mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2647
mod_vvisit_counterHôm Qua4629
mod_vvisit_counterTuần Này12051
mod_vvisit_counterTuần Trước60881
mod_vvisit_counterTháng Này194149
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7994547

We have: 63 guests online
Your IP: 54.157.226.227
 , 
Today: Mar 28, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Newsfeeds
DOI SONG TAM LINH # 310=VIEN DA QUY - GAP CHUA PDF Print E-mail

30 tháng 10
Viên Ðá Quý

Edith Stein, đó là tên của một người đàn bà mà chúng ta thường nghe nhắc đến nhiều lần nhân chuyến viếng thăm lần thứ hai của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tại Tây Ðức năm 1987.

Stein theo tiếng Ðức có nghĩa là đá. Ðây không phải là một viên đá tầm thường, nhưng là một viên ngọc quý đã được tôi luyện giữa lò lửa của hận thù, chiến tranh. Viên ngọc quý Stein đã được gọt đẽo và nung nấu trước tiên trong sự dửng dưng vô tôn giáo của những trào lưu tục hóa sau đệ nhất thế chiến.

Lên 14 tuổi, Edith Stein đã mất hòa toàn niềm tin vào Thiên Chúa của tổ phụ Arbaham. Nhưng cho dù con người có chối bỏ Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn tiếp tục theo đuổi con người. Cuộc săn đuổi kỳ diệu ấy đã đưa con người đến ngõ cụt của cuộc sống. Nhưng chính khi đứng trước bức tường tưởng chừng như khôg thể vượt qua được, Thiên Chúa đã đưa cánh tay của Ngài ra để nâng con người lên. Ðó là điều đã xảy ra cho Edith Stein khi cô chứng kiến gương kiên nhẫn của một người thiếu phụ Công Giáo. Chiến tranh đã cướp đi người chồng thân yêu, người đàn bà ấy vẫn lấy Ðức Tin vào Chúa Kitô để vượt thắng mọi đau khổ, thử thách... Edith Stein thú nhận: Thập giá của Ðức Kitô đã đem lại sức mạnh kiên hùng cho người phụ nữ và do đó, cũng phá vỡ bức tường cứng lòng tin của cô.

Trong ánh sáng của thập giá Ðức Kitô, Edith Stein đã tìm lại được niềm tin vào chính Thiên Chúa của người Do Thái... Nhưng ánh sáng đó đã gắn liền với cả cuộc đời còn lại của cô như một định mệnh: Giữa những đổ vỡ và tàn ác của chiến tranh, Edith đã tìm lại được định hướng cho cuộc đời. Thánh giá đã được gắn liền với tên cô từ đó: Têrêxa Benedicta Della Croce, Têrêxa được thập giá chúc lành.

Thập giá của Ðức Kitô mà cô đã vác lấy qua cái chết đau đớn trong lò hơi ngạt tại trại tập trung Auschwitz đã biến cô trở thành một viên ngọc quý có giá trị cứu rỗi cho cả một dân tộc mà cô hằng yêu mến.

Ở đâu và bất cứ lúc nào cũng có thập giá. Ðã mang tiếng khóc vào đời, con người tiến bước trong cuộc sống với tất cả gánh nặng của thập giá... Tại sao Thiên Chúa đã để cho con người phải đau khổ? Mãi mãi dường như con người sẽ không bao giờ tìm được câu giải đáp cho vấn đề đau khổ. Chúa Giêsu không bao giờ đặt vấn đề và cũng không bao giờ đem lại một giải đáp cho vấn đề.

Trong thinh lặng, Ngài đã vác lấy thập giá và khi sống lại, Ngài cho BẠN thấy rằng thập giá là con đường dẫn đến sự sống. "Hãy vác lấy thập giá và theo Ta", đó là lệnh truyền của Ngài. Mang lấy thập giá với tinh thần chấp nhận và mến yêu, TÔI sẽ thấy ánh sáng bừng lên trong cuộc sống. Mang lấy thập giá, chúng ta sẽ thấy Tình Yêu mạnh hơn sự chết. Mang lấy thập giá, BẠN VÀ TÔI sẽ chiến thắng được hận thù và thất vọng.

