mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5770
mod_vvisit_counterHôm Qua8107
mod_vvisit_counterTuần Này13877
mod_vvisit_counterTuần Trước55320
mod_vvisit_counterTháng Này167121
mod_vvisit_counterTháng Trước198792
mod_vvisit_counterTất cả9430215

We have: 174 guests online
Your IP: 54.158.55.5
 , 
Today: Oct 23, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
DAO TAO MON DE #346 =NHA TY PHU XAI TIEN THE NAO PDF Print E-mail

>>>> TỈ PHÚ MỸ GIÁU NHẤT THẾ GIỚI XÀI TIỀN NHƯNG THẾ NÀO?
>>>>
>>>> Là vợ của Bill Gates, người đàn ông giàu nhất hành tinh nhưng Melinda không mấy quan tâm đến những cửa hàng thời trang sang trọng, những loại mỹ phẩm đắt tiền hay những tác phẩm nghệ thuật danh giá. Thay vào đó, suốt ngày bà chúi mũi vào những chuyện đại loại như... chu trình sống của con muỗi.
>>>>
>>>> Ngay sau khi cưới nhau, vợ chồng Bill Gates bắt đầu làm từ thiện nhưng làm một cách dè dặt, trong đó có lần tặng máy vi tính xách tay cho các ngôi làng ở khu vực cận Sahara (Phi châu). Nhưng rồi hai người nhận ra người dân lục địa đen cần thức ăn để no bụng và thuốc men để chống lại cái chết hơn là phần mềm Windows xa xỉ.
>>>>
>>>> Thế là họ tậu bao nhiêu là sách về các bệnh lây lan vì ký sinh trùng, về hệ miễn dịch, về cách phòng bệnh... "Bạn không thể nói về chuyện tài trợ cho thuốc chống sốt rét nếu như bạn không hiểu rõ chu trình sống của con muỗi. Làm từ thiện không chỉ đơn giản là ký séc chi tiền", Melinda nói. "Tại sao lại phải nhọc công đến thế? " Melinda có thể tận hưởng một cuộc sống trong nhung lụa, dành thời gian chăm sóc con cái.
>>>>
>>>> "Khi cưới nhau, tôi và Bill định khi về già sẽ chia sẻ tiền bạc với người khác... Lần đầu tiên chúng tôi đến châu Phi là nhân một chuyến đi săn năm 1993. Chúng tôi không thể nào tận hưởng thiên nhiên hoang dã vì cảnh tượng mọi người đi chân đất, phụ nữ phải vừa bế con vừa xách nước đi hàng cây số và bởi lời mời từ một bộ lạc về việc dự buổi lễ cắt âm vật phụ nữ.
>>>>
>>>> Sau đó về nhà, chúng tôi tìm đọc Báo cáo về phát triển thế giới năm 1993 và không khỏi giật mình. Trẻ con đang chết hàng loạt chỉ vì căn bệnh tiêu chảy và những loại bệnh cơ bản mà trẻ con ở nước chúng tôi đã được tiêm vắc-xin. Chúng tôi tự thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu sự thật và càng tìm hiểu, chúng tôi càng thấy không thể chờ vì bệnh tật không đợi chúng tôi. Tôi đi vòng quanh thế giới để xem điều gì đang xảy ra. Nỗi sợ hãi khi quay về quá khủng khiếp đến độ tôi không dám hy vọng. Nhưng rồi bạn thấy đó, kinh tế đang thay da đổi thịt ở các nước phát triển và tự nó cải thiện mọi chuyện. Điều đó đã vực Bill và tôi dậy". "Chúng ta có xem rẻ mạng sống của người Phi châu hơn mạng sống của chúng ta không? Bill và tôi cho rằng không có sinh linh nào mang giá trị hơn hay kém so với sinh linh khác. Chính sự công bằng này là lý do để quỹ từ thiện của chúng tôi hoạt động".
