mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5492
mod_vvisit_counterHôm Qua8689
mod_vvisit_counterTuần Này22761
mod_vvisit_counterTuần Trước75465
mod_vvisit_counterTháng Này210368
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9709934

We have: 137 guests online
Your IP: 54.198.108.19
 , 
Today: Nov 21, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Gặp Gỡ Chúa Kitô Trong Thánh Thần
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 70 = GAP CHUA TRONG KINH NGUYEN PDF Print E-mail

Gặp Chúa Phục Sinh trong kinh nguyện

Chúa Giêsu đã hứa: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho tới tận thế" (Mt 28:20).

Đó là lời cuối cùng của Đức Kitô Phục Sinh nói với các Tông Đồ trước khi Ngài về Trời. Lời đó vẫn sống động trong những lúc chúng ta gặp Con Thiên Chúa ngày nay. Vì Ngài không bỏ chúng ta và vẫn hành động trong thế giới, Ngài làm cho lời cầu nguyện của chúng ta thành cuộc đối thoại với Ngài, trong tình yêu kỳ diệu mà Ngài mở ra, Ngài luôn hành động để giải thoát chúng ta khỏi sự tức giận và kiêu ngạo. Bằng những cách nổi bật nhất, các thánh và các nhà thần bí đã có các dạng gặp gỡ kỳ diệu và làm thay đổi cuộc sống, và chứng cớ của họ mời gọi chúng ta cũng tìm kiếm Ngài như vậy.

Trong Tuần Thánh khoảng 700 năm trước, Chân phước Angela di Foligno (1248-1309) đã được ơn thanh tẩy và đào sâu lòng sùng kính đối với Thiên Chúa. Đó là riêng tư và đặc biệt mà bà mời gọi mỗi chúng ta tìm kiếm ân sủng này cho chúng ta. Điều đó cũng rất cần cho bất cứ ai yêu mến Chúa.

Bà mô tả cuộc gặp gỡ Chúa theo dạng Lời Chúa nói trực tiếp với bà trong sâu thẳm linh hồn. Chỉ có sức mạnh của sự thật mới có thể làm như vậy, điều Thiên Chúa mở ra cho bà biết khiến bà cảm thấy lòng ăn năn vô cùng và cảm thấy đau thắt ngực. Tuy nhiên, những lời Chúa nói với bà không gay gắt mà rất dịu dàng. Chúa-Giêsu-chịu-đóng-đinh chân thành nói với bà khiến bà muốn đến với Ngài: "Tình yêu của Ta dành cho con không là điều giả dối".

Trong đời sống tâm linh của bà lúc này, bà là người khổ hạnh, dành nhiều thời gian để cầu nguyện. Trong Tuần Thánh đó, bà không nghĩ tới thứ gì khác để bà có thể hoàn toàn tập trung trước sự hiện diện của Đức Kitô trong mầu nhiệm cứu độ. Khi bà nghe những lời đó vang lên trong sâu thẳm của linh hồn, bà hiểu được lý do mà chúng ta tin Con Thiên Chúa mang nhân tính và khiêm nhường chấp nhận mọi dạng thiếu thốn và đau khổ.

Nhờ "chấp nhận" nhân tính, Ngài làm cho nhân tính của chúng ta mang ý nghĩa mới, ý nghĩa cứu độ mà chúng ta có thể nhận thức về sự thật của tình yêu Chúa dành cho chúng ta. Tình yêu Chúa làm vui mừng khi hoàn tất công việc trong giới hạn của sự nỗ lực yêu thương. Đó là vì Ngài muốn nên giống chúng ta — đó là dấu chứng của tình bạn hữu đích thực. Bạn bè muốn giống nhau và muốn vào trong thế giới của nhau. Khi mặc lấy nhân tính, Chúa Giêsu tìm được cách vào trong thế giới khốn khổ của chúng ta mà qua lời cầu nguyện, chúng ta có thể nghe tiếng Chúa-Giêsu-chịu-đóng-đinh mời gọi chúng ta vào trong thế giới vinh quang của Ngài, đó là thế giới vô tận.

Chúng ta khả dĩ nhận biết tình yêu của Chúa Giêsu, không phải vì những gì chúng ta đạt được, mà vì Chúa thực sự yêu thương chúng ta ngay trong lúc này, qua nhân tính chịu đóng đinh và nhân tính phục sinh. Nếu sự thiếu thốn và đau khổ làm cho khó xác định sự hiện hữu của tình yêu chiến thắng này, Ngài vẫn luôn ở gần chúng ta. Khi chúng ta phải đối diện với những điều đó, ngay cả cái chết, chúng ta vẫn không bao giờ cô đơn. Tình yêu của Chúa Phục Sinh dành cho mỗi chúng ta, thực sự chứ không mơ hồ hoặc ảo tưởng, điều đó thật hơn cả sự thật. Ngài luôn ở với chúng ta... mãi cho tới tận thế.

Các sự thật đó tràn ngập Chân phước Angela trong lúc bà nghe Chúa Giêsu nói riêng với bà. Bà biết Chúa nối kết với bà, tình yêu của Ngài dành cho bà, những lời đó chiếm cả tâm hồn bà theo cách mới. Bà nhận biết đau khổ và nhận biết tình yêu thiếu chân thật bà dành cho Chúa Giêsu. So sánh với tình yêu mà Chúa dành cho bà, bà nhận biết tình yêu của bà chưa thực sự là tình yêu. Chấp nhận sự thật này làm cho bà tôn thờ Chúa bằng cả tâm hồn. Chúa Giêsu không bỏ bà cô đơn trong sự hối hận đó. Ngài tiếp tục tái xác nhận rằng bà không bao giờ xa cách Ngài: Ngài giữ bà ở gần Ngài qua mọi cố gắng của bà trong suốt đời. Thật vậy, Ngài đã an ủi bà bằng cách giải thích: "Ta ở bên con nhiều hơn con ở bên chính con".

Điều đó có ý nghĩa gì?

