mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6814
mod_vvisit_counterHôm Qua6110
mod_vvisit_counterTuần Này6814
mod_vvisit_counterTuần Trước43238
mod_vvisit_counterTháng Này53587
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12249820

We have: 98 guests online
Your IP: 54.84.236.168
 , 
Today: Dec 09, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Gặp Gỡ Chúa Kitô Trong Thánh Thần
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 71 = PDF Print E-mail

Gặp gỡ ĐỨC KI-TÔ (Chúa Nhật III Phục Sinh, năm A) - Trầm Thiên Thu
May 2 at 10:33 PM

(Chúa Nhật III Phục Sinh, năm A)

Sống trên đời, chúng ta đi được khoảng cách xa bao nhiêu cũng không quan trọng bằng những người chúng ta gặp dọc đường. Quả thật, sự gặp gỡ rất quan trọng. Sống ở đời không thể không gặp gỡ nhau. Gặp nhau là nhìn thấy nhau, và thường liên quan cuộc đối thoại – có thể đối thoại bằng ngôn ngữ, bằng ánh mắt, bằng động thái, bằng cử chỉ, thậm chí người ta vẫn có thể đối thoại ngay trong sự im lặng.

Gặp gỡ nhau để làm gì? Gặp nhau để yêu thương, để chia sẻ, để giúp đỡ, để biến đổi nhau,... Gặp người đời mà còn cần thiết như vậy huống chi được gặp gỡ Thiên Chúa, gặp gỡ chính Đức Kitô Phục Sinh.

Cuộc gặp gỡ ấy đã được Lm Ns Yuse Tiến Lộc (DCCT) mô tả: "Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình, gặp gỡ Đức Kitô đón nhận ơn tái sinh, gặp gỡ Đức Kitô chân thành mình gặp mình, gặp gỡ Đức Kitô nảy sinh tình đệ huynh" (Gặp Gỡ Đức Kitô).

Gặp gỡ Đức Kitô là một dạng được sống lại – tâm linh hoặc thể lý. Trường hợp sống lại của La-da-rô (Ga 11:1-44), em trai của Mác-ta và Ma-ri-a, và con trai bà góa thành Na-in (Lc 7:11-17) chỉ là sống lại về thể lý bình thường, không đổi khác và sẽ lại chết, nhưng trường hợp sống lại của Đức Kitô là sống lại đặc biệt và không thể chết nữa. Thân xác nhục thể và thân xác phục sinh vẫn là một, nhưng chắc chắn khác thường, rất kỳ diệu, vì thế mà chính Chị Ma-ri-a Mác-đa-la và hai môn đệ trên đường Em-mau đều không nhận ra Thầy Giêsu của mình. Chị Ma-ri-a Mác-đa-la chỉ nhận ra Ngài khi Ngài gọi bằng giọng thân thương quen thuộc, hai môn đệ kia chỉ nhận ra Ngài khi Ngài làm động tác quen thuộc: Bẻ bánh.

Thậm chí còn hơn vậy, khi các tông đồ thấy Chúa hiện ra đứng ở giữa và chúc bình an cho họ mà họ lại kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma và ngờ vực. Chúa cho họ rờ vào Ngài, họ thấy Ngài vẫn có xương thịt và Ngài còn ăn khúc cá nướng họ đưa cho, lúc đó họ mới thấy mình không hề mộng du và tin là Thầy mình đã sống lại thật (Lc 24:36-43). Thân xác phục sinh khác thật và lạ thật đấy, giống như xưa mà lại không như xưa. Thảo nào chẳng ai nhận ra Ngài là Đức Kitô Phục Sinh!

Và rồi bất kỳ ai gặp gỡ Đức Kitô thì đều biến đổi từ trong ra ngoài, biến đổi hoàn toàn, biến đổi thực sự chứ không "có vẻ". Thấy ai biến đổi thì biết chắc người đó gặp được Đức Kitô. Biến đổi ở đây phải hiểu theo nghĩa tích cực, khiêm nhường và can đảm làm chứng về Chúa, chứ không "tỏ vẻ biến đổi" để được người khác khen ngợi. Cuộc đời các thánh đã cho thấy điều đó, họ biến đổi mau chóng và lạ lùng đến nỗi bị người khác nghi ngờ. Thế nhưng sự thật vẫn là sự thật, chân lý mãi là chân lý. Không thật thì không bao giờ có thể giả vờ hoặc ra vẻ như thật được!

Tông đồ Phêrô, người được Thầy Giêsu tín cẩn trao trọng trách làm Giáo hoàng tiên khởi, và đã từng nói mạnh là dám liều chết với Thầy, nhưng rồi chính con người ấy đã chạy trốn vì khiếp nhược khi Thầy bị bắt, đã chối bỏ Thầy vì nhát đảm, thế nhưng sau khi ông đã gặp được Đức Kitô Phục Sinh thì ông khác hẳn, không còn nhát đảm như trước. Và rồi một hôm, ông Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một (không còn Giu-đa Ít-ca-ri-ốt), và lớn tiếng nói với họ: "Thưa anh em, miền Giu-đê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời tôi nói đây" (Cv 2:14).

Ông Phêrô dõng dạc và thao thao bất tuyệt: "Thưa đồng bào Ít-ra-en, xin nghe những lời sau đây. Đức Giêsu Na-da-rét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. Quả vậy, vua Đa-vít đã nói về Người rằng: Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu, để tôi chẳng nao lòng. Bởi thế tâm hồn con mừng rỡ, và miệng lưỡi hân hoan, cả thân xác con cũng nghỉ ngơi trong niềm hy vọng. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước Thánh Nhan" (Cv 2:22-28).

Một Phêrô hôm nay hoàn toàn biến đổi chứ không còn là một Phêrô hôm qua. Một nhân chứng sống động, một nhân chứng thật. Khi đã biết đúng cái gì là thật thì người ta không còn sợ bất cứ thứ gì khác, kể cả cái chết. Ông Phêrô nói tiếp với giọng quả quyết: "Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đa-vít rằng: người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống: đó là điều anh em đang thấy, đang nghe" (Cv 2:29-33).