>>>>
>>>> Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates (BMGF) bắt đầu hoạt động với quy mô nhỏ vào năm 1997 rồi chính thức khai trương vào năm 2000. Vợ chồng Gates đã cam kết sẽ trao tặng hết 95% tài sản khổng lồ của mình (hiện ước tính khoảng 46 tỉ USD). Vắc-xin và tạo hệ miễn dịch cho trẻ em là mục tiêu chính của quỹ. Đến nay BMGF đã chi tổng cộng 28,8 tỉ USD. Hồi đầu năm, BMGF đã tặng cho Liên minh Vắc-xin và miễn dịch toàn cầu (Gavi) 750 triệu USD - một trong những món quà cá nhân lớn nhất lịch sử. Những lần tài trợ trước đó của vợ chồng Bill Gates đã giúp tiêm phòng viêm gan siêu vi B cho 43 triệu trẻ em, giúp giảm 39% tỷ lệ trẻ em bị sởi...
>>>>
>>>> Ngoài ra, BMGF còn chi mạnh cho các dự án khoa học nghiên cứu vắc-xin và thuốc men, trong đó phải kể đến chương trình trị giá 35 triệu USD để thử nghiệm vắc-xin chống sốt rét ở Zambia. Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì ông bà Gates không dành phần lớn tài sản của mình để lại cho con cái. Hiện họ đang có 3 đứa con nhỏ nhưng Melinda không tỏ ra lo lắng: "Bất cứ lúc nào gia đình tôi nói tới chuyện tài sản, chúng tôi đều nói đến trách nhiệm phải trao tặng nó cho thế giới. Các con của chúng tôi đã có tài khoản riêng của chúng. Không phải lúc nào chúng muốn mua gì cũng được nấy, mà phải đợi đến những dịp như sinh nhật mới được tặng hay đợi cho đến khi chúng tự để dành đủ tiền".
>>>>
>>>> Hiệp hội Bill & Melinda Gates đã chi bao nhiêu cho ai? Tính đến đầu năm 2005, tỷ phú này đã cam kết số tiền 28 tỷ USD cho nhiều dự án cứu tế, từ thiện, y tế và giáo dục. Tức ông đã đem cho không đến 38% tổng tài sản của mình. 12,5 tỷ USD là tổng số tiền mà tỷ phú giàu nhất thế giới Bill Gates đã chi cho các công cuộc từ thiện cứu tế và giáo dục thông qua hiệp hội mang họ tên mình thành lập vào năm 2000. Chúng được chia ra như sau:
>>>>
>>>> - Sức khoẻ: 5,4 tỷ USD (gồm chi An lược sức khoẻ toàn cầu.)
>>>>
>>>> - 2,3 tỷ USD nghiên cứu trị HIV/AIDS,
>>>>
>>>> - Bệnh lao và y tế sinh sản 1,5 tỷ USD;
>>>>
>>>> - Các bệnh lây lan khác 1,1 tỷ USD;
>>>>
>>>> - Nghiên cứu phát triển công nghệ y tế toàn cầu, 0,4 tỷ USD;
>>>>
>>>> - Nghiên cứu y tế, chiến dịch y tế toàn cầu... 0,1 tỷ USD)
>>>>
>>>> - Giáo dục: 2,4 tỷ USD
>>>> - Chương trình xây dựng thư viện toàn cầu: 0,3 tỷ USD.
>>>> - Những dự án đặc biệt khác: 0,6 tỷ USD.
>>>> - Các chương trình từ thiện ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương: 0,6 tỷ USD.
>>>>
>>>> - Quỹ Thiếu Niên Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc: 1,2 tỷ USD.
>>>> - Quỹ hoạt động Tổ chức Liên Hiêp Quốc: 1 tỷ USD.
>>>> - Quỹ Tổ chức Y Tế Thế Giới: 1 tỷ USD.