Thứ nhất, chúng ta thực sự không biết rõ chính mình. Thật vậy, chúng ta là bí ẩn đối với chúng ta nhưng là bí ẩn đối với Thiên Chúa. Trong ánh sáng của tình yêu Chúa, chúng ta biết nhờ đức tin, có những cuộc đối thoại với chính mình mà chúng ta phải từ bỏ. Chúng ta không nên tham dự vào cuộc đối thoại đó vì chúng ta tự thương mình. Chúng ta cũng không nên tham dự vào cuộc đối thoại nội tâm mà "cái tôi" của chúng ta bảo chúng ta quan trọng. Không cuộc đối thoại nào bằng tiếng Chúa trong sâu thẳm tâm hồn của chúng ta. Không có tiếng nói nào biết sự thật về chính chúng ta trước mặt Đức Giêsu Kitô. Không có tiếng nói nào hiểu cách Ngài khuyến khích chúng ta và muốn chia sẻ mọi điều với chúng ta.

Thứ nhì, cuộc gặp gỡ của Chân phước Angela di Foligno với Đức Kitô dạy chúng ta rằng sự thật về chính chúng ta chỉ có thể được biết khi chúng ta chú ý tới Đức Kitô Phục Sinh. Chúng ta phải mở lòng ra với Lời Chúa và tiếp đón Ngài trong lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta phải để Ngài làm chúng ta ngạc nhiên bằng tình yêu của Ngài và chiếm giữ chúng ta bằng vẻ đẹp sáng ngời của nhân tính nơi Ngài. Chân phước Angela tin rằng Chúa muốn chúng ta nhận biết sự hiện diện của Ngài và cảm nghiệm tình yêu của Ngài trong chúng ta. Bà tin rằng bất cứ ai khao khát tìm kiếm Chúa Giêsu và nhận biết tình yêu Ngài trong linh hồn sẽ được ban các ơn này. Đồng thời, những người muốn trở nên anh em với Đức Kitô thì phải tạo khoảng trống trong cuộc sống để Đức Kitô bày tỏ chính Ngài theo cách Ngài muốn.

Tình yêu của Đức Kitô Phục Sinh dành cho mỗi chúng ta là điều thực tế nhất về cuộc đời chúng ta. Đó là tình yêu Chúa và không là sự bất xứng hạn chế chúng ta. Tình yêu Chúa dành cho chúng ta là nền tảng của sự xứng đáng nơi chúng ta. Đó là vì chúng ta muốn lắng nghe tiếng Chúa hơn là "cái tôi" của chúng ta khi chúng ta thinh lặng cầu nguyện, sống đơn giản, và phục vụ người nghèo – nhất là những người nghèo ở gần sát chúng ta. Đó là học cách chia sẻ mọi thứ trong cuộc đời với Đức Kitô khi chúng ta thường xuyên tham dự Thánh Lễ, vui nhận mọi thứ Ngài muốn ban cho chúng ta để chia sẻ chính mình và xứng đáng tiếp nhận Thánh Thể. Về điểm này, Chân phước Angela giúp chúng ta hiểu Đấng ở gần bên chúng ta hơn chính chúng ta, hiểu cách Ngài muốn chúng ta biết, không chỉ bằng trí óc mà bằng sự cảm nhận về sự hiện diện của Ngài. Qua tình bạn này, bà làm chứng về cách kỳ diệu khi chịu đau khổ và nghỉ ngơi trong cách Chúa muốn chia sẻ với những người mà Ngài gọi là bạn hữu.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ rcspiritualdirection.com)

Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót, 27-4-2014

Kính chuyển

Hồng

 
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 69 = DUONG EMMAU PDF Print E-mail