Thiên Chúa rất vui khi chúng ta hoàn toàn tâm phục khẩu phục Ngài, nói theo ngôn ngữ thời nay là "triệt buộc". Nghe chừng miễn cưỡng nhưng không phải vậy, vì đó là cách "triệt buộc" của tình yêu, của Lòng Chúa Thương Xót. Ngài làm vậy để chúng ta hoàn toàn tín thác nơi Ngài và chúng ta được lợi ích là hưởng nhờ Lòng Thương Xót khôn lường của Ngài. Lúc đó, chúng ta sẽ vui mừng thân thưa: "Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc?" (Tv 15:1-2).

Tại sao? Vì chúng ta biết chắc chỉ có Thiên Chúa mới thực sự là cứu cánh và là cùng đích: "Lạy Chúa, Ngài là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ" (Tv 16:5). Do đó, chúng ta có thể can đảm thề hứa: "Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy, ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con. Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!" (Tv 16:7-11). Niềm tin tưởng tuyệt vời quá, niềm tín thác đẹp biết bao!

Khi tin tưởng nhau, người ta có thể gặp gỡ nhau. Tuy nhiên, phàm nhân thường có mức độ ưu tiên khác nhau, và thường thì ai "ngon" hơn sẽ được "ưu tiên" hơn – "ngon" hơn nhờ "dễ nhìn" hơn người, giàu có hơn người, "vai vế" hơn người,... Thế nhưng Thiên Chúa không hề như vậy, đừng lấy cớ là "quen biết" Ngài nhiều (đi lễ nhiều, đọc kinh nhiều, cầu nguyện nhiều, làm từ thiện nhiều, làm việc tông đồ nhiều,...) mà tưởng mình "ngon" hơn người khác.

Thánh Phêrô nói thẳng: "Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này" (1 Pr 1:17). Rất rõ ràng, rất rạch ròi, rất thẳng thắn, rất công bình.

Thánh Phêrô giải thích thêm: "Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa" (1 Pr 1:18-21). Nghe có vẻ "dài dòng" một chút, nhưng lại không thấy thừa chút nào.

Tin Đức Giêsu chịu chết làm rúng động dân chúng, tin đó chưa đủ lắng xuống thì tin Ngài phục sinh lại tiếp tục khuấy động lòng người. Chuyện lạ này nối tiếp chuyện lạ khác. Nhưng cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến làng Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Họ cũng thấy thất vọng vì không biết tương lai ra sao, thôi thì về quê cắm câu cho chắc ăn, chứ giờ thì chưa biết chuyện ngã ngũ thế nào.

Trình thuật Lc 24:13-35 cho biết rằng đang lúc họ vừa đi đường vừa trò chuyện và bàn tán, chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ, nhưng họ không hề nhận ra Ngài. Ngài "giả nai" mà hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?". Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu vì thấy ông khách lạ này là người vô tình nhất thế gian rồi, vì chuyện xảy ra rùm beng khắp nơi mà ông ta chẳng hay biết gì sao?

Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay". Đức Giêsu vẫn tỏ vẻ "vô tư" nên hỏi họ: "Chuyện gì vậy?". Họ kể lại vụ ông Giêsu Na-da-rét là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân, thế mà các thượng tế và thủ lãnh đã kết án tử hình cho Ngài, rồi đóng đinh Ngài vào thập giá. Họ bảo trước đây họ vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en, thế nhưng những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Họ còn bảo họ cũng thấy kinh ngạc khi mấy người đàn bà ra mộ hồi sáng sớm, nhưng không thấy xác Ngài đâu cả, mấy bà còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo Ngài vẫn sống. Họ kết luận: "Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Ngài thì họ không thấy".

Bấy giờ Đức Giêsu nói với hai ông: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?". Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Ngài giải thích cho hai ông những gì liên quan Ngài trong tất cả Sách Thánh. Thế mà hai ông vẫn chưa hết "ngu đột xuất" đấy!

Chúa Giêsu trách các ông "chậm tin" mà khiến chúng ta phải giật mình. Thật vậy, cuộc sống đời và đạo cứ hằng ngày trôi qua, chúng ta cứ sống theo hoàn cảnh mình riết thành quen, đến nỗi mọi thứ trở thành như một phản xạ, và rồi hầu như cũng mất luôn cảm xúc. Cứ thế và cứ thế, thậm chí việc làm dấu Thánh Giá cũng như một hành động của con robot được lập trình sẵn. Và chúng ta vẫn cho rằng mình đang sống đức tin, nhưng rồi gặp chuyện gì không xuôi xắn "như ý" mình thì chúng ta lại... ngại ngần, hóa ra chúng ta vẫn "chậm tin" lắm!

Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa, nhưng họ nài ép Ngài ở lại với họ vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn. Chúa Giêsu đồng ý. Khi ăn tối, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra vì thấy hành động này quen lắm, mới vài ngày thôi mà. Thế là họ nhận ra Thầy Giêsu, nhưng rồi Ngài lại biến mất. Họ gãi đầu gãi tai và bảo nhau: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?".

Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: "Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn". Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Ngài bẻ bánh. Thế là mọi vấn đề được giải tỏa, không thèm về quê nữa!

Chữ "gặp gỡ" của Việt ngữ hay lắm: GẶP để GỠ chuyện gì hoặc việc gì đó. GẶP thì mới GỠ được, KHÔNG GẶP thì KHÔNG GỠ được. Những người được gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh, dù là nam hay nữ, họ đều biến đổi hoàn toàn, thay đổi cả con người từ trong ra ngoài. Họ được "gặp" Đức Kitô Phục Sinh và được Ngài "gỡ" mọi khúc mắc của con người cũ để trở nên con người mới hoàn toàn. Ai cũng khác hẳn!

Lạy Thiên Chúa, xin cho chúng con nhận thấy Chúa trong bất kỳ ai mà chúng con gặp, nhất là nơi những người hèn mọn, và xin cho mọi người gặp chúng con cũng nhận thấy Chúa nơi chúng con. Xin cho chúng con biết cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời-mình rồi tạ ơn Chúa, bẻ ra, trao cho mọi người, và can đảm làm nhân chứng về Đức Kitô Phục Sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển

Hồng

 
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 70 = GAP CHUA TRONG KINH NGUYEN PDF Print E-mail

Gặp Chúa Phục Sinh trong kinh nguyện

Chúa Giêsu đã hứa: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho tới tận thế" (Mt 28:20).