Trích sách Lẽ Sống.


CON NGƯỜI ĐẾN ĐỂ TÌM VÀ CỨU
Lời Chúa: Lc 19, 1-10
Sau khi vào Giêrikhô, Ðức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy. Và kìa, có một người tên là Giakêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông tìm cách để xem cho biết Ðức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung, để xem Ðức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. Khi Ðức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!" Còn ông Giakêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." Ðức Giêsu nói về ông ta rằng: "Hôm nay ơn cứu độ đến với nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Apraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."
SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA - Suy niệm:
Giakêu là một người thu thuế giàu có.
Tuy không thiếu gì, nhưng lòng ông vẫn khắc khoải không yên.
Ông vẫn tìm kiếm một Ai đó có thể nâng đỡ ông dậy.
Hẳn ông đã nghe người ta bàn tán về Ðức Giêsu.
Ngài chẳng sợ làm bạn với những người bị khinh như ông.
Giakêu mong có ngày thấy Ðức Giêsu.
Dịp may đã tới, ông đi với đám đông theo sau Ngài,
nhưng vẫn không sao thấy được Ngài,
vì dân chúng thì đông, còn ông lại thấp bé.
Giakêu không thất vọng.
Lòng khát mong đích thực chẳng bao giờ chịu bó tay.
Ông chạy trước đám đông và leo lên một cây sung.
Ông hí hửng với sáng kiến khôn ngoan của mình,
và tin chắc mình sẽ toại nguyện.
Giakêu núp ở trên cây, tưởng không ai trông thấy.
Nào ngờ Ðức Giêsu ngừng lại, nhìn lên và gọi tên ông.
Ngài thấy ông trước khi ông thấy Ngài.
Ánh mắt Ngài làm ông luống cuống,
nhưng lời của Ngài lại làm ông sung sướng, ngỡ ngàng:
Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.
Niềm hạnh phúc bất ngờ làm ông ngây ngất.
Ðường từ gốc sung về nhà ông bao xa, ta không rõ,
nhưng chắc chắn đó là đường đầy ắp niềm vui.
Giakêu thấy mình mất đi những mặc cảm thấp kém.
Ông như lấy lại được danh dự trước đám đông,
bởi lẽ Ðức Giêsu sắp đến thăm nhà ông,
bất chấp những lời xầm xì phản đối.
Ông chỉ ao ước thấy mặt Ngài,
còn Ngài lại muốn bày tỏ cả bề sâu của lòng mình:
dịu dàng, tha thứ, yêu thương, tế nhị.
Hoán cải là kết quả của một cảm nhận về Tình Yêu.
Ánh mắt, lời nói, thái độ của Ðức Giêsu
đã thổi bùng lên ngọn lửa leo lét nơi Giakêu,
và khiến lòng ông tan chảy.
Bỗng chốc Giakêu thấy mình được tự do thanh thoát.
Những gì xưa nay trói buộc ông, làm ông say mê,
bây giờ trở nên vô vị.
Một cách hồn nhiên, ông dâng nửa gia sản cho người nghèo,
và xin đền gấp bốn những gì đã lường gạt.
Giakêu sẽ trở nên nghèo hơn trước,
nhưng ông hạnh phúc hơn xưa nhiều,
vì ông cũng là con cháu tổ phụ Apraham.
Ước gì chúng ta bao dung như Ðức Giêsu
và quảng đại như Giakêu.


TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giêsu, khi đến với chúng con
Chúa thường đến như một người hành khất.
Chúa cần chút nước của người phụ nữ Samari.
Chúa cần năm chiếc bánh và hai con cá,
Chúa cần nhà ông Giakêu để nghỉ chân.
Chúa khiêm tốn cúi xuống xin chúng con,
để rồi tuôn đổ trên chúng con nhiều gấp bội.
Xin dạy chúng con biết cách đến với mọi người,
và khám phá ra đốm lửa nhỏ của sự thiện
vẫn cháy sáng nơi lòng người tội lỗi.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.

---------------------------------

 
DOI SONG TAM LINH # 309 = SONG LỜI KINH HOA BINH PDF Print E-mail

KINH HOÀ BÌNH DƯỚI CÁI NHÌN TÂM LÝ TRỊ LIỆU

Trần Mỹ Duyệt

Không gì làm mất bình an, mất hạnh phúc, và mất tình thân hữu cho bằng để lòng giận hờn, cay đắng và thù ghét. Lý do rất đơn giản là vì những hành động này biểu lộ một tâm hồn mất bình an, có thể dẫn đến tình trạng tâm bệnh. Và Kinh Hòa Bình hay lời nguyện Hòa Bình của Thánh Phanxicô Assisi, Sáng Lập dòng Anh Em Hèn Mọn, được coi như một trong những phương thuốc trị liệu hữu hiệu nhất.

Thông thường một tâm hồn thiếu bình an thường sống với tâm trạng lo lắng, hốt hoảng, hoang mang (anxiety), hoặc trầm cảm (depression). Sự giận hờn, thù ghét càng tích lũy nhiều và lâu bao nhiêu, càng dễ dẫn đến những triệu chứng tâm bệnh bấy nhiêu.

Trước hết, là những triệu chứng bứt rứt, khó chịu, mất ăn, mất ngủ, nghi ngờ, chán nản, và khép kín. Trường hợp nặng hơn, những triệu chứng này sẽ đưa đến trầm cảm với những tư tưởng tự kỷ, ảo tưởng, hay ảo giác. Trong một số trường hợp còn gây ra những ý tưởng chán đời và tự tử. Phần lớn những cái chết vì tự tử là do con người cảm thấy cùng đường, bí tắc, thất vọng về chính mình và về cuộc đời. Và nếu bạn đang ở trong những tình trạng ấy thì bạn là một trong 350 triệu người đang cùng chia sẻ những hội chứng ảnh hưởng đến tâm lý và làm suy sụp tinh thần cũng như thể xác của họ. Phá vỡ sự bình an, tương lai và hạnh phúc của họ. Thánh Kinh đã nói về sự buồn nản, giận hờn, và một tâm hồn thiếu sự bình an, vui tươi như sau: "Tâm hồn vui tươi là liều thuốc bổ, tâm trí rã rời làm khô xương cốt" (Cách Ngôn 17:22).

Vậy chúng ta phải làm gì với những giận hờn, cay đắng, và thù hận trong cuộc sống? Có ít nhất hai cách chữa trị. Đó là dùng thuốc an thần, và tâm lý trị liệu. Những bệnh nhân tâm thần khi họ có những hành vi bạo động, đánh nhau, đập phá, hay toan tính tự tử, hoặc những bệnh nhân tâm lý khi họ buồn chán vu vơ, tâm tính bất thường, mất năng lực... thì việc trị liệu bằng thuốc đem lại kết quả tức thời. Tuy nhiên khi khả năng thuốc không còn ảnh hưởng nữa, những triệu chứng kia sẽ tái phát hiện, và vì thế, người ta phải phối hợp giữa thuốc và tâm lý trị liệu. Nhưng ngoài hai cách trị liệu vừa kể, còn có một phương pháp trị liệu khác nữa rất hữu hiệu và kết quả đó là tâm linh trị liệu.