Chúa Nhật III Phục sinh A
ĐƯỜNG EMMAU
Cv 2,14.22-33; 1Pr 1,17-21; Lc 24,13-35

Danh họa Rembrandt là một họa sĩ nổi tiếng người Hà Lan vào thế kỷ XVII, trong các tác phẩm hội họa của ông, có một bức rất ấn tượng vẽ cảnh Đức Giêsu đang ngồi cùng bàn với hai môn đệ Emmau. Điều gây ấn tượng là vẻ mặt sung sướng vô ngần của hai môn đệ lúc họ nhận ra Chúa. Bức họa nổi tiếng này được đặt trong một nhà bảo tàng, và có một chuyên viên phụ trách giải thích ý nghĩa của nó cho các khách tham quan.
Lần kia một cặp vợ chồng vừa có đứa con duy nhất bị chết vì tai nạn. Họ buồn quá không biết làm gì nên cùng nhau đến nhà bảo tàng ấy để giải khuây. Họ cũng được người hướng dẫn ấy dẫn đến bức họa này. Ban đầu, hai vợ chồng chẳng buồn để ý tới những lời giải thích. Nhưng dần dần họ bị cuốn hút vào. Và cuối cùng, khi người hướng dẫn dứt lời thì họ tâm sự với người hướng dẫn: "Chúng tôi đã nghe nói về bức họa này nhiều lần, nhưng chưa lần nào chúng tôi được nghe người nào trình bày một cách hấp dẫn như ông. Chúng tôi thực sự xúc động".
Người hướng dẫn đáp : "Thực ra, không phải lần nào tôi cũng trình bày một cách xác tín như vậy đâu. Có lần tôi đã nói một cách rất hời hợt qua loa". Rồi ông ta kể : "Ba năm trước, vợ tôi bị ung thư, sức khoẻ cạn kiệt dần, rồi nàng chết một cách hết sức đau đớn. Tôi không thể nào chấp nhận nổi cái chết này, vì nàng là một người rất tốt, không đáng bị chết như thế. Tôi tưởng như cả thế giới sụp đổ. Tim tôi như vỡ tan. Nhưng vì bổn phận, tôi vẫn phải đến làm việc ở nhà bảo tàng này. Tôi giải thích ý nghĩa các bức họa một cách hết sức máy móc, vô hồn. Thế rồi một hôm, tôi chợt hiểu: bức họa này không chỉ liên can đến hai người môn đệ tuyệt vọng này, mà cả đến tôi nữa. Cũng như môn đệ, tôi đã tuyệt vọng và trở thành một người lữ hành cô đơn. Dù tôi là một người tín hữu, nhưng đối với tôi Đức Giêsu chỉ là một nhân vật mờ mịt trong những trang sách Tin Mừng. Tuy nhiên hôm đó tôi cảm thấy Ngài đang hiện diện thực sự bên cạnh tôi, Ngài ở bên tôi như một người bạn hiểu rất rõ mọi nỗi khổ đau của loài người. Từ lúc đó "mắt tôi mở ra, lòng tôi cháy bừng lên" như hai môn đệ ấy. Tôi đã tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình. Bởi vậy từ đó trở đi, mỗi khi tôi kể câu chuyện Emmau là tôi kể về chính cảm nghiệm của mình". Cặp vợ chồng không cầm được nước mắt : "Chúng tôi cũng thế. Chúng tôi đã 'mở mắt ra và thấy lòng mình cháy bừng lên'. Hôm nay chúng tôi cũng tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình, vì biết rằng Đức Giêsu phục sinh đang thực sự ở bên cạnh chúng tôi" (Flor McCarthy).
Trước những biến cố vừa xảy ra: Thầy Giêsu bị bắt, bị vác và đóng đinh chết trên thập tự... niềm tin vào Thầy bị sụp đổ, mọi sự liên quan đến Thầy đã chấm dứt... Các môn sinh thất vọng ê chề, sống trong sự sợ hãi (x. Ga 20,19). Tinh thần đang hoang mang thì các phụ nữ trong nhóm khi viếng mộ về đã loan tin "giật gân": họ thấy "mộ trống" (Ga 20,1-2) và thấy Thầy sống lại (x. Ga 20,18)... Sự sợ hãi càng tăng bội phần khi giữa dân Do thái đang lưu truyền nhau: "xác ông Giêsu bị các môn đệ ông ấy lấy cắp rồi phao tin Thầy của họ đã sống lại", tin này do các người lính canh mồ Chúa bị các thầy tư tế mua chuộc tung ra (x. Mt 28, 11-15), vì thế các ông luôn sống trong hoang mang, sợ hãi và một số đã rời bỏ Giêrusalem về quê như hai môn đệ về Emmau (x. Lc 24,13-23). Emmau là một ngôi làng cách Giêrusalem về phía Tây bắc khoảng 60 dặm, dăm - đơn vị đo lường của Hy lạp cổ (stadious-một dặm= 192m), tức khoảng 11,5 km.
Trên đường về Emmau, Đức Giêsu Phục sinh đã đên bên cạnh họ, nhưng họ không nhận ra Ngài. Theo thánh Augustinô, việc các môn đệ chậm nhận ra Chúa vì: "Họ quá băn khoăn lo lắng khi thấy Chúa bị treo trên thập tự đến độ họ đã quên đi lời Chúa hứa sẽ phục sinh" (Sermon 235.1). "Con mắt bị che khuất, họ không nhận ra Chúa cho đến khi Ngài bẻ bánh. Họ không còn nhìn ra sự thật là Chúa phải chết và sống lại. Không phải sự thật đã gạt gẫm họ. Nhưng chính họ không thể nhận ra sự thật" (The Harmony of the Gospels, 3.25.72). Chúa đã giải thích cho họ, dựa theo Kinh Thánh: Đấng Mêsia phải chịu đau khổ và chết để đi vào vinh quang. Sau đó theo lời nàn nỉ của hai môn đệ, Ngài cùng vào nhà với các ông. Ngài ngồi vào bàn, đọc lời chúc lành trên bánh, bẻ ra và trao cho các ông. Chính lúc ấy, hai môn đệ mới nhận ra Thầy, nhưng Ngài đã biến mất, để lại cho họ sự ngỡ ngàng trước tấm bánh được bẻ ra - dấu chỉ của sự hiện diện. Lập tức hai người đã trở vê Giêrusalem loan báo Chúa Phục sinh mà họ đã thấy và thuật lại tất cả điều đã xảy cho các môn đệ.
Trong toàn bộ diễn tiến của trình thuật lại đường về Emmau, chúng ta nhận thấy phác hoạ cuộc sống hàng ngày của chúng ta với trung tâm điểm là Thánh Lễ. Trên đường đời với những kinh nghiệm về khủng hoảng đức tin của mỗi người chúng ta đôi diện hằng ngày làm cho chúng ta mệt mỏi thất vọng và bào mòn niềm tin. Giữa những thủ thách khủng hoảng, Chúa Giêsu đến bên cạnh và giúp chúng ta như xưa Chúa làm cho hai môn đệ thanh luyện đức tin trong ý nghĩa của Kinh Thánh quy về Đấng Thiên Sai – Giêsu. Ngài dẫn đưa các ông và cho chúng ta vào thánh lễ - trung tâm điểm của cuộc đời mà Ngài luôn hiện diện: Tin mừng Luca nhấn mạnh các ông lắng nghe Lời Chúa: « Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người ». Sau đó Ngài cử hành Thánh Thể: Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho hai ông (Lc 22,19-20. Chúng ta thấy Chúa Giêsu đã làm như trong Bữa Tối cuối cùng lập ra Bí Tích Thánh Thể và truyền cử hành cho đến ngày tận thế chính là Thánh Lễ hằng ngày. Chúng ta thông hiệp vào bí tích Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu. Trong thánh lễ giữa cuộc đời chúng ta cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa Kitô Phục sinh giữa chúng ta.
Giữa những bước đi thăng trầm của cuộc đời, chúng ta xin cùng Chúa rằng: "Xin Thầy ở lại với chúng con vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn". Chiều về, là lúc bóng đêm buông xuống, và sự dữ cùng bóng tối hoàng hành: thế lực bóng tối mà chúng con phải chiến đấu. Vâng, Xin Chúa luôn ở lại với chúng con trên đường đời đầy chông gai và thử thách. Xin Chúa lưu lại với chúng con, để dạy chúng con "biết chỗi dậy" và "hồi sinh" như Thánh Vịnh dạy chúng con luôn xác tín: "Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh" (Tv 15,11a). Ngài hiện diện giữa cuộc sống hằng ngày. Chúng ta nhận ra sự hiện diện huyền nhiệm của Đấng Phục sinh và đón nhận Ngài bằng lòng tin: nhận ra Chúa Phục Sinh khi cử hành Thánh Lễ : khi nghe Lời và cử hành Bí Tích Thánh Thể, trong bí tích huyền nhiệm này, Ngài vẫn tiếp tục cầm bánh, tạ ơn Chúa, bẻ ra và trao cho chúng ta...
Đường Emmau tâm hồn đổi mới,
Mở trí lòng thấy Đấng Phục Sinh.
Gian nan trong bước đời mình,
Chúa cho con nghiệm được tình yêu thương (*).
Dù đang sầu khổ, thất vọng vì những mất mát ê chề trong cuộc sống. Dù đang quằn quại trong đau khổ của thể xác và tinh thần. Dù đang cảm thấy mình ở dưới vực thẳm của tội lỗi.... Bám vào Chúa đang hiện diện một cách huyền nhiệm
Thật thế, Chúa Giêsu trong hành trình Emmau – cuộc đời, Ngài đang nói với chúng ta trong trung tâm là Hiến lễ Thánh Thể: con đừng thất vọng. Và Ngài cùng đồng hành với chúng ta trên đường lữ hành. Với Ngài, chúng ta tiến bước về Giêrusalem khi mang tâm tình mới:
Phục hồi ánh sáng niềm tin,
Mầu nhiệm sự sống, hành trình đức tin (*).