Đó là lời cuối cùng của Đức Kitô Phục Sinh nói với các Tông Đồ trước khi Ngài về Trời. Lời đó vẫn sống động trong những lúc chúng ta gặp Con Thiên Chúa ngày nay. Vì Ngài không bỏ chúng ta và vẫn hành động trong thế giới, Ngài làm cho lời cầu nguyện của chúng ta thành cuộc đối thoại với Ngài, trong tình yêu kỳ diệu mà Ngài mở ra, Ngài luôn hành động để giải thoát chúng ta khỏi sự tức giận và kiêu ngạo. Bằng những cách nổi bật nhất, các thánh và các nhà thần bí đã có các dạng gặp gỡ kỳ diệu và làm thay đổi cuộc sống, và chứng cớ của họ mời gọi chúng ta cũng tìm kiếm Ngài như vậy.

Trong Tuần Thánh khoảng 700 năm trước, Chân phước Angela di Foligno (1248-1309) đã được ơn thanh tẩy và đào sâu lòng sùng kính đối với Thiên Chúa. Đó là riêng tư và đặc biệt mà bà mời gọi mỗi chúng ta tìm kiếm ân sủng này cho chúng ta. Điều đó cũng rất cần cho bất cứ ai yêu mến Chúa.

Bà mô tả cuộc gặp gỡ Chúa theo dạng Lời Chúa nói trực tiếp với bà trong sâu thẳm linh hồn. Chỉ có sức mạnh của sự thật mới có thể làm như vậy, điều Thiên Chúa mở ra cho bà biết khiến bà cảm thấy lòng ăn năn vô cùng và cảm thấy đau thắt ngực. Tuy nhiên, những lời Chúa nói với bà không gay gắt mà rất dịu dàng. Chúa-Giêsu-chịu-đóng-đinh chân thành nói với bà khiến bà muốn đến với Ngài: "Tình yêu của Ta dành cho con không là điều giả dối".

Trong đời sống tâm linh của bà lúc này, bà là người khổ hạnh, dành nhiều thời gian để cầu nguyện. Trong Tuần Thánh đó, bà không nghĩ tới thứ gì khác để bà có thể hoàn toàn tập trung trước sự hiện diện của Đức Kitô trong mầu nhiệm cứu độ. Khi bà nghe những lời đó vang lên trong sâu thẳm của linh hồn, bà hiểu được lý do mà chúng ta tin Con Thiên Chúa mang nhân tính và khiêm nhường chấp nhận mọi dạng thiếu thốn và đau khổ.

Nhờ "chấp nhận" nhân tính, Ngài làm cho nhân tính của chúng ta mang ý nghĩa mới, ý nghĩa cứu độ mà chúng ta có thể nhận thức về sự thật của tình yêu Chúa dành cho chúng ta. Tình yêu Chúa làm vui mừng khi hoàn tất công việc trong giới hạn của sự nỗ lực yêu thương. Đó là vì Ngài muốn nên giống chúng ta — đó là dấu chứng của tình bạn hữu đích thực. Bạn bè muốn giống nhau và muốn vào trong thế giới của nhau. Khi mặc lấy nhân tính, Chúa Giêsu tìm được cách vào trong thế giới khốn khổ của chúng ta mà qua lời cầu nguyện, chúng ta có thể nghe tiếng Chúa-Giêsu-chịu-đóng-đinh mời gọi chúng ta vào trong thế giới vinh quang của Ngài, đó là thế giới vô tận.

Chúng ta khả dĩ nhận biết tình yêu của Chúa Giêsu, không phải vì những gì chúng ta đạt được, mà vì Chúa thực sự yêu thương chúng ta ngay trong lúc này, qua nhân tính chịu đóng đinh và nhân tính phục sinh. Nếu sự thiếu thốn và đau khổ làm cho khó xác định sự hiện hữu của tình yêu chiến thắng này, Ngài vẫn luôn ở gần chúng ta. Khi chúng ta phải đối diện với những điều đó, ngay cả cái chết, chúng ta vẫn không bao giờ cô đơn. Tình yêu của Chúa Phục Sinh dành cho mỗi chúng ta, thực sự chứ không mơ hồ hoặc ảo tưởng, điều đó thật hơn cả sự thật. Ngài luôn ở với chúng ta... mãi cho tới tận thế.

Các sự thật đó tràn ngập Chân phước Angela trong lúc bà nghe Chúa Giêsu nói riêng với bà. Bà biết Chúa nối kết với bà, tình yêu của Ngài dành cho bà, những lời đó chiếm cả tâm hồn bà theo cách mới. Bà nhận biết đau khổ và nhận biết tình yêu thiếu chân thật bà dành cho Chúa Giêsu. So sánh với tình yêu mà Chúa dành cho bà, bà nhận biết tình yêu của bà chưa thực sự là tình yêu. Chấp nhận sự thật này làm cho bà tôn thờ Chúa bằng cả tâm hồn. Chúa Giêsu không bỏ bà cô đơn trong sự hối hận đó. Ngài tiếp tục tái xác nhận rằng bà không bao giờ xa cách Ngài: Ngài giữ bà ở gần Ngài qua mọi cố gắng của bà trong suốt đời. Thật vậy, Ngài đã an ủi bà bằng cách giải thích: "Ta ở bên con nhiều hơn con ở bên chính con".

Điều đó có ý nghĩa gì?

Thứ nhất, chúng ta thực sự không biết rõ chính mình. Thật vậy, chúng ta là bí ẩn đối với chúng ta nhưng là bí ẩn đối với Thiên Chúa. Trong ánh sáng của tình yêu Chúa, chúng ta biết nhờ đức tin, có những cuộc đối thoại với chính mình mà chúng ta phải từ bỏ. Chúng ta không nên tham dự vào cuộc đối thoại đó vì chúng ta tự thương mình. Chúng ta cũng không nên tham dự vào cuộc đối thoại nội tâm mà "cái tôi" của chúng ta bảo chúng ta quan trọng. Không cuộc đối thoại nào bằng tiếng Chúa trong sâu thẳm tâm hồn của chúng ta. Không có tiếng nói nào biết sự thật về chính chúng ta trước mặt Đức Giêsu Kitô. Không có tiếng nói nào hiểu cách Ngài khuyến khích chúng ta và muốn chia sẻ mọi điều với chúng ta.

