mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6287
mod_vvisit_counterHôm Qua10927
mod_vvisit_counterTuần Này74491
mod_vvisit_counterTuần Trước85007
mod_vvisit_counterTháng Này84472
mod_vvisit_counterTháng Trước339420
mod_vvisit_counterTất cả17304264

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đời Sống Mới Trong Thần Khí
DOI SONG MOI TRONG THAN KHI # 92 = MUON BIET CHUA GIESU PDF Print E-mail

Muốn biết Chúa Giêsu chúng ta phải cầu nguyện với Người, suy tôn và bắt chước Người.

Bùi Hữu Thư 5/16/2014
Ngày 16 tháng 5, 2014 (Vatican Radio)

Đức Thánh Cha Phanxicô nói học hỏi về Chúa Giêsu không đủ để hiểu biết về Người, chúng ta còn phải cầu nguyện, suy tôn và bắt chước Người. Đây là nội dung của huấn từ của Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ hôm nay tại nhà nguyện Thánh Mác-ta.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha suy niệm về phương cách tốt nhất để tìm biết Chúa Giêsu, ngài mô tả đây là công trình quan trọng nhất trong đời sống chúng ta. Đồng thời ngài cũng lưu ý chúng ta là học hỏi hay có những tư tưởng không đủ để đạt được kiến thức về Chúa Giêsu."Các tư tưởng mình chúng không dẫn đưa tới đâu và những ai theo đuổi con đường của những ý tưởng của họ sẽ Iâm vào một ma trận đồ rối mù không thể thoát ra được! Chính vì lý do này mà các ý tưởng lạc đạo đã xuất hiện ngay từ thuở ban đầu của Giáo Hội. Như thế này là lạc đạo: Cố gắng tìm hiểu Chúa Giêsu là ai, bằng trí óc mình và ánh sáng nội tâm của mình. Một nhà văn người Anh đã viết là lạc đạo là một ý tưởng đã trở thành điên rồ . Khi chúng chỉ là những ý tưởng tự tại thì chúng trở nên điên rồ... Đây không phải là con đường chính thật."

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp tục giải thích là chúng ta cần phải mở ba cánh cửa để hiểu biết Chúa Giêsu: "Cửa thứ nhất là cầu nguyện với Chúa Giêsu. Các bạn phải ý thức là học hỏi mà không cầu nguyện thì chẳng ích gì. Chúng ta phải cầu nguyện với Chúa Giêsu để hiểu biết Người nhiều hơn. Các nhà thần học nổi tiếng phát triển thần học của họ trong khi quỳ gối. Xin hãy cầu nguyện với Chúa Giêsu! Bằng việc học hỏi và cầu nguyện chúng ta sẽ đến được gần hơn một chút...Nhưng chúng ta sẽ không bào giờ biết được Chúa Giêsu nếu không cầu nguyện. Không bao giờ! Không bao giờ!

Cửa thứ hai là suy tôn Chúa Giêsu. Cầu nguyện xuông không đủ, chúng ta cần có niềm hân hoan của việc suy tôn. Chúng ta phải suy tôn Chúa Giêsu qua các bí tích của Người, vì các bí tích này ban cho chúng ta sự sống, ban cho chúng ta sức mạnh, nuôi dưỡng chúng ta, an ủi chúng ta, thiết lập một giao ước với chúng ta, và ban cho chúng ta một sứ mệnh. Không cử hành các Bí Tích, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu biết Chúa Giêsu. Đây là bản chất của Giáo Hội, là cử hành.

Cửa thứ ba là bắt chước Chúa Giêsu. Hãy đọc Thánh Kinh, xem Chúa làm gì, cuộc đời của Chúa ra sao, Chúa đã dạy chúng ta những điều gì, và cố gắng bắt chước Người."

Đức Thánh Cha tiếp: Bước vào ba cửa này, có nghĩa là bước vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu và chỉ bằng cách này chúng ta mới có thể tìm biết Chúa và chúng ta không được e ngai khi làm điều này. "Trong ngày hôm nay, chúng ta có thể suy nghĩ về cách thức cánh cửa cầu nguyện sẽ đưa chúng ta đến đâu: nhưng cầu nguyện từ trong tim không giống cầu nguyện như con vẹt! Cầu nguyện từ con tim là thế nào? Việc cử hành các bí tích có ảnh hưởng thế nào đến đời sống chúng ta? Tôi phải bắt chước Người thế nào? Và bắt chước Chúa sẽ làm cho đời sống chúng ta biến chuyển ra sao? Tôi phải bắt chước Người thế nào? Các bạn thực sự đã không nhớ gì sao! Lý do là vì Thánh Kinh đã bám nhiều bụi vì không bao giờ được mở ra! Xin hãy cầm lấy cuốn Thánh Kinh, mở ra và bạn sẽ khám phá ra cách thức bắt chước Chúa Giêsu! Chúng ta hãy suy nghĩ về ba cánh cửa này trong cuộc đời chúng ta và việc này sẽ có lợi ích cho tất cả mọi người."

 
DOI SONG MOI TRONG THAN KHI # 91 = DIEM CHUNG 2 GIAO HOANG PDF Print E-mail

Apr 27 at 7:57 AM

Điểm chung của hai Đức Gioan XXIII và Gioan Phaolô II: phá sập các bức tường

4/24/2014 8:01:37 PM

Để phong hiển thánh cho Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II cùng một lúc, Đức Phanxicô đã không ngần ngại bỏ qua thủ tục phong hiển thánh bằng cách không chờ đợi việc xác nhận phép lạ thứ hai nhờ lời cầu bầu của Đức Gioan XXIII. Và chắc chắn đây là hành động đúng.
Popes.jpg

Dĩ nhiên, Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II có nhiều điều khác nhau, nhưng các ngài cũng có nhiều điểm chung với nhau. Không có Đức Gioan XXIII, có lẽ sẽ không có Đức Gioan Phaolô II. Việc cùng một lúc phong hiển thánh cho hai ngài làm chứng cho sự kiện này: Giáo Hội là một định chế luôn cần được cải tổ (campagna semper reformanda) như Đức Bênêđíctô XVI quen nhấn mạnh. Đồng thời việc này cũng cho thấy mọi mảng lịch sử của định chế này đều được liên kết với các mảng khác, như các mảnh ăn khớp với nhau trong trò chơi đố ghép (puzzle).