Lm. Vinh Sơn scj
(*) Trich thơ Emmau - Con Đường Kỷ Niệm , Mặc Trầm Cung.

 
DOI SONG MOI TRONG THAN KHI # 90 = LE PHONG THANH PDF Print E-mail

Thánh lễ và bài giảng trong Lễ phong thánh

Đức Giáo Hoàng Gioan 23 và Gioan Phaolô 2

Thánh Lễ

Lúc quá 9 giờ 30, Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 tiến vào địa điểm hành lễ, giữa tiếng vỗ tay chào mừng của mọi người. Ngài ngồi ở ghế đầu dành cho các Hồng Y, phía sau đã có 700 GM trong phẩm phục đồng tế ngồi sẵn.

Các tín hữu cũng cảm động vỗ tay như vậy khi tổng thống Italia, ông Giorgio Napolitano, và phu nhân đến chào ngài, khi đến khu vực dành cho các vị nguyên thủ quốc gia.

10 giờ kém 5 phút, trong khi ca đoàn và mọi người hát kinh cầu các thánh, đoàn 150 Hồng Y đồng tế bắt đầu tiến từ bên trong đền thờ Thánh Phêrô tiến ra lễ đài, đi trước là các vị Thượng Phụ và TGM trưởng của các Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Đông phương. Đi sau cùng là ĐTC Phanxicô. Ngài xông hương bàn thờ xong và tiến lại chào vị tiền nhiệm Biển Đức 16 của ngài, trước khi tiến đến bái kính tượng Đức Mẹ và đến ngai tòa.

Nghi thức phong hiển thánh bắt đầu với 3 lần thỉnh cầu của ĐHY Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, nhân danh toàn thể Giáo Hội xin ĐTC ghi tên hai chân phước Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 vào Sổ Bộ các thánh.

Sau lời thỉnh cầu thứ nhất, ĐTC mời gọi toàn thể các tín hữu cầu xin Thiên Chúa toàn năng nhờ Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, nâng đỡ chúng ta bằng ơn thánh điều mà chúng ta sắp thực hiện.

Sau lời thỉnh cầu thứ hai, ĐTC mời gọi cộng đoàn hát kinh Cầu Xin Chúa Thánh Linh.

Sau lời thỉnh cầu thứ ba của ĐHY Tổng trưởng Bộ Phong thánh, ĐTC đã tuyên đọc công thức phong thánh:

Để tôn vinh Chúa Ba Ngôi cực thánh, để tuyên dương đức tin Công Giáo và tăng tiến đời sống Kitô, với quyền bính của Chúa Giêsu Kitô, của các thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô và của Chúng Tôi, sau khi suy nghĩ chín chắn, nhiều lần khẩn cầu ơn phù trợ của Chúa và lắng nghe ý kiến của nhiều anh em chúng tôi trong hàng Giám Mục,

chúng tôi tuyên bố và xác định

Chân Phước Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 là Hiển Thánh,

và chúng tôi ghi tên các ngài vào sổ bộ các Thánh

và qui định rằng trong toàn thể Giáo Hội, các Ngài được được tôn kính với lòng sùng mộ nơi Các Thánh. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
ĐTC vừa dứt lời, cộng đoàn vỗ tay nồng nhiệt và ca đoàn cùng cộng đoàn ca bài Jubilate Deo (Hãy tung hô Chúa, hãy hát mừng Chúa), trong khi đó, thánh tích của hai vị tân hiển thánh được rước lên cho ĐTC hôn kính trước khi đặt trên một giá nhỏ phía trước bàn thờ.

Thánh tích của Đức Gioan 23 là một mảnh da của Người,

Thánh tích của Đức Gioan Phaolô 2 là một ống nhỏ đựng máu của thánh nhân.

Trong bài giảng sau bài đọc Tin Mừng bằng tiếng La tinh và Hy lạp, ĐTC đã diễn giải bài Tin Mừng về việc Thánh Tôma tông đồ được Chúa Giêsu Phục Sinh mời gọi động chạm đến những vế thương để tin và đừng cứng lòng nữa. ĐTC nói đến lòng can đảm của hai vị thánh Giáo Hoàng không hổ thẹn về những vết thương của Chúa, ngoan ngoãn tuân theo Chúa Thánh Linh trong việc hướng dẫn Dân Chúa, và ĐTC đặc biệt cầu xin Đức Gioan Phaolô 2, vị Giáo Hoàng của gia đình, hướng dẫn hành trình của Thượng Hội đồng GM về gia đình.

Toàn văn bài giảng của ĐTC

"Nơi trọng tâm Chúa Nhật kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, mà Đức Gioan Phaolô 2 đã muốn gọi là Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, có những vết thương vinh hiển của Chúa Giêsu Phục sinh.

"Chúa đã tỏ các vết thương ấy lần đầu tiên khi Ngài hiện ra với các Tông Đồ, chính buổi chiều tối ngày sau ngày Sabát, ngày Phục sinh, nhưng chiều tối hôm ấy không có tông đồ Tôma; và khi nhưng vị khác kể lại với ông là đã thấy Chúa, ông trả lời là sẽ không tin nếu không nhìn thấy và động chạm đến các vết thương của Ngài. 8 ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra tại Nhà Tiệc Ly, giữa các môn đệ, và có cả Tôma; Ngài ngỏ lời với ông và mời ông chạm đến các vết thương của Ngài. Bấy giờ con người chân thành ấy, con người quen đích thân kiểm chứng, liền quỳ xuống trước Chúa Giêsu và thưa: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" (Ga 20,28).