Thứ nhì, cuộc gặp gỡ của Chân phước Angela di Foligno với Đức Kitô dạy chúng ta rằng sự thật về chính chúng ta chỉ có thể được biết khi chúng ta chú ý tới Đức Kitô Phục Sinh. Chúng ta phải mở lòng ra với Lời Chúa và tiếp đón Ngài trong lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta phải để Ngài làm chúng ta ngạc nhiên bằng tình yêu của Ngài và chiếm giữ chúng ta bằng vẻ đẹp sáng ngời của nhân tính nơi Ngài. Chân phước Angela tin rằng Chúa muốn chúng ta nhận biết sự hiện diện của Ngài và cảm nghiệm tình yêu của Ngài trong chúng ta. Bà tin rằng bất cứ ai khao khát tìm kiếm Chúa Giêsu và nhận biết tình yêu Ngài trong linh hồn sẽ được ban các ơn này. Đồng thời, những người muốn trở nên anh em với Đức Kitô thì phải tạo khoảng trống trong cuộc sống để Đức Kitô bày tỏ chính Ngài theo cách Ngài muốn.

Tình yêu của Đức Kitô Phục Sinh dành cho mỗi chúng ta là điều thực tế nhất về cuộc đời chúng ta. Đó là tình yêu Chúa và không là sự bất xứng hạn chế chúng ta. Tình yêu Chúa dành cho chúng ta là nền tảng của sự xứng đáng nơi chúng ta. Đó là vì chúng ta muốn lắng nghe tiếng Chúa hơn là "cái tôi" của chúng ta khi chúng ta thinh lặng cầu nguyện, sống đơn giản, và phục vụ người nghèo – nhất là những người nghèo ở gần sát chúng ta. Đó là học cách chia sẻ mọi thứ trong cuộc đời với Đức Kitô khi chúng ta thường xuyên tham dự Thánh Lễ, vui nhận mọi thứ Ngài muốn ban cho chúng ta để chia sẻ chính mình và xứng đáng tiếp nhận Thánh Thể. Về điểm này, Chân phước Angela giúp chúng ta hiểu Đấng ở gần bên chúng ta hơn chính chúng ta, hiểu cách Ngài muốn chúng ta biết, không chỉ bằng trí óc mà bằng sự cảm nhận về sự hiện diện của Ngài. Qua tình bạn này, bà làm chứng về cách kỳ diệu khi chịu đau khổ và nghỉ ngơi trong cách Chúa muốn chia sẻ với những người mà Ngài gọi là bạn hữu.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ rcspiritualdirection.com)

Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót, 27-4-2014

Kính chuyển

Hồng

 
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 69 = DUONG EMMAU PDF Print E-mail