Hai vị cùng sẽ được phong hiển thánh vào ngày 27 sắp tới có gì chung với nhau? Trước hết, hai vị đều là giáo hoàng, các giáo hoàng thánh thiện. Các ngài sống thực một cách sâu sắc nền linh đạo linh mục của mình, như khẩu hiệu giám mục của các ngài cho thấy. Đức Gioan XXIII chọn khẩu hiệu «Oboedientia et Pax» (Vâng Lời Và Bình An); Đức Gioan Phaolô II thì chọn khẩu hiệu «Totus tuus» (Tất Cả là Của Mẹ), đặt trọn niềm tin nơi Thánh Nữ Đồng Trinh Maria.

Nhưng cuộc sống của các ngài có khác nhau. Đức Gioan Phaolô II mất mẹ trước khi rước lễ lần đầu và mất cha lúc 21 tuổi, sống ơn gọi linh mục trong tư cách một cha xứ và sau đó là giám mục tại Ba Lan. Đức Gioan XXIII được dưỡng dục trong một gia đình đông người, được Tòa Thánh phái tới Thổ Nhĩ Kỳ, Bảo Gia Lợi và Pháp làm khâm sứ rồi sứ thần. Công việc ngoại giao đã rèn nên đức tin và viễn ảnh của ngài về Giáo Hội. Một Giáo Hội có tính bao gồm, đại kết và đối thoại với thế giới. Bài giảng Lễ Chúa Thánh Thần tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 1944, tức thánh lễ cuối cùng của ngài tại đó trước khi qua Bảo Gia Lợi, là một điền hình sống động cho thấy tư tưởng của Đức TGM Angelo Giuseppe Roncalli. Ngài nói rằng các Kitô hữu thuộc mọi nhóm tuyên tín rất thích phân biệt họ với những nhóm không tuyên xưng cùng một đức tin như họ, bất kể đó là "người Chính Thống, người Thệ Phản, người Do Thái, người Hồi Giáo, người tin hay người không tin". Nhưng theo ngài, cho dù "sự đa dạng về sắc tộc, ngôn ngữ, giáo dục, hay các dị biệt đau thương của một quá khứ buồn thảm có giữ chúng ta xa cách nhau đi chăng nữa, dưới ánh sáng Tin Mừng, ta nhận thấy Chúa Kitô đã đến phá sập các bức tường; Người chết để công bố tình huynh đệ phổ quát của chúng ta; tâm điểm giáo huấn này chính là tình yêu nối kết mọi người với Người như là anh cả của các em, và nối kết Người và chúng ta với Chúa Cha".

Phá sập các bức tường

Hãy phá sập các bức tường: những lời này chính là lệnh tiến bước, hơn bất cứ điều gì khác, vốn nối kết hai vị giáo hoàng thánh thiện này. Cố gắng đại kết đã được Đức Gioan Phaolô II thúc đẩy mạnh mẽ; ngài đã vượt quá ngoại giao để chủ trương nhiều cử chỉ tiên tri khi đương đầu với nền chính trị tôn giáo. Khi tới Hy Lạp năm 2001 trong tư cách vị giáo hoàng đầu tiên tới đó trong 1281 năm, ngài bình thản lắng nghe một danh sách dài gồm tới 13 lời kết án về 13 thứ tội mà người Chính Thống Hy Lạp không ngần ngại nói lên để chống lại Giáo Hội Công Giáo. Sau đó, ngài ngỏ lời xin lỗi về những sai lầm đã phạm. Sau cùng, trong một cuộc gặp gỡ lịch sử tại Areopagus, ngài khẳng định với TGM Christodoulos sự cam kết chung trong việc bảo vệ nguồn gốc Kitô Giáo của Âu Châu. Sau đó, phá bỏ sự cấm kị không cầu nguyện chung giữa Chính Thống và Công Giáo, ngài đã đọc kinh Lạy Cha với TGM Hy Lạp.

Đức Gioan XXIII cũng đã bắt đầu phá sập bức tường vô hình của Bức Màn Sắt khi Liên Bang Xô Viết cảm nhận những vết nứt đầu tiên của nó. Năm 1961, Tổng Bí Thư lúc đó của Đảng Cộng Sản Nga là Nikita Krushchev đã thực hiện biến chuyển đầu tiên trong việc thiết lập truyền thông với Đức Giáo Hoàng bằng cách gửi thông điệp chúc mừng sinh nhật thứ 80 của Đức Gioan XXIII. Đức Giáo Hoàng đã hồi âm, và thế là một ngả tiếp xúc bán chính thức đã được mở ra. Khi cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba nổ ra năm 1962, Đức Gioan XXIII là thế giá tinh thần duy nhất được cả đôi bên đối nghịch nhìn nhận. Các nhận định công khai của ngài, được chính ngài viết lại gần như hoàn toàn, đã được nhật báo Pravda, tiếng nói của Cộng Sản, đăng tải. Nhờ thế cuộc khủng hoảng hỏa tiễn đã được vượt qua.

Pacem in terris: dấu chỉ thời đại

Thành quả của sáng kiến trên đã thuyết phục Đức Gioan XXIII viết thông điệp Hòa Bình Trên Trái Đất. Xây dựng trên sự thật, nhân phẩm, tự do và tự do tôn giáo như bốn cột trụ, thông điệp này là mục tiêu viễn tưởng của Đức Gioan XXIII, và hiện nay vẫn còn hợp thời. Đức Gioan XXIII muốn thông điệp này được viết theo lối cách tân. Làm nền tảng cho thông điệp này là dấu chỉ thời đại, niềm khát mong có nhân phẩm của con người, tự do và hòa bình. Từ viễn tượng này, trọn bộ các khát vọng của con người đều được nhìn dưới ánh sáng Tin Mừng, và các cố gắng để thể hiện chúng đã tạo ra việc theo đuổi nền nhân bản toàn diện, một nền nhân bản sẽ trở thành lệnh tiến bước của Đức Phaolô VI.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một thông điệp đã không dựa vào mạc khải mà là dựa vào các dấu chỉ của thời đại. Phương pháp qui nạp này sau đó sẽ được áp dụng vào hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" của Công Đồng Vatican II.

