cũng được tẩy sạch khỏi tội nguyên tổ và được trang điểm bằng những Ơn Chúa để nhận linh hồn thánh thiện đã được truyền thụ. Và như vậy, trong chính lúc Đức Mẹ bắt đầu sống thì Đức Mẹ đã không nhiễm tội...".

Trong cuốn "Against the Roman Papacy: An Institution of the Devil" (Chống lại Giáo hoàng Rôma: Tổ chức của Ma quỷ), xuất bản năm 1545 (một năm trước khi qua đời), Luther đã nói: "... Đức Maria đồng trinh, không nhiễm tội và không thể phạm tội mãi mãi". Như vậy, ngay lúc bị coi là chống lại giáo hoàng, Luther vẫn không bào giờ lung lay niềm tin về vấn đề Vô nhiễm Nguyên tội của Đức Mẹ.

Một số học giả nổi bật của Tin lành cũng đồng ý rằng cả đời ông Luther vẫn tin Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội. Trong số các học giả đó là Arthur Carl Piepkorn, Eric Gritsch, Jaroslav Pelikan, kể cả 11 học giả theo Tin lành Lutheran thuộc Ủy ban Đối thoại Tin lành Lutheran và Công giáo (Lutheran-Catholic Dialogue Committee).

Về vấn đề Đức Mẹ lên trời cũng tương tự, tín điều được công bố trong thế kỷ XX, nhưng từ thế kỷ XVI, Luther đã tin là "tư tưởng đạo hạnh và vui lòng". Về thiên chức Mẹ Thiên Chúa, Luther viết: "Đức Mẹ được mời gọi không chỉ là Mẹ của nhân loại, mà còn là Mẹ Thiên Chúa... Chắc chắn Mẹ Maria là Mẹ của Thiên Chúa thật".

Về niềm tin cả đời ông Luther đối với sự đồng trinh trọn đời của Đức Mẹ, ông viết: "Vấn đề đức tin là Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và vẫn đồng trinh".

Khác với Martin Luther, John Calvin không khen Đức Mẹ như Martin Luther, dù ông không phủ nhận tầm quan trọng và sự nổi trội của Đức Mẹ trong lĩnh vực đức tin. Cũng như Martin Luther, John Calvin tin Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và trọn đời đồng trinh: "Bà Êlidabét gọi Maria là mẹ Thiên Chúa, vì sự duy nhất của con người có hai bản tính của Đức Kitô, Đức Mẹ có thể nói rằng con người hay chết được tạo nên trong cung lòng Đức Mẹ cũng là Thiên Chúa vĩnh hằng".

Đây là một số tài liệu mà Calvin nói về Đức Mẹ:

– "Không thể phủ nhận việc Thiên Chúa đã chọn và tiền định Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa Ngôi Con, và được ban cho sự kính trọng cao nhất".

– "Tới ngày nay, chúng ta không thể hưởng phúc lành nơi Đức Kitô nếu không nghĩ đồng thời Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ sự cao trọng, theo ý của Đức Mẹ chấp nhận là Mẹ của Con Một Thiên Chúa".

Tài liệu của Ulrich Zwingli:

– "Tôi đánh giá cao Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh và vô nhiễm nguyên tội".

– "Thật thích hợp khi Chúa Con nên có một Người Mẹ Thánh".

– "Loài người càng tôn thờ và yêu mến Chúa Kitô thì càng nên tôn kính và yêu mến Đức Mẹ".

Do đó, sùng kính Đức Mẹ là phần cơ bản của Tin lành. Các Giáo hội Tin lành Lutheran vẫn giữ ảnh tượng Đức Mẹ, và thậm chí hạn chế sùng kính Đức Mẹ (như kinh Ave Maria và Magnificat), dù gần 100 năm sau khi Luther qua đời. Giáo hội Lutheran dạy đề cao Đức Mẹ đồng trinh là mẫu gương nhân đức của các Kitô hữu.

Việc sắp xếp các "yếu tố ẩn giấu" này về lòng sùng kính Đức Mẹ và tinh thần của những người sáng lập Tin lành có thể là lý do để mới đây có nhiều sách của Tin lành kêu gọi tái khám phá Đức Mẹ. Một học giả Tin lành còn "đi xa" hơn và nói rằng: "Đã đến lúc người Tin lành về nhà".

Đức Mẹ đối với các quốc gia

Có thể ngày đó không bao giờ đến khi nhiều tôn giáo sẽ phá bỏ các rào chắn giáo lý kết hợp. Các bất đồng cơ bản về các giáo huấn chủ yếu sẽ có thể không bao giờ được vượt qua. Chẳng hạn, người Công giáo sẽ không bao giờ thỏa hiệp việc tin có Thiên tính của Chúa Giêsu Kitô, còn Hồi giáo sẽ không bao giờ nâng cao thân phận của Chúa Giêsu khỏi vị trí chỉ là một "tiên tri vĩ đại" của Thiên Chúa.

Nhưng có thể có một mẫu số chung giữa các tôn giáo để có thể là nền tảng của cuộc đối thoại lâu dài vào một ngày nào đó, để tạo sự kết hợp giữa các tôn giáo mà chúng ta thấy ngày nay. Đức Mẹ là Lady of All Nations (Đức Mẹ của mọi quốc gia).

Hồi giáo duy trì việc đánh giá cao và tuyên bố Đức Mẹ là người cao trọng nhất. Tin lành bắt đầu nhận biết vị trí của Đức Mẹ trong tôn giáo của họ. Thậm chí có người của các tôn giáo không độc thần như Phật giáo cũng đang coi Đức Mẹ là chứng cớ đã được các Phật tử tường trình tại Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Tại các hội nghị đại kết liên tôn, Đức Mẹ càng ngày càng là khởi điểm của việc đối thoại.

Đức Mẹ đã vượt qua mọi rào cản giáo lý, là ánh sáng soi vào nơi thâm sâu nhất và tối tăm nhất của bóng tối. Đức Mẹ là dấu hiệu của sự kết hợp, không bao giờ chia rẽ chúng ta.

Thật vậy, dù tôn giáo nào hoặc giáo phái nào, mọi người đều thấy dễ chấp nhận là Người Mẹ tốt nhất trong lịch sử (Best Mother in all history) – đạo hạnh nhất, kính sợ Chúa nhất, mạnh mẽ nhất, và sùng kính nhất.

Điều này chính xác vì "cương vị làm mẹ" của Đức Maria mà Mẹ có thể được gọi là "Mẹ của các dân tộc", Người Mẹ đã được Đức Kitô trao ban cho nhân loại, khi Ngài bị treo trên Thập giá: "Đây là mẹ của con" (Ga 19:27).

Có lần ông Luther nói: "Việc tôn kính Đức Maria được khắc ghi sâu đậm trong trái tim con người". Ý nghĩa của các từ ngữ mà ông Luther đã dùng rõ ràng: Trong sâu thẳm của mọi tâm hồn, dù tôn giáo nào hoặc dù dân tộc nào, đều được ghi khắc sự khao khát tự nhiên và tình yêu tự nhiên đối với Người Mẹ của các quốc gia, một ngày nào đó, nhờ lời cầu nguyện của chúng ta, sẽ quy tụ mọi con cái dưới bóng Mẹ.

AD JESUM PER MARIAM – NHỜ MẸ ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU.

TOTUS TUUS EGO SUM, ET OMNIA MEA TUA SUNT. ACCIPIO TE IN MEA OMNIA. PRAEBE MIHI COR TUUM, MARIA – CON HOÀN TOÀN THUỘC VỀ MẸ, VÀ MỌI SỰ CỦA CON ĐỀU LÀ CỦA MẸ. CON XIN DÂNG MẸ TẤT CẢ MỌI SỰ CỦA CON. LẠY MẸ MARIA, XIN BAN CHO CON TRÁI TIM CỦA MẸ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 125 of 163