Gần đây trong ngành y khoa, môn tâm linh trị liệu đã bắt đầu được giảng dậy. Những kết quả khảo cứu đã cho thấy việc phối hợp giữa tâm lý và tâm linh trị liệu, giữa y khoa và tâm linh trị liệu, hoặc vừa tâm lý, vừa tâm linh, và vừa y khoa đã đem lại những kết quả rất lớn trong việc chữa trị các bệnh nhân không những chỉ thuần túy về thể lý, mà còn cả về tâm lý và tâm bệnh nữa.

Trong những lần thực hiện phép lạ chữa cho người này, người khác, chính Đức Kitô đã từng đề cập đến đức tin hay khả năng tâm linh trong việc chữa trị các bệnh nhân này. Ngài coi đó như yếu tố quyết định của việc chữa lành. Thí dụ, người thiếu phụ bị bệnh băng huyết lâu năm, bằng một niềm tin vững mạnh, bà đã cố chạm đến gấu áo của Ngài với tin tưởng chắc chắn rằng, chỉ ngần ấy cũng đủ chữa bà khỏi bệnh, và sự việc đã xẩy ra đúng như bà đã tin. Ngài đã phán với bà: "Đức tin con chữa con. Hãy đi bình an và khỏi bệnh" (Mac 5: 34-35). Thực tế cũng chứng minh rất nhiều người đã được khỏi bệnh nhờ vào lòng tin của họ. Tóm lại, tự trong sâu thẳm của tâm hồn, đức tin chiếm phần quan trọng. Nó có thể biến đổi và chữa lành. Quyền lực của Đấng Tối Cao ảnh hưởng trên tâm lý siêu hình luôn là sức mạnh, nâng đỡ, và giải thoát khi mà tất cả những khả năng con người bị hạn chế.

Trong những phương pháp tâm linh trị liệu các hội chứng giận hờn, cay đắng hoặc câm nín, Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô Assisi là một ứng dụng tuyệt vời nhất. Nếu tha thứ như điều kiện cần thiết để được thứ tha như Chúa Kitô dậy: "Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" là một điều khó khăn, vượt quá khả năng con người, thì những lời cầu của Phanxicô chính là những ứng dụng cụ thể và diễn tả một cách đầy đủ tinh thần tha thứ mà Kinh Lạy Cha đòi hỏi. Hãy nghe những gì vị thánh "hòa bình" đã cầu xin và thực hành trong đời sống bác ái, vị tha của chính Ngài:

TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG LỜI TÔI CẦU XIN : Lạy Chúa xin hãy dạy con:
Tìm an ủi người hơn được người ủi an,
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,
Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

----------------------------

 
DOI SONG TAM LINH # 307 =NHAN XET THOI DAI PDF Print E-mail

> Thứ Sáu sau Chúa Nhật 29 Quanh Năm
> * * *
TIN MƯNG LUCA 12, 54-59 :  Nhận xét thời đại này.

Mở mắt to để thấy, mở tai to để nghe, đó phải là thái độ của Kitô hữu, vì hôm nay Thiên Chúa vẫn nói, vẫn làm nơi Đức Kitô, Con của Ngài.

Suy niệm:

Tục ngữ ca dao nước ta không thiếu những câu nói về thời tiết.
Kinh nghiệm dân gian cho phép dự đoán những gì sắp xảy ra.
Có những dấu hiệu báo trước cơn mưa hay dông bão.

"Sấm đàng đông vừa trông vừa chạy, sấm đàng nam vừa làm vừa chơi."
Người dân nước Paléttin cũng có những kinh nghiệm tương tự.

"Mây kéo lên ở phía tây" là mây đến từ biển Địa Trung Hải.
Khi thấy mây từ biển tiến vào, người ta đoán mưa đến nơi rồi (c. 54).

Khi thấy gió từ phương nam thổi đến,
luồng gió nóng từ vùng núi Ả-rập,
người ta biết ngay thời tiết sẽ hết sức oi bức (c. 55).

"Và xảy ra đúng như vậy", Đức Giêsu nhắc lại câu này hai lần.

Ngài cho thấy dự đoán của dân chúng về thời tiết ít khi sai.