Hào quang của "Hòa Bình Trên Trái Đất" cũng đã làm say mê một giám mục trẻ lúc đó đang tham dự Công Đồng Vatican II, Đức Cha Karol Wojtyla. Vị giám mục này từng kinh qua chủ nghĩa Quốc Xã và chủ nghĩa Cộng Sản, hai hình thức toàn trị lúc ấy đang rúng động Âu Châu. Việc ngài chống lại mọi hình thức toàn trị đã dẫn tới chủ trương triệt để chống mọi chế độ cộng sản của ngài. Ngài chống đối chúng không qua việc trực tiếp phản đối hay tấn công trực diện. Thay vào đó, ngài chăm dưỡng giới trẻ, giáo dục họ về ý nghĩa của tự do và nhân phẩm. Đây là một nền nhân bản cứu thế giới.

Bình thường hóa quan hệ

Đức Cha Wojtyla là một trong các vị tích cực nhất trong việc soạn thảo văn kiện "Dignitatis humanae" của Công Đồng. Văn kiện này là khí cụ cực kỳ có giá trị đối với mọi giám mục đang ở bên kia bức Màn Sắt, là những vị lấy hứng từ nó mà tổ chức ra mặt trận chống đối cách âm thầm. Đức Cha Wojtyla liên kết việc bảo vệ nhân phẩm với ý niệm quốc gia, một ý niệm ngài coi như tương phản với ý niệm nhà nước.

Trong khi ấy, điều gọi là Bình Thường Hóa Quan Hệ (Ostpolitik) của Vatican bắt đầu được khởi động. Đức HY Agostino Casaroli được phái tới các nước ở bên kia bức Màn Sắt, thoạt đầu bởi Đức Gioan XXIII, sau đó bởi Đức Phaolô VI. Ngài đã khởi diễn một cuộc đối thoại đầy khó khăn, bằng một chính sách "hết bước này tới bước khác" mà chính ngài định nghĩa là "tử đạo bằng kiên nhẫn". Ngài xây dựng được các mối liên hệ dẫn tới việc giảm nhẹ các điều kiện khắt khe vốn được các chế độ cộng sản áp đặt lên Kitô hữu.

Khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã chọn Đức HY Casaroli làm Quốc Vụ Khanh. Chủ trương mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng về tự do và nhân phẩm đã khơi lên nhiều khát vọng nơi những người đang sống tại các nước thuộc Hiệp Ước Warsaw. Cùng một lúc, nền ngoại giao của Đức HY Casaroli vẫn duy trì liên hệ với các nước Cộng Sản dữ dằn nhất, đem lại cho chủ trương của Đức Giáo Hoàng nhiều hỗ trợ có tính bảo vệ.

Trong khi ấy, Đức HY Paul Poupard, Quốc Vụ Khanh dưới thời Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, được Đức Gioan Phaolô II cử đứng đầu Văn Phòng Người Vô Tín Ngưỡng, và trong khả năng này, ngài đã khởi diễn cuộc đối thoại văn hóa với các nhà triết học và trí thức của các nước ở bên kia bức Màn Sắt.

Một bên là chủ trương của Đức Gioan Phaolô II; một bên là nền ngoại giao của Đức HY Casaroli. Ở hậu cảnh, là cuộc đối thoại văn hóa. Chính đó là lý do làm cho một bức tường khác bị phá sập, đó là bức tường Bá Linh. Các hình ảnh bức tường sụp tượng trưng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Âu Châu và sự chiến thắng của người Công Giáo.

Nếu không có Đức Gioan XXIII, thì không điều gì kể trên có thể diễn ra. Vị "giáo hoàng mục tử" Gioan XXIII quả là một nhà ngoại giao tinh tế. Từ triều giáo hoàng của ngài trở đi, ảnh hưởng của Tòa Thánh trên vũ đài quốc tế đã gia tăng đáng kể.

Đức Gioan Phaolô II tiếp nối di sản trên. Ngài thường hay thách thức Liên Hiệp Quốc, khi nói tới tự do tôn giáo tại Trụ Sở LHQ ở New York. Ngài cũng phê phán ý thức hệ phái tính và ý niệm y tế sinh sản (reproductive health) của các hội nghị Cairo và Bắc Kinh thập niên 1990. Trong khi đó, các nhà ngoại giao của Vatican, những người đầy kỹ năng và tinh tế, đã khôn khéo lồng ý niệm phát triển nhân bản toàn diện, như một thứ "vi khuẩn tích cực", vào các văn kiện quốc tế.
Thí dụ, trong văn kiện của LHQ công bố năm 1985.

Cùng một phương pháp: đối thoại

Sau cùng, cả Đức Gioan XXIII lẫn Đức Gioan Phaolô II đều theo cùng một phương pháp, bao gồm việc đối thoại với thế giới và hành động. Trong một nhận định ngoài bản văn soạn sẵn đề cập tới việc do đâu ý niệm Ngày Giới Trẻ Thế Giới đã phát sinh, Đức Gioan Phaolô II cho thấy phương pháp này đã được thi hành ra sao: "Đó là năm 1984, người bạn lớn của chúng ta là Liên Hiệp Quốc đã thiết lập ra Năm Giới Trẻ. Họ công bố, họ đưa ra kế hoạch. Chúng tôi thực hiện kế hoạch ấy!".

Tính tự phát này đã phá sập các bức tường. Đức Gioan XXIII mở cánh cửa đưa vào Công Đồng Vatican II bằng cách mở chiếc cửa sổ tại Tông Dinh vào ngày 11 tháng 10, năm 1963, để giảng bài giảng nổi tiếng của ngài về mặt trăng, yêu cầu người ta "vuốt ve con cái họ". Đức Gioan Phaolô II cũng mở một chiếc cửa sổ cho người ta thấy họ có thể chờ mong chi ở triều giáo hoàng của ngài trong Thánh Lễ khai mạc thừa tác vụ Phêrô: "Hãy mở rộng các cửa ra vào cho Chúa Kitô. Hãy mở rộng các biên giới Nhà Nước, các hệ thống kinh tế và chính trị, những lãnh vực mênh mông của văn hóa, văn minh và phát triển cho sức mạnh cứu rỗi của Người. Đừng sợ hãi. Chúa Kitô biết rõ "trong con người có gì". Chỉ một mình Người biết điều ấy".

Vũ Văn An

 
DOI SONG MOI TRONG THANH KHI # 89 = BA MARIA OI ! PDF Print E-mail

BÀ MARIA ƠI - Sr Faustina Lý Thị Bau - Hội Dòng Da Minh Tam Hiệp
Apr 23 at 8:24 PM

BÀ MARIA ƠI

Mỗi lần mừng lễ Phục sinh, điều gây ấn tượng sâu sắc và gợi lòng sốt sắng nhất cho tôi, chính là bài ca tiếp liên: "Bà Maria ơi, trên đường Bà thấy những gì, trên đường Bà thấy những gì, xin kể cho chúng tôi nghe?". Đó là chân dung của một người biết yêu, đó là bước chân đẹp của người loan Tin Mừng, đó là hình ảnh của người chiến thắng sau nhiều lần chiến bại. Maria, một người nữ nhưng chí nam nhi, nàng không đầu hàng sự khó. Khi hầu hết các môn đệ bỏ Chúa, nàng vẫn theo sát Chúa nhất là trong những giây phút bi đát nhất: trên đường Golgota và ở dưới chân Thập Giá. Nàng can đảm đính kết với tên tử tội, một người mà trong giây phút bi thảm nhất không ai dám ra mặt liên hệ và thú nhận tương quan.

Trong Tin Mừng Phục sinh và trong mùa Phục sinh, Maria Madalena là nhân vật nổi bật vì Bà là người đã được Đấng Phục Sinh hiện ra đầu tiên. Bà cũng là người được Đấng Phục sinh trao sứ vụ trước hết: làm tông đồ cho các Tông đồ.

Maria, người đã chạy đến mồ lúc trời còn tối, khi muôn loài còn chìm trong giấc ngủ. Bà đi xức dầu thơm cho xác Chúa như bao phụ nữ khác trầm mặc bên mộ người yêu. Tình yêu đã khiến Bà quan tâm, chăm sóc xác thầy. Có lẽ cả đêm Madalenna không dám ngủ, Bà mong chóng đến giây phút cho phép Bà làm một nghĩa cử yêu thương mà không vi phạm luật ngày Sabbát. Bà mong giây phút hội ngộ dù Thầy chỉ còn là một xác chết vô hồn.

Trong tâm trạng của một người không còn người yêu và chỉ còn một hy vọng mong manh được thấy xác thày để níu kéo sự hiện diện đã mất. Nhưng xác Thầy trong mộ cũng đã không còn nên Bà đã thảng thốt kêu lên: "người ta đã lấy xác Thày rồi". Bà thất vọng oà khóc, bà đưa mắt quanh ngôi mộ trống mong thấy xác Thầy ở một nơi nào đó... Maria chưa thể nhận ra sự Phục Sinh nơi những dấu chỉ, nhưng Bà đã thấy những dấu chỉ Phục sinh trước nhất : Hòn đá lấp cửa mồ lăn ra một bên. Hòn đá chia cắt thầy mình, bức màn thử thách ngăn cách tình yêu; nấm mồ chôn vùi tình yêu nay được bật mở, tảng đá vững chắc không thể lay chuyển sẽ mãi chôn vùi người yêu bây giờ phải đầu hàng tình yêu, nấm mồ không còn là nơi người chết được tẩm liệm cẩn thận bị nhốt sau một hòn đá vĩ đại bít cửa như điểm tận cùng nữa. Nhưng hòn đá, sức nặng đè bẹp người chết đã bị lăn ra, được cất ra khỏi mồ (Ga20,1). Đấng phục sinh đã huỷ diệt vương quốc của sự chết được biểu trưng bằng nấm mồ.

Maria ra đi đến mồ đang khi các môn đệ vẫn còn tự nhốt mình trong một ngôi nhà cửa đóng then cài, người yêu không thể bàng quan trước nỗi đau khổ và nhất là cái chết của người mình yêu. Người yêu thổn thức và đau đớn từng giây phút theo nhịp hấp hối của người yêu. Bà đến gặp thân xác đã tẩm niệm để hoàn tất lễ nghi an táng. Nhưng sự tìm kiếm xác chết không còn ý nghĩa nữa: "Tại sao lại tìm người sống giữa những người chết?" (Lc24,5). Sự can đảm đi ra khỏi "chỗ ẩn nấp an toàn" đã mang lại kết quả bất ngờ: Bà đã gặp Chúa Phục Sinh.

Bà đã mạo hiểm đi đến cùng. Bà chỉ mong sẽ được gặp gỡ một thân xác của người đã chết. Bà đã đi đến mồ trong một tâm trạng héo hắt, tê tái, đã vậy bà lại chạm vào một thực tại nghiệt ngã: xác Thày không còn nữa, chắc chắn phải là quân côn đồ nào đó đã chơi xỏ các môn đệ của Thầy hay kẻ thù của Thầy phải trả đũa đến cạn tàu ráo máng mới buông tha. Đó là đường cùng rồi. Đối với những gì đã xẩy ra trong quá khứ dù lẫy lừng của Thầy cũng chết với Thầy rồi. Tất cả chỉ là một giấc mơ qua mau. Còn đối với hiện tại, tất cả đã chấm dứt từ đây. Còn đối với tương lai, chỉ còn là một thất vọng ê chề.

