mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1005
mod_vvisit_counterHôm Qua6457
mod_vvisit_counterTuần Này26544
mod_vvisit_counterTuần Trước48712
mod_vvisit_counterTháng Này154507
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10295820

We have: 64 guests, 1 members online
Your IP: 54.159.30.26
 , 
Today: Feb 23, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Newsfeeds
DOI SONG TAM LINH # 85 = DU NGON 1O DIEU RAN PDF Print E-mail

thanhly
To cursillovietnam@ This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Today at 11:47 AM

Dụ ngôn Mười Điều Răn

http://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/11/10-dieu-ran.jpg
DỤ NGÔN MƯỜI ĐIỀU RĂN
Để làm cho các con hiểu rõ mười điều răn là gì và việc tuân giữ nó quan trọng chừng nào, Thầy nói cho các con dụ ngôn này:
Một người cha của một gia đình kia có hai người con trai, ông yêu hai người như nhau, và ông muốn trở nên ân nhân của hai người theo cùng một cách. Người cha này, ngoài nơi mà ông ở với các con ông, ông còn là chủ những sở hữu khác, nơi ông dấu những kho tàng lớn lao. Hai người con biết là có kho tàng này, nhưng họ không biết con đường nào để tới đó. Qủa vậy, vì những lý do đặc biệt, người cha không tiết lộ với các con ông con đường để tới đó, và như vậy đã từ nhiều năm rồi. Nhưng vào một lúc kia, ông gọi hai con trai lại và nói với họ: "Bây giờ đã đến lúc thuận tiện để các con biết kho tàng mà cha các con để dành cho các con nó ở đâu, để các con tới đó khi cha bảo các con. Trong khi chờ đợi, các con hãy nghe cho biết con đường và các dấu hiệu mà cha đã đặt ở đó, để các con không bị lạc mất con đường trúng. Vậy hãy nghe cha đây: Các kho tàng không ở trong đồng bằng, nơi nước đọng, nơi đại nhiệt thiêu đốt, nơi bụi bặm làm hư tất cả, nơi gai góc và các cây mâm xôi làm ngộp rau cỏ thảo mộc, và là nơi kẻ trộm có thể tới ăn cắp cách dễ dàng. Các kho tàng ở trên đỉnh ngọn núi cao kia, cao và gập ghềnh. Cha đã để nó ở đó, tận trên đỉnh, và chúng đang chờ các con. Ngọn núi có nhiều lối đi, cả đến có rất nhiều, nhưng chỉ có một đường là tốt. Các đường khác, một số thì tận cùng ở một vực thẳm, số khác thì dẫn vào một cái hang không có lối ra, số khác nữa thì tới những hố sâu nước bùn, số thì tới các hang rắn độc, số thì tới miệng núi lửa đầy lưu huỳnh cháy nóng, số thì tới những thành lũy không thể vượt qua được. Trái lại, con đường trúng thì mệt nhọc, nhưng dẫn tới đỉnh, không bị gián đoạn bởi các vực thẳm hay các chướng ngại khác. Để các con có thể nhận ra nó, cha đã để suốt dọc đường, tại những khoảng cách đều nhau, mười cái bia đá trên đó có khắc các chữ này: 'Tình yêu, Vâng phục, Chiến thắng', để hướng dẫn các con. Hãy đi theo đường đó và các con sẽ tới chỗ kho tàng. Rồi cha, bởi một con đường khác mà chỉ một mình cha biết, cha sẽ đến để mở các cửa cho các con để các con được sung sướng".
Hai người con chào cha. Ông nhắc lại bao lâu hai con trai ông còn nghe thấy: "Hãy theo con đường mà cha chỉ cho các con, vì sự lành của các con. Đừng để mình bị lôi kéo bởi các con đường khác, dù nó có vẻ như tốt hơn. Các con sẽ mất kho tàng và mất cha cùng với nó..."
Đây, họ ở chân núi. Một bia đá đầu tiên được dựng ở dưới thấp, đúng vào chỗ bắt đầu con đường, ở giữa một loạt những con đường để lên núi theo đủ mọi hướng. Hai anh em bắt đầu leo lên trên con đường tốt. Nó vẫn còn rất tốt lúc bắt đầu, mặc dầu không một chút bóng mát. Từ trên trời, mặt trời chiếu thẳng xuống và dìm ngập nó trong ánh sáng và sức nóng. Đá có mầu trắng ở nơi nó được đục vào. Bầu trời trong ở bên trên đầu họ. Sức nóng của bầu trời bao phủ các chi thể họ. Đó là những điều hai anh em nhìn thấy và cảm thấy. Nhưng vẫn còn được kích thích bởi thiện chí, bởi các kỷ niệm về người cha và về các lời dặn dò của ông, hai người vui vẻ đi lên phía đỉnh. Đây, cái bia đá thứ hai... rồi cái thứ ba. Con đường càng lúc càng mệt, đơn độc, cháy nóng. Họ cũng không nhìn thấy các con đường khác là những đường có cỏ, có cây, có nước trong, nhất là nó ít dốc, vì nó thoai thoải từ từ, và được làm trên nền đất không có đá.
-Cha chúng ta muốn cho chúng ta đi tới chỗ chết! – một người con nói khi tới cái bia đá thứ bốn, và anh ta bắt đầu bước chậm lại. Người con kia khuyến khích anh ta tiếp tục cuộc hành trình bằng cách nói: "Người yêu chúng ta như các thứ ngã của người và còn hơn nữa, vì người đã bảo toàn cho chúng ta một kho báu tuyệt vời như vầy. Con đường ở trong đá, không có quẹo ngang, đi thẳng từ dưới lên tới đỉnh, là chính ông đã đẽo. Những bia đá này, chính ông đã làm để hướng dẫn chúng ta. Anh ơi, hãy suy nghĩ: chính ông, một mình ông đã làm tất cả những điều này vì tình yêu, để tặng cho chúng ta, để làm cho chúng ta tới nơi không thể sai lầm và không nguy hiểm".
Họ lại đi. Nhưng các con đường đã bị loại bỏ ở phía dưới tiến lại gần con đường đục vào đá, và chúng càng hay lại gần hơn khi con đường dẫn tới đỉnh núi trở nên hẹp hơn. Và ôi, chúng đẹp đẽ, mát mẻ, có vẻ mời mọc chừng nào!...
-Tôi rất muốn đi một trong các con đường kia. Có bao nhiêu con đường khác với con đường này để lên đỉnh núi – người anh trai không hài lòng nói khi tới bia đá thứ sáu.
-Anh không thể nói vậy... Anh đâu có nhìn thấy là nó lên hay xuống.
-Kia kìa, nó ở trên đó mà!
-Anh dâu có chắc chỗ đó có phải là con đường này không. Hơn nữa, cha đã bảo là đừng bỏ con đường đúng.
-Kẻ uể oải tiếp tục một cách miễn cưỡng. Đây, bia đá thứ bảy.
Ôi! Với tôi, tôi bỏ đi thực sự đây!
-Anh ơi, đừng làm vậy!
Họ đi lên. Từ đây con đường thực sự rất khó. Nhưng đỉnh núi đã gần rồi...
Đây, bia đá thứ tám, và một con đường đầy hoa chạy quanh ngay bên cạnh nó.
-Ôi! Em thấy không? Con đường đó có lẽ không phải là con đường thẳng, nhưng rõ ràng là nó đi lên.
Anh đâu biết đây có phải con đường đó không.
-Có chứ! Anh nhận ra nó mà!
Anh lầm đó.
-Không, anh đi đây.
-Đừng làm vậy. Hãy nghĩ tới Cha, tới các nguy hiểm, tới kho tàng.
-Nhưng cầu cho chúng tiêu ma hết đi! Kho tàng mà làm gì nếu anh chết khi lên tới đỉnh? Đâu có nguy hiểm nào lớn hơn con đường này?
Và đâu có sự thù ghét nào lớn hơn sự thù ghét của người cha đã chế diễu chúng ta bằng con đường này để làm cho chúng ta chết?
