mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7640
mod_vvisit_counterHôm Qua10683
mod_vvisit_counterTuần Này33568
mod_vvisit_counterTuần Trước57668
mod_vvisit_counterTháng Này99455
mod_vvisit_counterTháng Trước249539
mod_vvisit_counterTất cả15179913

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 129 = TREO CHEN-TAN TONG-THANHLE PDF Print E-mail

XIN CHA GIẢI ĐÁP THẮC MẮC DƯỚI ĐÂY:
1- Thế nào là "bị treo chén" và "bị rút năng quyền" của một linh mục ?
2- Người tân tòng có buộc phải "xưng tội" trước khi được rửa tội không ?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cho một người xin hay không , và linh mục có được phép soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không ?
Trả lời:
1-Về câu hỏi thứ nhất, xin được giải thích như sau:
Mọi linh mục giáo phận ( diocesan priests)- hay còn gọi là linh mục triều, sau khi được chịu chức, thường được giám mục của mình trao cho một thư bổ nhiệm ( letter of appointment) hay còn gọi là "bài sai" trong đó có liệt kê những năng quyền ( priestly faculties) được làm như:
- Cử hành Thánh lễ Tạ ơn ( Eucharist)
- Cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân và chứng hôn.
- Giảng dạy giáo lý và Tin Mừng. ( Gospels)
Như vậy, nếu không có thư bổ nhiệm trên, thì linh mục không thể công khai ( publictly) cử hành các bí tích trên , dù mình có chức linh mục. Lại nữa, khi linh mục đang có năng quyền ở một giáo phận, đến chơi và lưu trú hơn một tuần lễ ở lãnh thổ thuộc giáo phận khác, thì cũng buộc phải xin năng quyền của Bản quyền địa phương, nếu muốn thi hành sứ vụ linh mục như làm lễ cho bổn đạo, giải tội, sức dầu .v.v. Nghĩa là không phải cứ là linh mục thì đi đâu cũng đương nhiên được thì hành các tác vụ linh mục , dù mình có chức linh mục thực thụ., trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục nào cũng được phép giải tội hay sức dầu cho bệnh nhân
( x giáo luật 987, triệt 2)
Khi một linh mục phạm lỗi gì, khiến Giám mục của mình tạm rút hay rút vĩnh viễn năng quyền (thí dụ linh mục có tội về sách nhiễu tình dục trẻ em), thì linh mục tạm thời hay vĩnh viễn không được thi hành mọi tác vụ linh mục ở bất cứ nơi nào trong hay ngoài giáo hội địa phương ( giáo phận). Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì dù bị rút hết năng quyền, linh mục vẫn được phép giải tội và sức dầu bệnh nhân như nói ở trên..
Giáo dân Viêt Nam vẫn quen nghe nói linh mục bị "treo chén" nhưng đúng hơn phải nói theo giáo luật là "bị rút năng quyền."
Treo chén hay rút năng quyền ( suspension of faculties) hay nói theo giáo luật là bị vạ huyền chức= suspension of faculties . (giáo luật số 1333) đều có nghĩa là linh mục tạm thời hay vinh viễn không được thi hành tác vụ linh mục ( priestly ministries) như giảng dạy, làm lễ, rửa tội ,thêm sức, giải tội, sức dầu bệnh nhân và chứng hôn công khai ở đâu, trừ trường hợp khẳn cấp nguy tử của bệnh nhân thì linh muc vẫn phải làm nhiệm vụ, dù đang bị "rút năng quyền".
Riêng các linh mục Dòng, nếu muốn thi hành tác vụ linh mục trong phạm vi một giáo phận thì, ngoài năng quyền do Bề Trên Dòng trao cho, cũng phải xin năng quyền nơi Bản quyền địa phương ( giáo phận) nếu muốn làm mục vụ ở địa phương đó, theo đề nghị của Bề Trên Dòng liên hệ.Khi năng quyền này bị rút thì cũng không được phép thi hành năng quyền nơi cấp phát nữa.
2- Người Tân Tòng ( catechumens) có cần phải xưng tội trước khi được rửa tội hay không ?
Tôi đã có lần trả lời câu hỏi này rồi. Nay xin nhắc lại là theo giáo lý thì người tân tòng có nghĩa là những người trên 18 tuổi, chưa từng được rửa tội, muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo qua chương trình huấn luyện đặc biệt gọi là RCIA ( Rites of Christian Initiation for Aduts). Người tân tòng sẽ được dạy giáo lý để được rửa tội, thêm sức và rước Mình Thánh Chúa lần đầu trong lễ Vọng Phục Sinh ( Easter Vigil) đêm thứ bảy Tuần Thánh.
Khi được rửa tội, thì mọi tội cá nhân và tội nguyên tổ ( original sin) cùng với hậu quả của tội đều được tha hết một lượt ( x SGLGHCG số 1263). Do đó, người tân tòng không phải xưng tội cá nhân trước khi được rửa tội. Vả lại, không bí tích nào được ban thành sự cho ai chưa được rửa tội, là cửa ngõ đi vào các bí tích khác như Thánh Thể, hòa giải, sức dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh. Nghĩa là muốn lãnh nhận thành sự ( validly) các bí tích trên, buộc phải được rửa tội trước.Do đó, không bao giờ linh muc nào được trao Mình Thánh Chúa hay giải tội cho trẻ em hay người lớn nào chưa được rửa tội.Trong trường hợp nguy tử, nếu bệnh nhân muốn nhập Đạo Công Giáo để lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, thì phải dạy những điều cần yếu về giáo lý trước khi rửa tội cho người ấy và không cần bắt họ xưng tội vì phép Rửa cũng tha mọi tội cá nhân và hậu quả của Tội nguyên tổ như đã nới ở trên.
Như thế, ai đòi người tân tòng phải xưng tội trước khi rửa tội là không đúng theo giáo lý và thần học bí tích ( sacramental theology).