Phải có một lời của Thần sứ để đưa Bà ra khỏi bước đường cùng, mở cho Bà một con đường mới, đó là con đường đã bị bỏ quên: ''Các ngươi tìm Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, Người không còn ở đây vì Người đã phục sinh như Người đã nói... nhanh lên, hãy đi báo cho các môn đệ của Người, Người đã phục sinh giữa những kẻ chết. Người đi trước anh em đến Galilê, ở đó anh em sẽ gặp Thầy". Nếu Madalenna dừng lại bên mồ, đó là ngõ cụt, là đường cùng thì Bà sẽ không là người thứ nhất được diễm phúc này. Bà phải rời cái nơi u sầu chết chóc để đến điểm hẹn của Thầy. Điểm hẹn không phải là giữ Thày lại cho riêng mình để cảm nếm, để an hưởng sau những ngày tái tê nhưng là một cuộc ra đi, từ bỏ. Mọi ơn gọi đều bắt đầu bằng một cuộc ra đi như thế.

Bà ra đi để loan báo sự chết đã rơi vào quên lãng, con đường tình yêu đi đến sự hi hiến hoàn toàn đã bừng sáng niềm hy vọng. Đấng hi hiến vì tình yêu đã khải hoàn toàn thắng tử thần.

Để là sứ giả Tin Mừng Phục Sinh thì Madalena phải cảm nghiệm trước tình yêu phục sinh của Đức Kitô trong cuộc đời mình. Bà kinh qua sự chết bằng những đau khổ để thấy sự sống quí giá dường bao! Bà kinh nghiệm sự lạnh giá tiêu điều của mùa đông để thấy mùa xuân rực rỡ và trào tràn sự sống là như thế nào.

Madalena phải có thời gian để biết, để nhìn ra sự sống luôn luôn là tiếng nói cuối cùng trên sự chết. Nghĩa là thời gian Thầy mình nằm ngủ trong mồ để cho mắt mình được dần dần mở ra trong đau thương, trong tình yêu thất vọng. Người ta hẳn học được nhiều bài học ý nghĩa trong đêm tối (đau khổ) .

Tình yêu và đau khổ đã dạy Bà bài học đức tin. Madalena đã tin trước nhất, dù bà không được gần gũi Thầy, nghe Thầy dạy nhiều như các môn đệ. Bà đã đi con đường tắt, con đường của những con người bé nhỏ, con người biết những giới hạn của mình, con người chỉ có một tài sản duy nhất là tình yêu.

Đứng trước tình yêu người ta không làm bảng thống kê, cũng không dùng tri thức để phân tích hay lý luận. Tình yêu chỉ có một cách đơn giản là yêu và yêu là thắng tất cả. Đứng trước biến cố Phục Sinh, người ta không thể dùng lý trí để suy luận vì sự Phục Sinh của Đức Kitô là một màu nhiệm không ở thế giới của chúng ta, nên không thể dùng ngôn ngữ diễn tả cũng như không thể dùng khoa học để chứng minh được sự Phục Sinh.

Phục Sinh chỉ có thể hiểu được bằng cảm nghiệm và chỉ có tình yêu mới cho chúng ta cảm nghiệm được Đấng Phục Sinh. Madalena chập chững từng bước trong hành trình niềm tin của mình sau các môn đệ, những người đã được cùng ăn cùng uống với Đức Kitô, cùng sống cùng hành trình trên mọi nẻo đường Palestin với Đức Kitô, nhưng lại có vẻ đến đích trước các ông, chỉ vì Bà đã yêu nhiều.

Tình yêu không lý luận, nhưng tình yêu cảm nhận được sự mặn nồng của người yêu, dáng dấp của người yêu và tiếng nói của người yêu. Khi nhận được sứ điệp của Đấng Phục Sinh, Madalena đã cấp tốc lên đường, Ngài trở thành sứ giả đầu tiên loan Tin mừng Phục Sinh. Vinh hạnh biết bao cho giới liễu yếu đào tơ đã trở thành kẻ loan tin mừng cho những người đang thất vọng: "Hãy đi báo cho anh em Ta": Đấng Phục Sinh như ngầm bảo: con đã tin Ta từ cõi chết sống lại, hãy chia sẻ niềm tin này cho anh em Ta.

Nhưng niềm tin đâu có luôn xuôi buồm thuận gió nhưng luôn luôn bị thử thách. Đó là cách giáo dục của Chúa để cho niềm tin tăng trưởng. Madalena bị các tông đồ bác lại, các Ngài không dễ dàng tin lời một người phụ nữ vẫn thường bị cho là yếu vía, tin ma thờ quấy, nhảm nhí, mê tín dị đoan, nhiều tưởng tượng và ảo tưởng.

Madalena hẳn ở trong một tình huống rất khó xử. Một đường tình yêu thúc đẩy phải cấp bách loan Tin Mừng, một mặt bị chống đối mạnh mẽ về phía các môn đệ. Có thể các Ngài phản bác mạnh mẽ vì nhiều lý do. Sứ vụ của Madalena không thuận đò xuôi bến, không dễ dàng như chúng ta nghĩ. Nhưng với ngôn ngữ tình yêu, Bà đã thuyết phục ngôn ngữ lý trí.

Từ lúc nhận sứ điệp phục sinh, Chúa Giêsu trở thành Đức Chúa đối với Bà. Đây là danh xưng của các Kitô hữu tiên khởi đã dành cho Đấng Phục Sinh. Khi Madalena bập bẹ niềm tin qua danh xưng "Đức Chúa" có nghĩa là Bà đặt Chúa làm đối tượng duy nhất và trước nhất. Bà tôn thờ và kính mến Đấng Phục Sinh hơn mọi hữu thể trần gian. Đặt Ngài làm thần tượng tuyệt đối vì Bà đã cảm nghiệm được tình yêu của Đấng Phục Sinh .

Chính tình yêu của Đấng Phục Sinh và chính tình yêu của Bà dành cho Đấng Phục Sinh đã làm cho Bà thấy, nhận diện và cảm nghiệm Chúa Giêsu thực sự đang sống. Chính tình yêu đã làm cho Bà tin mặc dầu Đức tin phải làm những bước mạo hiểm, phải phóng mình về phía trước, phải đoạn tuyệt với những gì mình từng gắn bó. Tình yêu dạy cho Bà những điều lý trí không thể biết. Ngôn ngữ tình yêu thì lý trí không hiểu được. Ngôn ngữ tình yêu không cần nhiều lời nhưng sâu sắc. Đấng Phục Sinh chỉ cần gọi tên Bà là Bà đã nhận ra được Người.