Họ khá bén nhạy trước những dấu hiệu thay đổi nhỏ của trời đất.

Tiếc là dân chúng thời Đức Giêsu lại không đủ bén nhạy
để có thể nhận biết được ý nghĩa của những dấu chỉ
đang diễn ra trước mắt họ.

Đức Giêsu ngạc nhiên vì những người cùng thời với Ngài
không thấy được cái độc nhất vô nhị của thời đại họ đang sống.

Họ không cảm thấy hạnh phúc khi được Thiên Chúa đến viếng thăm.

Chính vì thế ơn cứu độ của Thiên Chúa có thể bị quên lãng.

"Hỡi những kẻ đạo đức giả!" Đức Giêsu đã gọi họ như thế (c. 56).

Tại sao các anh nhạy bén trước điều này, mà lại thờ ơ trước điều kia?

Thiếu bén nhạy về mặt tôn giáo cũng là cơn bệnh của con người thời nay.

Thiên Chúa vẫn nói với con người hôm nay qua các dấu chỉ.

Vấn đề là làm sao đọc được ý nghĩa của những dấu chỉ đó.

Thiên Chúa không hiện ra để dạy con người biết tôn trọng trái đất.

Nhưng những hậu quả mà con người phải chịu là lời nhắc nhở của Ngài.

Khi trái đất ấm dần lên, khi băng tan ra và mực nước biển dâng cao,
một số phần đất của quê hương ta sẽ bị chìm dưới nước.

Khi người dân chặt phá rừng, thì lụt lội và hạn hán là chuyện dĩ nhiên.

Cơn bệnh của thế kỷ cũng có thể là một lời nhắc nhở.

Thiên Chúa mời gọi vợ chồng sống chung thủy trong hôn nhân,
và mời các bạn trẻ sống trong sạch trước khi lập hôn ước.

Tôi Cầu nguyện và Sống Cầu nguyện :

Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới:
Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này
là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.

Con mơ ước
không còn những Ladarô đói ngồi ngoài cổng,
bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.

Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp,
không còn những cô gái đứng đường
hay những người ăn xin.

LM NGUYỄN CAO SIÊU

 
DOI SONG TAM LINH # 306 = NGUOI MU THAP DEN PDF Print E-mail

NGƯỜI MÙ THẮP ĐÈN

TRACY NGUYỄN CHUYỂN

Trong màn đêm tối đen như mực, có một vị tăng nhân tu khổ hạnh bôn ba nghìn dặm tìm Phật, đến một ngôi làng hoang vắng, trên đường xá tối đen như mực, người dân trong làng đang đi đi lại lại rất tấp nập.

Khổ hạnh tăng đi đến một con hẻm nhỏ, ông trông thấy một chiếc đèn lồng sáng choang, từ nơi sâu thẳm trong một con hẻm vắng lặng, từ từ chiếu rọi qua đây. Một người trong thôn la lên: "Thằng mù đến rồi kìa!".

"Mù ư?", khổ hạnh tăng sửng sốt, ông hỏi một thôn dân bên cạnh : "Người xách chiếc lồng đèn kia có thật là bị mù không?".

Người đàn ông gật đầu khẳng định.

Vị tăng nhân khổ hạnh nghĩ mãi nhưng vẫn nghĩ không ra, một người đã bị mù cả hai mắt, anh ta vốn dĩ không có khái niệm ngày hay đêm, anh không nhìn thấy sông chảy từ núi cao, cũng không được xem phong cảnh hữu tình cùng vạn sự vạn vật trên thế gian, thậm chí anh còn không biết ánh đèn là như thế nào, vậy anh ta xách theo chiếc đèn lồng, không phải khiến người ta cười chê sao?

Chiếc đèn lồng đó càng lúc càng đến gần, ánh đèn sáng choang, từ từ trong con hẻm tiến đến, chiếu sáng lên đôi giày của vị tăng nhân. Vị tăng nhân nghĩ mãi nhưng vẫn nghĩ không ra, nên bèn hỏi: "Dám hỏi thí chủ, cậu có thật là một người mù không ?".

Chàng trai mù xách theo ngọn đèn lồng trả lời: "Đúng vậy, từ khi đến thế gian này, hai mắt tôi đã không trông thấy gì nữa".

Vị tăng nhân hỏi: "Nếu cậu đã không trông thấy gì cả, vậy tại sao lại xách theo chiếc đèn lồng?".

Chàng trai mù đáp: "Bây giờ là buổi tối phải không? Tôi nghe nói, trong màn đêm mà không có ánh đèn chiếu sáng, vậy thì mọi người trên thế gian này cũng đều sẽ giống như tôi, không trông thấy gì cả, vậy nên tôi đã thắp một ngọn đèn".

Vị tăng nhân dường như có phần hiểu ra, nói: "Thì ra cậu là vì muốn chiếu sáng cho những người khác?".

Thế nhưng, chàng trai mù lại nói: "Không, tôi là vì chính mình".

"Vì chính cậu ư?", vị tăng nhân lại càng sửng sốt.

Chàng trai mù chậm rãi nói: "Ông có bao giờ đi trong đêm tối, mà bị những người đi đường khác đụng phải chưa?".

Vị tăng nhân nói: "Đúng vậy, cũng như lúc nãy, tôi không có để ý nên đã bị hai người khác đụng phải".

Chàng trai mù nghe xong, trầm lặng nói: "Nhưng tôi thì lại không bị, tuy tôi là kẻ mù, cái gì tôi cũng không trông thấy, nhưng tôi xách theo chiếc đèn lồng này, vừa để soi sáng đường cho những người khác, nhưng quan trọng hơn là để người khác trông thấy tôi. Như vậy, họ sẽ không vì không trông thấy mà đụng phải tôi.

♦♦♦

Khổ hạnh tăng nghe xong, lập tức ngộ ra. Ông ngửa mặt lên trời thở dài, nói: "Ta đã đi khắp chân trời góc biển, bôn ba nghìn dặm tìm Phật, thật không ngờ rằng Phật đang ở bên cạnh ta. Thì ra, Phật tính cũng giống như một ngọn đèn, chỉ cần ta thắp sáng nó, dù cho ta không nhìn thấy Phật, thì Phật cũng sẽ nhìn thấy ta thôi!".

Thế nên, vì người khác, hãy thắp sáng ngọn đèn sinh-mệnh của chính mình! Như vậy, trong bóng đêm của đời người, chúng ta mới có thể tìm thấy bình-an và sự chói-lọi của chính mình.

Tiểu-Thiện, dịch từ Epoch Time

Nguồn : http://tinvui.org

----------------------------------

 
DOI SONG TAM LINH # 305 =LOI THANH DANG LEN CHA PDF Print E-mail

Chúa Nhật XXIX Thường Niên C
CẦU NGUYỆN: LỜI CHÂN THÀNH LÊN CHA
Xh 17,8-13; 2Tm 3,14 - 4,2; Lc 18,1-8