"Những vết thương của Chúa Giêsu là cớ vấp phạm đối với đức tin, nhưng chúng cũng là điều kiểm chứng niềm tin. Vì thế nơi thân thể của Chúa Kitô Phục Sinh, những vết thương ấy không biến mất, nhưng tồn tại, vì những vết thương ấy là dấu chỉ trường tồn về tình thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, và chúng không thể thiếu được để tin nơi Thiên Chúa. Không phải để tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng để tin rằng Thiên Chúa là tình thương, là lòng từ bi, trung tín. Thánh Phêrô, nhắc lại Ngôn sứ Isaia, đã viết cho các tín hữu Kitô: "Từ những vết thương của Người, anh chị em được chữa lành" (1 Pr 2,24; Xc Is 53,5).

"Đức Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 đã can đảm nhìn những vết thương của Chúa Giêsu, động chạm đến những bàn tay bị thương và cạnh sườn của Chúa bị đâm thâu qua. Các vị đã không hổ thẹn vì thân thể của Chúa Kitô, không vấp phạm về Chúa, về thập giá của Ngài Is 58,7); không hổ thẹn vì thân mình của người anh em (Xc 58,7), vì nơi mỗi người đau khổ, các vị nhìn thấy Chúa Giêsu. Hai vị là những người can đảm, đầy ơn táo bạo (parresía) của Chúa Thánh Linh, và đã làm chứng cho Giáo Hội và thế giới về lòng từ nhân của Thiên Chúa, về lòng từ bi của Chúa.

Các vị đã là những linh mục, giám mục và giáo hoàng của thế kỷ 20. Các vị đã sống những thảm trạng, nhưng không để chúng lướt thắng.

Nơi các vị, Thiên Chúa mạnh mẽ hơn; niềm tin nơi Chúa Giêsu Đấng Cứu Chuộc con người và là Chúa tể của lịch sử mạnh mẽ hơn; nơi các vị sự gần gũi từ mẫu của Mẹ Maria mạnh mẽ hơn.

Nơi hai vị là những người chiêm ngắm các vết thương của Chúa Kitô và là chứng nhân về lòng từ bi của Chúa có một "niềm hy vọng sinh động", cùng với một "niềm vui khôn tả và vinh hiển" (1 Pr 1,3.8).

Niềm hy vọng và niềm vui mà Chúa Kitô phục sinh ban cho các môn đệ của Ngài, và không ai và không gì có thể làm cho họ bị thiếu những hồng ân ấy.

Niềm hy vọng và niềm vui phục sinh, được thanh luyện qua cái lò từ bỏ, loại trừ sự gần gũi tội lỗi cho đến tột cùng, đến độ cảm thấy buồn nôn vì chén đắng.

Đó chính là niềm hy vọng và niềm vui mà hai vị Thánh Giáo Hoàng đã lãnh nhận như hồng ân từ Chúa phục sinh và tiếp đến, các vị đã trao tặng dồi dào cho Dân Chúa, và được lòng biết ơn đời đời của họ.

"Niềm hy vọng và niềm vui này được cảm nghiệm trong cộng đoàn đầu tiên của các tín hữu ở Jerusalem, như sách Tông đồ công vụ kể lại (Xc 2,42-47).

Đó là một cộng đoàn trong đó nòng cốt của Tin Mừng được sống thực, nghĩa là tình thương, lòng từ bi, trong đơn sơ và huynh đệ.

"Và đó là hình ảnh Giáo Hội mà Công đồng chung Vatican 2 đã có trước mắt. Đức Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 đã cộng tác với Chúa Thánh Linh để phục hồi và canh tân Giáo Hội theo dạng thức nguyên thủy, dạng thức mà các thánh qua các thế kỷ đã mang lại cho Giáo Hội. Chúng ta đừng quên rằng chính các thánh đã làm cho Giáo Hội tiến bước và tăng trưởng.

Trong việc triệu tập Công đồng chung Vatian 2, Đức Gioan 23 đã chứng tỏ một thái độ ngoan ngoãn đối với Chúa Thánh Linh, đã để cho Chúa hướng dẫn, và đối với Giáo Hội, Người là một vị mục tử đối với Hội Thánh, một vị hướng đạo được hướng dẫn. Đó chính là một sự phục vụ cao cả Người dành cho Giáo Hội; Người là một vị Giáo Hoàng ngoan ngoãn tuân theo Chúa Thánh Linh.

"Trong việc phục vụ Dân Chúa, Đức Gioan Phaolô 2 là vị Giáo Hoàng của gia đình. Chính Người đã có lần nói là muốn được nhắc nhớ đến như vị Giáo Hoàng của gia đình. Tôi vui lòng nhấn mạnh điều đó trong lúc chúng ta đang sống hành trình Thượng HĐGM về gia đình và với các gia đình, một hành trình mà từ trời cao, chắc chắn Người đang tháp tùng và hỗ trợ. xin cả hai vị tân Hiển Thánh Mục Tử của Dân Chúa chuyển cầu cho Giáo Hội, để trong hai năm hành trình Thượng HĐGM này, Giáo Hội ngoan ngoãn tuân theo chỉ dạy của Chúa Thánh Linh trong việc phục vụ mục vụ gia đình.

Xin cả hai thánh nhân dạy chúng ta đừng coi các vết thương của Chúa Kitô như cớ vấp phạm, tập trung vào mầu nhiệm từ bi của Chúa,

luôn hy vọng, luôn tha thứ, luôn yêu thương".

--

 
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 68 = VE GALILE-DAN NGOAI PDF Print E-mail