Tình yêu cho Bà sự bén nhạy để rồi sau đó Bà trở thành kẻ loan Tin mừng Phục Sinh cho chính những người đáng lẽ phải được biết Tin Mừng này trước nhất.

Điển hình hai môn đệ trên đường Emau đã thuật lại cho Đấng Phục Sinh về việc các phụ nữ đã được diễm phúc gặp Đấng Phục Sinh: "Thật ra đã có mấy người trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ra mộ hồi sáng sớm, nhưng không thấy xác người đâu cả, về còn nói là đã thấy Thiên Thần hiện ra bảo rằng người vẫn sống".

Đối với Bà, Ngài thật là Thiên Chúa, một Thiên Chúa bị nộp vì tình yêu, một Thiên Chúa của niềm vui, sự bình an và lòng thương xót vì chính Ngài đã cho Bà cảm nghiệm được điều này.

Tình yêu cho Bà mau lẹ nghiệm ra Ngài không phải là bóng ma nhưng là một Đấng Phục Sinh. Trước đây mấy ngày Ngài đã bị đánh đập, bị xét xử và bị đóng đinh. Ngài đã chết thật trên Thập Giá, Ngài đã được chôn táng trong mồ, chính tay Bà đã xoa nắn xác Thày. Rồi trở về trong đau buồn vì những hình ảnh Bà đã chứng kiến mấy ngày qua. Tất cả đều đã chấm dứt với mồ yên mả dài. Nhưng đâu ngờ chính trong trung tâm của sự trống roang đó, đã xuất hiện Đấng chiến thắng trần gian như Ngài đã nói: "Ta đã chiến thắng thế gian".

Khi Bà bập bẹ tiếng nói của niềm tin: "tôi đã thấy Chúa". Bà đã đi gọi Phêrô và Gioan – Bà không được Chúa dạy dỗ nhiều như hai Ngài – chỉ mấy lần gặp gỡ đã cho Bà hiểu Thày cách sâu sa. Hiểu bằng ngôn ngữ của con tim. Bà không cần nhìn những dấu như khăn liệm, khăn cuốn đầu như Phêrô để suy ra sự Phục Sinh của Chúa.

Bà nhạy bén vì Bà yêu Chúa và để Ngài yêu, bà không nhốt tình yêu để hưởng thụ một mình, nhưng Bà đã làm lan toả niềm hạnh phúc, bình an của Đấng Phục Sinh đến các môn đệ. Bà là chứng nhân của Đấng Phục Sinh, chứng nhân trung tín của màu nhiệm Thiên Chúa Tình Yêu, Thiên Chúa chân lý.

Vâng, từ niềm tin trong tình yêu đó mà câu tiền xướng: "Bà Maria ơi, trên đường bà thấy những gì, xin kể cho chúng tôi nghe" sẽ vẫn còn vang mãi cho đến tận thế.

Sr. Faustina Lý Thị Báu

Kính chuyển

Hồng

 
DOI SONG MOI TRONG THAN KHI # 89 = CHUA SONG LẠI PDF Print E-mail

Tue, 15/04/2014 - 17:14
Tác giả:
Trầm Thiên Thu

Biến đổi /SỐNG LẠI

(Chúa Nhật Đại Lễ Phục Sinh, năm A - Mt 28, 1-10)

Mỗi người chỉ có một cuộc sống, tức là chỉ sống một lần và chết một lần, không ai có thể sống lại. Đó là điều ai cũng biết dù chưa bao giờ trải nghiệm. Dù có sự sống lại nhưng cũng không xảy ra. Điều đó chỉ có Thánh sử Luca kể lại: Chuyện La-da-rô nghèo khổ và phú hộ (x. Lc 16:19-31).

Nhưng sự sống lại đã xảy ra thật: Đức Kitô bị giết chết trên Thập Giá và Ngài đã sống lại. Nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta chỉ là hoang đường! Nhưng Đức Kitô đã thực sự sống lại, như vậy đức tin của chúng ta đã được "đóng ấn tín đời đời". Điều đó đã được Thánh Phaolô minh chứng (x. 1 Cr 15:17).

Là con người bình thường thì ai cũng có nỗi nhớ. Gọi là nỗi nhớ thì không có giới tính. Vậy tại sao lại gọi là nỗi nhớ đàn bà mà không là nỗi nhớ đàn ông? Phải chăng vì phụ nữ có "khoảng nhớ" lớn hơn nam giới? Có phần đúng. Theo khoa học, MỘT bộ óc nhưng có HAI bán cầu não. Phụ nữ "nói nhiều" hơn nam giới vì họ sử dụng cả hai bán cầu não một lượt, còn nam giới chỉ sử dụng một bán cầu não.

Như vậy, có thể nói rằng "khoảng nhớ" của phụ nữ lớn hơn nam giới. Trong tình trường bình thường, khi bị phụ tình (hoặc tình phụ), nỗi nhớ ở phụ nữ vẫn "lâu dài" hơn ở nam giới là vậy. Khoa học không có gì trái ngược với đức tin Công giáo. Phụ nữ được Thiên Chúa ưu đãi nhiều điều lắm!

Thánh Phêrô xác nhận: "Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào" (Cv 10:34). Điều này vừa đáng mừng vừa đáng lo. Thật "đáng mừng" vì chúng ta không sợ bị thua thiệt: Thiên Chúa công minh, không thiên vị. Nhưng lại "đáng lo" nếu chúng ta ảo tưởng mà tự nhận mình "ngon" hơn người khác.

Thánh Phêrô nói về biến cố đã xảy ra tại Giu-đê, bắt đầu từ miền Ga-li-lê, sau phép rửa mà ông Gioan rao giảng, và nói về lai lịch về Đức Giêsu xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Ngài. Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Ngài.

Các tông đồ đã can đảm làm chứng về mọi việc Đức Giêsu đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giê-ru-sa-lem: "Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội" (Cv 10:39-43).