   * BÀI CẦN NGẮN GỌN-XUC TICH VÀ TRONG SÁNG (GM VŨ THIÊN)
Thánh Gioan Maria Vianney, Cha sở họ Ars, bổn mạng các Linh mục, Ngài nêu gương
cho các linh mục về đời sống cầu nguyện và tông đồ. Ngài đã thổi hơi vào nếp sống của xứ Art –
một xứ đạo khó khăn trở nên xứ đạo thánh thiện, thấm nhuần tinh thần yêu thương và tinh thần
cầu nguyện. Art trở nên bông hoa thơm ngát tỏa hương thơm khắp thế giới qua đời sống Cha Sở
Gioan và của cả xứ đạo. Nhắc đến cuộc đời của Cha Gioan, người ta không thể quên câu chuyện
nông dân xứ Ars cầu nguyện:
Mỗi ngày trước khi ra đồng, anh đều ghé vào nhà thờ cầu nguyện giây lát rồi mới ra
đồng. Khi trở về, anh cũng ghé vào nhà thờ để cầu nguyện như vậy. Trong xứ ai ai cũng nể và
kính phục về sự chuyên cần lao động và cầu nguyện của anh. Nhưng người ta không biết anh nói
gì trong lời cầu nguyện của mình.
Một hôm có người hỏi:
- Ngày ngày ông ghé vào nhà thờ mấy lần để làm gì thế?
Anh nông dân trả lời:
- Tôi nói chuyện với Chúa và Chúa bàn chuyện với tôi.
Cầu nguyện là một cuộc đối thoại với Thiên Chúa, Ðấng yêu thương chúng ta hơn bất cứ
ai có thể yêu ta, ngay cả chính bản thân mình cũng không yêu ta bằng Ngài. Cầu nguyện là đặt
tâm hồn mình vào trong Chúa, là cha đẻ tâm hồn khiếm khuyết bất toàn được Thiên Chúa chữa
lành cho chúng ta càng nên giống Ngài. Cầu nguyện là chúng ta trông cậy vào sức mạnh của
Thiên Chúa chứ không dựa sức mạnh riêng của mình.
Trong cuộc chiến đấu với người Amalếch, trong lời cầu nguyện của Môsê. Bao lâu Môsê
đưa hai tay lên cầu nguyện thì dân Israel chiến thắng, nhưng khi ông buông tay xuống thì người
Amalếch lại phản hồi và chiến thắng. Aaron, người anh em của Môsê và Hur bạn của ông đã
giúp ông giữ cánh tay trong tư thế cầu nguyện. Dân Israel trong tư thế luôn cầu nguyện của
Môsê, đã chiến thắng cuộc chiến (x. Xh 17, 8-13).
Trong Tin Mừng Lc 18,1-8 Đức Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện luôn và không nản chí,
Ngài nói với các môn đệ và cùng nói với con người của mọi thời đại: Hãy cầu nguyện không
ngừng và không nên nản chí (x. Lc 18,1). Lời dạy luôn cầu nguyện và bền chí được minh họa
bằng dụ ngôn quan tòa bất chính nghe lời cầu xin của bà góa: quan án không sợ trời và chẳng nể
bất cứ ai, nhưng phải nhượng bộ trước lời kêu nài của một bà góa vì bị làm phiền. Đức Giêsu kết
luận: Dĩ nhiên hơn người quan tòa, Thiên Chúa - Đấng Công Chính luôn sẵn sàng nghe lời cầu
khẩn của những kẻ Ngài yêu thương.
Tâm tình và thái độ của bà góa trong dụ ngôn gợi cho chúng ta các yếu tố cần có trong
tinh thần cầu nguyện:
 Thái độ khiêm nhường: bà biết mình bé nhỏ nghèo hèn, luôn bị người ta ức hiếp và
không thể tự bảo vệ. Cần đến một sức mạnh công lý ...
 Thái độ phó thác: Bà goá không có nơi nương tựa, bà chỉ còn trông cậy và đặt hết niềm
tin vào vị quan tòa sẽ cứu giúp bà.
 Thái độ kiên trì: bà kiên trì theo đuổi cho đến cùng. Dù ban đầu thất bại nhưng bà không
nản lòng. Dù bị hất hủi bà cũng không bỏ cuộc. Bà đã đi đến cùng và bà đã thành công.
 Thái độ khao khát: Bà khao khát được sống trong công lý sự thật và tình thương. Sự khao
khát đã thúc đẩy bà không chờ đợi ai đó ban ơn. Nhưng làm hết cách, hết sức mình. Lòng
khao khát của bà được biểu lộ trong hành động quyết tâm đi đến cùng.
Tâm tình và thái độ của bà góa không chỉ có trong dụ ngôn, nhưng đã được hiện thực
bằng thái độ cầu nguyện của người đàn bà xứ Canaan: Bà mang tâm tình tín thác, đến xin Chúa
Giêsu xin chữa cho đứa con gái đang bị quỉ ám. Bà khiêm tốn khấn nài, và kiên nhẫn dù rằng lần
thứ nhất: Chúa yên lặng. Sự khao khát cho con yêu dấu bị qủy ám được chữa lành, đã khiến bà
làm tất cả để Chúa nhận lời. Chúa Giêsu đã khen ngợi lòng tin kiên nhẫn trong lời cầu của bà và
đã cứu chữa đứa con gái (x. Mt 15,21 - 28; Mc 7,24-30).
Trong các thư mục vụ của Tông đồ Phaolô, thánh nhân đã lập lại giáo huấn của Thầy
Giêsu về cầu nguyện và kêu mời chúng ta "Phải cầu nguyện không được nản chí... vững vàng
trong cầu nguyện... với lòng can đảm, kiên trì..." (x. 2Tx 1,11; Cl 1,3; Pl 4; Rm 1,10; 2Tx 3,13;
2Cr 4,1-16; Gl 6, 9; Ep 3,13).
Sau này, sống theo lời dạy của Thầy Giêsu và Tông Đồ Phaolô, người phụ nữ mang tên
Mônica cũng đã từng kiên nhẫn cầu nguyện trong nước mắt và khổ đau suốt nhiều năm cho con
trai Augustinô đi xa lạc, Mônica sống lại tâm tình của Thánh Vịnh:
"Tôi lớn tiếng kêu gào lên CHÚA,
tôi lớn tiếng cầu khẩn CHÚA thương"
(Tv 142,2)
Lời cầu nguyện của Mẹ hiền trong kiên nhẫn phó thác, quả thật như Thánh Vịnh nói "húa
là Đấng nghe lời cầu khẩn" (Tv 65,3). Augustinô đã làm lại cuộc đời và trở nên một mục tử
tuyệt vời và là triết gia lỗi lạc của nhân loại.
Trong tinh thần cầu nguyện không ngừng – Mc Carthy suy niệm: Cầu nguyện làm cho hy
vọng và những ý định của chúng ta trở nên trong sáng... giúp chúng ta khám phá những khát
vọng chân thật của chúng ta, những ray rứt mà chúng ta không biết, những ước mơ mà chúng ta
quên lãng... Cầu nguyện không thay thế cho hành động. Đúng hơn, cầu nguyện giống như một
luồng ánh sáng từ chiếc đèn ở phía trước chúng ta chiếu vào đêm tối, giúp chúng ta tiến lên phía
trước, khuyến khích chúng ta hành động. Cầu nguyện không trốn tránh cuộc đời nhưng là một
hành trình đi vào trung tâm của đời sống. Chúng ta học đứng vững trên đôi chân mình trước
Thiên Chúa và thế giới, và chấp nhận mọi trách nhiệm về đời sống chúng ta.
Cầu nguyện không chỉ để xin điều này điều kia với Thiên Chúa, nhưng là để tâm tình ý
nguyện của chúng ta được Thiên Chúa thanh tẩy và cùng làm việc đó là Thánh Ý được thể hiện.
Người xưa có câu: "Hữu cầu tất hữu ứng" có cầu nguyện tất sẽ được như ý. Lời dạy cha
ông đúng với lời Chúa Giêsu đã giao huấn: "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ
cửa thì sẽ mở cho" (Mt 7,7).
Chúng ta luôn kiên tâm cầu nguyện như tâm tình của Phaolô khuyên:
"Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn,
van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện" (Pl
4,6)
Vâng, vì như Thánh Vịnh nói :
"Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa"
(Tv 145,18).
Lm. Vinh Sơn scj, Sài Gòn 15/10/2016.

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 42