Chào! Anh sẽ tới nơi trước em mà vẫn còn sống... – Và anh ta nhảy vào con đường kế bên, rồi biến mất trong lúc phát ra những tiếng kêu vui mừng sau các cây cho bóng mát.
-Người em tiếp tục cách buồn rầu... Ôi! Con đường ở đoạn cuối thực là dễ sợ! Người bộ hành hầu không kham nổi nữa. Anh ta tựa như người say vì mệt mỏi, vì mặt trời! Tại bia đá thứ chín, anh ta đứng lại, thở hổn hển, tựa vào bia đá, đọc một cách máy móc các chữ được khắc ở trên. Rất gần đó có một con đường với bóng mát, nước và hoa đẹp... "Tôi sẽ đi vào đường đó chăng?... Nhưng không! Không. Ở đây đã viết, và chính cha tôi đã viết: 'Tình yêu, Vâng lời, Chiến thắng'. Tôi phải tin vào tình yêu của Người, vào sự thật của Người, và tôi phải vâng lời để chứng tỏ tình yêu của tôi... Nào!... Cầu cho tình yêu nâng đỡ tôi..." Đây, bia đá thứ mười... Người bộ hành kiệt quệ, bị cháy bởi mặt trời, gù xuống để bước như ở dưới một cái ách... Đó là cái ách yêu thương và thánh thiện của sự trung thành, là tình yêu, sự vâng lời, mạnh mẽ, cậy trông, chính trực, khôn ngoan, tất cả... Thay vì dựa vào bia đá, anh ta ngồi bệt bên một chút bóng mát của tảng đá dựng trên mặt đất. Anh cảm thấy như hầu chết. Từ con đường bên cạnh bay tới tiếng động của dòng suối và mùi cây rừng... "Cha ơi! Cha ơi! Hãy giúp con trong cơn cám dỗ này bằng thần trí của cha... Hãy giúp con trung thành tới cùng!"
Từ xa, giọng nói vui vẻ của người anh: "Tới đây đi, anh chờ em. Ở đây là Thiên Đàng... Tới đi..."
-Nếu em tới đó?... – Và anh ta kêu rất lớn: "Có đúng là người ta lên đỉnh được không?"
-Đúng mà. Tới đi. Có một cái hành lang mát mẻ dẫn lên đó. Tới đi! Anh đã nhìn thấy đỉnh núi ở bên kia hành lang, ở trong đá.
-Tôi tới? Tôi không tới?... Ai đến cứu tôi?... Tôi tới... – Anh chống tay để đứng dậy, và khi làm như vậy, anh quan sát thấy rằng các chữ được khắc không còn rõ nét như ở các bia đá đầu tiên: "Ở mỗi bia đá, các nét chữ trở nên mờ hơn... Tựa như cha tôi mệt mỏi, phải khó khăn để khắc... Và... Coi này!... Ở đây cũng vậy, có cái dấu mầu nâu đỏ này, tôi bắt đầu nhìn thấy rõ từ bia đá thứ năm... Nhưng ở đây nó làm đầy trong các khe của các chữ, và nó chảy xuống, để lại vết trên đá như dòng nước mắt đậm, giống như... máu..." Và với ngón tay, anh ta cào vào chỗ có một vết lớn như hai bàn tay. Và cái vết biến đi, để lộ ra những lời này, rõ như mới viết: "Cha yêu các con như vậy đó, cho tới đổ máu ra để dẫn các con tới kho tàng".
-Ôi! Ôi! Cha tôi! Và tôi, tôi đã có thể nghĩ tới không tuân theo mệnh lệnh của Cha sao? Xin tha, cha của con ơi, xin tha! – Người con gục vào bia đá để khóc, và lằn máu ở đầy trong các khe chữ tự mới lại, tươi bóng như hồng ngọc, và nước mắt trở thành đồ ăn đồ uống cho người con tốt, và sức mạnh... Anh đứng dậy... Vì tình yêu, anh gọi người anh rất mạnh, rất mạnh... Anh ta muốn kể điều khám phá của anh cho ông anh... tình yêu của cha, để nói với anh: "Hãy trở lại". Nhưng không ai trả lời cả.
Người thanh niên lại lên đường, hầu như lết bằng đầu gối trên đá nóng. Vì kiệt sức, thân xác anh thực sự tới mức, nhưng tâm hồn anh trong sáng. Đây, đỉnh núi... Và kìa, Cha!
-Cha của con!
-Con cưng!
Người thanh niên lao mình vào lòng thân phụ. Người cha đón nhận anh và bao phủ anh bằng những cái hôn.
-Con có một mình?
-Vâng... Nhưng anh con sắp tới...
-Không. Anh ấy không tới nữa. Anh đã bỏ con đường của mười bia đá. Anh đã không trở lại sau những tỉnh ngộ đầu tiên đã loan báo cho anh. Con muốn nhìn thấy anh không? Anh kia kìa, trong hố lửa... Anh cứng đầu trong tội. Cha sẽ còn tha thứ và còn chờ anh nếu sau khi nhận ra lỗi lầm, anh biết quay trở lại, và nếu dù có chậm trễ, anh ta cũng đi qua nơi mà tình yêu đã đi qua trước, trong khi chịu đựng tới nỗi đổ ra cho các con những thứ tốt nhất của máu người, cái đắt gía nhất ở nơi Người.
-Anh đã không biết.
-Nếu anh con đã nhìn với tình yêu những lời được khắc trên mười bia đá, thì anh đã đọc được ý nghĩa thực sự của nó. Con đã đọc được từ bia đá thứ năm, và con đã lưu ý anh ta khi nói: "Chỗ này chắc cha bị thương!" Và con đã đọc được nó ở bia đá thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín... luôn luôn rõ hơn, cho tới lúc con có cái trực giác muốn khám phá điều gì ở dưới lớp máu của cha. Con biết tên của cái trực giác này không? Sự kết hợp thực sự của con với cha. Các thớ thịt của qủa tim con hòa lẫn với các thớ thịt của qủa tim cha đã nhảy mừng và nói với con: "Ở đây mày sẽ có sự đo lường về cách thế người cha yêu mày". Bây giờ con, kẻ có Tình Yêu, Vâng Lời, Chiến Thắng, hãy vào chiếm lấy kho báu và chính Cha tới muôn đời.
Đó là dụ ngôn.
Mười bia đá là mười giới răn. Thiên Chúa của các con đã khắc nó và đặt nó trên con đường dẫn tới kho báu đời đời, và Người đã khổ cực để dẫn các con vào con đường này. Các con đau khổ ư ? Thiên Chúa cũng vậy. Các con phải gắng sức với chính mình ư ? Thiên Chúa cũng vậy, và các con biết tới điểm nào không? Tới mức chịu đựng sự chia lìa chính mình Người và tự cố gắng để biết thực thể của loài người với tất cả những khốn nạn mà nhân tính mang theo với nó: sinh ra, chịu giá lạnh, đói khát, mệt nhọc và những chua cay, những xúc phạm, những thù ghét, những cạm bẫy, và sau cùng là cái chết bằng cách đổ hết máu Thầy ra để cho các con kho báu. Đó là điều Thiên Chúa chịu đựng khi xuống trần để cứu các con. Đó là điều Thiên Chúa trên Trời chịu đựng khi tự cho phép mình chịu đau khổ như vầy.
Thực vậy, Thầy bảo các con rằng không một người nào, dù con đường về trời của họ lao nhọc tới đâu, có thể là con đường lao khổ hơn, đau thương hơn con đường mà Con Người đi từ Trời xuống đất, từ đất tới Lễ Hy Sinh, để mở các cửa của kho báu cho các con.
Máu Thầy đã ở trong các bản của Lề Luật. Máu Thầy đã ở trên con đường mà Thầy vạch ra cho các con. Chính dưới làn sóng của máu Thầy mà cửa của các kho tàng mở ra. Chính bởi máu Thầy mà tâm hồn các con được tẩy rửa, được nuôi dưỡng, và được trở nên trong sạch và mạnh mẽ. Nhưng để cho nó không đổ ra cách vô ích, thì các con phải theo Lề Luật bất di bất dịch của mười giới răn.♥
(Quyển 6, đoạn 144)
"Bài thơ của Con Người-Thiên Chúa"
Viết bởi Maria Valtorta
Chuyển ngữ: Nữ tu Phạm thị Hùng CMR