Đức Kitô sống lại và chúng ta cũng sẽ được sống lại như Ngài, một ân huệ quá lớn, vì thế chúng ta phải "tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương" (Tv 118:1). Chính "tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực" nên tử thần đã chiến bại ê chề, mất khả năng hoành hành như trước. Do đó, tác giả Thánh Vịnh hân hoan: "Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm" (Tv 118:17). Sự kỳ diệu nối tiếp nhau: "Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta" (Tv 118:22-23). Chỉ có Thiên Chúa mới khả thi những điều như vậy!

Thánh Phaolô xác định và nhắc nhở: "Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới" (Cl 3:1-2). Thật vậy, Đức Kitô là nguồn sống của chúng ta, Ngài xuất hiện thì chúng ta cũng được xuất hiện với Ngài và cùng Ngài hưởng phúc vinh quang (Cl 3:3-4).

Thánh Phaolô nói thêm: "Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ" (1 Cr 5:7-8). Tất cả đều biến đổi hoàn toàn, điều đó có thể là được biến đổi hoặc tự cố gắng biến đổi.

Trình thuật Ga 20:1-9 rất ngắn gọn. Chàng Gioan cho biết: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ và thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp người "tổ trưởng" Phêrô và người môn đệ được Đức Giêsu thương mến – tức là chàng trai trẻ Gioan, người tựa đầu vào ngực Thầy Giêsu và nghe được "nhịp tình thổn thức" của Thầy ngay trong Bữa Tiệc Ly.

Bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu". Thật tội nghiệp, chắc hẳn Bà buồn lắm, và Bà thấy nhớ Thầy Giêsu da diết. Các môn đệ nghe nói vậy cũng cảm thấy hoang mang. Vì trong thời gian này, "vụ án Chúa Giêsu" vẫn còn gây chấn động mạnh, chưa thể nào lắng xuống, ai cũng sợ người Do-thái khủng bố và áp bức, thế nên chẳng ai dám đi lại nhiều, có ở nhà thì cũng đóng cửa kín mít, đi đâu thì phải mắt trước mắt sau, đi như chạy, vội vàng như bị ma đuổi vậy.

Sau khi nghe Bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói, ông Phêrô và Gioan liền đi ra mộ xem sự thể ra sao. Cả hai người cùng chạy, nhưng Gioan còn trẻ nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông Gioan cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, đợi cho Phêrô đến nơi và vào trước, "kính lão đắc thọ" theo phép lịch sự.

Ông Phêrô vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan cũng đi vào, đã thấy và đã tin. Lúc này hai người tin thật rồi, chứ không như trước đó. Và hai ông đã hiểu rằng Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết theo như Kinh Thánh đã nói.

Hai năm rõ mười, mọi điều đã tỏ tường, ai cũng hân hoan tột độ, và cũng không còn sợ hãi nữa. Chính Đức Kitô Phục Sinh đã biến đổi họ, từ con người nhút nhát thành can đảm, từ con người yếu đuối thành mạnh mẽ, ngay cả các phụ nữ cũng biến thành những chứng nhân sống động của Đức Kitô Phục Sinh. Phụ nữ có thể "hấp tấp" một chút, dẫu cho "sâu sắc như cơi đựng trầu", nhưng họ vẫn có những điều khiến chúng ta học hỏi.

Hai hành động THẤY và TIN có liên kết với nhau. Có người thấy mà không tin, vậy là vô ích. Ai thấy và tin thì mới đáng nói. Đó là sự biến đổi mau chóng và thực sự là điều kỳ diệu.

Lạy Thiên Chúa, xin củng cố đức tin nơi chúng con để chúng con được biến đổi mau chóng khi chúng con thấy những điều kỳ diệu mà Ngài vẫn không ngừng thực hiện trong cuộc đời của chúng con, xin giúp chúng con can đảm làm chứng về Đức Kitô Phục Sinh trong suốt cuộc đời. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 
DOI SONG MOI TRONG THAN KHI # 88 = CHUA THANH LINH PDF Print E-mail