> From: "Tinh Cao"
> Date: April 20, 2014 9:39:42 AM PDT

> Về Nguồn Galilêa - Chân Trời Dân Ngoại
> Đức Thánh Cha Phanxicô: Bài Giảng Lễ Vọng Phục Sinh 2014
>
> Phúc Âm về cuộc phục sinh của Chúa Giêsu Kitô được bắt đầu bằng hành trình của các phụ nữ đến mồ vào lúc rạng đông của ngày sau ngày Hưu Lễ. Họ đến mồ để tôn kính thân thể của Chúa, nhưng họ lại thấy nó đã được mở ra và trở nên trống không. Một vị thiên thần quyền uy mới nói với họ rằng: Đừng sợ! (Mt 28:5) và truyền cho họ hãy đi noí với môn đệ rằng Người đã sống lại từ trong kẻ chết, và Người thực sự đến Galilêa trước các vị (câu 7). Các phụ nữ vội vàng lên đường và trên đường đi thì đích thân Chúa Giêsu gặp gỡ họ mà bảo: Đừng sợ; hãy đi mà nói cho các môn đệ của Thày đến Galilêa; ở đó họ sẽ gặp Thày" (câu 10).
>
> Sau cái chết của Thày mình, các môn đệ đã bị phân tán; đức tin của các vị hoàn toàn bị rung chuyển, mọi sự dường như chẳng còn gì nữa, tất cả những gì các vị tin tưởng đều trở nên tan tành và những gì các vị hy vọng đều tiêu tan. Thế nhưng, bấy giờ tin tức của các phụ nữ, bất khả tín thay, lại được mang đến với các vị như một tia sáng trong tăm tối. Tin tức được loan truyền ấy là Chúa Giêsu đã sống lại như Người đã phán. Rồi còn lệnh Người truyền cho các vị phải đến Galilêa nữa; các phụ nữ nghe thấy điều này 2 lần, lần thứ nhất từ thiên thần và sau đó từ chính Chúa Giêsu: Hãy báo cho họ đến Galilêa; ở đó họ sẽ gặp Thày.
>
> Galilêa là nơi đầu tiên các vị được kêu gọi, nơi mọi sự được bắt đầu! Hãy trở về lại đó, trở về nơi các vị được gọi từ ban đầu. Chúa Giêsu đã bước đi dọc theo các bờ hồ khi những tay đánh cá ấy đang thả lưới. Người đã gọi các vị và các vị đã bỏ hết mọi sự mà theo Người (xem mathêu 4:18-22).
>
> Việc trở lại Galilêa nghĩa là ôn lại hết mọi sự theo chiều hướng thập giá và cuộc vinh thắng của thập giá. Là ôn lại hết mọi sự Chúa Giêsu giảng dạy, làm phép lạ, lập cộng đồng mới, những hứng thú cùng với việc bỏ hàng ngũ ra đi, thậm chí cả việc bội phản, để ôn lại hết mọi sự từ một tận cùng lại là một khởi điểm mới, từ tác động yêu thương cao cả này.
>
> Đối với cả từng người chúng ta nữa, cũng có một Galilêa ở vào khởi điềm cho cuộc hành trình của chúng ta với Chúa Giêsu. Việc đi đến Galilêa mang một ý nghĩa đẹp đẽ nào đó, nghĩa là tái nhận thức phép rửa của chúng ta như là một ngọn suối sống động, kín múc lấy một nghị lực mới từ nguồn mạch đức tin của chúng ta và cảm nghiệm Kitô hữu của chúng ta. Việc trở về Galilêa trên hết có nghĩa là trờ về với thứ ánh sáng rạng ngời mà nhờ đó ân sủng của Thiên Chúa đã chạm đến tôi ngay từ đầu của cuộc hành trình này. Từ ánh sáng ấy tôi có thể thắp lên một ngọn lửa cho hôm nay đây cũng như cho hết mọi ngày sống, và mang lại sức nóng cùng ánh sáng cho anh chị em của tôi. Ngọn lửa ấy làm bừng lên niềm vui nhẹ nhàng, một niềm vuị không thể bị mất đi bởi sầu đau và buồn khổ, một niềm vui tốt lành và êm dịu.
>
> Trong đời sống của hết mọi Kitô hữu, sau phép rửa cũng có một thứ Galiêa sống động hơn nữa, đó là cái cảm nghiệm của một cuộc hội ngộ riêng tư với Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã kêu gọi tôi theo Người và tham phần vào sứ vụ của Người. Bời thế, việc trở về với Galilêa nghĩa là trân quí trong lòng mình cái ký ức sống động về ơn gọi ấy, khi Chúa Giêsu đi qua đời tôi, thương hại nhìn vào tôi và xin tôi hãy theo Người (biệt chú của người dịch: câu này hoàn toàn phản ảnh câu tâm niệm của ĐTC "vì thương được chọn" xuất phát từ cảm nghiệm của ngài vào năm ngài 17 tuổi trước khi ngài dấn thân đáp lại tiếng Chúa goị và theo Chúa cho đến nay trong vai trò đại diện Người để dẫn dắt Giáo Hội hiện nay). Nó có nghĩa là làm sống lại ký ức về giây phút mà ánh mắt của Người chạm phải đôi mắt của tôi, lúc mà Người làm cho tôi cảm thấy rằng Người đã yêu thương tôi.
>
> Hôm nay, đêm nay, mỗi người chúng ta có thể đặt vấn đề là: Galilêa của tôi là gì? Galilêa của tôi ở đâu vậy? Tôi có nhớ nó hay chăng? Hay là tôi đã quên mất nó rồi? Phải chăng tôi đã bị lầm đường lạc lối nên quyên mất nó rồi? Chúa ơi, xin giúp con: xin hãy bảo cho con biết Galilêa của con là gì; vì Chúa biết rằng con muốn trở về đó để gặp gỡ Chúa và để cho con được tình thương của Chúa ấp ủ.
>
> Bài Phúc Âm của Lễ Phục Sinh rất là rõ ràng, ở chỗ chúng ta cần trở về đó, để thấy Chúa Giêsu phục sinh và để trở thành những nhân chứng cho việc phục sinh của Người. Không phải là vấn đề trở về đó theo thời gian; không phải là một thứ nhung nhớ. Mà là cuộc trở về với tình yêu ban đầu của chúng ta, để nhận lấy ngọn lửa đã được Chúa Giêsu thắp lên trên thế giới này và mang ngọn lửa ấy cho tất cả mọi dân nước, cho đến tận cùng trái đất.
>
> Một Galilêa của Dân Ngoại (Mathêu 4:15; Isaia 8:23)! Đó là chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; với ước muốn thiết tha được gặp gỡ, nào chúng ta hãy lên đường!
>
> Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo http://www.zenit.org/en/articles/pope-francis-homily-at-easter-vigil

 
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 67 = PHUC SINH PDF Print E-mail

Phục Sinh, thực tế hay huyền thoại
Tue, 15/04/2014 - 17:16
Tác giả:
JM. Lam Thy ĐVD.