Chúa Nhật III Phục sinh A
ĐƯỜNG EMMAU
Cv 2,14.22-33; 1Pr 1,17-21; Lc 24,13-35

Danh họa Rembrandt là một họa sĩ nổi tiếng người Hà Lan vào thế kỷ XVII, trong các tác phẩm hội họa của ông, có một bức rất ấn tượng vẽ cảnh Đức Giêsu đang ngồi cùng bàn với hai môn đệ Emmau. Điều gây ấn tượng là vẻ mặt sung sướng vô ngần của hai môn đệ lúc họ nhận ra Chúa. Bức họa nổi tiếng này được đặt trong một nhà bảo tàng, và có một chuyên viên phụ trách giải thích ý nghĩa của nó cho các khách tham quan.
Lần kia một cặp vợ chồng vừa có đứa con duy nhất bị chết vì tai nạn. Họ buồn quá không biết làm gì nên cùng nhau đến nhà bảo tàng ấy để giải khuây. Họ cũng được người hướng dẫn ấy dẫn đến bức họa này. Ban đầu, hai vợ chồng chẳng buồn để ý tới những lời giải thích. Nhưng dần dần họ bị cuốn hút vào. Và cuối cùng, khi người hướng dẫn dứt lời thì họ tâm sự với người hướng dẫn: "Chúng tôi đã nghe nói về bức họa này nhiều lần, nhưng chưa lần nào chúng tôi được nghe người nào trình bày một cách hấp dẫn như ông. Chúng tôi thực sự xúc động".
Người hướng dẫn đáp : "Thực ra, không phải lần nào tôi cũng trình bày một cách xác tín như vậy đâu. Có lần tôi đã nói một cách rất hời hợt qua loa". Rồi ông ta kể : "Ba năm trước, vợ tôi bị ung thư, sức khoẻ cạn kiệt dần, rồi nàng chết một cách hết sức đau đớn. Tôi không thể nào chấp nhận nổi cái chết này, vì nàng là một người rất tốt, không đáng bị chết như thế. Tôi tưởng như cả thế giới sụp đổ. Tim tôi như vỡ tan. Nhưng vì bổn phận, tôi vẫn phải đến làm việc ở nhà bảo tàng này. Tôi giải thích ý nghĩa các bức họa một cách hết sức máy móc, vô hồn. Thế rồi một hôm, tôi chợt hiểu: bức họa này không chỉ liên can đến hai người môn đệ tuyệt vọng này, mà cả đến tôi nữa. Cũng như môn đệ, tôi đã tuyệt vọng và trở thành một người lữ hành cô đơn. Dù tôi là một người tín hữu, nhưng đối với tôi Đức Giêsu chỉ là một nhân vật mờ mịt trong những trang sách Tin Mừng. Tuy nhiên hôm đó tôi cảm thấy Ngài đang hiện diện thực sự bên cạnh tôi, Ngài ở bên tôi như một người bạn hiểu rất rõ mọi nỗi khổ đau của loài người. Từ lúc đó "mắt tôi mở ra, lòng tôi cháy bừng lên" như hai môn đệ ấy. Tôi đã tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình. Bởi vậy từ đó trở đi, mỗi khi tôi kể câu chuyện Emmau là tôi kể về chính cảm nghiệm của mình". Cặp vợ chồng không cầm được nước mắt : "Chúng tôi cũng thế. Chúng tôi đã 'mở mắt ra và thấy lòng mình cháy bừng lên'. Hôm nay chúng tôi cũng tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình, vì biết rằng Đức Giêsu phục sinh đang thực sự ở bên cạnh chúng tôi" (Flor McCarthy).
Trước những biến cố vừa xảy ra: Thầy Giêsu bị bắt, bị vác và đóng đinh chết trên thập tự... niềm tin vào Thầy bị sụp đổ, mọi sự liên quan đến Thầy đã chấm dứt... Các môn sinh thất vọng ê chề, sống trong sự sợ hãi (x. Ga 20,19). Tinh thần đang hoang mang thì các phụ nữ trong nhóm khi viếng mộ về đã loan tin "giật gân": họ thấy "mộ trống" (Ga 20,1-2) và thấy Thầy sống lại (x. Ga 20,18)... Sự sợ hãi càng tăng bội phần khi giữa dân Do thái đang lưu truyền nhau: "xác ông Giêsu bị các môn đệ ông ấy lấy cắp rồi phao tin Thầy của họ đã sống lại", tin này do các người lính canh mồ Chúa bị các thầy tư tế mua chuộc tung ra (x. Mt 28, 11-15), vì thế các ông luôn sống trong hoang mang, sợ hãi và một số đã rời bỏ Giêrusalem về quê như hai môn đệ về Emmau (x. Lc 24,13-23). Emmau là một ngôi làng cách Giêrusalem về phía Tây bắc khoảng 60 dặm, dăm - đơn vị đo lường của Hy lạp cổ (stadious-một dặm= 192m), tức khoảng 11,5 km.
Trên đường về Emmau, Đức Giêsu Phục sinh đã đên bên cạnh họ, nhưng họ không nhận ra Ngài. Theo thánh Augustinô, việc các môn đệ chậm nhận ra Chúa vì: "Họ quá băn khoăn lo lắng khi thấy Chúa bị treo trên thập tự đến độ họ đã quên đi lời Chúa hứa sẽ phục sinh" (Sermon 235.1). "Con mắt bị che khuất, họ không nhận ra Chúa cho đến khi Ngài bẻ bánh. Họ không còn nhìn ra sự thật là Chúa phải chết và sống lại. Không phải sự thật đã gạt gẫm họ. Nhưng chính họ không thể nhận ra sự thật" (The Harmony of the Gospels, 3.25.72). Chúa đã giải thích cho họ, dựa theo Kinh Thánh: Đấng Mêsia phải chịu đau khổ và chết để đi vào vinh quang. Sau đó theo lời nàn nỉ của hai môn đệ, Ngài cùng vào nhà với các ông. Ngài ngồi vào bàn, đọc lời chúc lành trên bánh, bẻ ra và trao cho các ông. Chính lúc ấy, hai môn đệ mới nhận ra Thầy, nhưng Ngài đã biến mất, để lại cho họ sự ngỡ ngàng trước tấm bánh được bẻ ra - dấu chỉ của sự hiện diện. Lập tức hai người đã trở vê Giêrusalem loan báo Chúa Phục sinh mà họ đã thấy và thuật lại tất cả điều đã xảy cho các môn đệ.
Trong toàn bộ diễn tiến của trình thuật lại đường về Emmau, chúng ta nhận thấy phác hoạ cuộc sống hàng ngày của chúng ta với trung tâm điểm là Thánh Lễ. Trên đường đời với những kinh nghiệm về khủng hoảng đức tin của mỗi người chúng ta đôi diện hằng ngày làm cho chúng ta mệt mỏi thất vọng và bào mòn niềm tin. Giữa những thủ thách khủng hoảng, Chúa Giêsu đến bên cạnh và giúp chúng ta như xưa Chúa làm cho hai môn đệ thanh luyện đức tin trong ý nghĩa của Kinh Thánh quy về Đấng Thiên Sai – Giêsu. Ngài dẫn đưa các ông và cho chúng ta vào thánh lễ - trung tâm điểm của cuộc đời mà Ngài luôn hiện diện: Tin mừng Luca nhấn mạnh các ông lắng nghe Lời Chúa: « Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người ». Sau đó Ngài cử hành Thánh Thể: Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho hai ông (Lc 22,19-20. Chúng ta thấy Chúa Giêsu đã làm như trong Bữa Tối cuối cùng lập ra Bí Tích Thánh Thể và truyền cử hành cho đến ngày tận thế chính là Thánh Lễ hằng ngày. Chúng ta thông hiệp vào bí tích Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu. Trong thánh lễ giữa cuộc đời chúng ta cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa Kitô Phục sinh giữa chúng ta.
Giữa những bước đi thăng trầm của cuộc đời, chúng ta xin cùng Chúa rằng: "Xin Thầy ở lại với chúng con vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn". Chiều về, là lúc bóng đêm buông xuống, và sự dữ cùng bóng tối hoàng hành: thế lực bóng tối mà chúng con phải chiến đấu. Vâng, Xin Chúa luôn ở lại với chúng con trên đường đời đầy chông gai và thử thách. Xin Chúa lưu lại với chúng con, để dạy chúng con "biết chỗi dậy" và "hồi sinh" như Thánh Vịnh dạy chúng con luôn xác tín: "Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh" (Tv 15,11a). Ngài hiện diện giữa cuộc sống hằng ngày. Chúng ta nhận ra sự hiện diện huyền nhiệm của Đấng Phục sinh và đón nhận Ngài bằng lòng tin: nhận ra Chúa Phục Sinh khi cử hành Thánh Lễ : khi nghe Lời và cử hành Bí Tích Thánh Thể, trong bí tích huyền nhiệm này, Ngài vẫn tiếp tục cầm bánh, tạ ơn Chúa, bẻ ra và trao cho chúng ta...
Đường Emmau tâm hồn đổi mới,
Mở trí lòng thấy Đấng Phục Sinh.
Gian nan trong bước đời mình,
Chúa cho con nghiệm được tình yêu thương (*).
Dù đang sầu khổ, thất vọng vì những mất mát ê chề trong cuộc sống. Dù đang quằn quại trong đau khổ của thể xác và tinh thần. Dù đang cảm thấy mình ở dưới vực thẳm của tội lỗi.... Bám vào Chúa đang hiện diện một cách huyền nhiệm
Thật thế, Chúa Giêsu trong hành trình Emmau – cuộc đời, Ngài đang nói với chúng ta trong trung tâm là Hiến lễ Thánh Thể: con đừng thất vọng. Và Ngài cùng đồng hành với chúng ta trên đường lữ hành. Với Ngài, chúng ta tiến bước về Giêrusalem khi mang tâm tình mới:
Phục hồi ánh sáng niềm tin,
Mầu nhiệm sự sống, hành trình đức tin (*).