> Đức Thánh Cha Phanxicô: Loạt Bài Giáo Lý về Thánh Linh
>
> Thứ Tư 9/4/2014: Bài 1 - Tặng Ân Khôn Ngoan
>
> Xin chào Anh Chị Em thân mến buổi sáng!
>
> Hôm nay chúng ta bắt đầu loạt bài giáo lý về các tặng ân của Thánh Linh. Anh chị em biết rằng Thánh Linh là Đấng tạo nên hồn sống, huyết mạch sống còn của Giáo Hội cũng như của hết mọi Kitô hữu: Ngài là Tình Yêu của Thiên Chúa biến tấm lòng của chúng ta thành nơi cư ngụ của Ngài và hiệp thông với chúng ta. Thánh linh luôn ở với chúng ta, trong chúng ta, trong tâm can của chúng ta.
>
> Chính Thần Linh thật sự là "tặng ân của Thiên Chúa" (xem gioan 4:10), Ngài là tặng ân của Thiên Chúa để rồi về phần mình Ngài thông truyền các tặng ân thiêng liêng khác nhau cho ai đón nhận Ngài. Giáo Hội chọn ra 7 tặng ân, một con số tiêu biểu cho những gì là trọn vẹn, là hoàn toàn; các tặng ân này là những gì cần phải học biết khi chúng ta sửa soạn lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức và là những gì chúng ta kêu cầu nơi kinh nguyện cổ kính được gọi là the Sequence of the Holy Spirit. Các tặng ân của Thánh Linh là khôn ngoan, hiểu biết, huấn dụ, can đảm, thảo hiếu và kính sợ Chúa.
>
> 1- Bởi vậy, theo bản liệt kê này thì tặng ân đầu tiên của Thánh Linh là khôn ngoan. Tuy nhiên, tặng ân này không phải chỉ là một thứ khôn ngoan phàm nhân, hoa trái của kiến thức và kinh nghiệm. Thánh Kinh trình thuật rằng Solomon, vào lúc lên ngôi Vua của dân Yến Duyên (Israel), đã xin tặng ân khôn ngoan (xem 1Chư Vương 3:9). Khôn ngoan thực sự là thế này, đó là một ơn để có thể thấy mọi sự bằng con mắt của Thiên Chúa. Nó chỉ là ở chỗ thấy thế giới, thấy các trường hợp, các hoàn cảnh, các vấn đề, hết mọi sự bằng con mắt của Thiên Chúa. Đó là khôn ngoan. Đôi khi chúng ta thấy các sự vật theo cách thức chúng làm cho chúng ta hài lòng mãn nguyện hay theo tình trạng của tâm can chúng ta, lúc yêu, lúc ghét, lúc ghen tương đố kỵ... Không, đó không phải là ánh mắt của Thiên Chúa. Khôn ngoan là tặng ân Thánh Linh tác động trong chúng ta nhờ đó chúng ta thấy tất cả mọi sự bằng con mắt của Thiên Chúa. Đó là tặng ân khôn ngoan.
>
> 2- Tặng ân này rõ ràng là xuất phát từ mối thân tình với Thiên Chúa, từ mối liên hệ mật thiết chúng ta có được với Thiên Chúa, từ mối liên hệ của con cái với Cha. Khi chúng ta có mối liên hệ này thì Thánh linh ban cho chúng ta tặng ân khôn ngoan. Khi chúng ta ở trong mối hiệp thông với Chúa thì như thể Thánh Linh biến đổi cõi lòng của chúng ta và làm cho nó cảm nhận được tất cả những gì là nồng ấm và yêu chuộng của Ngài.
>
> 3- Bấy giờ Thánh Linh ban cho Kitô hữu "sự khôn ngoan". Tuy nhiên, đó không phải là ở chỗ họ có thể giải đáp được tất cả mọi sự, ở chỗ họ biết hết mọi sự, mà là ở chỗ họ "biết" về Thiên Chúa, họ biết cách thức Thiên Chúa tác hành, họ biết cái gì từ Thiên Chúa cái gì không vào lúc nào; họ có ơn khôn ngoan Thiên Chúa ban cho cõi lòng của chúng ta. Theo đó, cõi lòng của con người khôn ngoan có được cái khẩu vị và mùi vị của Thiên Chúa. Những Kitô hữu như thế quan trọng biết bao trong các cộng đồng của chúng ta! Tất cả những gì ở nơi họ đều nói về Thiên Chúa và trở thành một dấu hiệu mỹ miều và sống động cho sự hiện diện của Ngài và tình yêu của Ngài. Đó là những gì chúng ta không thể ứng biến, không thể tự mình chiếm được: Nó là tặng ân Thiên Chúa ban cho những ai tỏ ra dễ dậy với Thánh Linh. Chúng ta có Thánh Linh ở trong chúng ta, trong lòng chúng ta, chúng ta có thể lắng nghe Ngài hay không lắng nghe Ngài. Nếu chúng ta lắng nghe Thánh Linh thì Ngài dạy chúng ta cách thức khôn ngoan ấy, Ngài ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để nhìn bằng con mắt của Thiên Chúa, để nghe bằng tai của Thiên Chúa, để yêu bằng con tim của Thiên Chúa, để phán đoán sự vật bằng lý đoán của Thiên Chúa. Đó là ơn khôn ngoan Thánh Linh ban cho chúng ta, và tất cả chúng ta đều có thể có được ơn này, chúng ta chỉ cần xin Thánh Linh ơn ấy.
>
> Anh chị em hãy nghĩ đến một người mẹ ở nhà với con cái, mà lúc đứa này làm cái này, đứa kia nghĩ chuyện khác, thì người mẹ tội nghiệp này sẽ ngược xuôi với các thứ vấn đề của con cái bà. Khi người mẹ cảm thấy mệt mỏi và la hét con cái thì đó có phải là khôn ngoan hay chăng? Tôi xin hỏi anh chị em là việc la hét con cái có phải là khôn ngoan hay chăng? Anh chị em nói đi: có khôn ngoan hay chăng? Không! Trái lại, khi người mẹ bế đứa con lên và nhẹ nhàng trách móc nó mà nói: "Đừng làm thế con nhé, vì...", và bà hết sức nhẫn nại giải thích cho nó, phải chăng đó là đức khôn ngoan của Thiên Chúa? Phải! Nó là những gì Thánh Linh ban cho chúng ta trong đời! Thế rồi nơi hôn nhân chẳng hạn, đôi phối ngẫu - người chồng và người vợ - cãi nhau sau đó không không thèm nhìn mặt nhau nữa, hay có nhìn nhau thì bằng một gương mặt méo mó (a cross face): thì đó có phải là sự khôn ngoan của Thiên Chúa hay chăng? Không! Trái lại, nếu họ nói: "thôi, bão tố đã qua đi rồi, chúng ta hãy làm hòa với nhau", và họ lại bắt đầu tiến bước trong an bình thì có phải là khôn ngoan hay chăng? [dân chúng đáp: Phải]. Đó, tặng ân khôn ngoan là như thế. Chớ gì nó đến với gia đình, đến với con cái, đến với tất cả mọi người chúng ta!
>
> Đó không phải là những gì học biết mà là tặng ân của Thánh Linh. Bởi thế, chúng ta cần phải xin Chúa ban cho chúng ta Thánh Linh và tặng ân khôn ngoan, thứ khôn ngoan của Thiên Chúa dạy cho chúng ta biết nhìn bằng con mắt của Thiên Chúa, biết cảm nhận bằng tấm lòng của Thiên Chúa, biết nói năng bằng lời lẽ của Thiên Chúa. Có thế, chúng ta mới tiến bước, chúng ta mới xây dựng gia đình, xây dựng Giáo Hội và tất cả chúng ta mới được thánh hóa. Hôm nay chúng ta hãy xin ơn khôn ngoan. Chúng ta hãy xin Đức Mẹ là Tòa Đức Khôn Ngoan, tặng ân này: chớ gì Mẹ cống hiến cho chúng ta ơn ấy. Xin cám ơn anh chị em!
>
> Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo http://www.zenit.org/en/articles/on-wisdom

 
<< Start < Prev 31 32 33 34 35 36 37 Next > End >>

Page 31 of 37