PHỤC SINH – THỰC TẾ HAY HUYỀN THOẠI? (LỄ PHỤC SINH – Năm A)

Cho đến tận ngày nay biến cố Phục Sinh vẫn còn là một huyền thoại đối với con người chỉ thích được "thực mục sở thị" (trông thấy nhãn tiền). Không chỉ ở bên ngoài Ki-tô giáo, mà ngay trong Giáo Hội cũng vẫn còn không ít Tôma-thời-đại cứ đòi được "xỏ ngón tay vào lỗ đinh, thọc bàn tay vào cạnh sườn" Đức Giê-su mới chịu tin. Chuyện đó cũng dễ hiểu, vì bản chất con người là thế. Nói về một chuyện cách xa cả 20 thế kỷ, mà cứ đòi được trực diện quan sát thì quả là không tưởng! Đến ngay như người đương thời, nhất là những kẻ ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ với Đức Ki-tô, được "thực mục sở thị" mà khi biến cố xảy ra cũng không thiếu những suy nghĩ trái chiều.

Xin thử đặt mình vào thời điểm cách đây hơn 2000 năm, với một nhãn quan của một trong những người-còn-hoài-nghi, để nhìn vào hiện tượng "Giê-su Na-da-ret" qua biến cố Phục Sinh. Trước hết, ngay ở chính quê hương Na-da-ret, chàng thanh niên Giê-su là con ông thợ mộc Giu-se khiêm tốn và bà Maria nội trợ hiền lành, cũng không có tiếng tăm gì, chẳng mấy ai biết đến, thậm chí sau một thời gian dài đi xa trở về, chẳng được ai đón tiếp, đến nỗi chàng phải thốt lên: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi" (Mt 13, 57), rồi còn nói: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." (Mt 8, 20).

Những lời phát biểu của chàng, nếu không là những câu chuyện dụ ngôn khó hiểu, thì cũng chỉ là những lời tréo cẳng ngỗng, nếu không muốn nói là nghịch thường, phi lý. Chẳng hạn như: "Hãy để người chết chôn người chết" (Lc 9, 60); "Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng." (Mt 10, 34-35); "Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em". (Mt 5, 44); "Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được" (Mt 10, 39). Đó là chưa kể – nói theo đám kinh sư, luật sĩ Pha-ri-sêu – Người còn nói "phạm thượng" nữa (Lc 5, 21), dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa (Lc 22, 70; Ga 13, 34), rồi còn tự coi mình vừa là con lại vừa là Chúa của vua Đa-vit (Lc 20, 41-44 ). Chưa hết, về giao du, sinh hoạt, Người chỉ chuyên "ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi" (Mt 9, 10-11).

Nếu không được ở liền bên Đức Giê-su hàng ngày, mà chỉ được nghe thuật lại những lời nói và hành động như nêu trên, chắc chắn sẽ cho Người chỉ là một chàng trai tự phụ, đại ngôn vậy thôi. Đám kinh sư và luật sĩ Pha-ri-sêu chống đối Người cũng là vì thế. Khoan thử nói đến những người ở bên ngoài Giáo Hội, mà hãy nói thẳng vào những người đã tin và đi theo Đức Giê-su như tìm đến một cứu cánh cho cuộc đời. Họ đi theo Đức Giê-su vì tin rằng mình sẽ trở nên những kẻ "lưới người như lưới cá". Rồi thì ngày ngày được nghe lời dạy bảo, được chứng kiến biết bao nhiêu phép lạ, mà vẫn còn bán tín bán nghi (khi thì coi Thầy mình đúng là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật; khi thì lại coi Thầy là ma, là bị quỷ ám – Mc 3, 22 ; Lc 24, 37-39 ; Ga 8, 52 ; 10, 20...). Theo Thầy ròng rã 3 năm liền mà đến giờ phút quyết định, thì bỏ mặc Thầy mướt mồ hôi máu khi cầu nguyện trên núi Cây Dầu, còn mình thì thản nhiên ngủ khì (Mt 26, 36-45). Đến khi Thầy bị bắt giải đi thì chẳng thấy ai đi theo, ngoài một Phê-rô lảng vảng bên ngoài nhà Cai-pha, để rồi thì chối phăng Thầy 3 lần liền trong một đêm chỉ vì một đứa tớ gái vặn hỏi.

Trên đường lên Núi Sọ, cũng chẳng thấy môn đệ nào đi gần bên (để được như Si-mon – một dân quê xa lạ – vác đỡ thập giá, hoặc như một Vê-rô-ni-ca trao khăn cho Người lau mặt đầy máu), nếu có đi theo cũng chỉ ở xa xa hoặc lẫn trong đám người hiếu kỳ. Cho đến khi Đức Giê-su chết trên thập giá và được mai táng, thì hầu như chẳng còn một ai tin rằng Thầy mình sẽ sống lại. Ngay đến sáng ngày thứ ba, các phụ nữ – sau khi được chứng kiến Đức Ki-tô Phục Sinh hiện ra – đến báo tin cho các môn đệ (trong đó có Phê-rô) mà các ngài vẫn còn chưa tin hẳn và một lần nữa lại tưởng Người là ma! ("Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin... Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: "Bình an cho anh em!" Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma" – Lc 24, 11...37). Thậm chí cho đến lúc trắng đen rõ ràng rồi, vậy mà vẫn còn một Tô-ma "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 20, 25).

Tuy nhiên, chính cái mâu thuẫn nội tại trong con người các môn đệ lại là một bằng chứng sống động nhất cho biến cố Phục Sinh. Thật thế, khi người ta mang một tâm trạng hoài nghi thì khó lòng làm cho người ta tin tưởng được. Chẳng thế mà thế giới đã có cả một chủ thuyết hoài nghi hiện diện (không tin vào bất cứ sự gì, nên sống hôm nay không cần biết đến ngày mai). Nhưng nếu đến một lúc nào đó, được "nghe", được "thấy tận mắt"" ("thực mục sở thị"), được "chiêm ngưỡng", tay được "chạm đến" (như trường hợp Gio-an thánh sử – 1Ga 1, 1), tâm trạng hoài nghi thực sự được gỡ bỏ; thì lúc đó niềm tin của họ sẽ kiên định không gì lay chuyển nổi. Cho nên có thể nói: Nếu không vì cái tâm trạng hoài nghi đã từng dằn vặt tâm trí trước đó, thì khi được gột rửa (được thanh tẩy "trong Thánh Thần và lửa" – Mt 3, 11), niềm tin của các môn đệ tiên khởi không thể kiên định được đến độ dám đem cả sinh mạng của mình ra để làm chứng cho mầu nhiệm Phục Sinh. Nói cách khác, đức tin có vượt qua được thử thách mới trở nên kiên định (Gc 1, 3), vàng được thử lửa (1Pr 1, 7) mới thật sự là vàng ròng.