Có chăng, trong khi dạy giáo lý, cần giải thích rõ cho người tân tòng biết là với bí tích Rửa tội thì mọi tội cá nhân người ấy đã phạm cùng với hậu quả của tội nguyên tổ cho đến lúc được rửa tội, thì đều được tẩy sạch một lần khỏi mọi vết nhơ của tội . Và chiếc áo hay khăn trắng được trao cho sau khi rửa tội là dấu chỉ sự đổi mới hoàn toàn trong tâm hồn người tân tòng sau khi được tái sinh qua phép rửa và mặc lấy Chúa Kitô là Ánh Sáng của cây nến cầm trên tay và khăn trắng hay áo trắng mặc trên mình.
Đây là những điều cần thiết phải dạy cho người tân tòng biết trước khi họ được lãnh nhận ba bí tích quan trong là Rửa tội, thêm sức và Thánh Thể trong lễ Vọng Phục Sinh, hay trong dịp riêng nào đó.
3-Có lễ nào được dành riêng cho một người xin hay không ?
Thánh lễ Tạ Ơn ( Eucharst) là hành động phụng vụ quan trọng nhất diễn lại cách bí tích trên Bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Kitô với 12 Tông Đồ và Hy tế đền tội mà Chúa dâng lên Chúa Cha trên Thập giá ngày hôm sau để một lần xin tha mọi tội cho cả nhân loại đáng bị phạt vì tội lỗi.Chính nhờ Hy tế đền tội này mà con người có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô gía của Chúa Kitô, Đấng "đã hiến dâng mạnh sống mình làm giá chuộc cho muôn người," ( Mt 20 : 28)
Vì thế, Thánh lễ Tạ ơn là đỉnh cao và là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội và của mọi Kitô hữu, vì mỗi khi cử hành Thánh Lễ , Giáo hội lại một lần hiệp thông cùng Chúa Kitô dâng lời ngợi khen, cảm tạ lên Chúa Cha và xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà Hy Tế đền tội xưa Chúa Kitô dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể con người.
Như vậy, mọi Thánh lễ đều là việc ca ngượi và cảm tạ Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.Trong Thánh lễ có lời cầu xin của Giáo Hội cho Đức Giáo Hoàng, cho Giám mục giáo phận, cho các tín hữu còn sống ( Kinh nguyện Tạ Ơn I) hay đã qua đời dù không có ai xin lễ cầu riêng..
Khi có người xin lễ cầu cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời thì chủ tế đọc thêm tên thánh của người muốn xin cầu cho, hoặc nhớ đến ý lễ của người xin , như xin ơn bình an, xin có công ăn việc làm, hay xin khỏi bệnh tật v.v. Nhưng không có Thánh lễ nào chỉ dành để cầu cho một ý lễ của người xin bao giờ. Vì như đã nói ở trên, dù có ai xin lễ với ý lễ riêng thì vẫn có lời cầu chung cho Đức Thánh Cha, cho giám mục giáo phận , cho người còn sống và cho những linh hồn cha mẹ tổ tiên và thân bằng quyến thuộc đã qua đời.
Chỉ có sự khác bệt là dù cầu cho nhiều người nhưng linh mục chủ tế chỉ được lấy bổng lễ ( mas stipend) của một ý lễ thôi. Nếu vì lý do mục vụ mà phải gom nhiều ý lễ trong một thánh lễ, thì sau đó linh mục phải làm lễ bù cho đủ, nếu muốn hưởng trọn số bổng lễ của người xin.( x giáo luật số 948)
Tóm lại, Thánh lễ là việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa mà Giáo Hội hiệp dâng trên bàn thờ cùng với Chúa Kitô để xin ơn tha thứ cho người còn sống cũng như cho người đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng còn đang được thanh luyện trong Luyện tội ( Purgatory). Thánh lễ là bí tích cao trọng nhất qua đó Chúa Kitô lại hiện diện cách bí tích qua thừa tác viên con người là linh mục và giám mục để diễn lại Bữa tiệc ly và Hy tế thập giá của Người để ban ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích của Hy tế thập giá trên núi Sọ xưa kia.
Do đó, không có Thánh Lễ nào chỉ dành cầu riêng cho ai còn sống hay đã ly trần, cho dù người xin lễ có bỏ ra bao nhiêu tiền thì cũng không thể có lễ riêng cho một mình ai được.
Về cẩu hỏi chót liên quan đến việc linh mục có được phép soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không, xin trả lời ngay là mọi kinh nguyện kể cả các bài thánh ca của ai soan hay sáng tác phải được giáo quyền địa phương duyệt xét và quyết định có cho đọc hay không trước khi phổ biến cho giáo dân đọc chung trong nhà thờ hay ở tư gia.Các bài thánh ca cũng vậy. Nghĩa là không ai được tự ý soan kinh và soan nhạc cho giáo dân đọc và hát trong nhà thờ mà không có phép của bản quyền địa phương, tức Tòa Giám mục sở tại.
Đây là kỷ luật bí tích và phụng vụ mà mọi cha sở phải thi hành nghiêm chinh, vì việc thờ phượng phải tuân theo kỷ luật chung của Giáo Hội, chứ không theo sở thích của cá nhân nào.
Cũng xin nói thêm là linh mục không nên ôm cây đàn để hát và kể chuyện tếu trong những dịp tiệc cưới hay gây qũy từ thiện. Lại càng không nên làm cảm cáo thương mại cho ai như một linh mục kia đã nằm dài trên ghế để quảng cáo cho loại ghế xoa bóp này.Làm như vậy là đã tự đánh mất tư cách của linh mục, một Đức Kitô thứ hai ( Alter christus) trong sứ vụ( Ministry) và trước mắt người đời.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn những câu hỏi đặt ra
Lm Phnaxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 128 = GIAI ĐAP THAC MAC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THÊM THẮC MẮC
Xin cha giả đáp những thắc mắc sau đây :
1- Anh chị em Tin Lành thường phê phán Công Giáo về những việc mà họ cho là không có nguồn gốc Kinh Thánh như , Hỏa ngục, luyện ngục, sự sống lại của thân xác con người, lễ Misa, Đức Mẹ lên Trời cả hồn xác....xin cha cho biết phải trả lời họ thế nào ?
2- Trước khi cử hành Thánh lễ, có nghi thức sám hối xin Chúa thương tha tội lỗi để xứng đáng dâng và tham dự Thánh lễ. Như vậy , nghi thức này có tha hết mọi tội nặng nhẹ hay không ?