Lm. Vinh Sơn scj
(*) Trich thơ Emmau - Con Đường Kỷ Niệm , Mặc Trầm Cung.

 
DOI SONG MOI TRONG THAN KHI # 90 = LE PHONG THANH PDF Print E-mail

Thánh lễ và bài giảng trong Lễ phong thánh

Đức Giáo Hoàng Gioan 23 và Gioan Phaolô 2

Thánh Lễ

Lúc quá 9 giờ 30, Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 tiến vào địa điểm hành lễ, giữa tiếng vỗ tay chào mừng của mọi người. Ngài ngồi ở ghế đầu dành cho các Hồng Y, phía sau đã có 700 GM trong phẩm phục đồng tế ngồi sẵn.

Các tín hữu cũng cảm động vỗ tay như vậy khi tổng thống Italia, ông Giorgio Napolitano, và phu nhân đến chào ngài, khi đến khu vực dành cho các vị nguyên thủ quốc gia.

10 giờ kém 5 phút, trong khi ca đoàn và mọi người hát kinh cầu các thánh, đoàn 150 Hồng Y đồng tế bắt đầu tiến từ bên trong đền thờ Thánh Phêrô tiến ra lễ đài, đi trước là các vị Thượng Phụ và TGM trưởng của các Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Đông phương. Đi sau cùng là ĐTC Phanxicô. Ngài xông hương bàn thờ xong và tiến lại chào vị tiền nhiệm Biển Đức 16 của ngài, trước khi tiến đến bái kính tượng Đức Mẹ và đến ngai tòa.

Nghi thức phong hiển thánh bắt đầu với 3 lần thỉnh cầu của ĐHY Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, nhân danh toàn thể Giáo Hội xin ĐTC ghi tên hai chân phước Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 vào Sổ Bộ các thánh.

Sau lời thỉnh cầu thứ nhất, ĐTC mời gọi toàn thể các tín hữu cầu xin Thiên Chúa toàn năng nhờ Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, nâng đỡ chúng ta bằng ơn thánh điều mà chúng ta sắp thực hiện.

Sau lời thỉnh cầu thứ hai, ĐTC mời gọi cộng đoàn hát kinh Cầu Xin Chúa Thánh Linh.

Sau lời thỉnh cầu thứ ba của ĐHY Tổng trưởng Bộ Phong thánh, ĐTC đã tuyên đọc công thức phong thánh:

Để tôn vinh Chúa Ba Ngôi cực thánh, để tuyên dương đức tin Công Giáo và tăng tiến đời sống Kitô, với quyền bính của Chúa Giêsu Kitô, của các thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô và của Chúng Tôi, sau khi suy nghĩ chín chắn, nhiều lần khẩn cầu ơn phù trợ của Chúa và lắng nghe ý kiến của nhiều anh em chúng tôi trong hàng Giám Mục,

chúng tôi tuyên bố và xác định

Chân Phước Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 là Hiển Thánh,

và chúng tôi ghi tên các ngài vào sổ bộ các Thánh

và qui định rằng trong toàn thể Giáo Hội, các Ngài được được tôn kính với lòng sùng mộ nơi Các Thánh. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
ĐTC vừa dứt lời, cộng đoàn vỗ tay nồng nhiệt và ca đoàn cùng cộng đoàn ca bài Jubilate Deo (Hãy tung hô Chúa, hãy hát mừng Chúa), trong khi đó, thánh tích của hai vị tân hiển thánh được rước lên cho ĐTC hôn kính trước khi đặt trên một giá nhỏ phía trước bàn thờ.

Thánh tích của Đức Gioan 23 là một mảnh da của Người,

Thánh tích của Đức Gioan Phaolô 2 là một ống nhỏ đựng máu của thánh nhân.

Trong bài giảng sau bài đọc Tin Mừng bằng tiếng La tinh và Hy lạp, ĐTC đã diễn giải bài Tin Mừng về việc Thánh Tôma tông đồ được Chúa Giêsu Phục Sinh mời gọi động chạm đến những vế thương để tin và đừng cứng lòng nữa. ĐTC nói đến lòng can đảm của hai vị thánh Giáo Hoàng không hổ thẹn về những vết thương của Chúa, ngoan ngoãn tuân theo Chúa Thánh Linh trong việc hướng dẫn Dân Chúa, và ĐTC đặc biệt cầu xin Đức Gioan Phaolô 2, vị Giáo Hoàng của gia đình, hướng dẫn hành trình của Thượng Hội đồng GM về gia đình.

Toàn văn bài giảng của ĐTC

"Nơi trọng tâm Chúa Nhật kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh này, mà Đức Gioan Phaolô 2 đã muốn gọi là Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, có những vết thương vinh hiển của Chúa Giêsu Phục sinh.

"Chúa đã tỏ các vết thương ấy lần đầu tiên khi Ngài hiện ra với các Tông Đồ, chính buổi chiều tối ngày sau ngày Sabát, ngày Phục sinh, nhưng chiều tối hôm ấy không có tông đồ Tôma; và khi nhưng vị khác kể lại với ông là đã thấy Chúa, ông trả lời là sẽ không tin nếu không nhìn thấy và động chạm đến các vết thương của Ngài. 8 ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra tại Nhà Tiệc Ly, giữa các môn đệ, và có cả Tôma; Ngài ngỏ lời với ông và mời ông chạm đến các vết thương của Ngài. Bấy giờ con người chân thành ấy, con người quen đích thân kiểm chứng, liền quỳ xuống trước Chúa Giêsu và thưa: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" (Ga 20,28).

