mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay949
mod_vvisit_counterHôm Qua9925
mod_vvisit_counterTuần Này38966
mod_vvisit_counterTuần Trước47282
mod_vvisit_counterTháng Này185965
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8223109

We have: 103 guests online
Your IP: 54.162.4.139
 , 
Today: Apr 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hôn Nhân và Gia Đình
HON NHAN VA GIA DINH # 115 = BENH VIEN GAN NHAT PDF Print E-mail

"Gia đình bao giờ cũng là một 'bệnh viện' gần nhất"

"nói chung, thời gian bệnh nạn làm gia tăng sức mạnh nơi các mối liên hệ của gia đình"

Đức Thánh Cha Phanxicô - Giáo Lý Gia Đình bài 21 - Thứ Tư 10/6/2015

(Hôm nay, theo thông lệ, đáng lẽ Đức Thánh Cha tường trình chuyến tông du của ngài hôm Thứ Bảy vừa rồi, nhưng ngài đã không muốn mất giờ vào một vấn đề không cần lắm, để tập trung vào loạt bài về gia đình có tính cách khẩn trương hơn, hướng đến Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XIV về Gia Đình vào Tháng 10/2015 tới đây).

Xin chào Anh Chị Em thân mến!

Chúng ta tiếp tục với các bài giáo lý về gia đình, và trong loạt bài giáo lý này, tôi muốn chạm đến một khía cạnh rất thông thường trong đời sống gia đình của chúng ta, đó là khía cạnh về bệnh nạn. Bệnh nạn là một cảm nghiệm về tính chất mỏng dòn mềm yếu của chúng ta, một cảm nghiệm chúng ta sống trong gia đình chính yếu như là những trẻ nhỏ, sau đó đặc biệt như một kẻ già lão khi bị yếu đau. Trong phạm vi của những mối liên hệ trong gia đình thì bệnh nạn của những con người chúng ta yêu thương là những gì được chịu đựng một cách đau khổ và buồn khổ "hơn". Chính lòng yêu thương làm cho chúng ta cảm thấy "cái hơn" này. Thật là thường thấy người cha và người mẹ cảm thấy khó khăn hơn trong việc chịu đựng bệnh nạn của đứa con trai hay con gái hơn của bản thân họ. Chúng ta có thể nói, gia đình bao giờ cũng là một "bệnh viện" gần nhất. Ngay cả cho đến ngày nay, ở nhiều phần đất trên thế giới, bệnh viện là một đặc ân cho một số ít, và thường ở những nơi xa cách. Chính người mẹ, người cha, anh chị em và ông bà là thành phần bảo đảm việc chăm sóc và giúp đỡ để chữa lành.

Trong Phúc Âm, nhiều đoạn thuật lại những cuôc gặp gỡ của Chúa Giêsu với thành phần bệnh nhân và việc Người ra tay chữa lành họ. Người tỏ mình ra một cách công khai như là một Đấng chiến đấu chống lại bệnh nạn và là Đấng đến để chữa lành con người cho khỏi hết mọi bệnh nạn: bệnh của tinh thần cũng như bệnh về thể xác. Cảnh tượng phúc âm vừa được Thánh ký Marcô đề cập đến thật là cảm động. Phúc Âm thuật lại rằng: "Vào lúc chiều tối, họ mang đến cho Người tất cả những ai bị bệnh hay bị quỉ ám" (1:32). Nghĩ đến các thành phố lớn hiện nay, tôi ngẫm nghĩ đâu là các cánh cửa để bệnh nhân có thể đưa đến hầu có thể được chữa trị! Chúa Giêsu không bao giờ tránh né việc chữa trị cho họ. Người chẳng bao giờ bước đi, Người không khi nào ngoảnh mặt đi chỗ khác. Khi người cha hay người mẹ, hay chỉ là những người thân hữu mang đến cho Người một bệnh nhân để Người chạm tới họ và chữa lành cho họ thì Người ra tay liền; việc chữa lành được coi hơn cả luật lệ, ngay cả luật nghỉ ngơi rất linh thánh về Ngày Hưu Lễ (xem Marco 3:106). Các vị tiến sĩ luật đã khiển trách Chúa Giêsu vì Người đã chữa lành vào Ngày Hưu Lễ, vì Người đã làm việc lành vào Ngày Hưu Lễ. Thế nhưng, tình yêu của Chúa Giêsu là để ban sinh lực, là để làm lành, và việc ấy bao giờ cũng là những gì ưu tiên nhất!

Chúa Giêsu đã sai các môn đệ của Người đi để thi hành công cuộc của Người và Người đã ban cho các vị quyền năng chữa lành, tức là đến gần người bệnh và chữa họ hoàn toàn lành mạnh (xem Mathêu 10:1). Chúng ta cần phải nhớ kỹ những gì Người nói với các môn đệ trong đoạn về người mù từ lúc mới sinh (Gioan 9:1-5). Thành phần môn đệ - với người mù ở ngay trước mắt họ - đã bàn cãi về chuyện ai đã phạm tội mà anh ta bị mù bẩm sinh, bởi anh ta hay bởi cha mẹ của anh ta, khiến anh ta bị mù. Chúa đã minh nhiên nói rằng: chẳng phải là anh ta hay cha mẹ của anh ta; anh ta bị như thế là để cho công việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh ta. Rồi Người đã chữa lành anh ta. Đó là vinh quang của Thiên Chúa! Đó là công việc của Giáo Hội! Là giúp đỡ bệnh nhân, không huyên thuyên miệng lưỡi, mà là luôn giúp đỡ, luôn an ủi, luôn xoa dịu, luôn gần gũi người bệnh; đó là việc làm.