Trả lời :
1- Tôi đã có đôi lần nói rõ là các nhánh Tin Lành ( Protestants) nói chung chỉ dựa vào Kinh Thánh ( Sola Scriptura) để giảng đạo và phê bình Giáo Hội Công Giáo về những điều họ cho là không có nguồn gốc Kinh Thánh.
Thí dụ, họ nói không tìm được đâu ra danh xưng " Công Giáo= Catholicism)
Trong Kinh Thánh, nên họ không công nhận Giáo Hội Công Giáo có căn bản Kinh Thánh.
Họ đã sai lầm vì không biết rằng Giáo Hội Công Giáo, ngoài Kinh Thánh, còn có các nguồn chân lý khác là mặc khải ( revelation) Thánh Truyền ( Sacred Tradition) và Quyền Giáo Huấn ( Magisterium) của Giáo Hội, mà họ không nhìn nhận, nhưng đây là những cơ sở vững chắc mà Giáo Hội dựa vào để dạy dỗ và bảo vệ đức tin Kitô Giáo tinh tuyền được truyền lại từ các Thánh Tông Đồ cho đến nay và cho đến ngày mãn thời gian.
Nếu nói về danh xưng có trong Kinh hánh, thì không những từ ngữ " Công Giáo" , mà cả "Tin Lành" và "Chính Thống", cũng đều không có trong Kinh Thánh Cựu và Tân Ước.
Nhưng tại sao Giáo Hội của Chúa Kitô lại được gọi là Công Giáo ?
Lý do là, trước khi về trời, Chúa Kitô đã truyền cho các Tông Đồ như sau: " Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần." ( Mt 28: 19)
Có nghĩa là phải mang Đạo Thánh của Chúa đến với hết mọi người trong nhân loại, không phân biệt biên giới, chủng tộc và văn hóa.
Đây là nét phổ quát ( universality) của ơn cứu độ mà Chúa Kitô đã trả bằng giá máu của Người để cho " muôn dân được cứu độ". ( Mt 20: 28)
Lại nữa, sự kiện Chúa tỏ mình cho dân ngoại qua ba chiêm tinh gia ( vẫn quen gọi là ba Vua) từ phương đông đến bái lậy Chúa Hài Đồng và dâng lễ vật gồm vàng, nhũ hương và mộc dược ( Mt 2: 1: 11) đã cho thấy Chúa Cứu Thế Giêsu đến trần gian không phải chỉ để cứu độ cho Dân Do Thái, dù họ là Dân riêng của Thiên Chúa, mà còn để cứu độ cho hết mọi người thuộc mọi chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa. Vì thế Đạo của Chúa phải là Đạo Công Giáo vì mục đích cứu rỗi dành cho hết mọi người đã sinh ra trong trần gian này.
Công giáo ( Catholic) có nghiã là phổ quát = universal , là dành cho hết mọi người chứ không có nghĩa là công cộng= pubic như có kẻ mê muội và thù nghịch đã cố tình dịch ra Anh ngữ Đạo Công Giáo là "Public Religon".
Đạo là Công giáo nên Giáo Hội của Chúa là Công Giáo vì mục đích mời gọi mọi người gia nhập để được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Giê-su Kitô.
Cũng vì chỉ dựa vào Kinh Thánh, nên anh em Tin Lành không thể tìm đâu ra danh xưng Công giáo, cũng như các phẩm trật trong Giáo Hội từ Đức Thánh Cha xuống hàng Hồng Y, Giám Mục, Linh mục và Phó tế.
Nếu họ dựa vào Kinh Thánh để phủ nhận danh xưng Công giáo" thì chính họ cũng không có nguồn gốc Kinh Thánh nào khi khởi xướng Phong Trào canh tân và tự mang danh hiệu là Tin Lành ( Thệ phản= Protestantism)
Lại nữa, chính vì không tin Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể ( Eucharist) và Truyền Chức Thánh ( Holy Orders) trong Bữa ăn sau cùng với 12 Tông Đồ, nên anh em Tin Lành không hiểu được vì sao Giáo Hội Công Giáo cử hành Thánh ễ Tạ ơn (Eucharist) và có các chức thánh Phó tế, Linh mục và Giám Mục để coi sóc và phục vụ cho nhu cầu thiêng liêng của giáo dân không phân biệt mầu da, ngôn ngữ và văn hóa.
Lại nữa, Vì họ không có chức Linh mục hữu hiệu nên họ không thể có Bí tích Thánh Thể được, cho dù họ có nghi thức bẻ bánh và uống rượu mỗi khi tụ họ để giảng Kinh Thánh. Vả lại, cũng vì họ không tin có sự biến đổi bản thể= Transubstantiation của bánh thành Mình và Máu Chúa Kitô như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương tin, nên họ có bẻ bánh và uống rượu thì đây chỉ là bánh và rượu thôi, chứ không phải là Mình Máu Chúa Kitô hiện diện thực sự trong bánh và rượu mỗi khi Giáo Hội cử hành Thánh lễ Tạ Ơn ( Eucharist) trên bàn thờ . Đây là điểm khác biệt to lớn giữa Công Giáo và Tin Lành liên quan đến Thần học bí tích. Cũng vậy , do không nhìn nhận vai trò và trách nhiệm của Đức Thánh Cha, nên họ không hiểu được rằng- với Quyên Giáo Huấn ( Magisterium)- Đức Thánh Cha có năng quyền tuyên bố không sai lầm những tín điều về đức tin và luân lý như tín điều ( dogma) Đức Mẹ hồn xác lên Trời ( Assumption) được Đức Thánh Cha Piô XII tuyên bố năm 1950.. Tin điều Đức Mẹ Vô nhiễm Thai ( Immaculate Conception) được Đức Thánh Cha Piô X công bố năm 1854.Tín điều này, sau đó, đã được chính Đức Mẹ xác nhận khi Mẹ hiện ra với thiếu nữ ( nay là thánh) Bernadette ở Hang Đá Lộ Đức năm 1858 khi Mẹ nói với Bernadtte: Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai.(Immaculate Conception)
Và cũng với Quyền Giáo Huấn, Giáo Hội đã công bố Sách Giáo Lý ( Catechism) để dạy giáo dân những điều phải tin và thực hành cho được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Giáo lý dạy có Thiên Đàng, Luyện tội và hỏa ngục, cũng như tín điều các Thánh Thông công, tin phép tha tội , tin xác loài người ngày sau sống lại, và ân xá ( indulgences) để tha các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment).( x SGLGHCG số 1023, 1030, 1033, 1038, 1324-1328, 1440 )
Anh em Tin Lành không công nhận Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội Công Giáo nên họ chỉ trích vì không tin những gì Sách Giáo lý dạy là điều dĩ nhiên, không thể tranh luận gì được.
Tóm lại, vì không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, nên các nhánh Tin Lành có rất nhiều điều không đồng ý với Giáo Hội trong nhiều phạm vi.
Và để trả lời cho những chỉ trích của họ, chúng ta chỉ cần nêu ra những điều họ không công nhận như Mặc khải, Thánh truyền và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội,là những căn bản thần học và Kinh Thánh mà dựa vào đây Giáo Hội thi hành sứ mạng của mình , nhưng vì họ không tin nên không thể cãi lý suông được.
2-Nghi thức sám hối có thay thế bí tích hòa giải hay không ?
Liên quan đến cẩu hỏi thứ 2, xin được nói lại một lần nữa là Bí tích hòa giải đã được chính Chúa Giê-su thiết lập và truyền cho các Tông Đồ thi hành như sau:
" Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cẩm giữ." ( Ga 20: 23)
Đây là nền tảng Kinh Thánh của Bí Tích hòa giải mà anh em Tin Lành không tin, mặc dù họ cứ viện dẫn Kinh Thánh để phê bình Công Giáo.
Với bí tích trên, mọi tội con người phạm vì yếu đuối và vì ma quỷ cám đỗ, đều có thể được tha, nếu hối nhân thực tâm sám hối để xin Chúa thứ tha, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người, thì không còn lý do gì để thứ tha nữa.( Mc 3: 29; Lc 12: 10)
Khi tham dự Thánh lễ, mọi người phải cùng sám hối xin Chúa tha thứ những lầm lỗi nhẹ để xứng đáng được cử hành ( Chủ Tế) và tham dự ( giáo dân) Mầu nhiệm thánh.
Tuy nhiên, Nghi thức sám hối trên ( penitential rite ) chỉ tha những tội nhẹ ( venial sins ) chứ không tha tội trọng ( mortal sins). Vì thế, giáo luật và giáo lý cấm không được làm lễ ( linh mục) và rước Lễ ( giáo dân) nếu ai tự xét mình có tội trọng chưa được tha qua bí tích hòa giải. ( x giáo luật số 916; SGGHCG số 1415). Nghĩa là phải cử hành bí tích hòa giải để được tha mọi tội nặng và nhẹ trước khi cử hành và tham dự Thánh lễ Tạ Ơn, vì nghi thức sám hối trước Thánh lễ không thay thế được bí tích hòa giải trong trường hợp ai đang mắc tội trọng.
Tóm lại, nếu có tội trọng thì phải đi xưng tội trước khi cử hành và tham dự Thánh lễ để được rước Mình Máu Chúa Kitô cách xứng đáng theo lời dạy của Giáo Hội.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm. P. X Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 127 = SU KHAC BIET PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi: Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời: như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 2 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiêp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíao đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura). Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: "không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng kinh thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và kinh thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi ai dưới đất là cha là thầy vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời" mà thôi. Vì họ hiểu câu này hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) do đó, không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm này chỉ có phép rửa( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người tân tòng.(catechumen). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (communion) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng các Tông đồ.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 126 = THE NAO LA KHON NGOAN ? PDF Print E-mail

THẾ NÀO LÀ KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA VÀ KHÔN NGOAN CỦA CON NGƯỜI ?
Khôn ngoan là một quà tặng quí giá của Chúa Thánh Thần ban cho những ai thành tâm muốn lãnh nhận bí tích Thêm sức, là bí tích trưởng thành Kitô Giáo ( Christian maturity) để nhờ đó người tín hữu biết sống đức tin và làm nhân chúng cho Chúa Kitô trong trần cách hữu hiệu. Nói rõ hơn, nếu không có ơn khôn ngoan soi sáng của Chúa Thánh Thần thì Giáo Hội không thể đứng vững, tăng trưởng, và hoàn hảo hơn như ngày nay được.
Vì thế, thật cần thiết cho mọi người tìn hứu chúng ta phải xin Chúa Thánh Linh ban cho ơn quí giá này.
Xưa kia Vua Sa-lô-môn, con vua Đavit, chỉ xin Chúa cho được thần trí khôn ngoan và ca tụng ơn quí trọng này như sau:
" Vậy tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết
Tôi kêu cầu và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi
Đức Khôn Ngoan tôi đã quí trọng
còn hơn cả vương trượng, ngai vàng
đối với tôi, trân châu bảo ngọc
chẳng sánh được với Đức Khôn ngoan
Và vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan
Cũng chỉ là cát bụi.
Và bạc, so với Đức Khôn Ngoan
Cũng chỉ là cát bụi. ( Kn 7: 7-9)
Nhà vua không xin Thiên Chúa cho ông được giầu sang, vinh hiển mà chỉ xin cho được ơn hiểu biết và khôn ngoan để cai trị một dân đông đúc "không đếm nổi" 'Và Thiên Chúa đã nhậm lời khẩn cầu của Vua Salômôn và phán bảo ông như sau:
" Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi,
Trước ngươi chẳng một ai sánh bằng , và sau ngươi, cũng chẳng có
Ai bì kịp." ( 1 V 3: 12)
Với ơn khôn ngoan hiếm có trên đây, vua Sa lô môn đã trỗi vượt hơn " tất cả mọi người Phương Đông và hơn tất cả sự khôn ngoan của Ai Cập." ( Sđd 5: 10) khiến người khắp nơi kéo đến để được nghe những lời khôn ngoan của Vua.
Đức khôn ngoan đó chính là phương thế mà Thiên Chúa dùng để điều khiển vũ trụ và sự sống của con người trên trần thế này. Nghĩa là mọi trật tự trên trời dưới đất, mọi sự sinh tồn của vạn vật, từ loài người cho đến hoa lá cỏ cây và mọi loài động vật khác, đều được quan phòng trong sự khôn ngoan tuyệt đối của Thiên Chúa là Vua vũ trụ. là Đấng Tạo Hóa toàn năng, thượng trí.
Cho nên, là tạo vật có lý trí và ý muốn tự do ( free will), con người – cách riêng người tín hữu Chúa Kitô- được mong đợi sống sao cho phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa để được hạnh phúc ngay trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là được sống hạnh phúc vinh cửu trên Nước Trời mai sau.
Nhưng muốn được khôn ngoan theo Chúa thì phải từ bỏ khôn ngoan của loài người.
Thí dụ cụ thể là trong Tin Mừng Thánh Matthêu, Chúa Giê su nói cho các môn đệ biết là Người sẽ phải chịu nhiều đau khổ, bị phản bội, bị bắt bớ và bị giết chết trên thập giá trước khi được sống lại vinh quang. Nghe thế, Phêrô, môn đệ đã tuyên xứng Chúa là Đấng Kitô trước đó, bèn kéo Chúa ra ngoài và thưa với Người rằng : " Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp những chuyện ấy."
Chúa đã trả lời Phê rô như sau: " Xa tan, lui ra đằng sau Thầy. Anh cản lối Thầy ,vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà là của loài người." ( Mt 16: 22-23; Mc 8: 31-33)
Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng theo khôn ngoan của loài người. Với khôn ngoan này, không ai muốn chịu sự gì khốn khó như bệnh tật, nghèo đói, bị khinh chê, lăng mạ hay hành hung. Ai cũng muốn được giầu có, danh vọng và khỏe mạnh, trẻ mãi không già. Chính vì thế mà con người ở khắp mọi nơi và mọi thời đại, đã và đang mải mê đi tìm tiền của, danh vọng và mọi thú vui theo đòi hỏi của bản năng, dù là trái với luân lý đạo đức. Nghĩa là phải khôn ngoan để thu được càng nhiều thắng lợi về tiền bạc, của cải , danh vọng và vui thú càng tốt.
Cụ thể ở Mỹ, thời ông Bill Clinton còn ở làm tổng thống, để gây quĩ cho ông, ông đã dùng cả tiểu sảo là đặt giá 5000 đôla ( năm ngàn) cho ai muốn vào ngủ một đêm ở Nhà Trắng ( White House= Dinh Thổng Thống), và 10000 ( mười ngàn) đô cho ai vừa ngủ và ăn sáng với Tổng Thống ! vậy mà có biết bao người đã hưởng ứng để mua cái vui và danh hảo huyền này ! Chưa hết, khi công nương Diana của Nước Anh ( bị tai nạn xe hơi chết ở Paris năm 1997) đến viếng Nữu Ước, có người đã bỏ ra cả 100,000 ( trăm ngàn) đô la để chỉ xin được ngồi gần công nương trong bữa tiệc thành phố mừng cô dịp này !.( theo tiết lộ của báo chí Mỹ) .
Nhưng có ai chịu bỏ ra số tiền tương tự để tổ chức một bữa ăn cho người nghèo, người vô gia cư ( homeless) ở các đô thị đâu !
Đó là danh vọng và lợi lãi mà biết bao người sống với khôn ngoan của con người đang đi tìm ở khắp nơi trên thế giới xưa và nay.
Và với não trạng này, thì sự kiện Chúa Giêsu sinh ra trong hang lừa máng cỏ giữa mùa đông giá lạnh và chết trần trụi trên thập gia là điều ô nhục , là điên rồ và thất bại theo khôn ngoan của loài người. Nhưng theo Thánh Phaolô dạy thì " cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người." ( 1 Cr 1 : 25)
Chính vì Chúa " diên rồ và dại dột" xét theo khôn ngoan của con người, mà nhân loại được tha tội và cứu chuộc để có hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.
Lại nữa , cũng chính vì không khôn ngoan như con người, nên Chúa Giêsu " Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có." Thiên Quốc trên như Thánh Phaolô đã dạy. ( 2 Cr 8:9)