"Những vết thương của Chúa Giêsu là cớ vấp phạm đối với đức tin, nhưng chúng cũng là điều kiểm chứng niềm tin. Vì thế nơi thân thể của Chúa Kitô Phục Sinh, những vết thương ấy không biến mất, nhưng tồn tại, vì những vết thương ấy là dấu chỉ trường tồn về tình thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, và chúng không thể thiếu được để tin nơi Thiên Chúa. Không phải để tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng để tin rằng Thiên Chúa là tình thương, là lòng từ bi, trung tín. Thánh Phêrô, nhắc lại Ngôn sứ Isaia, đã viết cho các tín hữu Kitô: "Từ những vết thương của Người, anh chị em được chữa lành" (1 Pr 2,24; Xc Is 53,5).

"Đức Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 đã can đảm nhìn những vết thương của Chúa Giêsu, động chạm đến những bàn tay bị thương và cạnh sườn của Chúa bị đâm thâu qua. Các vị đã không hổ thẹn vì thân thể của Chúa Kitô, không vấp phạm về Chúa, về thập giá của Ngài Is 58,7); không hổ thẹn vì thân mình của người anh em (Xc 58,7), vì nơi mỗi người đau khổ, các vị nhìn thấy Chúa Giêsu. Hai vị là những người can đảm, đầy ơn táo bạo (parresía) của Chúa Thánh Linh, và đã làm chứng cho Giáo Hội và thế giới về lòng từ nhân của Thiên Chúa, về lòng từ bi của Chúa.

Các vị đã là những linh mục, giám mục và giáo hoàng của thế kỷ 20. Các vị đã sống những thảm trạng, nhưng không để chúng lướt thắng.

Nơi các vị, Thiên Chúa mạnh mẽ hơn; niềm tin nơi Chúa Giêsu Đấng Cứu Chuộc con người và là Chúa tể của lịch sử mạnh mẽ hơn; nơi các vị sự gần gũi từ mẫu của Mẹ Maria mạnh mẽ hơn.

Nơi hai vị là những người chiêm ngắm các vết thương của Chúa Kitô và là chứng nhân về lòng từ bi của Chúa có một "niềm hy vọng sinh động", cùng với một "niềm vui khôn tả và vinh hiển" (1 Pr 1,3.8).

Niềm hy vọng và niềm vui mà Chúa Kitô phục sinh ban cho các môn đệ của Ngài, và không ai và không gì có thể làm cho họ bị thiếu những hồng ân ấy.

Niềm hy vọng và niềm vui phục sinh, được thanh luyện qua cái lò từ bỏ, loại trừ sự gần gũi tội lỗi cho đến tột cùng, đến độ cảm thấy buồn nôn vì chén đắng.

Đó chính là niềm hy vọng và niềm vui mà hai vị Thánh Giáo Hoàng đã lãnh nhận như hồng ân từ Chúa phục sinh và tiếp đến, các vị đã trao tặng dồi dào cho Dân Chúa, và được lòng biết ơn đời đời của họ.

"Niềm hy vọng và niềm vui này được cảm nghiệm trong cộng đoàn đầu tiên của các tín hữu ở Jerusalem, như sách Tông đồ công vụ kể lại (Xc 2,42-47).

Đó là một cộng đoàn trong đó nòng cốt của Tin Mừng được sống thực, nghĩa là tình thương, lòng từ bi, trong đơn sơ và huynh đệ.

"Và đó là hình ảnh Giáo Hội mà Công đồng chung Vatican 2 đã có trước mắt. Đức Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 đã cộng tác với Chúa Thánh Linh để phục hồi và canh tân Giáo Hội theo dạng thức nguyên thủy, dạng thức mà các thánh qua các thế kỷ đã mang lại cho Giáo Hội. Chúng ta đừng quên rằng chính các thánh đã làm cho Giáo Hội tiến bước và tăng trưởng.

Trong việc triệu tập Công đồng chung Vatian 2, Đức Gioan 23 đã chứng tỏ một thái độ ngoan ngoãn đối với Chúa Thánh Linh, đã để cho Chúa hướng dẫn, và đối với Giáo Hội, Người là một vị mục tử đối với Hội Thánh, một vị hướng đạo được hướng dẫn. Đó chính là một sự phục vụ cao cả Người dành cho Giáo Hội; Người là một vị Giáo Hoàng ngoan ngoãn tuân theo Chúa Thánh Linh.

"Trong việc phục vụ Dân Chúa, Đức Gioan Phaolô 2 là vị Giáo Hoàng của gia đình. Chính Người đã có lần nói là muốn được nhắc nhớ đến như vị Giáo Hoàng của gia đình. Tôi vui lòng nhấn mạnh điều đó trong lúc chúng ta đang sống hành trình Thượng HĐGM về gia đình và với các gia đình, một hành trình mà từ trời cao, chắc chắn Người đang tháp tùng và hỗ trợ. xin cả hai vị tân Hiển Thánh Mục Tử của Dân Chúa chuyển cầu cho Giáo Hội, để trong hai năm hành trình Thượng HĐGM này, Giáo Hội ngoan ngoãn tuân theo chỉ dạy của Chúa Thánh Linh trong việc phục vụ mục vụ gia đình.

Xin cả hai thánh nhân dạy chúng ta đừng coi các vết thương của Chúa Kitô như cớ vấp phạm, tập trung vào mầu nhiệm từ bi của Chúa,

luôn hy vọng, luôn tha thứ, luôn yêu thương".