__._,_.__

 
DOI SONG TAM LINH # 84 = GIAO HOI - 24 - PDF Print E-mail

Feb 9 at 1:33 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- 24 -

Giáo Hội

... Nó còn ở đằng xa thì cha nó đã thấy nó, và ông chạnh lòng thương: chạy lại, ông bá lấy cổ nó mà hôn lấy hôn để. Người con mới nói với ông: Thưa cha, con đã trót phạm tội nghịch với Trời và trước mặt cha, con không còn xứng đáng gọi là con cha nữa. Nhưng cha của nó đã nói cùng đầy tớ mau mau mang áo thượng hạng mà mặc cho nó... (xem Lc 15,14-32).

*

* *

"Nó còn ở đàng xa thì cha nó đã thấy nó". Phúc Âm không nói người cha đã thấy con trong trường hợp nào. Ngày ngày ông đứng ngóng trông trên đường? Hay vô tình ông thấy con về? Lúc gặp con, người cha chạnh lòng thương và sai gia nhân mau mau về nhà lấy áo thượng hạng mà mặc cho nó. Sai gia nhân về nhà lấy áo có nghĩa là lúc bấy giờ phải có mặt gia nhân ở đấy. Theo thứ tự thời gian, câu chuyện xẩy ra ngắn gọn như sau: --- ông ôm con --- ông truyền lệnh. Từ lúc ông gặp được con cho đến lúc ông sai gia nhân về nhà lấy áo chỉ kéo dài có khi không đầy một phút. Với thời gian ngắn như vậy, làm sao lại có thể có mặt gia nhân ở đó được? Ðiều ấy có thể tìm trong hai suy diễn:

Một là --- gia nhân đã có mặt ở đó trước khi ông tới.

Hai là --- ông thấy con rồi gọi gia nhân cùng chạy theo đón.

Nếu gia nhân thấy trước rồi về báo tin, thì vai trò của gia nhân ở đây là sứ giả đem tin vui cho chủ mình. Nếu gia nhân ghét đứa con phung phá này thì chẳng có lý do gì họ phải về báo tin cho chủ. Mặc kệ. Vì thế, hành động về báo tin là dấu chỉ họ mong chờ. Thái độ của gia nhân ở đây phản ảnh trung thực tâm hồn hiệp thông của những người thuộc về một gia đình. Hình ảnh này gợi lên trong tâm hồn tôi đây là lối sống thật của ơn gọi sống trong gia đình Chúa. Một thứ gia nhân trong gia đình Chúa có thể mang nhiều tên gọi khác nhau: giàu, nghèo, văn hóa, lập trường chính trị, Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, vô tôn giáo... Là Kitô hữu mà không sống bác ái thì không bằng không là Kitô hữu nhưng sống hiệp thông trong tình thương.

Nếu người cha thấy trước, rồi gia nhân cùng chạy theo đón người con thì vai trò của gia nhân ở đây là làm cho niềm vui của người cha thêm trọn vẹn. Không có gia nhân, người cha không sai ai về nhà lấy áo thượng hạng, lấy nhẫn và giầy cho con mình được. Từ suy diễn này, mỗi phần tử trong gia đình Chúa đều mang ơn góp niềm vui cho Chúa Kitô. Ðem niềm vui cho chủ là lời cám ơn của gia nhân đối với chủ. Bởi đó, thái độ đón tiếp nhau không phải chỉ là đón tiếp riêng lẻ. Trong ý nghĩa như thế, bí tích giải tội của cá nhân trở thành bí tích hiệp thông với toàn thể Giáo Hội.

Không có gia nhân ở đó thì người con không có áo đẹp, không có nhẫn đeo, không có giầy đi, niềm vui của người con cũng kém trọn vẹn. Thế thì, vai trò của gia nhân cũng là đem niềm vui cho người con trở về. Trong ý nghĩa ấy, người con không những phải biết ơn cha mà cũng phải cám ơn gia nhân. Ðây cũng chính là thái độ sống thích đáng của Kitô hữu. Không phải tôi chỉ cần cám ơn Chúa mà thôi, nhưng phải ghi ơn cả người đồng loại. Từ điểm này, hiệp thông càng là yếu tính của Giáo Hội.

Dù với luận cứ nào đi nữa, người cha đã thấy con mình trước, hay gia nhân đã thấy trước thì việc đón người con về với gia đình vẫn là sự đón tiếp của cả người cha và gia nhân, của đại gia đình.

*

* *

Nhìn hình ảnh các gia nhân cùng đi đón người con trở về, Giáo Hội mang ý nghĩa là chỉ những ai sống hiệp thông trong bác ái, mới xứng đáng gọi là sống trong Giáo Hội. Niềm vui ở đây không chỉ là của riêng người cha, mà của cả gia đình. Ý tưởng này được làm nổi bật ở cả dụ ngôn con chiên lạc, và người đàn bà tìm thấy đồng tiền đánh mất. Khi gặp lại chiên lạc, người chăn chiên đã gọi bạn bè hàng xóm đến chung vui. Khi tìm thấy đồng tiền đánh mất, bà ta mời cả chung quanh láng giềng đến ăn mừng, chứ không riêng bà.