TAT HOANG CHUYỂN
>>>>------------------------------

 
DAO TAO MON DE # 345 =THU NAM TUAN PHUC SINH PDF Print E-mail

PVLC Thứ Năm Bát Nhật PS 20-4-2017 (2)

Nếu trong biến cố khổ nạn và tử giá, Chúa Kitô đã chứng thực mình quả là Đấng Thiên Sai... thì trong biến cố phục sinh, Chúa Kitô được Chúa Cha, chứng thực Người đúng là "Chúa và Thiên Chúa"

"Khi ấy, hai môn đệ thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. Mọi người còn đứng bàn chuyện thì Chúa Giêsu hiện ra đứng giữa họ và phán: 'Bình an cho các con! Này Thầy đây, đừng sợ'".

Thánh ký Luca, qua đoạn trên đây, đã thuật lại sự kiện lần đầu tiên Chúa Kitô hiện ra với chung các tông đồ sau khi Người từ trong cõi chết sống lại. Tuy nhiên, Đấng Phục Sinh vẫn còn phải chứng thực Người quả thật là Thày của các vị và là Đấng đã thực sự bị đóng đanh nữa, bằng cả các dấu hiệu bề ngoài là chân tay của Người và ăn uống trước mặt các vị, lẫn soi sáng tâm trí bề trong của các vị để các vị nhờ đó mới có thể chân nhận rằng những lời Thánh Kinh về Người đã được hoàn toàn ứng nghiệm:

"Nhưng mọi người bối rối tưởng mình thấy ma. Chúa lại phán: 'Sao các con bối rối và lòng các con lo nghĩ như vậy? Hãy xem tay chân Thầy: chính Thầy đây! Hãy sờ mà xem: ma đâu có xương thịt như các con thấy Thầy có đây'. Nói xong, Người đưa tay chân cho họ xem. Thấy họ còn chưa tin, và vì vui mừng mà bỡ ngỡ, Chúa hỏi: 'Ở đây các con có gì ăn không?' Họ dâng cho Người một mẩu cá nướng và một tảng mật ong. Người ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ. Ðoạn Người phán: 'Ðúng như lời Thầy đã nói với các con khi Thầy còn ở với các con, là: cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh'. Rồi Người mở trí cho các ông am hiểu Kinh Thánh".

Ở đây chúng ta thấy các tông đồ có khác, là nam nhân thiên về lý trí và lý sự nên khó tin hơn thành phần nữ giới tự bản chất sống theo cảm tình và trực giác, thành phần đã chẳng cần phải chứng minh gì cả đã tin ngày Đấng hiện ra với mình là Chúa Kitô, như trong bài Phúc Âm Thứ Hai (với chung các phụ nữ) và Thứ Ba (với riêng Chị Mai Đệ Liên) Bát Nhật tuần này cho thấy.

Đối với các vị nam nhân tông đồ này, Chúa Giêsu đã chẳng những cho các vị "xem tay chân Thày" mà còn "ăn trước mặt các ông và đưa phần còn lại cho họ" (nghĩa là ăn thật nên còn dư), mà còn mở lòng mở trí cho các vị hiểu được Thánh Kinh do chính Người dẫn chứng về Người nữa. Nhờ đó, các vị mới có thể làm chứng về Người, bằng một đức tin không phải thuần lý hay thuần thiêng có vẻ duy tín hay cuồng tín một cách dị đoan hoặc hoang đường nhưng có chứng cớ cụ thể hiển nhiên đàng hoàng không thể chối cãi.

Đó là lý do ở cuối bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã bảo các tông đồ được Người hiện ra chứng thực rằng Người cho dù đã bị chết nhưng sống lại rằng "các con là chứng nhân về những điều này", nghĩa là về những gì các vị được Người tỏ ra cho thấy, và vì thế chứng tỏ những gì chính các vị đã thấy và đã nghe về Người, cả trước và sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết.

Chúa Kitô khổ nạn, tử giá và được mai táng trong mồ vào chiều Thứ Sáu ấy đã hiện ra với chung các môn đệ và riêng các tông đồ lần đầu tiên này không phải chỉ để chứng thực về bản thân Người là Đấng đã bị bàn tay hận thù sắt máu của con người giết chết nhưng Người đã sống lại, hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và sự chết, mà còn để sai các vị đi "bắt đầu từ Giêrusalem, khắp Giuđêa và Samaria" (Tông Vụ 1:8) mà làm chứng về Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, và đi "cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8) mà làm chứng cho Người là Đấng Cứu Thế của toàn thể nhân loại:

"Phải nhân danh Người rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem. Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy". Phải chăng Bí Tích Hòa Giải (xem cả Gioan 20:21 cùng với Bí Tích Rửa Tội - xem Mathêu 28:19) được Chúa Giêsu thiết lập sau khi Người phục sinh từ trong kẻ chết mà theo luật Giáo Hội hằng năm Kitô hữu Công giáo buộc phải "xưng tội một năm ít là một lần trong Mùa Phục Sinh" chứ không phải trong một mùa nào khác, cho dù là Mùa Chay vốn được coi là mùa thống hối ăn năn hoán cải?

Nếu trong biến cố khổ nạn và tử giá, Chúa Kitô đã chứng thực mình quả là Đấng Thiên Sai, đến không phải để làm theo ý của mình mà là ý của Cha là Đấng đã sai Người, đến độ cho dù có thể Người vẫn không xuống khỏi thập giá, trái lại, "mặc dù là Con, Người đã biết tuân phục nơi những gì Người chịu" (Do Thái 5:8), thì trong biến cố phục sinh, Chúa Kitô được Chúa Cha, Đấng mà Người phó thần trí của Người cho trước khi chết (xem Luca 23:46), qua quyền năng của Thánh Thần là Đấng đã làm cho Người sống lại từ kẻ chết (xem Roma 8:11), chứng thực Người đúng là "Chúa và Thiên Chúa" (Gioan 20:28).

Bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan thuật lại lần hiện ra với chung các tông đồ lần đầu tiên này còn cho biết thêm các chi tiết sau đây:

1- Sau khi nhận ra Chúa căn cứ vào tác động tự chứng của mình (như Phúc Âm Thánh Luca hôm nay thuật lại), "các môn đệ hoan hỉ khi thấy Chúa" (Gioan 20:20);

2- Được các môn đệ nhận biết rồi Chúa Kitô Phục Sinh mới sai phái các vị ra đi như Người để tiếp tục sứ vụ của Người và thay Người: "Như Cha đã sai Thày thế nào, Thày cũng sai các con như thế" (Gioan 20:21);

3- Sau cùng, để các vị có thể thực hiện sứ vụ thừa tác viên được chính Chúa Kitô Phục Sinh sai phái như thế, sứ vụ "rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội cho muôn dân", như trong bài Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, Người đã phải thông Thánh Linh của Người cho các vị bằng hơi thở từ chính thân xác phục sinh tràn đầy Thánh Linh của Người: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh" (Gioan 20:22).

Vì chỉ có nhờ Thánh Linh, các vị mới có thể trở thành chứng nhân trung thực và sống động của Người và cho Người, khi các vị có cùng một tâm tình, ngôn từ, tác hành và phản ứng như chính Chúa Kitô, Đấng "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư trầm" (Luca 19:10). Chính vị Thánh ký Luca này cũng là tác giả của Sách Tông Vụ, trình thuật lại hoạt động của Thánh Linh qua chứng từ truyền giáo của các tông đồ nói chung và của vị tông đồ dân ngoại Phaolô nói riêng, như chúng ta đọc thấy trong suốt Mùa Phục Sinh 7 tuần lễ ở Bài Đọc 1 được Giáo Hội cố ý sắp xếp như vậy.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------------

 
DAO TAO MON DE # # 344 = TAM TINH TUAN THANH PDF Print E-mail

TÂM TÌNH TUẦN THÁNH

--------------------------------

THÔNG BÁO TIN VUI # 76 - Website ChiaseLoiChua.com

                     *TÂM TÌNH TUẦN THÁNH*

Có thể nói rằng mẫu tự T liên quan nhiều tới cuộc đời của con người. Ai cũng biết rằng cuộc sống cần có Tiền, nhưng Tiền (bạc) lại có thể sinh ra lòng Tham (tham lam) – loại đứng đầu trong "tam độc" Tham-Sân-Si, bởi vì Tham mà sinh ra Thù (thù hận), và bởi vì Thù mà mất Tình (tình nghĩa). Những chữ T có liên quan lẫn nhau thật kỳ lạ!

1- Đối với các Kitô hữu, Tuần Thánh khiến người ta chú ý nhiều tới Thập Tự – biểu tượng của Cuộc Khổ Nạn mà Chúa Giêsu phải chịu vì máu Tham-Sân-Si của con người. Đó là điều minh nhiên. Nhưng có một nhân vật "nổi cộm" chính là ông Giuđa Iscariot. Ở đây không dám có ý xét đoán hoặc chê trách ông, mà chỉ muốn nói tới chữ Tiền và chữ Tham.

2- Là con người thì luôn yếu đuối, và chắc hẳn ai cũng đã từng Tham-Sân-Si. Ông Giuđa đã chết vì "tam độc" đó. Chuyện của ông còn được người ta nhắc lại mãi mãi cho tới tận thế, nhất là mỗi dịp Tuần Thánh, và mỗi khi đề cập chuyện tiền bạc hoặc chuyện phản bội. Tên của ông đã trở nên "điển tích" về những điều xấu xa và khuất tất.

 3- Ông Giuđa thấy tiền thì tham, vì tham như thế mà ông rắp tâm tìm mưu kế nộp Thầy để có tiền. Có tiền trong tay rồi, ông lại không thấy vui vì biết mình đã phạm tội: phản bội Thầy. Lòng không bình an, ông đâm lo sợ, sợ quá hóa hoảng, hoảng quá nên bí thế, bí thế vì cùng đường, cùng đường rồi lại không nhờ người khác hỗ trợ hoặc tư vấn, đó là tính tự kiêu. Vì tự kiêu mà lạc hướng, càng lạc hướng càng hoảng sợ, vì hoảng sợ mà mất niềm tin vào lòng nhân từ của Thầy, thế nên ông đã "tự giải thoát" bằng sợi dây: treo cổ tự tử.