Chưa hết, Mẹ Tê –rê- Xa ( nay là Chân Phước= Blessed) thành Calcutta cũng đã chiu " ngu dại" theo khôn ngoan của con người để ôm lấy những người nghèo đói nằm vất vưởng ngoài đường phố để mang về săn sóc , thuốc men và cho ăn uống trong Tu viện bác ái của Mẹ. Nhưng việc "dại khờ" của Mẹ đã chính phục được sự khâm phục và yêu mến của biết bao người trên khắp thế giới, và nhiều người ngoại đã được ơn nhận biết Chúa qua gương sống chứng nhân bác ái của Mẹ và các nữ tu của Mẹ
Trái nghich với khôn ngoan của Thiên Chúa thể hiện nới Chúa Kitô, Đức Mẹ . các Thánh, đặc biệt, nơi các anh hùng Tử Đạo, và Mẹ Tê rê Xa...khôn ngoan của con người ở khắp nơi là ham mê đi tìm tiền của, danh vọng và mọi cách để được sống lâu và trẻ mãi không già. Nên- cách riêng phụ nữ- đã và đang thi nhau đi sửa sắc đẹp cho thân hình thêm " hấp dẫn và quyến rũ" để làm giầu cho các viện thẩm mỹ ở trong và ngoài nước , mặc dù có thể chuốc lấy tai họa cho mình. vì có biết bao người đã chết và mang bệnh ung thư vì hậu quả sửa sắc đẹp ! Ngoài ra, người ta cũng nô nức đi tìm các loại dược thảo giúp chống lão hóa, chống suy thoái, làm sáng da , mọc tóc v.v , chứ có ai mở tiệm hay đi tìm nơi sửa chữa tâm hồn cho ngay thẳng, cho thơm tho trong sạch và xinh tươi đáng cho Chúa ưa nhìn và yêu mến đâu ?
Với những người sống theo khôn ngoan của thế gian để đi tìm tiền của, danh vọng và "sửa sắc đẹp" cho thân xác có ngày phải chết đi này, xin hãy mở tai nghe lời khuyên dạy của Thánh Phao lô sau đây:
",,,,Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan của đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng : Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng. Lại có lời chép răng : tư tưởng kẻ khôn ngoan, Chúa đều biết rõ : thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài." ( 1 Cr 3: 18-20).
Như vậy , nếu muốn sống theo khôn ngoan của Thiên Chúa, thì " đừng lo tìm cho có gì để ăn có gì để uống và đừng băn khoăn. Vì tất cả những thứ đó, dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm; nhưng Cha của anh em thừa biết anh em cần những thứ đó, Vậy hãy lo tìm Nước của Người , còn các thứ kia Người sẽ thêm cho." ( Lc 12: 29-31)..
Và cũng trong mục đích phải tìm kiếm sự sang giầu bền vững mãi mãi theo khôn ngoan của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng dạy các môn đệ xưa và tất cả chúng ta ngày nay là : " hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được."( Lc 13: 24). Nghĩa là đừng khôn ngoan theo người đời để đi tìm những của cải, danh vọng và vui thú chóng qua ở đời này mà "hãy săm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá.". ( Lc 12: 33)
Sắm những báu vật ở trên trời, và quan tâm đúng mức đến phần rỗi của mình là sự khôn ngoan mà người tín hữu chúng ta phải kiếm tìm trên hết mọi sự ,vì " nếu người nào được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống ( mất linh hồn) thì nào có có lợ gì ? hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?" ( Mt 16: 26; Mc 8: 36; Lc 9 : 25)
Thử hỏi : có ai được cả thế giới này làm lợi lãi đâu, mà cho dù có chiếm được mọi sự trên trần gian này mà mất linh hồn thì được ích gì ? ai có thể sống mãi trên đời này để hưởng mọi lợi lãi thu được đâu ? Đó là sự ngu ngốc của một phú hộ kia , ngây thơ sống với khôn ngoan của người đời nên đã cho xây nhà lớn để tích trữ của cải lương thực để " cứ ăn chơi cho đã" . Nhưng Chúa bảo ông ta : Đồ ngốc ! nội đêm nay , người ta sẽ đòi lại mạng ngươi thì những gì ngươi sắm sẵn đó, sẽ về tay ai ? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa thì số phận cũng như thế đó." ( Lc 12: 20-21)
Đó là sự khôn ngoan mà Thiên Chúa muốn cho chúng ta tìm kiếm để sống niềm tin có Chúa, có hạnh phúc đời đời đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Chúa trên hết mọi sự trong trần thế này .Nói thế không có nghĩa là chúng ta không được phép tìm tiền bạc để chi dùng cho những nhu cầu chính đáng của thân xác như cơm ăn, áo mặc, nhà ở và phương tiện di chuyển, bảo hiểm sức khỏe cho mình và cho gia đình thân thuộc.Ngược lại, chúng ta phải cố gắng làm việc cách lương thiện để có phương tiện thỏa mãn những nhu cầu chính đáng nói trên.
Nhưng trên hết, phải sống và chân quí cái khôn ngoan mà tác giả sách Châm Ngôn đã viết như sau:
" Hạnh phúc thay, người được trí khôn ngoan
Cũng như người được tài phán đoán
Vì được khôn ngoan thì hơn được bạc
Được hưởng lợi ích của khôn ngoan thì hơn được vàng
Khôn ngoan quý hơn cả trân châu
Không bảo vật nào của con so sánh nổi." ( Châm ngôn 3: 13-15)
Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô sống trong một thế giới ngày một thêm tục hóa, phi nhân và vô luân hiện nay, chúng ta được mong đợi chê ghét cái khôn ngoan của người đời, để sống cái khôn ngoan của Thiên Chúa để không những mưu ích cho phần rỗi của mình mà cũng để lôi kéo những người đang chạy theo khôn ngoan của con người say mê tiền của, danh vọng và vui thú vô luân vô đạo trong khi dửng dưng với người nghèo khó, người đau khổ là nạn nhân của các chế độ tàn ác, bóc lột và bất công ở khắp nơi trên thế giới điên loạn hiện nay.
Lm Phanxi cô xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 125 = DAN SO CONG GIAO PDF Print E-mail