Xét theo kỹ thuật viêt văn và trình bày của Luca trong Phúc Âm này, ta thấy trước khi kể dụ ngôn người con đi hoang trở về, Chúa kể dụ ngôn chiên lạc tìm thấy, tiếp liền sau đó là dụ ngôn đồng bạc đánh mất lại gặp. Ðặt ba dụ ngôn cùng tư tưởng thành một chùm sao rực rỡ, sống động. Luca muốn làm cháy sáng lên những ý nghĩa quan trọng mà Chúa muốn nhấn mạnh. Cả ba dụ ngôn đều nói đến niềm vui là niềm vui của toàn thể cộng đoàn, chứ khôngphải biệt lập cá nhân. Nếu niềm vui là của toàn thể, thì nỗi buồn mất mát cũng phải là nỗi buồn chung. Trong suy diễn đó, Giáo Hội không thể chỉ hệ tại lãnh thổ, văn phòng, tên gọi, mà nơi nào có hiệp thông và chia sẻ nơi đó có Giáo Hội.

*

* *

Muốn tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa của danh từ Giáo Hội, thiết tưởng, khi nhìn lại câu chuyện người con hoang đàng, ta phải xét đến một khía cạnh khác: gia nhân là ai?

Trong câu chuyện người con đi hoang trở về, ta thấy gia đình này là một thảm cảnh. Cả ba người: ông chủ, người con thứ, người con trưởng đều đau khổ.

- Ông chủ đau khổ vì người con thứ mang theo tiền bạc, bỏ nhà đi. Ông mất tiền, mất con.

- Người con trưởng đau khổ vì ghen tức mà mất tình thương với em, làm đau lòng cha, không chung nổi tiệc mừng.

Lối kết cấu của câu chuyện không nói rõ tương lai gia đình này ra sao. Nhìn vào lối kết hiện tại ta có thể thấy một suy diễn khác:

- Ông chủ vừa vui mừng khi người con thứ trở về thì ông lại mất người con trưởng vì anh ta không chấp nhận đường lối của ông.

- Người con thứ trở về, cảnh làm thuê độ nhật vừa chấm dứt thì lòng ghen tức của anh lại bắt đầu. Ðau khổ cũ vừa qua thì đau khổ mới lại nẩy sinh.

Ðiểm nổi bật trong câu chuyện là ta không hề thấy những gia nhân phải đau khổ. Họ chẳng những không đau khổ mà còn là sứ giả đem tin vui:

- Họ chạy về nhà lấy áo thượng hạng, nhẫn, giầy theo lời chủ.

- Họ là người đã hạ bò tơ, mở tiệc ăn khao.

- Họ là người đưa tin xum họp cho người con trưởng lúc đi làm về.

Ðây là hình ảnh đáng suy nghĩ khi đặt vấn đề ai là người ở trong Giáo Hội, ai là người sống Tin Mừng. Trong dụ ngôn này, kẻ chống đối chính là người trong gia đình. Khi người con trưởng đi làm về, được gia nhân báo tin là đang có tiệc mừng cho cậu em, "chàng nổi giận không thèm vào nhà". Nhìn vào lịch sử của Giáo Hội, có khi chống đối xẩy ra trong đoàn thể, trong giáo xứ, trong Giáo Hội nhiều hơn là do kẻ bên ngoài. "Và họ mở tiệc ăn khao", trong ngày vui như vậy thì chính người con trưởng lại là nguyên nhân đem đến những đám mây mù ảm đạm. Chính người con trong gia đình, ngày ngày ở bên cha lại không nhận ra nỗi héo hắt, u buồn của cha. Không nhận ra nỗi khổ tâm của cha đã là một ơ hờ. Ngăn cản niềm vui của cha thì không còn là thờ ơ nữa mà là xúc phạm.

Ðối với người con trở về, nó phải cám ơn ai? gia nhân hay anh nó? Ðối với người cha, ai là người đem tin vui? gia nhân hay con ruột?

*

* *

Chương 13 của Phúc Âm Luca nói đến gia đình Chúa với ý nghĩa rất chua xót: "Sẽ có kẻ tự phương Ðông, phương Tây, từ phương Bắc, phương Nam đến dự tiệc với Abraham, Isaac trong Nước Thiên Chúa, còn con cái trong nhà lại bị loại ra (Lc 13,28-29). Trong tiệc vui, các gia nhân được tham dự hân hoan, còn chính người con trưởng trong gia đình lại không biết niềm vui là gì. Ở ngoài Giáo Hội không có nghĩa là không có sự cứu rỗi. Ở trong Giáo Hội cũng không đồng nghĩa là đương nhiên được cứu rỗi. Ðược tham dự Tiệc Thiên Chúa hay không là tùy thái độ sống hiệp nhất và loan báo tình thương. Hạnh phúc của gia nhân hệ tại là đáp lời gọi của chủ, là sứ nhân mang tin vui. Từ đó, đi tìm đặc tính của người là con Chúa, không thể căn cứ trên giấy rửa tội. Ðặc tính của người là con Chúa là lối sống trong xã hội, với ấn dấu được đóng là tình thương đồng loại.

Gia tài của Giáo Hội là các bí tích chứ không phải đền đài, dòng tu, tiền bạc. Nhìn lại dụ ngôn người con đi hoang trở về, gia tài của người cha đã bị hoang phí bởi chính người con. Gia tài của cha giàu có, nhưng bao năm anh ta phải ăn bám dân trong vùng, phải đi chăn heo, thèm ngốn rau heo cho đầy bụng mà chẳng có ai cho. Bởi đó, tôi ở trong Giáo Hội, chưa chắc tôi đã sống nhịp sống phong phú của Giáo Hội. Có thể tôi còn nghèo ân sủng thiêng liêng hơn những kẻ ở ngoài Giáo Hội.

Nếu định nghĩa Giáo Hội là những người rửa tội, nhận Chúa Kitô là thủ lãnh, sống trong xứ đạo, đi lễ, đọc kinh, kính phục Ðức Giáo Hoàng thì tôi đang ở trong Giáo Hội. Nếu hiểu Giáo Hội là nơi sống trong tình thương, là nơi không kỳ thị, là nơi nối kết nên một, là nơi những bông hoa biết cám ơn nhau vì sự khác biệt của mình đã làm đẹp vũ trụ, chứ không phải ghen tức vì duyên sắc, thì rất có thể tôi đang sống ngoài Giáo Hội.

*

* *

Lạy Chúa, yếu tính của gia đình Chúa là hiệp thông trong tình thương. Nếu con hiểu Giáo Hội chỉ là nhà thờ, là xứ đạo, thì con có thể đấu tranh để bảo vệ nhà thờ, để có xứ đạo, con có thể xóa bỏ hiệp thông và bác ái để đạt mục đích. Nếu con hiểu Giáo Hội là sống trong tình thương thì con có thể hy sinh danh từ Công Giáo mà vẫn giữ được căn tính làm con Chúa. Con có thể hy sinh nhà thờ mà vẫn có chỗ cầu nguyện.

Xin Thánh Thần Chúa

- Ðổi mới tâm trí con hiểu biết sự phong phú của Giáo Hội.

- Ðổi mới lối sống đạo khô cằn, thụ động thành sáng tạo.

- Thanh tẩy những hẹp hòi, nhỏ nhen của một tâm hồn giữ luật hơn giữ tình thương.

- Xin cho con nhìn thấy mọi người đều là con Chúa. Nhà thờ là nơi hiệp thông của tình thương, không còn biên giới của văn hóa, chủng tộc và ngay cả tôn giáo.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Kính chuyển

Hồng

 
DOI SONG TAM LINH # 83 = NGAY GIOI TRE 2014 PDF Print E-mail

Feb 7 at 11:05 PM - Tinh Cao

"Phúc cho ai nghèo khó trong tinh thần, vì nước trời là của họ" (Mathêu 5:3)

ĐTC Phanxicô: Sứ Điệp cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXIX - 2014

Dẫn nhập của người chuyển dịch:

Cả hai Sứ Điệp đầu năm 2014, bao gồm Sứ Điệp cho Mùa Chay (bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro ngày 5/3/2014) lẫn Sứ Điệp cho Giới Trẻ (Lễ Lá 13/4 tại địa phương các giáo phận), đều liên quan đến tinh thần nghèo khó của Phúc Âm và đời sống khó nghèo của Chúa Kitô, vì tác giả của cả 2 sứ điệp này là vị giáo hoàng mang danh hiệu của một vị thánh nghèo Phanxicô được sai đến với chủ trương mạnh mẽ và dứt khoát "Giáo Hội nghèo và cho người nghèo".

Nếu Ngày Giới Trẻ Thế Giới, theo ý định và mục đích thiết lập ban đầu của ĐTC GPII, và căn cứ vào chiều hướng cùng nội dung tổ chức làm nên biến cố của Giáo Hội hoàn vũ này, (như sự kiện giới trẻ học giáo lý với chính các vị giám mục nói ngôn ngữ của mình là thành phần thừa kế các tông đồ chứ không phải với các vị linh mục, Đi Đàng Thánh Giá vào chiều Thứ Sáu, cùng gặp gỡ đích thân chính Đức Giáo Hoàng đại diện của Chúa Kitô trên trần gian vào đêm canh thức Thứ Bảy), thì nó là một điểm hẹn để giới trẻ gặp gỡ Đức Kitô, bởi thế Ngày Giới Trẻ Thế Giới nào được tổ chức chung tại bất cứ quốc gia đại diện nào, cũng đều có sự hiện diện của chính vị đại diện của Chúa Kitô trên trần gian.

Tuy nhiên, vào những Ngày Giới Trẻ Thế Giới các năm ở giáo phận địa phương, vị đại diện Chúa Kitô này vẫn hiện diện với giới trẻ bằng lời của ngài qua một sứ điệp gửi riêng cho họ, để nhờ đó họ học hỏi sống theo gương và tinh thần của Chúa Kitô trong Giáo Hội và thế giới mà họ là tương lai, cũng như để họ có thể sửa soạn cử hành Chúa Nhật Lễ Lá là thời điểm được ĐTC GPII chọn chẳng những để làm Ngày Giới Trẻ Thế Giới đầu tiên năm 1985, mà còn vì đó là thời điểm bắt đầu mùa xuân hợp với tuổi xuân xanh của giới trẻ, nhất là vì theo Phúc Âm của Chúa Nhật Lễ Lá, thì chính giới trẻ đã kéo nhau tiến lên nghênh đón Chúa Kitô khi Người vinh quang tiến vào Thánh Giêrusalem!

Giới Trẻ thân mến,

Sống động biết bao khi tôi nhớ lại cuộc gặp gỡ đặc biệt của chúng ta ở Rio de Janeiro trong Ngày Giới Trẻ lần thứ 28. Nó là một cuộc đại cử hành đức tin và tình thân hữu! Nhân dân Ba Tây tuyệt vời đã tiếp đón chúng ta bằng cánh tay rộng mở, như pho tượng Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc từ ngọn đồi Corcovado nhìn xuống cảnh bao rộng hùng tráng của vịnh Copacabana. Ở đó, trên bãi biển này, Chúa Giêsu đã lập lại lời kêu gọi của Người với từng người chúng ta trong việc trở nên thành phần môn đệ truyền giáo của Người. Chớ gì chúng ta coi lời kêu gọi này như là điền quan trọng nhất trong đời sống của chúng ta và chia sẻ tặng ân ấy với những người khác, gần cũng như xa, thậm chí cho đến cả những vùng ngoại vi xa xôi về địa lý và cuộc sống của thế giới này.

Điểm dừng chân tiếp tới cho cuộc hành trình giới trẻ liên lục địa của chúng ta sẽ ở Krakow vào năm 2016. Như là một cách thức cùng nhau đồng hành cho cuộc hành trình của chúng ta, trong 3 năm tới, tôi muốn chia sẻ với các bạn về các Phúc Đức Trọn Lành trong Phúc Âm Thánh Mathêu (5:1-12). Năm nay chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc suy niệm về Phúc Đức Trọn Lành thứ nhất: "Phúc cho ai nghèo khó trong tinh thần, vì nước trời là của họ - blessed are the poor in spirit..." (Mt 5:3). Cho năm 2015, tôi đề nghị: "Phúc cho ai thanh sạch trong cõi lòng - blessed are the pure in heart, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa" (Mathêu 5:8). Rồi vào năm 2016, đề tài của chúng ta sẽ là: "Phúc cho ai thương xót, vì họ sẽ được xót thương" (Mt 5:7).

1- Quyền lực cách mạng của các Phúc Đức

Bao giờ chúng ta cũng cảm thấy hân hoan khi đọc và suy niệm về các Phúc Đức Trọn Lành! Chúa Giêsu đã loan báo chúng trong bài giảng long trọng đầu tiên của Người trên bờ biển Galilêa. Ở đó có rất đông dân chúng nên Chúa Giêsu đã lên núi để giảng dạy cho các môn đệ của Người. Đó là lý do tại sao bài giảng này được gọi là "Bài Giảng Trên Núi". Trong Thánh Kinh, núi được coi như là một nơi Thiên Chúa tỏ mình ra. Chúa Giêsu, qua việc giảng dạy trên núi, tỏ ra cho thấy chính Người là một vị thần sư, một tân Moisen. Người đã nói với chúng ta những gì? Người đã tỏ cho chúng ta thấy một đường lối sống, một đường lối chính Người đã đi qua. Chính Chúa Giêsu là đường lối, và Người đã nêu lên con đường này như là đường lối dẫn đến hạnh phúc đích thực. Suốt cuộc đời của mình, từ khi sinh ra cho đến khi tử nạn trên thập giá và phục sinh của mình, Chúa Giêsu đã hiện thực hóa các mối Phúc Đức Trọn Lành này. Tất cả những gì hứa hẹn về Vương Quốc của Thiên Chúa đã được nên trọn nơi Người.

Trong việc rao giảng các Phúc Đức Trọn Lành này, Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy theo Người và cùng Người đồng hành dọc theo con đường yêu thương, con đường duy nhất dẫn đến sự sống đời đời. Nó không phải là một con đường dễ đi, nhưng Chúa đã hứa ban cho chúng ta ân sủng của Người và Người không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúng ta đang đương đầu với rất nhiều thử thách trong đời: như nghèo khổ, buồn đau, ô nhục, tranh đấu cho công lý, bị bách hại, khó khăn trong vấn đề đối thoại hằng ngày, nỗ lực để trung thành với ơn gọi nên thánh của chúng ta, và nhiều thử thách khác nữa. Thế nhưng, nếu chúng ta mở cửa cho Chúa Giêsu và để cho Người trở thành một phần đời của mình, và nếu chúng ta chia sẻ niềm vui nỗi buồn với Người, thì chúng ta sẽ cảm nghiệm được an bình và niềm vui mà chỉ duy một mình Thiên Chúa là tình yêu vô cùng mới có thể ban cho chúng ta thôi.....

Hỡi các bạn trẻ, Chúa Giêsu thách đố chúng ta hãy nghiêm cẩn theo đường lối sống của Người và dứt khoát chọn con đường nào là đúng đắn đối với chúng ta, dẫn chúng ta tới niềm vui đích thực. Đó là một đại thách đố của đức tin. Chúa Giêsu không sợ đòi hỏi các môn đệ của Người nếu họ thực sự muốn theo Người hay nếu họ thích một đường nẻo khác (cf 6:67). Tông Đồ Simon Phêrô đã can đảm trả lời rằng: "Lạy Thày, chúng con còn biết theo ai? Thày mới có những lời sự sống đời đời" (Gioan 6:68). Cả các bạn nữa, nếu

(xin xem tiếp phần còn lại vào Chúa Nhật:)

2- Lòng can đảm để được hạnh phúc

3- Phúc cho ai nghèo khó trong tinh thần...

4- ... vì nước trời là của họ

(Ngài mai Thứ Bảy: xin xem tiếp Giáo Lý Thánh Mẫu của ĐTC GPII bài 58)

 
DOI SONG TAM LINH # 82 = XET DOAN PDF Print E-mail

Jan 28 at 11:03 AM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- 14 -

Xét Ðoán

Ðừng tự xét đoán, tự nó đã nói lên phần nào tính chất mơ hồ rồi. Xét đoán được ghép bởi hai động từ khác nhau là xét và đoán. Xét là tìm hiểu. Ðoán là phỏng chừng. Xét thì khó vì phải tìm hiểu hoàn cảnh, phải kiếm nguyên nhân, phải phân tích để có dữ kiện rõ ràng. Ðoán thì dễ hơn, chỉ cần ước lượng là thế, phỏng chừng như vậy. Ðộng từ đoán dựa trên những điều không đủ chắc, không rõ sự thật. Khi nói xét đoán một người thì có phần xét và cũng có phần đoán. Nhiều khi phần đoán lại nhiều hơn phần xét. Sai lầm nẩy sinh từ đó.

Trước khi tìm hiểu Kinh Thánh nói về vần đề xét đoán, tôi muốn nhìn xét đoán trong một yếu tố liên hệ giữa con người trên bình diện tự nhiên. Yếu tố đó là: phức tạp của vấn đề trong việc xét đoán. Có hai thứ phức tạp. Phức tạp nơi đối tượng bị xét đoán, chẳng hạn như hoàn cảnh, lương tâm của khách thể. Và phức tạp nơi chủ thể xét đoán, chẳng hạn như giới hạn tri thức của chủ thể, ảnh hưởng tình cảm của chủ thể khi xét đoán.

Phức tạp nơi đối tượng

"Không ai tắm hai lần trên một dòng sông". Dòng nước chảy. Ðã đi. Sẽ mất mãi. Chẳng ai có được hai lần cái tâm tình lúc tuổi mười tám. Hôm qua đứng bên dòng sông. Hôm nay trở lại. Dòng sông còn đó. Tôi còn đây. Nhưng không phải là tôi của ngày hôm qua. Không phải là dòng sông hôm cũ. Nước hôm qua của dòng sông đã mất. Mây trên bầu trời hôm qua đã tan loãng. Ðâu rồi? Và tôi, tâm tình cũng đã đổi thay. Hôm qua gặp dòng sông thì tâm tình của tôi không thể là nhớ dòng sông được, vì đã xa cách đâu mà nhớ. Hôm nay trở lại, vì có nhớ dòng sông tôi mới tìm đến. Như vậy, trong tôi đã mang chất nhớ nhiều hơn hôm qua. Tất cả đều biến chuyển. Khi xét một vấn đề mà xét trong hoàn cảnh mọi sự đều thay đổi thì khó mà chính xác. Trong tôi có thương, nhưng đồng thời cũng có giận. Tôi ghét đó, nhưng tôi vẫn yêu. Ðâu là ranh giới mà phương pháp khoa học có thể vẽ lằn mức rõ ràng?

Khi xét một vấn đề phải xét trong bối cảnh của nó. Mà hoàn cảnh của mỗi người là một thế giới chằng chịt những phức tạp chi ly. Tôi cũng chưa biết rõ về tôi đủ thì làm sao có thể biết rõ về người? Càng phức tạp thì càng dễ có sai lầm.

Xét một vấn đề lại phải có tiêu chuẩn để xét, nếu không có tiêu chuẩn người ta không thể đi đến kết luận. Hai cộng với hai không phải là ba. Vì tôi đã có tiêu chuẩn hai cộng với hai là bốn. Sống trong tập thể, con người tuân theo tiêu chuẩn của xã hội. Nhưng tiêu chuẩn luân lý sâu thẳm vẫn do chính Chúa trong tiếng nói lương tâm. Câu chuyện người đàn bà ngoại tình trong Phúc Âm nói lên rõ điều này. Với tiêu chuẩn của tập thể mà xét đoán thì bà phải ném đá chết vì những hành động tội lỗi. Nhưng tiêu chuẩn của Chúa lại khác. Trước mặt xã hội bà bị kết án. Trước mặt Chúa bà được thứ tha (Yn 8,1-11). "Ngươi chỉ nhìn thấy trước mắt còn Yavê trông thấy điều ẩn náu trong lòng" (1Sam 7). Chính điều "ẩn náu trong lòng" này là yếu tố quyết định tối hậu cho việc xét đoán thì tôi lại không bao giờ biết được.

Ðiều "ẩn náu trong lòng" là lương tâm. Ðề cập đến lương tâm là đề cập đến vấn đề riêng tư nhất. Ðã là riêng tư thì làm sao tôi biết. Mà không biết thì làm sao tôi định lượng giá trị. Tôi có kinh nghiệm của riêng đời tôi. Lương tâm người khác thì tôi đành chịu. Thí dụ, một người ăn trộm một trăm đồng. Hành động ăn trộm chưa phải là tội. Nếu họ bị khủng bố, cưỡng bách thì sao có thể là tội? Tôi thấy hành động ly dị, ngoại tình. Nhưng nguyên do đưa đến? Mức độ ý chí lương tâm của họ ra sao? Tôi không thể biết. Khi không xét được, không biết đủ sự kiện thì tôi đoán chừng. Có đoán chừng là có sai lạc.

Hành động phạm tội chưa phải là tội cho đến khi có mặt của ý chí và lý trí. Mà mức độ ý chí, khả năng lý trí, lương tâm kẻ khác thì tôi không biết. Như vậy, xét đoán của tôi có thể dựa trên hành động ngoại tại. Mà hành động bên ngoài, tự nó chưa có giá trị quyết định, thì công việc xét đoán của tôi có giá trị không? Làm sao có thể có một giá trị vững chắc khi mà giá trị đó xây dựng trên một nền tảng không có giá trị vững chắc? "Ngươi là ai mà xét đoán gia nhân người khác? Nó đứng hay nó ngã, mặc chủ nó, song nó sẽ đứng vững, vì Chúa có đủ quyền năng cho nó đứng vững" (Rom 14,4).

Phức tạp nơi chủ thể

Cái phức tạp rõ ràng nơi tôi là sự giới hạn tri thức của tôi. Có điều hôm qua nhớ, hôm nay đã quên. Trí tuệ và sự hiểu biết không hoàn hảo thì không bao giờ tôi có một xét đoán hoàn toàn trung thực. Muốn xét đoán đúng, tôi phải biết rõ, thông suốt. Ðiều này chỉ có Chúa mới đủ khả năng mà thôi.

Tôi đã có hình ảnh không đẹp về một linh mục. Gần một năm trời tôi nhìn linh mục với hình ảnh như vậy. Mùa hè năm đó, linh mục mua cây về trồng chung quanh nhà xứ. Việc đào hố trồng cây đã không được tính toán kỹ, nên phải làm đi làm lại nhiều lần. Số tiền trả nhân công quá tốn. Tôi thấy linh mục làm việc không có chương trình, kế hoạch rõ ràng. Số tiền ấy để làm được bao nhiêu việc quan trọng khác? Mùa hè năm sau, trở lại giáo xứ cũ, Chúa đã cho tôi một ân sủng, một kinh nghiệm về xét đoán tha nhân. Ðối với tôi, linh mục đã là người tiêu tiền của nhà xứ không tính toán. Mùa hè lần này, trong lúc nói chuyện với cha già đã về hưu, tôi phàn nàn về việc cha xứ tiêu tiền như vậy. Lúc đó, cha già cắt nghĩa cho tôi hiểu là trong giáo xứ có mấy gia đình nghèo quá không đủ gạo ăn. Cha xứ thì tế nhị không muốn giúp đỡ họ bằng tiền bạc vì họ sẽ mang ơn. Cha đã bày việc để gọi mấy đứa con của họ đến nhà xứ làm, hầu cha xứ lấy cớ trả công cho họ. Hành động quá tế nhị đến nỗi họ không hề biết là cha xứ muốn giúp đỡ gia đình họ. Cha muốn họ nghĩ là tiền lương do công của con họ làm để họ khỏi phải mang ơn ngài.

Nghe xong câu chuyện, tôi thấy như nắng chiều nhạt xuống. Nặng nề trong hồn. Ðó là hình ảnh quá đẹp của một linh mục sống đức tin. Tôi thấy mình đã nhỏ nhoi và tầm thường. Gần một năm trời tôi đã giữ hình ảnh không đẹp về linh mục đó. Bây giờ tôi mới hiểu những việc rất thường mà tiền công thì cha trả rất nhiều. Ðối với tôi, linh mục đã là người không biết tính toán để tốn tiền bạc. Nhưng chính ngài đã tính toán rất cẩn thận để tìm lối giúp đỡ giáo dân của mình. Tình thương bao giờ cũng có sáng kiến.

Nếu tôi đem câu chuyện linh mục tiêu phí tiền bạc của nhà xứ mà nói cho những người khác để họ cũng có hình ảnh xấu về linh mục như vậy thì tội nghiệp cho ngài biết bao. Nếu tôi có nói xấu thì chắc ngài cũng không đính chính việc ngài làm. Những tâm hồn cao thuợng là những tâm hồn dám âm thầm chấp nhận đau đớn cho một lý tưởng. Những tâm hồn nhỏ nhen khi thấy người khác im lặng thường coi đó như một chiến thắng. Những xét đoán sai lầm và nói cho người khác để rồi họ không hiểu đúng về một người, trước mặt Chúa có thể là lỗi rất nặng. Phúc Âm thánh Yoan gọi những xét đoán đó là: "Các ngươi căn cứ vào xác thịt mà xét đoán" (Yn 8,15).

Tôi thiếu tri thức nhận diện dữ kiện để nhìn ra sự thật. Tri thức nào có đủ khả năng để đi vào những chi ly, phức tạp như văn hóa, giáo dục, tập quán, gia đình, tâm lý, sức khỏe của cả chủ thể xét đoán và khách thể bị đoán xét?

Một nghịch cảnh thông thường, nhưng đáng sợ nằm ẩn kín trong tôi đó là tình cảm của mình. Thương ai tôi muốn làm vừa lòng người đó. Tôi nhớ. Tôi mong. Nếu nỗi nhớ càng sâu và nỗi mong càng cao thì những sai lầm mà tôi sẵn sàng làm để chiều lòng người đó càng nặng. Tình cảm có sức ma thuật che mờ lý trí và đẩy ý chí vào hành động cuồng dại. Nó quá nhẹ nhàng nên tôi không nghe tiếng động. Nó quá sắc nên tôi không thấy vết thương. Xét đoán của tôi không sao tránh khỏi "căn cứ vào xác thịt mà xét đoán".

*

* *

Lạy Chúa, con không thể nhìn thấu suốt tâm hồn tha nhân được, vì thế xét đoán của con bao giờ cũng là xét đoán "căn cứ vào xác thịt". Căn cứ vào xác thịt thì có sai lầm. Khi con xét đoán sai lầm là con gây bất công cho kẻ khác. Xét đoán của con không làm tha nhân ra xấu thêm, nhưng hậu quả của nó là làm con mất bình an. Tâm hồn con không còn thanh thản, tươi sáng nữa, mà vương vấn vì những ý nghĩ đen tối. Con đã tự đem mảnh trời u ám mặc lấy hồn mình.

Từ ý nghĩ xấu về tha nhân sẽ làm con xa tha nhân. từ chỗ xa cho đến chỗ nói thêm về tha nhân những điều họ không có là một bước rất gần. Từ đó, bức tường ngăn cách cứ thế mà xây cao. Nghi kỵ loang ra như một vềt dầu, làm hoen ố tất cả hồ nước xinh đẹp của cuộc sống. Khi con xây tường cũng ngăn cách chính mình. Thí dụ, Phúc Âm đã thuật lại thái độ của Pharisiêu. "Các người thu thuế cùng những kẻ tội lỗi thường lui tới bên Ngài để nghe Ngài. Và Biệt Phái kêu trách. Họ nói: ông ấy tiếp nhận quân tội lỗi và cùng ăn với chúng" (Lc 15,1-2). Thái độ của những người Pharisiêu luôn luôn là xét đoán. Xét đoán đem đến đối nghịch. Pharisiêu đã tự tách biệt họ ra, nhưng sự tách biệt này lại cô lập chính họ với ân sủng thiêng liêng là chính Chúa.

Phúc Âm dạy về xét đoán

Chỉ có Chúa mới thấu suốt tâm hồn mọi người, nên Chúa Cha đã dành quyền xét xử cho một mình Chúa mà thôi: "Mọi việc xử án ban cho Con" (Yn 5,22). Như thế, khi con phán đoán để xét xử về một người là con giành quyền đó của Chúa. Thánh Yacôbê cũng viết: "Xét đoán anh em là xét đoán Lề Luật. Nếu ngươi xét đoán Lề Luật thì ngươi không còn là kẻ giữ Luật, mà là Thẩm Phán. Chỉ có một Ðấng lập Luật và là Thẩm Phán, Ðấng có quyền cứu rỗi và tiêu diệt. Ngươi là ai mà dám xét đoán đồng loại" (Yc 4,11-12). Con lấy quyền không thuộc về con là con đã tái lập lại tội của Adong, Evà ngày xưa là "muốn trở nên như Thiên Chúa biết cả tốt xấu" (Kn 3,5). Ý nghĩa sâu xa của tội xét đoán là ở đó, chứ không phải chỉ là gây bất công.

Với tiêu chuẩn của xã hội, khi thấy một người sa ngã, xã hội kết án ngay. Kẻ bị kết án thì đau khổ một mình. Nhưng nguyên nhân của sa ngã có thể là do một người khác đã rải gai xuống lối đi của họ. Biết đâu những gai đó đã do chính con gây ra.

Hoàn cảnh, lương tâm của một người là vùng đất vô cùng thánh, con không thể dẵm chân vào được, chỉ có Chúa mà thôi.

Chúa đã căn dặn con trong Phúc Âm thánh Yoan rất chi tiết: "Ta không xét xử ai, và nếu ta có xét xử, thì án của Ta chân thật, vì Ta không chỉ một mình nhưng có Ta và Ðấng đã sai Ta" (Yn 8,15-16). Trong mọi biến cố, Chúa cầu nguyện với Chúa Cha, rồi thi hành ý của Chúa Cha. Riêng việc xét xử, thì chẳng những Chúa xét xử theo ý Chúa Cha, hơn nữa, Chúa không xét xử một mình, mặc dù đã được Chúa Cha trao quyền, mà Chúa lại còn xin Chúa Cha xét xử cùng với mình. Cách cư xử cẩn thận của Chúa làm con lo sợ vì đã bao lần con quá coi thường, xét xử tha nhân.

Thánh Phaolô cũng căn dặn con: "Chính điều ngươi xét đoán kẻ khác, ngươi kết án chính mình ngươi" (Rom 2,1). Và khi con xét đoán người khác là con "khinh thường kho tàng phong phú là lòng nhân từ, kiên nhẫn và quảng đại của Chúa" (Rom 2,4).

- Nếu con cần lòng nhân từ của Chúa đối với con thì tại sao lại khinh thường lòng nhân từ của Chúa với người khác?

- Nếu con cần lòng kiên nhẫn của Chúa để con có thời gian làm lại cuộc đời sau khi lầm lỗi thì tại sao con lại khinh thường lòng kiên nhẫn của Chúa với người khác?

- Nếu con cần lòng quảng đại của Chúa đối với sa ngã của con thì tại sao con lại khinh thường lòng quảng đại của Chúa với người khác?

Lạy Chúa, con cần ơn Chúa rất nhiều để kìm hãm mình khi con muốn xét đoán kẻ khác, vì đây là lời mời gọi cám dỗ rất nguy hiểm, nó đã gây nên biết bao đổ vỡ, xa cách. Một thứ cám dỗ rất nguy hiểm được bao bọc bằng những lý do hết sức tinh vi.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Kính chuyển

Hồng

 
DOI SONG TAM LINH - 01 = DOC KINH THANH PDF Print E-mail

Đời Sống Tâm Linh # 1:
--------
THÔNG BÁO TIN MỪNG –Website ChiaseLoiChua.com
"ĐỌC KINH THÁNH SUỐT 137 GIỜ"

Một cuộc đọc Kinh Thánh liên tục dài suốt 137 giờ, từ sách Khởi Nguyên cho đến sách Khải Huyền đã diễn ra từ ngày 11 đến 17-03-07 tại thành phố Mantova, miền Bắc Italia.

1-Sáng kiến: "đọc Kinh Thánh không ngừng" này được khởi xướng tại Pháp và du nhập vào Italia. Tất cả đã có 1162 người đăng ký, trong đó có Tín đồ các Tôn giáo và những người vô tín ngưỡng.

2- Thi đọc Kinh Thánh: Cuộc thi kéo dài 7 ngày 7 đêm tại tòa nhà Rotonda di San Lorenzo ở trung tâm thành phố để nghe đọc và thăng tiến đối thoại giữa con người, tín ngưỡng, ý thức hệ và văn hóa. Toà nhà này đa được dùng làm nơi cử hành các buổi lễ Đại kết.

3- Kết quả đọc Kinh Thánh: Việc đọc Kinh Thánh này được thành công tại Lomoges hồi tháng 12-2005 và được 9 người bạn ở Mantova đưa vào Italia. Họ đã chuẩn bị cho cuộc thi này từ vài tháng qua. Mục đích của "đọc Kinh Thánh không ngừng" là ý tưởng liên kết mọi người trong việc lắng nghe một sứ điệp Hòa bình.

4- Bà Giuseppina Nosè: thuộc Nhóm Khởi xướng nói rằng: "Chúng ta sẽ đọc toàn bộ Kinh Thánh trong bản dịch liên hệ phái, trong ngôn ngữ thông dụng, không có phần chú giải, vì sự giải thích có thể gây chia rẽ. Cuộc thi được mở ra cho tất cả mọi người, cả những người không tin hoặc đang tìm kiếm.

5- Thời gian đọc Kính Thánh:Việc tính toán chính xác thời gian đọc Kinh Thánh, một bản văn dài như thế, thật không phải là điều dễ dàng. Trung bình mỗi người đọc từ 4 đến 12 phút. Theo dự kiến, buổi đọc Kinh Thánh đã bắt đầu lúc 19 giờ chiều ngày 11-03-07 và kết thúc lúc 12 giờ trưa ngày thứ bẩy 17-03-07.
Những người đọc đầu tiên là những người đại diện các Cộng đồng Tôn giáo, bắt đầu từ những người Do thái.
Câu Kinh Thánh làm thay đổi đời tôi: "Lời Chúa là đèn soi con bước, là Ánh Sáng chỉ đường con đi." (Thánh vịnh 119: 105)

Ptế GBM. Nguyễn Định Sưu Tầm * This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 
<< Start < Prev 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 Next > End >>

Page 42 of 52