4- Ông Giuđa đã bước ra khỏi trang Kinh Thánh và bước vào cuộc đời này, thế nên máu của ông đã thấm vào mỗi chúng ta. Bóng dáng của ông vẫn xuất hiện đây đó ngay trên cõi đời tạm này. Vì thế, chúng ta phải cố gắng thoát khỏi máu di truyền đó. Bằng cách nào? Chỉ có diệu kế duy nhất mà Thầy Chí Thánh Giêsu đã mách bảo là "vác thập giá hằng ngày" mà theo Ngài  – tức là chịu đau khổ, đồng thời vững lòng tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.i.

5- Khi rong ruổi trên đường trần, Chúa Giêsu đã dạy "đừng mang theo tiền bạc" (Luca 9:3), đó không phải là Ngài bảo chúng ta cứ "liều mạng", sống bất cần đời, mà Ngài muốn chúng ta đừng để lòng "dính líu" tới tiền bạc kẻo hư thân và có thể mất cả linh hồn, bởi vì "cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc" (1 Timothe 6:10a), hậu quả tất yếu là sẽ bị "lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé" (1 Timothe 6:10b).

6-Người Việt nói: "Tham thì thâm". Ba mẫu tự T có thể tóm tắt trình tự Tiền-Tội-Tù-Tử. Vì tham tiền mà thành tội, vì tội mà phải tù, có khi phải chịu án tử – gọi là tử tội, có kẻ sợ quá mà tự tử. Tóm lại, tham tiền thì tiêu tùng. Thế thôi!

Đầy tớ Định Nguyễn - Mời thăm Website ChiaseLoiChua.com

-------------------------------

 
DAO TAO MON DE # 343 = RUC CHAN CHO TU NHAN PDF Print E-mail

Đức Thánh Cha rửa chân cho tù nhân ở nhà tù Paliano vào thứ 5 Tuần Thánh

Vào thứ 5 Tuần Thánh tới đây, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ cử hành Thánh lễ Tiệc Ly tại nhà tù Paliano ở phía nam Roma và sẽ rửa chân cho các tù nhân.

Hôm thứ 5 hôm qua, Vatican đã thông báo là Đức Giáo hoàng sẽ đến nhà tù vào chiều ngày 13/04 để thăm viếng riêng và cử hành Thánh lễ ghi dấu bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người trước ngày Người chịu đóng đinh.

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã bắt đầu truyền thống thăm viếng các nhà tù vào Thánh lễ Tiệc Ly truyền thống từ tháng 03/2013, chỉ một ít ngày sau lễ khai mạc sứ vụ Giáo hoàng của ngài. Vào năm đó, ngài đã đến trung tâm giam giữ thanh thiếu niên Casal del Marmo của Roma và lần đầu tiên ngài đã rửa chân cho cả các tù nhân nam và nữ.

Năm 2014, Đức Giáo hoàng đã cử hành Thánh lễ Tiệc Ly ở trung tâm người khuyết tật Don Gnocchi của Roma, và ngài cũng rửa chân cho cả những người nữ trong nghi thức rửa chân, tưởng niệm hành động khiêm hạ và phục vụ của Chúa Giêsu.

Năm 2015, Đức Giáo hoàng đã đến cử hành Thánh lễ Tiệc Ly nhà tù Rebibbia ở Roma. Năm ngoái, 2016, Đức Giáo hoàng đã rửa chân cho các người tị nạn nam nữ, bao gồm các tín hữu Hồi giáo, Ấn giáo và Chính thống Copte, tại trung tâm dành cho người tị nạn Castelnuovo di Porto, miền bắc của Roma. (RV 06/04/2017)

Hồng Thủy

--------------------------

 
DAO TAO MON DE # 342 = DINH MENH AN BAI PDF Print E-mail

>
> ĐỊNH MỆNH AN BÀI!
>
> Thời gian nào cũng là thời gian. Nhưng không phải thời gian nào cũng giống thời gian nào. Mỗi người sẽ trải qua những giây phút cực kỳ quan trọng. Đức Giêsu đã biết trước những giây phút đó. Cuối đời Người là một chuỗi vinh nhục.
>
> TÌM MỘT CON ĐƯỜNG.
>
> Dù khi vinh quang vào thành Giêrusalem hay tơi tả dưới làn mưa rơi, Đức Giêsu chỉ biết vâng theo thánh ý Chúa Cha mà thôi. Đó là con đường dẫn tới vinh quang. Con đường phục vụ luôn sáng chói giữa những tương quan chằng chịt và biến cố bất ngờ. Tương quan trần gian thật mỏng manh. