mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2164
mod_vvisit_counterHôm Qua7975
mod_vvisit_counterTuần Này25334
mod_vvisit_counterTuần Trước41075
mod_vvisit_counterTháng Này91770
mod_vvisit_counterTháng Trước182520
mod_vvisit_counterTất cả11954411

We have: 91 guests online
Your IP: 54.161.100.24
 , 
Today: Oct 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Newsfeeds
DOI SONG TAM LINH # 88 = NGHIEP CHUONG TU AI PDF Print E-mail

Nghiệp Chướng Nền Tảng Của Chúng Sanh

Mỗi chúng sanh đều có vô số nghiệp chướng từ vô thỉ kiếp. Nhưng nghiệp chướng từ hai chữ Tự Ái rất là quan trọng. Nó tiềm ẩn trong mỗi cá nhân.

Nó là nghiệp chướng "nền tảng". Tại sao? Vì nó có sẵn từ khi một chúng sanh mới chào đời. Và nghiệp chướng này mang tên Tự Ái. Mỗi tự ái của mỗi chúng sanh đều có một tính chất khác nhau. Khi một chúng sanh lớn lần theo năm tháng, thì tự ái này cũng lớn lần theo, và đặc biệt là không bao giờ thay đổi tánh chất. Tự Ái này chi phối mỗi cá nhân về sự suy tư, về quan niệm sống, về cách đối xử, rất rất là nhiều. Và thậm chí nó ảnh hưởng đến tánh tình của một cá nhân. Cho nên, nó vô cùng là quan trọng. Có thể nói rằng trước khi các nghiệp chướng khác ồ ạt tiến đến thì mỗi cá nhân đều đã mang trong người một nghiệp chướng nền tảng với cái tên là Tự Ái.

Vì vậy, khi tu tập, điều phải nhớ cho thật rõ là phải hiểu được rằng mình có những tánh xấu nào? Vì những tánh đó đa số đều bị chi phối rất lớn bởi tự ái của cá nhân đó. Cho nên, tánh càng dữ tợn, tánh càng bộc phát, là do ảnh hưởng của nghiệp chướng mang tên Tự Ái. Nó lấy danh nghĩa Tự Ái là thương bản thân mình để mà chấp nhận hết tất cả những gì mình mong muốn, tất cả những gì làm thỏa mãn dục vọng của mình. Bản chất của nghiệp lực này là chữ Ái dính liền với dục vọng, tức là tất cả những gì để thỏa mãn sự mong cầu của mình.

Đó là một nghiệp chướng vô cùng quan trọng, vì nó nằm sâu trong tâm tư mình, không lò ra ngoài cho nên ít ai để ý đến nó. Vì vậy, khi một việc không hay xảy tới cho mình, chạm vào tự ái, tức khắc phản ứng sẽ xảy ra. Và tùy vào cái tánh chất của tự ái mà cái phản ứng sẽ mạnh hay nhẹ, sẽ nhiều hay ít, và đem lại sự thiệt hại hay không thiệt hại.

Cho nên tu tập là phải sửa tánh của mình. Sửa tánh của mình có nghĩa là sao? Có nghĩa là phải loại ra hết tất cả những tánh xấu. Chỉ thuần giữ lại những tánh tốt. Mà khi loại ra những tánh xấu là sẽ có một sự va chạm nặng nề đến Tự Ái. Vì đa số những tánh xấu đều có tương quan với tự ái, cho nên phải biết thẳng tay để loại ra những tánh xấu dù biết rằng những tánh xấu đó có liên quan mật thiết đến tự ái của mình. Tu tập là phải như vậy! Nếu tu tập mà vẫn luôn luôn xoa dịu tự ái của mình, luôn luôn chiều theo tự ái của mình, thì sẽ không bao giờ có thể loại bỏ được những tánh xấu.

Khi những tánh xấu đã được loại bỏ rồi thì tức khắc tánh chất của tự ái cũng được thay đổi. Lúc đó Tự Ái sẽ đương nhiên biến dạng trở thành ra là Từ Bi.

Con hiểu ý của Thầy không?

Kính bạch Sư Phụ,
Tức là, muốn tu tập thì phải chân thật quán chiếu con người của mình, để xem cái bản chất thật sự của tự ái là gì, sau đó phải can đảm diệt bỏ tự ái. Khi con không còn tự ái nữa thì nghiệp lớn đến, con hóa nó thành nhỏ, rồi nghiệp nhỏ đến, con hóa nó thành không, tức là con đã chuyển được cái nghiệp của con, thì cái Tự Ái khi đó sẽ được biến thành ra là từ bi.

Đúng lắm! Thầy mong rằng người tu tập phải hiểu cho thật sâu, tận gốc rễ của tâm tư mình, để sửa đổi, để chuyển hóa, để biến đổi xấu thành tốt, những điều không hay thành ra hay. Như vậy mới có thể dễ dàng chống trả được nghiệp lực, loại trừ được nghiệp lực, mới có thể thăng hoa phần tâm linh của mình. Rồi từ đó, mới có thể đi đến việc giao cảm với chư Phật và Bồ Tát.

Còn tu tập mà yếu hèn, không can đảm để diệt đi những điều không tốt đẹp, những tánh tình quá ư là xấu xa của mình, lúc nào cũng khư khư để thỏa mãn những điều thầm kín của tâm tư mình, thì như vậy chuyện tu tập không đem lại một kết quả gì hết. Phải nhớ một điều rằng: chữ Ái trong Tự Ái lúc nào cũng đi kèm với chữ dục, sự mong cầu, như bóng với hình, không tách rời ra được. Do đó mới làm cho tai hại, phát sinh những tánh không tốt. Vì vậy tu tập là phải hiên ngang, can đảm chặt đứt hết tất cả những gì mà mình cho là không đúng, không phải, những điều không làm lợi ích cho người, và ngay cả không lợi ích cho mình thì mới có thể thành công được trên đường tu tập.

Nghiệp Lực
Tự ái

 
DOI SONGTAM LINH # 87 = SUY TU CUOC SONG PDF Print E-mail

Kính chúc tràn đầy Bình An, Sức Khỏe và Tình Yêu nơi Lòng Thương Xót của Chúa qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ Lộ Đức.

Lm. Giuse Trần Đình Long

Dòng Thánh Thể

- Thật hạnh phúc cho những ai biết cho mà không hề nhớ đến, biết nhận mà không hề quên đi.
- Luôn nhớ rằng bạn có hai cánh tay: một để tự giúp đỡ chính mình, một để giúp đỡ những người khác.
- Đôi khi, trong cuộc sống, có những thời điểm mà tất cả mọi thứ đều dường như chống lại bạn, đến nỗi bạn có cảm tưởng mình không thể chịu đựng thêm một phút nào nữa. Nhưng hãy cố đừng buông xuôi và bỏ cuộc, vì sớm muộn gì mọi thứ rồi cũng sẽ thay đổi.
- Cuộc sống là một đường chạy marathon dài vô tận, nếu ta không cố gắng thì sẽ mãi bị bỏ lại ở phía sau và không bao giờ tới đích. Cuộc sống là một đường chạy tiếp sức, biết giúp đỡ nhau chúng ta sẽ chiến thắng.
- Tôi không bắt buộc phải chiến thắng, nhưng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng. Tôi không bắt buộc phải thành công, nhưng tôi cũng phải nỗ lực hết sức mình.
- Trong cuộc sống, nơi nào có một người chiến thắng, nơi đó có một người thua cuộc. Nhưng người biết hi sinh vì người khác luôn luôn là người chiến thắng.
- Đừng thương tiếc hôm qua, đừng đợi ngày mai, đừng lảng tránh ngày hôm nay.
- Thật dễ nuối tiếc về một điều gì đó đã mất đi nhưng sẽ rất khó nhận ra và trân trọng những gì ta đang có...
- Đừng đau khổ với những gì mình không có hay đã mất. Hãy biết vui với những gì ta đang có trong tay.
- Cho dù hoàn cảnh hiện tại có tồi tệ thế nào đi nữa, sẽ không có thời điểm nào cho sự bắt đầu tốt hơn là ngay từ bây giờ.

 
DOI SONG TAM LINH # 86 = 18 DIEU SUY NIEM PDF Print E-mail

Jb Nhan

18 ĐIỀU SUY NIỆM:
1/ Kho tàng vô tận của ta là nụ cười
2/ Thông minh nhất của ta là tự chủ
3/ Công bình nhất ta có là thời gian
4/ Bạn thân nhất của ta là sức khoẻ

5/ An ủi nhất của ta là bố thí
6/ Sức mạnh nhất của ta là khoan dung
7/ Thông thái nhất của ta là tình thương
8/ Hy vọng nhất của ta là tự thay đổi

9/ Thành công nhất của ta là sự lễ độ
10/ Kẻ thù nhất của ta là tham vọng
11/ Cô độc nhất của ta là mặc cảm
12/ Dại dột nhất của ta là tuyệt vọng

13/ Đau khổ nhất của ta là tự ty
14/ Sai lầm nhất của ta là dối trá
15/ Ăn năn nhất của ta là bất hiếu
16/ Tật nguyền nhất của ta là ghen tỵ

17/ Yếu đuối nhất của ta là thịnh nộ
18/ Thất bại nhất của ta là tự kiêu
"Ta là Giêsu, người mà ngươi đang bách hại" (CVTÐ 9:5b)

 
DOI SONG TAM LINH # 85 = DU NGON 1O DIEU RAN PDF Print E-mail

thanhly
To cursillovietnam@ This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Today at 11:47 AM

Dụ ngôn Mười Điều Răn

http://tongdomucvusuckhoe.net/wp-content/uploads/2012/11/10-dieu-ran.jpg
DỤ NGÔN MƯỜI ĐIỀU RĂN
Để làm cho các con hiểu rõ mười điều răn là gì và việc tuân giữ nó quan trọng chừng nào, Thầy nói cho các con dụ ngôn này:
Một người cha của một gia đình kia có hai người con trai, ông yêu hai người như nhau, và ông muốn trở nên ân nhân của hai người theo cùng một cách. Người cha này, ngoài nơi mà ông ở với các con ông, ông còn là chủ những sở hữu khác, nơi ông dấu những kho tàng lớn lao. Hai người con biết là có kho tàng này, nhưng họ không biết con đường nào để tới đó. Qủa vậy, vì những lý do đặc biệt, người cha không tiết lộ với các con ông con đường để tới đó, và như vậy đã từ nhiều năm rồi. Nhưng vào một lúc kia, ông gọi hai con trai lại và nói với họ: "Bây giờ đã đến lúc thuận tiện để các con biết kho tàng mà cha các con để dành cho các con nó ở đâu, để các con tới đó khi cha bảo các con. Trong khi chờ đợi, các con hãy nghe cho biết con đường và các dấu hiệu mà cha đã đặt ở đó, để các con không bị lạc mất con đường trúng. Vậy hãy nghe cha đây: Các kho tàng không ở trong đồng bằng, nơi nước đọng, nơi đại nhiệt thiêu đốt, nơi bụi bặm làm hư tất cả, nơi gai góc và các cây mâm xôi làm ngộp rau cỏ thảo mộc, và là nơi kẻ trộm có thể tới ăn cắp cách dễ dàng. Các kho tàng ở trên đỉnh ngọn núi cao kia, cao và gập ghềnh. Cha đã để nó ở đó, tận trên đỉnh, và chúng đang chờ các con. Ngọn núi có nhiều lối đi, cả đến có rất nhiều, nhưng chỉ có một đường là tốt. Các đường khác, một số thì tận cùng ở một vực thẳm, số khác thì dẫn vào một cái hang không có lối ra, số khác nữa thì tới những hố sâu nước bùn, số thì tới các hang rắn độc, số thì tới miệng núi lửa đầy lưu huỳnh cháy nóng, số thì tới những thành lũy không thể vượt qua được. Trái lại, con đường trúng thì mệt nhọc, nhưng dẫn tới đỉnh, không bị gián đoạn bởi các vực thẳm hay các chướng ngại khác. Để các con có thể nhận ra nó, cha đã để suốt dọc đường, tại những khoảng cách đều nhau, mười cái bia đá trên đó có khắc các chữ này: 'Tình yêu, Vâng phục, Chiến thắng', để hướng dẫn các con. Hãy đi theo đường đó và các con sẽ tới chỗ kho tàng. Rồi cha, bởi một con đường khác mà chỉ một mình cha biết, cha sẽ đến để mở các cửa cho các con để các con được sung sướng".
Hai người con chào cha. Ông nhắc lại bao lâu hai con trai ông còn nghe thấy: "Hãy theo con đường mà cha chỉ cho các con, vì sự lành của các con. Đừng để mình bị lôi kéo bởi các con đường khác, dù nó có vẻ như tốt hơn. Các con sẽ mất kho tàng và mất cha cùng với nó..."
Đây, họ ở chân núi. Một bia đá đầu tiên được dựng ở dưới thấp, đúng vào chỗ bắt đầu con đường, ở giữa một loạt những con đường để lên núi theo đủ mọi hướng. Hai anh em bắt đầu leo lên trên con đường tốt. Nó vẫn còn rất tốt lúc bắt đầu, mặc dầu không một chút bóng mát. Từ trên trời, mặt trời chiếu thẳng xuống và dìm ngập nó trong ánh sáng và sức nóng. Đá có mầu trắng ở nơi nó được đục vào. Bầu trời trong ở bên trên đầu họ. Sức nóng của bầu trời bao phủ các chi thể họ. Đó là những điều hai anh em nhìn thấy và cảm thấy. Nhưng vẫn còn được kích thích bởi thiện chí, bởi các kỷ niệm về người cha và về các lời dặn dò của ông, hai người vui vẻ đi lên phía đỉnh. Đây, cái bia đá thứ hai... rồi cái thứ ba. Con đường càng lúc càng mệt, đơn độc, cháy nóng. Họ cũng không nhìn thấy các con đường khác là những đường có cỏ, có cây, có nước trong, nhất là nó ít dốc, vì nó thoai thoải từ từ, và được làm trên nền đất không có đá.
-Cha chúng ta muốn cho chúng ta đi tới chỗ chết! – một người con nói khi tới cái bia đá thứ bốn, và anh ta bắt đầu bước chậm lại. Người con kia khuyến khích anh ta tiếp tục cuộc hành trình bằng cách nói: "Người yêu chúng ta như các thứ ngã của người và còn hơn nữa, vì người đã bảo toàn cho chúng ta một kho báu tuyệt vời như vầy. Con đường ở trong đá, không có quẹo ngang, đi thẳng từ dưới lên tới đỉnh, là chính ông đã đẽo. Những bia đá này, chính ông đã làm để hướng dẫn chúng ta. Anh ơi, hãy suy nghĩ: chính ông, một mình ông đã làm tất cả những điều này vì tình yêu, để tặng cho chúng ta, để làm cho chúng ta tới nơi không thể sai lầm và không nguy hiểm".
Họ lại đi. Nhưng các con đường đã bị loại bỏ ở phía dưới tiến lại gần con đường đục vào đá, và chúng càng hay lại gần hơn khi con đường dẫn tới đỉnh núi trở nên hẹp hơn. Và ôi, chúng đẹp đẽ, mát mẻ, có vẻ mời mọc chừng nào!...
-Tôi rất muốn đi một trong các con đường kia. Có bao nhiêu con đường khác với con đường này để lên đỉnh núi – người anh trai không hài lòng nói khi tới bia đá thứ sáu.
-Anh không thể nói vậy... Anh đâu có nhìn thấy là nó lên hay xuống.
-Kia kìa, nó ở trên đó mà!
-Anh dâu có chắc chỗ đó có phải là con đường này không. Hơn nữa, cha đã bảo là đừng bỏ con đường đúng.
-Kẻ uể oải tiếp tục một cách miễn cưỡng. Đây, bia đá thứ bảy.
Ôi! Với tôi, tôi bỏ đi thực sự đây!
-Anh ơi, đừng làm vậy!
Họ đi lên. Từ đây con đường thực sự rất khó. Nhưng đỉnh núi đã gần rồi...
Đây, bia đá thứ tám, và một con đường đầy hoa chạy quanh ngay bên cạnh nó.
-Ôi! Em thấy không? Con đường đó có lẽ không phải là con đường thẳng, nhưng rõ ràng là nó đi lên.
Anh đâu biết đây có phải con đường đó không.
-Có chứ! Anh nhận ra nó mà!
Anh lầm đó.
-Không, anh đi đây.
-Đừng làm vậy. Hãy nghĩ tới Cha, tới các nguy hiểm, tới kho tàng.
-Nhưng cầu cho chúng tiêu ma hết đi! Kho tàng mà làm gì nếu anh chết khi lên tới đỉnh? Đâu có nguy hiểm nào lớn hơn con đường này?
Và đâu có sự thù ghét nào lớn hơn sự thù ghét của người cha đã chế diễu chúng ta bằng con đường này để làm cho chúng ta chết?
Chào! Anh sẽ tới nơi trước em mà vẫn còn sống... – Và anh ta nhảy vào con đường kế bên, rồi biến mất trong lúc phát ra những tiếng kêu vui mừng sau các cây cho bóng mát.
-Người em tiếp tục cách buồn rầu... Ôi! Con đường ở đoạn cuối thực là dễ sợ! Người bộ hành hầu không kham nổi nữa. Anh ta tựa như người say vì mệt mỏi, vì mặt trời! Tại bia đá thứ chín, anh ta đứng lại, thở hổn hển, tựa vào bia đá, đọc một cách máy móc các chữ được khắc ở trên. Rất gần đó có một con đường với bóng mát, nước và hoa đẹp... "Tôi sẽ đi vào đường đó chăng?... Nhưng không! Không. Ở đây đã viết, và chính cha tôi đã viết: 'Tình yêu, Vâng lời, Chiến thắng'. Tôi phải tin vào tình yêu của Người, vào sự thật của Người, và tôi phải vâng lời để chứng tỏ tình yêu của tôi... Nào!... Cầu cho tình yêu nâng đỡ tôi..." Đây, bia đá thứ mười... Người bộ hành kiệt quệ, bị cháy bởi mặt trời, gù xuống để bước như ở dưới một cái ách... Đó là cái ách yêu thương và thánh thiện của sự trung thành, là tình yêu, sự vâng lời, mạnh mẽ, cậy trông, chính trực, khôn ngoan, tất cả... Thay vì dựa vào bia đá, anh ta ngồi bệt bên một chút bóng mát của tảng đá dựng trên mặt đất. Anh cảm thấy như hầu chết. Từ con đường bên cạnh bay tới tiếng động của dòng suối và mùi cây rừng... "Cha ơi! Cha ơi! Hãy giúp con trong cơn cám dỗ này bằng thần trí của cha... Hãy giúp con trung thành tới cùng!"
Từ xa, giọng nói vui vẻ của người anh: "Tới đây đi, anh chờ em. Ở đây là Thiên Đàng... Tới đi..."
-Nếu em tới đó?... – Và anh ta kêu rất lớn: "Có đúng là người ta lên đỉnh được không?"
-Đúng mà. Tới đi. Có một cái hành lang mát mẻ dẫn lên đó. Tới đi! Anh đã nhìn thấy đỉnh núi ở bên kia hành lang, ở trong đá.
-Tôi tới? Tôi không tới?... Ai đến cứu tôi?... Tôi tới... – Anh chống tay để đứng dậy, và khi làm như vậy, anh quan sát thấy rằng các chữ được khắc không còn rõ nét như ở các bia đá đầu tiên: "Ở mỗi bia đá, các nét chữ trở nên mờ hơn... Tựa như cha tôi mệt mỏi, phải khó khăn để khắc... Và... Coi này!... Ở đây cũng vậy, có cái dấu mầu nâu đỏ này, tôi bắt đầu nhìn thấy rõ từ bia đá thứ năm... Nhưng ở đây nó làm đầy trong các khe của các chữ, và nó chảy xuống, để lại vết trên đá như dòng nước mắt đậm, giống như... máu..." Và với ngón tay, anh ta cào vào chỗ có một vết lớn như hai bàn tay. Và cái vết biến đi, để lộ ra những lời này, rõ như mới viết: "Cha yêu các con như vậy đó, cho tới đổ máu ra để dẫn các con tới kho tàng".
-Ôi! Ôi! Cha tôi! Và tôi, tôi đã có thể nghĩ tới không tuân theo mệnh lệnh của Cha sao? Xin tha, cha của con ơi, xin tha! – Người con gục vào bia đá để khóc, và lằn máu ở đầy trong các khe chữ tự mới lại, tươi bóng như hồng ngọc, và nước mắt trở thành đồ ăn đồ uống cho người con tốt, và sức mạnh... Anh đứng dậy... Vì tình yêu, anh gọi người anh rất mạnh, rất mạnh... Anh ta muốn kể điều khám phá của anh cho ông anh... tình yêu của cha, để nói với anh: "Hãy trở lại". Nhưng không ai trả lời cả.
Người thanh niên lại lên đường, hầu như lết bằng đầu gối trên đá nóng. Vì kiệt sức, thân xác anh thực sự tới mức, nhưng tâm hồn anh trong sáng. Đây, đỉnh núi... Và kìa, Cha!
-Cha của con!
-Con cưng!
Người thanh niên lao mình vào lòng thân phụ. Người cha đón nhận anh và bao phủ anh bằng những cái hôn.
-Con có một mình?
-Vâng... Nhưng anh con sắp tới...
-Không. Anh ấy không tới nữa. Anh đã bỏ con đường của mười bia đá. Anh đã không trở lại sau những tỉnh ngộ đầu tiên đã loan báo cho anh. Con muốn nhìn thấy anh không? Anh kia kìa, trong hố lửa... Anh cứng đầu trong tội. Cha sẽ còn tha thứ và còn chờ anh nếu sau khi nhận ra lỗi lầm, anh biết quay trở lại, và nếu dù có chậm trễ, anh ta cũng đi qua nơi mà tình yêu đã đi qua trước, trong khi chịu đựng tới nỗi đổ ra cho các con những thứ tốt nhất của máu người, cái đắt gía nhất ở nơi Người.
-Anh đã không biết.
-Nếu anh con đã nhìn với tình yêu những lời được khắc trên mười bia đá, thì anh đã đọc được ý nghĩa thực sự của nó. Con đã đọc được từ bia đá thứ năm, và con đã lưu ý anh ta khi nói: "Chỗ này chắc cha bị thương!" Và con đã đọc được nó ở bia đá thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín... luôn luôn rõ hơn, cho tới lúc con có cái trực giác muốn khám phá điều gì ở dưới lớp máu của cha. Con biết tên của cái trực giác này không? Sự kết hợp thực sự của con với cha. Các thớ thịt của qủa tim con hòa lẫn với các thớ thịt của qủa tim cha đã nhảy mừng và nói với con: "Ở đây mày sẽ có sự đo lường về cách thế người cha yêu mày". Bây giờ con, kẻ có Tình Yêu, Vâng Lời, Chiến Thắng, hãy vào chiếm lấy kho báu và chính Cha tới muôn đời.
Đó là dụ ngôn.
Mười bia đá là mười giới răn. Thiên Chúa của các con đã khắc nó và đặt nó trên con đường dẫn tới kho báu đời đời, và Người đã khổ cực để dẫn các con vào con đường này. Các con đau khổ ư ? Thiên Chúa cũng vậy. Các con phải gắng sức với chính mình ư ? Thiên Chúa cũng vậy, và các con biết tới điểm nào không? Tới mức chịu đựng sự chia lìa chính mình Người và tự cố gắng để biết thực thể của loài người với tất cả những khốn nạn mà nhân tính mang theo với nó: sinh ra, chịu giá lạnh, đói khát, mệt nhọc và những chua cay, những xúc phạm, những thù ghét, những cạm bẫy, và sau cùng là cái chết bằng cách đổ hết máu Thầy ra để cho các con kho báu. Đó là điều Thiên Chúa chịu đựng khi xuống trần để cứu các con. Đó là điều Thiên Chúa trên Trời chịu đựng khi tự cho phép mình chịu đau khổ như vầy.
Thực vậy, Thầy bảo các con rằng không một người nào, dù con đường về trời của họ lao nhọc tới đâu, có thể là con đường lao khổ hơn, đau thương hơn con đường mà Con Người đi từ Trời xuống đất, từ đất tới Lễ Hy Sinh, để mở các cửa của kho báu cho các con.
Máu Thầy đã ở trong các bản của Lề Luật. Máu Thầy đã ở trên con đường mà Thầy vạch ra cho các con. Chính dưới làn sóng của máu Thầy mà cửa của các kho tàng mở ra. Chính bởi máu Thầy mà tâm hồn các con được tẩy rửa, được nuôi dưỡng, và được trở nên trong sạch và mạnh mẽ. Nhưng để cho nó không đổ ra cách vô ích, thì các con phải theo Lề Luật bất di bất dịch của mười giới răn.♥
(Quyển 6, đoạn 144)
"Bài thơ của Con Người-Thiên Chúa"
Viết bởi Maria Valtorta
Chuyển ngữ: Nữ tu Phạm thị Hùng CMR

__._,_.__

 
DOI SONG TAM LINH # 84 = GIAO HOI - 24 - PDF Print E-mail

Feb 9 at 1:33 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- 24 -

Giáo Hội

... Nó còn ở đằng xa thì cha nó đã thấy nó, và ông chạnh lòng thương: chạy lại, ông bá lấy cổ nó mà hôn lấy hôn để. Người con mới nói với ông: Thưa cha, con đã trót phạm tội nghịch với Trời và trước mặt cha, con không còn xứng đáng gọi là con cha nữa. Nhưng cha của nó đã nói cùng đầy tớ mau mau mang áo thượng hạng mà mặc cho nó... (xem Lc 15,14-32).

*

* *

"Nó còn ở đàng xa thì cha nó đã thấy nó". Phúc Âm không nói người cha đã thấy con trong trường hợp nào. Ngày ngày ông đứng ngóng trông trên đường? Hay vô tình ông thấy con về? Lúc gặp con, người cha chạnh lòng thương và sai gia nhân mau mau về nhà lấy áo thượng hạng mà mặc cho nó. Sai gia nhân về nhà lấy áo có nghĩa là lúc bấy giờ phải có mặt gia nhân ở đấy. Theo thứ tự thời gian, câu chuyện xẩy ra ngắn gọn như sau: --- ông ôm con --- ông truyền lệnh. Từ lúc ông gặp được con cho đến lúc ông sai gia nhân về nhà lấy áo chỉ kéo dài có khi không đầy một phút. Với thời gian ngắn như vậy, làm sao lại có thể có mặt gia nhân ở đó được? Ðiều ấy có thể tìm trong hai suy diễn:

Một là --- gia nhân đã có mặt ở đó trước khi ông tới.

Hai là --- ông thấy con rồi gọi gia nhân cùng chạy theo đón.

Nếu gia nhân thấy trước rồi về báo tin, thì vai trò của gia nhân ở đây là sứ giả đem tin vui cho chủ mình. Nếu gia nhân ghét đứa con phung phá này thì chẳng có lý do gì họ phải về báo tin cho chủ. Mặc kệ. Vì thế, hành động về báo tin là dấu chỉ họ mong chờ. Thái độ của gia nhân ở đây phản ảnh trung thực tâm hồn hiệp thông của những người thuộc về một gia đình. Hình ảnh này gợi lên trong tâm hồn tôi đây là lối sống thật của ơn gọi sống trong gia đình Chúa. Một thứ gia nhân trong gia đình Chúa có thể mang nhiều tên gọi khác nhau: giàu, nghèo, văn hóa, lập trường chính trị, Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, vô tôn giáo... Là Kitô hữu mà không sống bác ái thì không bằng không là Kitô hữu nhưng sống hiệp thông trong tình thương.

Nếu người cha thấy trước, rồi gia nhân cùng chạy theo đón người con thì vai trò của gia nhân ở đây là làm cho niềm vui của người cha thêm trọn vẹn. Không có gia nhân, người cha không sai ai về nhà lấy áo thượng hạng, lấy nhẫn và giầy cho con mình được. Từ suy diễn này, mỗi phần tử trong gia đình Chúa đều mang ơn góp niềm vui cho Chúa Kitô. Ðem niềm vui cho chủ là lời cám ơn của gia nhân đối với chủ. Bởi đó, thái độ đón tiếp nhau không phải chỉ là đón tiếp riêng lẻ. Trong ý nghĩa như thế, bí tích giải tội của cá nhân trở thành bí tích hiệp thông với toàn thể Giáo Hội.

Không có gia nhân ở đó thì người con không có áo đẹp, không có nhẫn đeo, không có giầy đi, niềm vui của người con cũng kém trọn vẹn. Thế thì, vai trò của gia nhân cũng là đem niềm vui cho người con trở về. Trong ý nghĩa ấy, người con không những phải biết ơn cha mà cũng phải cám ơn gia nhân. Ðây cũng chính là thái độ sống thích đáng của Kitô hữu. Không phải tôi chỉ cần cám ơn Chúa mà thôi, nhưng phải ghi ơn cả người đồng loại. Từ điểm này, hiệp thông càng là yếu tính của Giáo Hội.

Dù với luận cứ nào đi nữa, người cha đã thấy con mình trước, hay gia nhân đã thấy trước thì việc đón người con về với gia đình vẫn là sự đón tiếp của cả người cha và gia nhân, của đại gia đình.

*

* *

Nhìn hình ảnh các gia nhân cùng đi đón người con trở về, Giáo Hội mang ý nghĩa là chỉ những ai sống hiệp thông trong bác ái, mới xứng đáng gọi là sống trong Giáo Hội. Niềm vui ở đây không chỉ là của riêng người cha, mà của cả gia đình. Ý tưởng này được làm nổi bật ở cả dụ ngôn con chiên lạc, và người đàn bà tìm thấy đồng tiền đánh mất. Khi gặp lại chiên lạc, người chăn chiên đã gọi bạn bè hàng xóm đến chung vui. Khi tìm thấy đồng tiền đánh mất, bà ta mời cả chung quanh láng giềng đến ăn mừng, chứ không riêng bà.

Xét theo kỹ thuật viêt văn và trình bày của Luca trong Phúc Âm này, ta thấy trước khi kể dụ ngôn người con đi hoang trở về, Chúa kể dụ ngôn chiên lạc tìm thấy, tiếp liền sau đó là dụ ngôn đồng bạc đánh mất lại gặp. Ðặt ba dụ ngôn cùng tư tưởng thành một chùm sao rực rỡ, sống động. Luca muốn làm cháy sáng lên những ý nghĩa quan trọng mà Chúa muốn nhấn mạnh. Cả ba dụ ngôn đều nói đến niềm vui là niềm vui của toàn thể cộng đoàn, chứ khôngphải biệt lập cá nhân. Nếu niềm vui là của toàn thể, thì nỗi buồn mất mát cũng phải là nỗi buồn chung. Trong suy diễn đó, Giáo Hội không thể chỉ hệ tại lãnh thổ, văn phòng, tên gọi, mà nơi nào có hiệp thông và chia sẻ nơi đó có Giáo Hội.

*

* *

Muốn tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa của danh từ Giáo Hội, thiết tưởng, khi nhìn lại câu chuyện người con hoang đàng, ta phải xét đến một khía cạnh khác: gia nhân là ai?

Trong câu chuyện người con đi hoang trở về, ta thấy gia đình này là một thảm cảnh. Cả ba người: ông chủ, người con thứ, người con trưởng đều đau khổ.

- Ông chủ đau khổ vì người con thứ mang theo tiền bạc, bỏ nhà đi. Ông mất tiền, mất con.

- Người con trưởng đau khổ vì ghen tức mà mất tình thương với em, làm đau lòng cha, không chung nổi tiệc mừng.

Lối kết cấu của câu chuyện không nói rõ tương lai gia đình này ra sao. Nhìn vào lối kết hiện tại ta có thể thấy một suy diễn khác:

- Ông chủ vừa vui mừng khi người con thứ trở về thì ông lại mất người con trưởng vì anh ta không chấp nhận đường lối của ông.

- Người con thứ trở về, cảnh làm thuê độ nhật vừa chấm dứt thì lòng ghen tức của anh lại bắt đầu. Ðau khổ cũ vừa qua thì đau khổ mới lại nẩy sinh.

Ðiểm nổi bật trong câu chuyện là ta không hề thấy những gia nhân phải đau khổ. Họ chẳng những không đau khổ mà còn là sứ giả đem tin vui:

- Họ chạy về nhà lấy áo thượng hạng, nhẫn, giầy theo lời chủ.

- Họ là người đã hạ bò tơ, mở tiệc ăn khao.

- Họ là người đưa tin xum họp cho người con trưởng lúc đi làm về.

Ðây là hình ảnh đáng suy nghĩ khi đặt vấn đề ai là người ở trong Giáo Hội, ai là người sống Tin Mừng. Trong dụ ngôn này, kẻ chống đối chính là người trong gia đình. Khi người con trưởng đi làm về, được gia nhân báo tin là đang có tiệc mừng cho cậu em, "chàng nổi giận không thèm vào nhà". Nhìn vào lịch sử của Giáo Hội, có khi chống đối xẩy ra trong đoàn thể, trong giáo xứ, trong Giáo Hội nhiều hơn là do kẻ bên ngoài. "Và họ mở tiệc ăn khao", trong ngày vui như vậy thì chính người con trưởng lại là nguyên nhân đem đến những đám mây mù ảm đạm. Chính người con trong gia đình, ngày ngày ở bên cha lại không nhận ra nỗi héo hắt, u buồn của cha. Không nhận ra nỗi khổ tâm của cha đã là một ơ hờ. Ngăn cản niềm vui của cha thì không còn là thờ ơ nữa mà là xúc phạm.

Ðối với người con trở về, nó phải cám ơn ai? gia nhân hay anh nó? Ðối với người cha, ai là người đem tin vui? gia nhân hay con ruột?

*

* *

Chương 13 của Phúc Âm Luca nói đến gia đình Chúa với ý nghĩa rất chua xót: "Sẽ có kẻ tự phương Ðông, phương Tây, từ phương Bắc, phương Nam đến dự tiệc với Abraham, Isaac trong Nước Thiên Chúa, còn con cái trong nhà lại bị loại ra (Lc 13,28-29). Trong tiệc vui, các gia nhân được tham dự hân hoan, còn chính người con trưởng trong gia đình lại không biết niềm vui là gì. Ở ngoài Giáo Hội không có nghĩa là không có sự cứu rỗi. Ở trong Giáo Hội cũng không đồng nghĩa là đương nhiên được cứu rỗi. Ðược tham dự Tiệc Thiên Chúa hay không là tùy thái độ sống hiệp nhất và loan báo tình thương. Hạnh phúc của gia nhân hệ tại là đáp lời gọi của chủ, là sứ nhân mang tin vui. Từ đó, đi tìm đặc tính của người là con Chúa, không thể căn cứ trên giấy rửa tội. Ðặc tính của người là con Chúa là lối sống trong xã hội, với ấn dấu được đóng là tình thương đồng loại.

Gia tài của Giáo Hội là các bí tích chứ không phải đền đài, dòng tu, tiền bạc. Nhìn lại dụ ngôn người con đi hoang trở về, gia tài của người cha đã bị hoang phí bởi chính người con. Gia tài của cha giàu có, nhưng bao năm anh ta phải ăn bám dân trong vùng, phải đi chăn heo, thèm ngốn rau heo cho đầy bụng mà chẳng có ai cho. Bởi đó, tôi ở trong Giáo Hội, chưa chắc tôi đã sống nhịp sống phong phú của Giáo Hội. Có thể tôi còn nghèo ân sủng thiêng liêng hơn những kẻ ở ngoài Giáo Hội.

Nếu định nghĩa Giáo Hội là những người rửa tội, nhận Chúa Kitô là thủ lãnh, sống trong xứ đạo, đi lễ, đọc kinh, kính phục Ðức Giáo Hoàng thì tôi đang ở trong Giáo Hội. Nếu hiểu Giáo Hội là nơi sống trong tình thương, là nơi không kỳ thị, là nơi nối kết nên một, là nơi những bông hoa biết cám ơn nhau vì sự khác biệt của mình đã làm đẹp vũ trụ, chứ không phải ghen tức vì duyên sắc, thì rất có thể tôi đang sống ngoài Giáo Hội.

*

* *

Lạy Chúa, yếu tính của gia đình Chúa là hiệp thông trong tình thương. Nếu con hiểu Giáo Hội chỉ là nhà thờ, là xứ đạo, thì con có thể đấu tranh để bảo vệ nhà thờ, để có xứ đạo, con có thể xóa bỏ hiệp thông và bác ái để đạt mục đích. Nếu con hiểu Giáo Hội là sống trong tình thương thì con có thể hy sinh danh từ Công Giáo mà vẫn giữ được căn tính làm con Chúa. Con có thể hy sinh nhà thờ mà vẫn có chỗ cầu nguyện.

Xin Thánh Thần Chúa

- Ðổi mới tâm trí con hiểu biết sự phong phú của Giáo Hội.

- Ðổi mới lối sống đạo khô cằn, thụ động thành sáng tạo.

- Thanh tẩy những hẹp hòi, nhỏ nhen của một tâm hồn giữ luật hơn giữ tình thương.

- Xin cho con nhìn thấy mọi người đều là con Chúa. Nhà thờ là nơi hiệp thông của tình thương, không còn biên giới của văn hóa, chủng tộc và ngay cả tôn giáo.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 Next > End >>

Page 51 of 62