Dân số Công giáo tăng đáng kể tại Trung Đông
Người lao động nhập cư đông giúp tăng dân số Công giáo
Tags: Công giáo, Hồi giáo, Trung Đông

March 14, 2014

John L. Allen Jr. Cho Boston Globe

Dân số Công giáo tăng đáng kể tại Trung Đông thumbnail
Vua Hamad bin Lsa Al Khalifah của Bahrain đồng ý hiến đất xây nhà thờ Công giáo lấy tên là nhà thờ "Đức Bà Ảrập" (Ảnh: Boston Globe

Từ câu "không phải là điều bạn có thể nghĩ tới", đây là một sự thật về đạo Công giáo vào đầu thế kỷ 21 hoàn toàn đi ngược lại với những gì người ta thường nói: nó đang phát triển rất nhanh giữa lòng thế giới Hồi giáo.

Nhiều người Mỹ từng nghe kể hay đọc các bản tin nói về việc Kitô hữu di cư khỏi Trung Đông, và về mặt dân số Kitô hữu Ảrập bản địa điều đó hoàn toàn đúng. Kitô hữu hiện nay chỉ chiếm 5% dân số trong vùng này, giảm 15% so với cách đây một thế kỷ. Tại những nơi như Iraq, các cộng đồng Kitô hữu đang trên bờ biến mất.

Thế nhưng, bán đảo Ảrập ngày nay không thể ngờ là mình đang chứng kiến một trong những con số người Công giáo tăng mạnh nhất so với các nơi khác trên thế giới. Có được tốc độ tăng trưởng này không phải do người Ảrập trở lại đạo mà là do người nước ngoài đến đây làm lao động chân tay và ôsin, và vùng này ngày càng cần họ.

Người Ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và những người mang quốc tịch khác đang trở thành người lao động nghèo mới trong một số xã hội giàu có nhất thế giới này.

Kết quả là số người Công giáo trên bán đảo này nằm ở khoảng 2,5 triệu người. Kuwait và Qatar có khoảng 350.000-400.000 người Công giáo sinh sống, Bahrain có khoảng 140.000 người và riêng Ảrập Saudi có 1,5 triệu người.

Mặc dù gặp ba điều bất lợi là nghèo khổ, thiếu quyền công dân, và thuộc tôn giáo thiểu số vốn thường bị coi thường, những người nhập cư này đang cố gắng cắm rễ cho đức tin của mình, và đã có một số thành quả bất ngờ.

Gần đây, Vua Hamad bin Isa Al Khalifah của Bahrain đồng ý hiến đất để xây nhà thờ Công giáo, lấy tên là nhà thờ "Đức Bà Ảrập", dùng làm nhà thờ chính tòa của giáo phận Bắc Ảrập. Do không có nhà thờ, cho đến nay người lao động nhập cư muốn đi lễ thường đến các đại sứ quán phương Tây, đặc biệt là đại sứ quán Ý, hay tập trung tại nhà riêng hay ở sân công ty dầu nước ngoài.

Đức Giám mục người Ý Camillo Ballin, thành viên 69 tuổi của dòng thừa sai Comboni, dẫn dắt cộng đồng Công giáo đang phát triển nhanh này. Ngài sang Mỹ vào đầu tháng 3 để quyên tiền xây nhà thờ chính tòa, được ngài ước tính mất khoảng 30 triệu Mỹ kim. Ngài nói chuyện với tờ Globe trong chuyến đi này. Đức cha Ballin gọi quyết định này ở Bahrain là "một dấu hiệu đối thoại tốt đẹp, các nước khác cần noi theo".

Mặc dù Đức cha Ballin gặp phải tình huống khó khăn khi nói về tình hình của giáo dân mình, ngài không hề giấu việc ngài sống trong một nơi khó khăn nhất trên thế giới đối với Kitô hữu.

"Cải đạo hay áp đặt Hồi giáo không phải là chính sách của chính phủ ở những nước này. Nhưng những áp lực đó thường nằm nơi cá nhân và các phong trào Hồi giáo cực đoan", ngài phát biểu.

Đức cha Ballin kể đôi khi người lao động Kitô hữu được hứa trả lương cao hơn hay cho hưởng các bổng lộc khác nếu họ cải đạo, và họ thường bị ép làm việc theo lịch gần như không thể tham dự lễ Chúa nhật được.

Dựa trên các thực tại đó, ngài thừa nhận xây nhà thờ là một vấn đề khó khăn. Vì tính nhạy cảm của người Hồi giáo, nhà thờ chính tòa mới này sẽ không đặt thánh giá trên đỉnh hay có bất kỳ biểu tượng Kitô giáo nào bên ngoài, ngài cho biết.

"Trong thế giới Ảrập nói chung, đây là thời điểm hết sức cuồng tín. Chúng tôi không muốn khiêu khích những kẻ cuồng tín bằng cách tự biến mình thành mục tiêu", Đức cha Ballin nói.

Đức cha Ballin nói dù sao thì biểu hiện bên ngoài cũng chỉ là thứ yếu.

"Là Kitô hữu, đeo thánh giá là quan trọng, nhưng không cần thiết. Điều quan trọng là làm chứng bằng đời sống của chúng ta, là Kitô hữu chúng ta là con của một Cha yêu thương hết mọi người", ngài nói.

Đức cha Ballin còn thừa nhận trong khi một số nước vùng vịnh có thể dễ dãi, Ảrập Saudi vẫn còn cấm xây nhà thờ phục vụ cộng đồng Công giáo thiểu số ở đó.

"Người Hồi giáo dạy rằng cả nước này là đền thờ Hồi giáo lớn, và họ nói anh không thể xây nhà thờ bên trong đền thời Hồi giáo", ngài nói.

Đức cha Ballin không muốn bàn luận nhiều về câu nói đó, ngài chỉ nói "vào ngày chúng tôi có thể xây nhà thờ ở Ảrập Saudi sẽ là một ngày vẻ vang không chỉ đối với người Ảrập Saudi mà còn đối với cả thế giới".

Bất kỳ người nào mong muốn tránh xung đột giữa các nền văn minh cần cầu nguyện xin cho sự gia tăng dân số Kitô hữu nơi đây tạo ra cầu nối với Hồi giáo và không để xảy ra bạo lực nữa.

Nguồn: Boston Globe

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 127 of 162