Đến ngay như Đức Giê-su Thiên Chúa nếu không trải qua cuộc Khổ Nạn (với những vết đòn roi trên thân xác, mão gai trên đầu, dấu đinh ở chân tay và nhất là vết thương ở cạnh sườn bị lưỡi đòng tội ác đâm thấu con tim) thì sự Phục Sinh của Người cũng chẳng còn ý nghĩa gì. Vì thế, vấn đề đặt ra với người Ki-tô hữu ngày hôm nay khi bước vào Tuần Thánh, chuẩn bị cử hành Tam Nhật Vượt Qua, không chỉ là tưởng niệm cuộc khổ nạn của Đức Giê-su Ki-tô và ăn mừng Lễ Phục Sinh đánh dấu mầu nhiệm Vượt Qua vinh hiển của Người, mà còn là làm sao vượt qua được chính mình trên hành trình dương thế, ngõ hầu tiến về được quê Trời vui hưởng hạnh phúc đời đời. Một cách cụ thể, chúng ta chỉ có thể đạt được ước vọng đó khi chúng ta được "cùng chết với Đức Ki-tô" (thử thách, thử lửa). Và chỉ có "cùng chết với Đức Ki-tô" thì mới được "cùng sống lại với Người". Cụ thể hơn, cần phải vượt qua được bản chất "sợ chết" cố hữu của con người. Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi loài người, vậy thì tại sao loài người lại không sẵn sàng chết vì tội lỗi của chính mình, để hy vọng được thực sự "sống lại" trong Nước Trời vinh quang?

Mỗi năm chỉ có một Mùa Chay 40 đêm ngày hãm mình ép xác, ăn năn sám hối. Mỗi Mùa Chay cũng lại chỉ có một lần cử hành Tam Nhật Vượt Qua. Ngoài ý nghĩa trọng đại của Tam Nhật Vượt Qua như đã dẫn ở đầu bài viết, tôi cứ muốn nghĩ thêm rằng tôi phải thực hành (không chỉ là cử hành) cho kỳ được công cuộc vượt qua được Mùa Chay của bản thân tôi, của cuộc đời tôi. Và nhất là làm thế nào để mỗi năm thêm một lần tôi ghi dấu được cuộc vượt qua bằng một cái mốc thời gian trong cuộc đời. Tôi phải sống làm sao cho đúng với ý nghĩa "sống là chấp nhận vượt qua, vượt qua mọi cám dỗ ngọt ngào, mọi đam mê thấp kém, vượt qua mọi gian lao nguy hiểm, mọi thử thách nghiệt ngã – vượt qua được chính mình". Cuộc sống của tôi không chỉ là mỗi năm một lần cử hành Tam Nhật Vượt Qua, mà phải là thực hành liên lỉ cuộc "bách-niên-vượt-qua", cho tới ngày tới được cùng đích của cuộc đời. Ở đó, chính Người-đã-chết-cho-tôi, đã Vượt-Qua-sự-chết-vì-tôi, sẽ dang rộng vòng tay đón nhận tôi để tôi được cùng-sống-lại-với-Người.

Có thể ai cũng đã quen với lối diễn tả sống đức tin vào sự Phục Sinh là chết đi con người cũ của mình để sống đời sống mới trong Thánh Thần. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: Nói thì thật dễ, và chính vì tưởng dễ như vậy nên mới vênh vang tự đắc; nhưng làm thế nào để có thể "chết đi con người cũ của mình" mới là thiên nan vạn nan. Và vì thế, để thực hiện sống niềm tin Phục Sinh cách thực tế và sống động, chỉ có một bí quyết, đó là: "Lý do khiến anh em vênh vang chẳng đẹp đẽ gì! Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Quả vậy, Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ." (1Cr 5, 6-8).

Vâng, người Ki-tô hữu "ăn mừng đại lễ Phục Sinh" cũng có nghĩa là sống mầu nhiệm Phục Sinh, sống với "lòng tinh tuyền và chân thật". Cuộc đời Ki-tô hữu là một tiến trình "loại bỏ men cũ để trở thành bột mới". Cuộc loại bỏ và trở thành ấy diễn ra trong mọi quyết tâm và nỗ lực là "trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô" ("Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết." – Pl 3, 10-11).

Tóm lại, để sống trọn hảo Mùa Chay thánh 2014, người Ki-tô hữu hãy mau mắn đáp lại mong ước của vị Cha Chung (ĐTC Phan-xi-cô): "Anh chị em thân mến, ước gì Mùa chay này thấy được toàn thể Giáo Hội sẵn sàng và mau mắn làm chứng cho những người đang sống trong tình trạng lầm than vật chất, luân lý và tinh thần: làm chứng về sứ điệp Tin Mừng, được tóm tắt trong việc loan báo tình thương của Chúa Cha từ bi, sẵn sàng ôm lấy mỗi người trong Chúa Ki-tô. Chúng ta có thể thi hành điều ấy theo mức độ chúng ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, Đấng đã trở nên nghèo và làm cho chúng ta được giàu sang bằng cái nghèo của Ngài. Mùa Chay là mùa thích hợp để cởi bỏ, làm cho chúng ta tự hỏi đâu là điều chúng ta có thể chịu thiếu để giúp đỡ và làm cho người khác trở nên phong phú nhờ cái nghèo của chúng ta."

Quả thật "Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại." (Rm 6, 4-5). Và chỉ đến khi đó, tôi mới thật sự vui mừng mà hoà chung tiếng hoan ca với mọi người: Chúa đã sống lại hiển vinh! Alleluia! Alleluia! Ôi, lạy Chúa! Con đã tự ru mình vào những cám dỗ ngọt ngào của ba thù, đã tự kết án mình, đã chết vì chính tội lỗi của con. Xin cho con vượt qua được mọi nỗi thống khổ trần ai, vượt qua được chính mình, để được cùng sống lại với Ngài trong ngày sau hết. Amen. Alleluia! Alleluia!

JM. Lam Thy ĐVD.

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 Next > End >>

Page 30 of 39