--

 
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # 68 = VE GALILE-DAN NGOAI PDF Print E-mail

> From: "Tinh Cao"
> Date: April 20, 2014 9:39:42 AM PDT

> Về Nguồn Galilêa - Chân Trời Dân Ngoại
> Đức Thánh Cha Phanxicô: Bài Giảng Lễ Vọng Phục Sinh 2014
>
> Phúc Âm về cuộc phục sinh của Chúa Giêsu Kitô được bắt đầu bằng hành trình của các phụ nữ đến mồ vào lúc rạng đông của ngày sau ngày Hưu Lễ. Họ đến mồ để tôn kính thân thể của Chúa, nhưng họ lại thấy nó đã được mở ra và trở nên trống không. Một vị thiên thần quyền uy mới nói với họ rằng: Đừng sợ! (Mt 28:5) và truyền cho họ hãy đi noí với môn đệ rằng Người đã sống lại từ trong kẻ chết, và Người thực sự đến Galilêa trước các vị (câu 7). Các phụ nữ vội vàng lên đường và trên đường đi thì đích thân Chúa Giêsu gặp gỡ họ mà bảo: Đừng sợ; hãy đi mà nói cho các môn đệ của Thày đến Galilêa; ở đó họ sẽ gặp Thày" (câu 10).
>
> Sau cái chết của Thày mình, các môn đệ đã bị phân tán; đức tin của các vị hoàn toàn bị rung chuyển, mọi sự dường như chẳng còn gì nữa, tất cả những gì các vị tin tưởng đều trở nên tan tành và những gì các vị hy vọng đều tiêu tan. Thế nhưng, bấy giờ tin tức của các phụ nữ, bất khả tín thay, lại được mang đến với các vị như một tia sáng trong tăm tối. Tin tức được loan truyền ấy là Chúa Giêsu đã sống lại như Người đã phán. Rồi còn lệnh Người truyền cho các vị phải đến Galilêa nữa; các phụ nữ nghe thấy điều này 2 lần, lần thứ nhất từ thiên thần và sau đó từ chính Chúa Giêsu: Hãy báo cho họ đến Galilêa; ở đó họ sẽ gặp Thày.
>
> Galilêa là nơi đầu tiên các vị được kêu gọi, nơi mọi sự được bắt đầu! Hãy trở về lại đó, trở về nơi các vị được gọi từ ban đầu. Chúa Giêsu đã bước đi dọc theo các bờ hồ khi những tay đánh cá ấy đang thả lưới. Người đã gọi các vị và các vị đã bỏ hết mọi sự mà theo Người (xem mathêu 4:18-22).
>
> Việc trở lại Galilêa nghĩa là ôn lại hết mọi sự theo chiều hướng thập giá và cuộc vinh thắng của thập giá. Là ôn lại hết mọi sự Chúa Giêsu giảng dạy, làm phép lạ, lập cộng đồng mới, những hứng thú cùng với việc bỏ hàng ngũ ra đi, thậm chí cả việc bội phản, để ôn lại hết mọi sự từ một tận cùng lại là một khởi điểm mới, từ tác động yêu thương cao cả này.
>
> Đối với cả từng người chúng ta nữa, cũng có một Galilêa ở vào khởi điềm cho cuộc hành trình của chúng ta với Chúa Giêsu. Việc đi đến Galilêa mang một ý nghĩa đẹp đẽ nào đó, nghĩa là tái nhận thức phép rửa của chúng ta như là một ngọn suối sống động, kín múc lấy một nghị lực mới từ nguồn mạch đức tin của chúng ta và cảm nghiệm Kitô hữu của chúng ta. Việc trở về Galilêa trên hết có nghĩa là trờ về với thứ ánh sáng rạng ngời mà nhờ đó ân sủng của Thiên Chúa đã chạm đến tôi ngay từ đầu của cuộc hành trình này. Từ ánh sáng ấy tôi có thể thắp lên một ngọn lửa cho hôm nay đây cũng như cho hết mọi ngày sống, và mang lại sức nóng cùng ánh sáng cho anh chị em của tôi. Ngọn lửa ấy làm bừng lên niềm vui nhẹ nhàng, một niềm vuị không thể bị mất đi bởi sầu đau và buồn khổ, một niềm vui tốt lành và êm dịu.
>
> Trong đời sống của hết mọi Kitô hữu, sau phép rửa cũng có một thứ Galiêa sống động hơn nữa, đó là cái cảm nghiệm của một cuộc hội ngộ riêng tư với Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã kêu gọi tôi theo Người và tham phần vào sứ vụ của Người. Bời thế, việc trở về với Galilêa nghĩa là trân quí trong lòng mình cái ký ức sống động về ơn gọi ấy, khi Chúa Giêsu đi qua đời tôi, thương hại nhìn vào tôi và xin tôi hãy theo Người (biệt chú của người dịch: câu này hoàn toàn phản ảnh câu tâm niệm của ĐTC "vì thương được chọn" xuất phát từ cảm nghiệm của ngài vào năm ngài 17 tuổi trước khi ngài dấn thân đáp lại tiếng Chúa goị và theo Chúa cho đến nay trong vai trò đại diện Người để dẫn dắt Giáo Hội hiện nay). Nó có nghĩa là làm sống lại ký ức về giây phút mà ánh mắt của Người chạm phải đôi mắt của tôi, lúc mà Người làm cho tôi cảm thấy rằng Người đã yêu thương tôi.
>
> Hôm nay, đêm nay, mỗi người chúng ta có thể đặt vấn đề là: Galilêa của tôi là gì? Galilêa của tôi ở đâu vậy? Tôi có nhớ nó hay chăng? Hay là tôi đã quên mất nó rồi? Phải chăng tôi đã bị lầm đường lạc lối nên quyên mất nó rồi? Chúa ơi, xin giúp con: xin hãy bảo cho con biết Galilêa của con là gì; vì Chúa biết rằng con muốn trở về đó để gặp gỡ Chúa và để cho con được tình thương của Chúa ấp ủ.
>
> Bài Phúc Âm của Lễ Phục Sinh rất là rõ ràng, ở chỗ chúng ta cần trở về đó, để thấy Chúa Giêsu phục sinh và để trở thành những nhân chứng cho việc phục sinh của Người. Không phải là vấn đề trở về đó theo thời gian; không phải là một thứ nhung nhớ. Mà là cuộc trở về với tình yêu ban đầu của chúng ta, để nhận lấy ngọn lửa đã được Chúa Giêsu thắp lên trên thế giới này và mang ngọn lửa ấy cho tất cả mọi dân nước, cho đến tận cùng trái đất.
>
> Một Galilêa của Dân Ngoại (Mathêu 4:15; Isaia 8:23)! Đó là chân trời của Chúa Phục Sinh, chân trời của Giáo Hội; với ước muốn thiết tha được gặp gỡ, nào chúng ta hãy lên đường!
>
> Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo http://www.zenit.org/en/articles/pope-francis-homily-at-easter-vigil

 
<< Start < Prev 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 Next > End >>

Page 53 of 62