Giáo Hội mời gọi việc nguyện cầu liên tục cho những con người thân thương của Giáo Hội đang bị bệnh hành hạ. Không bao giờ lơ là với việc cầu nguyện cho bệnh nhân. Thật vậy, chúng ta cần phải cầu nguyện hơn nữa, cả riêng tư lẫn cộng đồng. Chúng ta hãy nghĩ đến đoạn phúc âm về người đàn bà Canaan (xem Mathêu 15:21-28). Bà là một người phụ nữ dân ngoại, không phải là dân Do Thái, nhưng là một người dân ngoại van xin Chúa Giêsu chữa lành cho đứa con gái của bà. Để thử đức tin của bà, Chúa Giêsu trước hết trả lời bà một cách cộc cằn: "Tôi chỉ được sai đến với chiên lạc của Nhà Israel mà thôi". Người đàn bà không chịu thua - khi một người mẹ xin giúp con gái của mình thì bà chẳng bao giờ bỏ cuộc. Tất cả chúng ta đều biết rằng những người mẹ chiến đấu cho con cái của mình - nên bà trả lời: "cho dù là chó cũng được ăn những vụn vặt từ bàn của chủ rơi xuống!" như thể bà nói rằng "Ít là xin cứ đối xử với tôi như là một con chó!" Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói với bà rằng: "Ôi bà, đức tin của bà mạnh lắm! Bà mong muốn sao thì được như vậy" (câu 28).

Trước bệnh nạn, cũng trong gia đình, các thứ khó khăn xẩy ra vì tình trạng yếu hèn của con người. Tuy nhiên, nói chung, thời gian bệnh nạn làm gia tăng sức mạnh nơi các mối liên hệ của gia đình. Tôi nghĩ đến vấn đề quan trọng biết bao việc giáo dục con cái là những con người nhỏ bé biết gắn bó đoàn kết trong thời gian bệnh nạn. Thứ giáo dục thiếu cảm quan về bệnh nạn của con người là thứ giáo dục làm chai đá tâm can. Nó làm cho giới trẻ "tê mê" trước khổ đau của người khác, không thể đương đầu với khổ đau và sống cảm nghiệm của những gì là hạn hữu. Biết bao lần chúng ta thấy một người nam, một người nữ đến sở làm với một gương mặt mệt nhọc, với một thái độ mệt mỏi và khi được hỏi "sao vậy?" thì họ trả lời rằng: "Tôi ngủ có 2 tiếng đồng hồ vì chúng tôi phải thay nhau cận kề bên cháu bé bị bệnh, bên người ông, bên người bà". Thế rồi ngày sống tiếp tục với việc làm. Đó là những gì anh hùng; đó là những gì dũng cảm của các gia đình! - những thứ dũng cảm âm thầm ấy được thực hiện một cách êm ái dịu dàng và can đảm khi có ai bị bệnh trong gia đình.

Tình trạng yếu đuối và khổ đau của những người thân thương nhất và linh thánh nhất của chúng ta có thể, đối với con cái của chúng ta và cháu chắt của chúng ta, là một học đường của đời sống - cần phải giáo dục cho con cháu hiểu được việc gần gũi này khi xẩy ra bệnh nạn trong gia đình - và họ trở nên như thế khi bệnh nạn xẩy ra họ được hỗ trợ bằng lời cầu nguyện, bằng tình cảm và việc ân cần gần gũi của những người họ hàng thân thuộc. Cộng đồng Kitô hữu quá biết rằng, trong cơn thử thách bệnh nạn, gia đình không bị lẻ loi cô độc. Chúng ta cần phải tạ ơn Chúa về những cảm nghiệm đẹp đẽ này nơi tình huynh đệ của Giáo Hội trong việc giúp cho các gia đình trải qua những giây phút khó khăn đau đớn và đau khổ. Việc gần gũi này của Kitô hữu, của gia đình này với gia đình kia, thực sự là một kho tàng cho giáo xứ - một kho tàng khôn ngoan giúp các gia đình đang gặp khó khăn và làm cho Vương Quốc của Thiên Chúa được thông hiểu hơn là nhiều bài thuyết giảng! Những cảm nghiệm đẹp đẽ này nơi tình huynh đệ của Giáo Hội là việc âu yếm vuốt ve của Thiên Chúa vậy.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)

http://www.zenit.org/en/articles/on-sickness-and-suffering-of-family-members

----------------------

 
HON NHAN VA GIA DINH # 104= DUC TIN VA TINH YEU PDF Print E-mail

ĐTC: Hôn nhân Kitô là một cử chí của đức tin và tình yêu
Linh Tiến Khải5/6/2015
Hôn nhân kitô là một bí tích xảy ra trong Giáo Hội và cũng làm thành Giáo Hội, bằng cách trao ban khởi đầu cho một cộng đoàn gia đình. Hôn nhân kitô là một cử chỉ của đức tin và tình yêu làm chứng cho lòng can đảm tin nơi vẻ đẹp của hành động tạo dựng của Thiên Chúa và sống tình yêu thúc đẩy luôn luôn vượt quá chính mình và cả gia đình nữa, để trở thành phước lành và ơn thánh cho tất cả mọi người.

ĐTC Phanxicô đã khẳng định như trên với hơn 40.000 nàn người tham dự buổi tiếp kiến chúng sáng thứ tư hằng tuần hôm qua.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã khai triển đề tài giáo lý "vẻ đẹp của hôn nhân kitô". Ngài nói:

Hôn nhân kitô không chỉ đơn sơ là lễ nghi làm trong nhà thờ, với hoa, với áo cưới và hình chụp... Hôn nhân kitô là một bí tích xảy ra trong Giáo Hội và cũng làm thành Giáo Hội bằng cách trao ban khởi đầu cho một cộng đoàn gia đình.

Đó là điều mà tông đồ Phaolô tóm tắt trong kiếu nói: "Mầu nhiệm này, mầu nhiệm của hôn nhân, thật cao cả; tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh" (Ep 5,32). Được Chúa Thánh Thần linh ứng Phaolô khẳng định rằng tình yêu giữa chồng vợ là hình ảnh tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Một phẩm giá không thể tưởng tượng nổi! Nhưng trong thực tế nó đuợc khắc ghi trong chương trình tạo dựng của Thiên Chúa, và với ơn thánh của Chúa Kitô, vô số các cặp vọ chồng kitô đã thực hiện nó mặc dù có các hạn hẹp, các tội lỗi của họ.

Khi nói về cuộc sống mới trong Chúa Kitô, thánh Phaolô nói rằng tất cả các kitô hữu đều được kêu mời yêu thương nhau như Chúa Kitô đã yêu thương họ, nghĩa là "tùng phục nhau" (Ep 5,21), có nghĩa là phục vụ nhau. Và ở đây ngài đưa ra sự tương tự giữa cặp vợ chồng và Chúa Kitô - Giáo Hội. Rõ ràng đây là một sự tương tự bất toàn, nhưng chúng ta phải tiếp nhận ý nghĩa tinh thần rất cao cả và cách mạng của nó, đồng thời đơn sơ, vừa tầm với của mọi người nam nữ tín thác nơi ơn thánh Chúa.

Thánh Phaolô nói: chồng phải yêu thương vợ "như chính bản thân mình" (Ep 5,28); yêu nàng như Chúa Kitô "đã yêu thương Giáo Hội và đã tự hiến mình cho Giáo Hội" (c. 25). Nhưng mà các người chồng hiện diện ở đây, anh em đã hiều điểu này chưa? Yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội Người. Đây không phải là các chuyện đùa đâu, nó nghiêm chỉnh đấy!

Hiệu qủa của sự tận tụy triệt để này được đòi hỏi nơi người nam, vì tình yêu và phẩm giá của người nữ, theo gương Chúa Kitô, phải lớn lao trong chính cộng đoàn kitô. Hạt giống của sự mới mẻ tin mừng này tái lập sự tuơng giao ban đầu của sự tận hiến và tôn trọng, đã chín mùi từ từ trong lịch sử, nhưng sau cùng đã thắng thế.

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: bí tích hôn phối là một hành động của đức tin và tình yêu: nó chứng minh lòng can đảm thúc đẩy luôn đi xa hơn, xa hơn chính mình và cũng xa hơn cả gia đình nữa. Ơn gọi kitô yêu thương không hạn chế và không chừng mực, với ơn của Chúa Kitô, cũng là nền tảng sự đồng ý tự do làm thành hôn nhân.

Chính Giáo Hội liên lụy tràn đầy trong lịch sử của mọi cuộc hôn nhân kitô; Giáo Hội được xây dựng trong các thành công của hôn nhân và khổ đau trong các thất bại của nó. Nhưng chúng ta phải nghiêm chỉnh tự hỏi xem: chúng ta có chấp nhận cho tới cùng - chính mình như là tín hữu và cả như là chủ chăn nữa - mối dây ràng buộc bất khả phân ly này của lịch sử của Chúa Kitô và của Giáo Hội với lịch sử của hôn nhân và gia đình nhân loại hay không? Chúng ta có sẵn sàng nghiêm chỉnh lãnh nhận trách nhiệm này hay không? Nghĩa là chấp nhận rằng mỗi một hôn nhân đi trên con đường tình yêu mà Chúa Kitô có đối vói Giáo Hội không? Điều này thật là cao cả!

Trong sự sâu thẳm này của mầu nhiệm tạo dựng, được thừa nhận và tái lập trong sự trong trắng của nó, mở ra một chân trời to lớn thứ hai như đặc tính của bí tích hôn phối. ĐTC giải thích điểm này như sau:

Quyết định "lấy nhau trong Chúa" cũng chứa đựng một chiều kích truyền giáo nữa, có nghĩa là có trong tim sự sẵn sàng biến mình trở thành phúc lành của Thiên Chúa và ơn thánh Chúa cho tất cả mọi người. Thật thế, như là các vợ chồng kitô họ tham dư vào sứ mệnh của Giáo Hội. Và cần phải có can đảm để làm diều này. Vì thế khi tôi chào các đôi tân hôn, tôi nói: "Đây là những người can đảm!", bởi vì cần phải có can đảm để yêu nhau như vậy, như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội.

Việc cử hành hôn nhân không thể bị để bên ngoài tinh thần đồng trách nhiệm này của gia đình kitô đối với sứ mệnh lớn lao tình yêu của Giáo Hội. Và như thế cuộc sống của Giáo Hội được phong phú từng lần bởi vẻ đẹp của giao ước hôn nhân, cũng như bị nghèo nàn đi mỗi khi nó bị méo mó. Để cống hiến cho tất cả mọi người các ơn đức tin, tình yêu và niềm hy vọng Giáo Hội cũng cần sự trung thành can đảm của các cặp vợ chồng đối với ơn thánh bí tích hôn nhân của họ. Dân Thiên Chúa cần con đường đức tin, tình yêu thương và niềm hy vọng thường ngày của họ, với tất cả các vui buồn nhọc mệt của con đường ấy trong cuộc sống hôn nhân và gia đình.

Lộ trình đã được ghi dấu luôn mãi, đó là lộ trình của tình yêu: người ta yêu nhau như Thiên Chúa yêu, luôn mãi. Chúa Kitô đã không ngừng lo lắng cho Giáo Hội: Ngài yêu thương Giáo Hội luôn mãi, Ngài giữ gìn Giáo Hội luôn mãi như chính mình. Chúa Kitô không ngừng lấy đi trên gương mặt nhân loại của nó các vết nhơ và các nếp nhăn đủ loại. Thật là cảm động và xinh đẹp biết bào việc giãi toả sức mạnh và sự hiền dịu đó của Thiên Chúa, được thông truyền từ cặp này sang cặp khác, từ gia đình này sang gia đình khác. Thánh Phaolô đã có lý: đây thật là môt mầu nhiệm cao cả! Các người nam nữ này khá can đảm để mang theo kho tàng này trong các bình "bằng đất" nhân loại tính của chúng ta, các người nam nữ can đảm như thế là một tài nguyên nòng cốt cho Giáo Hội cũng như cho toàn thế giới. Xin Thiên Chúa chúc lành cho họ hàng ngàn lần về điều đó.

ĐTC đã chào các đoàn hành hương đến từ Pháp, Thuỵ Sĩ và Bỉ. Ngài mời mọi người canh tân lòng yêu mến đối với Mẹ Maria và dành ra một chút thời giờ để ở gần Mẹ, đặc biệt trong tháng 5 này. Ngài cũng chào các đoàn hành hương đến từ các nước Canada, Hoà Kỳ, Đan Mạch, Indonesia, Nam Hàn, Philippines, ngài xin Chúa Giêsu củng cố đức tin của họ và khiến cho gia đình họ làm chứng cho tình yêu và lòng thương xót Chúa.

Với các tín hữu nói tiếng Đức ĐTC đặc biệt chào thân nhân bạn bè các vệ binh Thuỵ Sĩ hành hương Roma nhân lễ tuyên thệ của họ trong những ngày vừa qua.

ĐTC cũng chào các đoàn hành hương Tây Ban Nha, Mêhicô, Argentina, Guatemala, Venezuela, cũng như các tín hữu đến từ Bồ Đào Nha và Brasil. Ngài xin Chúa Kitô hướng dẫn các gia đình trong công việc làm, trong các khó khăn cũng như trong niềm vui để họ đem tình yêu Chúa đến cho thế giới.

Chào các tín hữu Ba Lan ngài ca ngợi truyền thống tốt đẹp của tín hữu trong tháng 5 thường tụ tập nhau trong các nhà thờ hay gần các ảnh tượng Đức Mẹ trên đường đi dể cầu nguyện kính Đức Mẹ. Ngài xin Mẹ bầu cử ban cho gia đình và quê hương họ được nhiều ơn lành.

Ngài cũng chào các tin hữu Slovac và Hoà Lan và mời gọi họ trong tháng 5 học trường của Mẹ yêu Chúa và yêu tha nhân nhiều hơn.

Chào các đoàn hành hương Italia, đặc biệt người trẻ, các người đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC nhắc mọi người biết Giáo Hội đang ở trong tháng 5 kính Đức Mẹ. Ngài xin Mẹ trở thành nơi ẩn náu cho người trẻ trong những lúc khó khăn, là sự nâng đỡ ủi an của các bệnh nhân trong đau khổ, và là điểm tham chiếu cho cuộc sống gia đình của các đôi tân hôn, để gia đình họ trở thành tổ ấm của lời cầu nggyện và sự cảm thông.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh ĐTC ban cho mọi người.
----------------------

 
HON NHAN VA GIA DINH # 103 = CHO DUNG DANH DU PDF Print E-mail

ĐTC chào một cụ bà ngồi trên xe lăn trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 22-4-2015 - OSS_ROM
22/04/2015 15:16

Cần trả lại cho hôn nhân và gia đình chỗ đứng danh dự

Cần trả lại cho hôn nhân và gia đình chỗ đứng danh dự. Sự kiện xã hội không đánh giá cao khế ước ổn định và truyền sinh của người nam và người nữ chắc chắn là một mất mát lớn đối với tất cả mọi người. Kitô hữu được mời gọi dấn thân say mê giữ gìn giao ước này của người nam và người nữ, cả khi họ là những người tội lỗi và bị thương tích, lẫn lộn và bị hạ nhục, mất tin tưởng và không chắc chắn.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 40.000 tín hữa và du khách hành hương năm châu trong buổi gặp gỡ chung sáng thứ tư hàng tuần hôm qua. Mở đầu bài huấn dụ ĐTC nói trong bài giáo lý trước ngài đã suy tư về việc tạo dựng con người theo trình thuật chương thứ nhất sách Sáng Thế khẳng định rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh Ngài: "theo hình ảnh Ngài Thiên Chúa tạo dựng nên họ; nam nữ Ngài tạo dựng nên họ" (St 1,27). Trong bài giáo lý này ngài muốn suy tư về trình thuật thứ hai trong chương hai sách Sáng Thế. Ở đây sau khi tạo dựng trời và đất, Thiên Chúa "nắn ra con người với bụi đất và thổi sinh khí vào lỗ mũi con người và con người trở thành một sinh linh. Rồi Thiên Chúa đặt con người vào trong một ngôi vườn rất xinh đẹp để con người vun trồng và giữ gìn nó" (St 2, 15).

Chúa Thánh Thần, Đấng đã linh ứng toàn Thánh Kinh, trong một lúc chỉ gợi lên hình ảnh của người nam, không có người nữ. Và Người gợi lên tư tưởng của Thiên Chúa, hầu như là tâm tình của Thiên Chúa là Đấng nhìn con người, quan sát Ađam một mình trong vườn: ông đẹp, đế vương... nhưng cô đơn. Và Thiên Chúa thấy rằng điều này không tốt: nó như là một sự thiếu thốn hiệp thông, một sự thiếu thốn cái tràn đầy. "Thiên Chúa nói: Không tốt và thêm: "Ta muốn làm cho con một sự trợ giúp tương xứng với con" (St 2,18).

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: Khi đó Thiên Chúa giới thiệu với con người mọi thú vật: con người cho mỗi thú vật một tên – và đây là một hình ảnh khác của quyền làm chủ của con người trên thụ tạo – nhưng con người không tìm thấy nơi bất cứ thú vật nào người khác giống nó. Sau cùng khi Thiên Chúa giới thiệu người nữ, người nam vui sướng nhận ra rằng thụ tạo đó và chỉ có nàng thôi, là phần của mình "xương từ xương tôi, thịt từ thịt tôi" (St 2,23). Sau cùng có một sự phản chiếu, một sự hỗ tương. Và khi một người – đây là một thí dụ giúp hiểu điều này – khi một người muốn giơ tay ra cho một người khác, thì phải có người khác trước mặt: nếu một người giơ tay ra và không có gì, không có ai, thì bàn tay ở đó, vì thiếu sự hỗ tương. Con người cũng thế, nó thiếu cái gì đó để đi tới sự toàn vẹn, nó thiếu sự hỗ tương. Và ĐTC định nghĩa người nữ như sau:

.Người nữ không phải là một "lập lại" của người nam; nhưng đến trực tiếp từ cử chỉ tạo dựng của Thiên Chúa. Thật ra hình ảnh "chiếc xương sườn" không diễn tả sự thấp kém hay sự lệ thuộc, nhưng trái lại, nó diễn tả rằng người nam và người nữ có cùng bản thể và bổ túc cho nhau. Họ cũng có sự hỗ tương này. Và sự kiện đó là – luôn luôn trong dụ ngôn – Thiên Chúa nắn ra người nữ trong khi người nam ngủ, nó nhấn mạnh rằng người nữ không phải là một thụ tạo của con người, nhưng là của Thiên Chúa. Nó cũng gợi lên một điều khác: để tìm người nữ và chúng ta có thể nói rằng để tìm thấy tình yêu nơi người nữ, để tìm ra người nữ, người nam phải mơ nàng trước và rồi tìm ra nàng.

Sự tin tưởng của Thiên Chúa đối với người nam và người nữ, mà Ngài giao phó trái đất cho họ, thật quảng đại, trực tiếp và trọn vẹn. Nhưng này đây kẻ dữ đưa vào trong tâm trí họ sự nghi ngờ, không tin và mất tin tưởng. Và sau cùng nó đi tới chỗ bất phục tùng lệnh truyền che chở họ. Họ rơi vào trong sự mê sảng của sự toàn năng làm ô nhiễm mọi sự và phá hủy sư hài hòa. Tất cả chúng ta nữa đã cảm thấy trong chính mình điều này biết bao lần. ĐTC quảng diễn thêm biến cố phạm tội của con người như sau:

Tội lỗi làm nảy sinh ra sự nghi ngờ và chia rẽ giữa người nam và người nữ. Tương quan của họ sẽ bị giăng bẫy bởi hàng ngàn hình thức thực hiện sai trái chức vụ và bắt phục tùng, rủ rê lừa dối và chuyên quyền hạ nhục nhau cho tới các hình thức thê thảm và bạo lực nhất. Lịch sử mang đầy các dấu vết của chúng. Chẳng hạn chúng ta hãy nghĩ tới các thái qúa tiêu cực của các nền văn hóa theo chế độ phụ hệ. Chúng ta hãy nghĩ tới nhiều hình thức đề cao nam giới, trong đó nữ giới bị coi như hạng hai. Chúng ta hãy nghĩ tới việc lèo lái và buôn bán thân xác nữ giới trong nền văn hóa truyền thông ngày nay. Nhưng chúng ta cũng hãy nghĩ tới nạn dịch mớí đây liên quan tới sự mất tin tưởng, chủ thuyết nghi ngờ, và cả thù nghịch đang lan tràn trong nền văn hóa của chúng ta – đặc biệt bắt đầu một thái độ nghi ngờ có thể hiểu được của các chị em phụ nữ - đối với một khế ước giữa ngưòi nam và người nữ có khả năng tinh luyện sự hiệp thông thân tình và giữ gìn phẩm giá của sự khác biệt.

ĐTC nói thêm trong bài huấn dụ: Nếu chúng ta không tìm ra một phản ứng của sự thiện cảm đối với giao ước này, có khả năng che chở các thế hệ mới khỏi sự mất tin tưởng và sự thờ ơ, thì con cháu chúng ta sẽ chào đời ngày càng bị mất gốc ngay từ trong lòng mẹ. Sự kiện xã hội không đánh giá cao khế ước ổn định và truyền sinh của người nam và người nữ chắc chắn là một mất mát lớn đối với tất cả mọi người. Chúng ta phải đưa hôn nhân và gia đình trở về chỗ danh dự của chúng. Và Thánh Kinh nói một điều hay đẹp: người nam tìm thấy người nữ. họ gặp gỡ nhau, và người nam phải bỏ điều gì đó để tìm thấy người nữ một cách trọn vẹn. Và vì thế người nam bỏ cha mẹ mình để đến với người nữ. Thật là đẹp! Điều này có nghĩa là bắt đầu một lộ trình. Người nam là tất cả cho người nữ và người nữ là tất cả cho người nam.

Như thế, việc giữ gìn giao ước này của người nam và người nữ, cả khi họ có là những người tội lỗi và bị thương tích, lẫn lộn và bị hạ nhục, mất tin tưởng và bị thương đi nữa, đối với tất cả chúng ta là một ơn gọi dấn thân say mê trong điều kiện ngày nay. Chính trình thuật về việc tạo dựng và tội lỗi, vào đoạn cuối của nó, trao ban cho chúng ta một hình ảnh rất đẹp: "Chúa là Thiên Chúa làm cho con người và vợ mình các áo quần bằng da và mặc cho họ" (St 3,21). Đó là một hình ảnh sự dịu dàng của Thiên Chúa đối với cặp vợ chồng tội lỗi khiến cho chúng ta ngạc nhiên há miệng. Đó là một hình ảnh của sự giữ gìn hiền phụ đối với cặp vợ chồng. Chính Thiên Chúa lo lắng và che chở kỳ công của Ngài.

Linh Tiến Khải

22/04/2015 15:16

--------------

 
HON NHAN VA GIA DINH # 102 = NGUOI NAM VA NU PDF Print E-mail

Hủy bỏ sự khác biệt nam - nữ là vấn đề chứ không là giải pháp
Bài giáo lý ngày 15 tháng 4 năm 2015 (toàn văn)
Rôma – 15/4/2015 (Zenit.org)
Hủy bỏ sự khác biệt nam nữ "là vấn đề chứ không phải là giải pháp", Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định khi ngài coi thuyết giới tính như là "một bước dật lùi" : "để tự biết rõ mình hơn và lớn lên một cách hài hòa, con người cần có sự qua lại giữa người đàn ông và người đàn bà... Chúng ta được tạo dựng để lắng nghe nhau và giúp đỡ nhau". ngài khẳng định
Tiếp tục chuỗi Bài giáo lý về gia đình, ngày thứ tư 15/4/2015 này, Đức Giáo Hoàng đã trình bầy suy nghĩ về sự bổ túc nam nữ : "không có sự phong phú hóa qua lại trong quan hệ này – trong tư tưởng và trong hành động, trong tình cảm và trong lao động, cũng như trong đức tin - cả người đàn ông lẫn người đàn bà đều sẽ không hiểu được thấu đáo, mình là đàn ông hay là đàn bà có nghĩa là gì".
Như thế, ngài đã chẩn đoán "cái thuyết giới tính nổi tiếng" như là "thể hiện của một sự thất vọng và một sự cam chịu nhằm hủy bỏ sự khác biệt giới tính bởi vì nó không biết đương đầu với sự khác biệt đó" : "Để giải quyết những vấn đề về quan hệ, người đàn ông và người đàn bà, trái lại, phải nói chuyện với nhau nhiều hơn, lắng nghe nhau nhiều hơn, hiểu biết nhau nhiều hơn, thương yêu nhau nhiều hơn. Họ phải đối xử với nhau với lòng tôn trọng và hợp tác trong tình bạn bè", ngài nhấn mạnh.
A.K.

---------------
Bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Gia Đình - Người nam và người nữ
Thân chào quý anh chị em !
Bài giáo lý ngày hôm nay được dành cho một phương diện trung tâm của chủ đề gia đình : phương diện của ơn sủng to lớn mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại với sự tạo dựng lên người đàn ông và người đàn bà và với nhiệm tích hôn phối. Bài giáo lý này và bài sau sẽ nói về sự khác biệt và tính bổ sung giữa người đàn ông và người phụ nữ, vốn ở tuyệt đỉnh của công trình tạo dựng của Thiên Chúa; hai Bài giáo lý tiếp theo nữa sẽ nói về những chủ đề khác gắn liền với hôn phối.
Chúng ta bắt đầu bằng một nhận xét ngắn về chuyện kể đầu tiên về công trình tạo dựng, trong sách Sáng Thế. Chúng ta đọc trong đó rằng Thiên Chúa, sau khi đã tạo dựng vũ trụ và tất cả các sinh vật, đã tạo dựng tác phẩm của Người, là con người, mà Người làm cho giống hình ảnh của Người : "Thiên Chúa dáng tạo con nggười theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" (St 1, 27), sách Sáng Thế nói vậy.
Như tất cả chúng ta đã biết, sự khác biệt giới tính hiện diện trong nhiều hình thức của sự sống, trong toàn thang sinh vật. Nhưng chỉ chính nơi người đàn ông và người phụ nữ mới có hình ảnh và giống với Thiên Chúa; bản văn Thánh Kinh nhắc lại ba lần trong hai câu (26-27) : người nam và người nữ theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, và cả nam lẫn nữ, như một cặp đôi, đều theo hình ảnh Thiên Chúa. Sự khác biệt giữa người đàn ông và người phụ nữ, không phải là để đối nghịch, hay để lệ thuộc, mà để hiệp thông và sinh sản, luôn theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa.
Kinh nghiệm dậy cho chúng ta : để tự hiểu biết thấu đáo và lớn lên một cách hài hòa, con người cần có sự qua lại giữa người nam và người nữ. Khi điều này không xẩy ra, người ta thấy được những hậu quả. Chúng ta được tạo dựng để lắng nghe nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Chúng ta có thể nói rằng, không có sự phong phú hóa qua lại trong quan hệ này – trong tư tưởng và trong hành động, trong tình cảm và trong lao động, và cũng như trong đức tin - cả người đàn ông lẫn người đàn bà đều không hiểu được thấu đáo mình là đàn ông hay là đàn bà có nghĩa là gì
Nền văn hóa hiện đại và đương thời đã mở ra những không gian mới, những tự do mới và những chiều sâu mới để làm phong phú thêm sự hiểu biết về sự khác biệt này. Nhưng nó cũng du nhập nhiều hoài nghi và bi quan. Thí dụ, tôi tự hỏi không biết cái thuyết giới tính nổi tiếng lại chẳng là một sự thể hiện của một niềm thất vọng hay một sự cam chịu nhằm hủy bỏ sự khác biệt giới tính, bởi vì nó không biết đương đầu với sự khác biệt đó. Phải, chúng ta có nguy cơ bước lùi một bước. Thực chất, sự hủy bỏ khác biệt là vấn đề chứ không phải là giải pháp. Để giải quyết những vấn đề về quan hệ, người đàn ông và người đàn bà, trái lại, phải nói chuyện với nhau nhiều hơn, lắng nghe nhau nhiều hơn, hiểu biết nhau nhiều hơn, thương yêu nhau nhiều hơn. Họ phải đối xử với nhau với lòng tôn trọng và hợp tác trong tình bạn bè. Trên cơ sở này, được nâng đỡ bởi ân điển Thiên Chúa, có thể quan niệm sự hòa hợp hôn nhân và gia đình trọng đời. Quan hệ hôn nhân và gia đình là cái gì nghiêm túc, nghiêm túc cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ cho những người có đức tin. Tôi muốn kêu gọi những người trí thức đừng bỏ chạy trước vấn đề này, coi như nó đã trở nên thứ yếu cho sự dấn thân cho một xã hội tự do hơn và công chính hơn.
Thiên Chúa đã gửi gấm trái đất cho giao ước của người đàn ông và người phụ nữ : sự thất bại của giáo ước này làm cho thế giới tình cảm trở thành khô cằn và cho bầu trời hy vọng bị u tối đi. Các dấu hiệu đã trở nên đáng lo ngại rồi và chúng ta đã thấy rõ. Tôi muốn chỉ ra, trong bao điều khác, hai điểm mà tôi tin là có thể thấy chúng ta ưu tiên dấn thân.
Điểm thứ nhất : không còn nghi ngờ gì nữa là chúng ta phải làm nhiều hơn nữa cho người phụ nữ, nếu chúng ta muốn tái trang bị nhiều hơn về sức mạnh cho sự hỗ tương giữa đàn ông và phụ nữ. Quả vậy, thật là cần thiết không những người phụ nữ phải được lắng nghe, mà tiếng nói của họ còn cần phải có trọng lượng thực sự, một uy quyền được công nhận trong xã hội và trong Giáo Hội. Cách thức mà cả Chúa Giêsu đã kính trọng người phụ nữ trong một bối cảnh không mấy thuận lợi như bây giờ, bởi vì vào thời điểm đó, phụ nữ thực sự chiếm vị trí thứ yếu, và Chúa Giêsu đã kính trọng họ một cách mang tính soi sáng mạnh mẽ cho một con đường sẽ dẫn đi rất xa, mà chúng ta chỉ mới đi được một đoạn.
Một suy nghĩ thứ nhì liên quan đến chủ đề người nam và nữ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Tôi tự hỏi, không biết cuộc khủng hoảng tập thể về lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, gây ra bao tai hại cho chúng ta, khiến chúng ta lâm bệnh từ cam chịu đến mất niềm tin và đến thái độ vô liêm sỉ, lại chẳng phải cũng gắn liền với cuộc khủng hoảng của giao ước giữa người đàn ông và người phụ nữ. Quả vậy, câu chuyện Thánh Kinh, với bức tranh vĩ đại vẽ vườn địa đàng và tội tổ tông, chủ ý nói cho chúng ta rằng sự hiệp thông với Thiên Chúa phản ánh trong sự hiệp thông của cặp vợ chồng con người và sự mất đi niềm tin tưởng vào Cha chúng ta sinh ra sự chia rẽ và sự xung đột giữa người đàn ông và người phụ nữ.
Từ đó trách nhiệm lớn lao của Giáo Hội, của tất cả các tín hữu, và trước hết là những gia đình tin Chúa, để tái khám phá vẻ đẹp của chương trình sáng tạo ghi khắc hình ảnh Thiên Chúa trong giao ước giữa người nam và người nữ. Trái đất đầy rẫy sự hài hòa và niềm tin tưởng khi giao ước giữa người nam và người nữ được trải nghiệm trong sự tốt lành. Và nếu người đàn ông và người phụ nữ cùng nhau tìm kiếm giáo ước giữa họ và Thiên Chúa, họ chắc chắn sẽ tìm được. Chúa Giêsu rõ ràng khuyến khích chúng ta hãy làm chứng cho vẻ đẹp đó, vốn là hình ảnh của Thiên Chúa.
Bản dịch tiếng Pháp : Constance Roques (Zenit)
Bản dịch tiếng Việt : Mạc Khải (ghxhcg.com)
(15 avril 2015) © Innovative Media Inc.
http://www.zenit.org/fr/articles/la-suppression-de-la-difference-homme-femme-est-le-probleme-et-non-la-solution

 
HON NHAN VA GIA DINH # 101 = CON CAI KHONG LA LAM LOI PDF Print E-mail

"CON CÁI KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT 'LẦM LỖI'"!
Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

Vatican City, April 08, 2015 (Zenit.org)
Trích từ bản dịch của ZENIT huấn từ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong buổi triều yết chung tại quảng trường Thánh Phêrô
Mến chào toàn thể anh chị em!
Hôm nay, kết thúc loạt bài giáo lý về gia đình, chúng ta hướng về con cái, những hoa quả tuyệt vời do phúc lành mà Thượng Đế đã ban cho người nam và người nữ. Chúng ta đã nói về hồng ân cao cả của con cái. Tuy nhiên, hôm nay chúng ta bắt buộc phải nói về "những câu chuyện buồn" mà nhiều em đang phải trải qua.
Có quá nhiều trẻ em bị loại bỏ ngay từ trong trứng nước, bị coi thường, bị tước đoạt tuổi thơ và tương lai của các em.Một số, có thể nói là, hầu hết đã tự biện minh rằng đem chúng vào thế giới này là một lầm lỗi. Điều này rất đáng xấu hổ! Làm ơn, xin đừng trút bỏ những lỗi lầm của chúng ta trên con cái! Con cái không bao giờ là một "lầm lỗi". Sự đói khát của các em không phải là một sai lầm, cũng như sự nghèo túng của các em.Sự mỏng dòn của các em, tình trạng bị bỏ rơi các của em cũng vậy -- quá nhiều em bị bỏ rơi trên các đường phố.Cả tình trạng dốt nát hoặc thiếu khả năng của các em cũng thế -- có nhiều em không biết đến trường học là gì. Đó là những lý do để chúng ta thương các em hơn, với lòng quảng đại lớn lao hơn. Chúng ta đang làm gì trong những tuyên ngôn long trọng về nhân quyền của con người và của các trẻ em, nếu chúng ta trừng phạt các em vì những lỗi lầm của người lớn?
Đối với những người có trách nhiệm để điều hành, giáo dục -- nhưng theocha, tất cả chúng ta là những người lớn có trách nhiệm đối với các em, và mỗi người trong chúng ta hãy làm những gì mà anh chị em có thể làm để thay đổi tình trạng này. Cha đang nói đến "cuộc khổ nạn" của các em. Mỗi một em bị bỏ rơi, gạt ra ngoài lề xã hội, sống trên vỉa hè ăn xin và bằng với tất cả phương cách, không học hành, không có sự săn sóc thuốc men, đang kêu lên đến Chúa và tố cáo hệ thống mà những người lớn chúng ta đã xây nên. Và, bất hạnh thay, những trẻ em này là mồi ngon cho tội ác, cho những kẻ khai thác các em vào những đường dây bất chính hoặc trục lợi, hoặc huấn luyện các em cho chiến tranh và bạo động. Trong các nước được gọi là giầu có, dù thế, trẻ em cũng đang sống trong những thảm kịch khiến các em gặp phải khó khăndo thảm họa của gia đình, thiếu giáo dục và những điều kiện sống nhiều lúc vô nhân đạo. Trong những trường hợp này, các em bị xúc phạm đến thân xác và linh hồn! Tuy nhiên, Chúa Cha là cha trên trời không bỏ quên một em nào trong các em! Không giọt nước mắt nào của các em bị lãng quên. Và Ngài cũng không bỏ qua những trách nhiệm của chúng ta, trách nhiệm xã hội của con người, của mỗi người chúng ta, và của các quốc gia.
Một lần Chúa Giêsu đã trách mắng các tông đồ vì các ông đã xua đuổi các trẻ em mà cha mẹ chúng đã dẫn đến với Ngài, để Ngài chúc lành cho các em.Đoạn Tin Mừng đầy xúc động: "Bấy giờ các em được mang đến với Người để Người đặt tay trên chúng mà cầu nguyện. Các môn đệ lên tiếng trách móc dân chúng; thế nhưng Chúa Giêsu đã nói: 'Hãy để trẻ em đến cùng Thày, đừng ngăn cản chúng; vì nước trời thuộc về những ai giống như chúng'. Và Người đã đặt tay trên chúng rồi ra đi" (Mathêu 19:13-15). Sự tin tưởng của những cha mẹ này và câu trả lời của Chúa Giêsu dễ thương biết bao! Cha mong ước biết bao cho đoạn Tin Mừng này trở nên câu truyện thường ngày của các em! Điều xác thực là, cảm ơn Chúa, những trẻ em gặp những khó khăn trầm trọng thông thường có những cha mẹ phi thường, quảng đại sẵn sàng hy sinh. Dù vậy, không nên để những phụ huynh này bị cô đơn. Chúng ta phải nâng đỡ nỗ lực của họ, chia sẻ với họnhững giây phút vui vẻ và cái hạnh phúc được quan tâm, để họ không trở nên mồi ngon cho những phương thức trị liệu lập đi lập lại.
Trong bất cứ trường hợp nào, khi đó là vấn đề liên quan đến trẻ em, chúng ta không chỉ nghe những luận điệu bao che của luật pháp, thí dụ: "Dù sao, chúng tôi không phải là một cơ quan an sinh duy nhất"; hoặc "Một cách riêng tư, mỗi người được tự do hành động theo ý mình"; hoặc "Chúng tôi không chấp nhận điều này, nhưng chúng tôi cũng không thể làm gì hơn." Những lời lẽ như vậy không đúng trước một câu hỏi liên quan đến các em.
Rất thường xuyên những hệ quả của đời sống bị căng thẳng bởi sự bấp bênh hoặc công việc rẻ mạt, của những giờ giấc khác thường, của phương tiện di chuyển hạn hẹp, đều đổ trên các em... Nhưng các em cũng trả giá cho những cuộc phối hợp thiếu trưởng thành, và những chia rẽ vô trách nhiệm: Các em đã trở thành những nạn nhân đầu tiên. Các em đau khổ do thành quả của nền văn minh bởi những quyền lợi chủ quan quá khích, và rồi khiến các em trở nên những đứa trẻ ranh mãnh nhất. Các em thường xuyên hấp thụ sự bạo động mà các em không thể "tiêu hóa" nổi, và dưới cặp mắt của những người lớn tuổi, các em bị bắt buộc để trở thành dầy dạn với sự suy đồi.
Ở thời đại chúng ta cũng như trong quá khứ, Giáo Hội lấy tình từ mẫu mà phục vụ các em và gia đình các em. Giáo Hội đem lại cho cha mẹ và con cái của thế giới chúng ta phép lành của Thiên Chúa, sự dịu hiền từ mẫu, kiên định chối từ và kết án mạnh mẽ. Chúng ta không nên đùa giỡn với các em.
Hãy nghĩ xem xã hội hội sẽ ra sao để quyết định thiết lập một và tất cả những nguyên tắc này: "Sự thật là chúng ta bất toàn và rằng chúng ta có nhiều khuyết điểm. Tuy nhiên, khi một nghi vấn về trẻ em đến với trần gian, thì không có sự hy sinh nào của người lớn được xem là quá đắt đỏ hoặc lớn lao, nhằm tránh cho một em khỏi phải nghĩ rằng em là một lầm lỗi, rằng em không có giá trị và rằng em bị bỏ rơi trước những vết thương của cuộc đời và của sự ngạo mạn của con người." Tuyệt vời biết bao một xã hội như thế! Một xã hội như vậy đáng được tha thứ, những lỗi lầm vô số kể -- nhiều lắm, thật vậy.
Thiên Chúa phán xét đời sống chúng ta bằng cách lắng nghe những gì các thiên thần trình lại cho Ngài về các trẻ em, các thiên sứ mà "hằng chiêm ngưỡng nhan Chúa Cha Đấng ngự trên trời" (xem Mátthêu 18:10). Chúng ta phải luôn luôn tự hỏi: Các thiên thần của các em sẽ nói gì với Thiên Chúa về chúng ta?
[Original text: Italian]
[Translation by ZENIT]
http://www.zenit.org/en/articles/general-audience-on-the-passion-suffered-by-children
Mời tiếp tục vào thăm trang nhà: www.giadinhnazareth.org

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 20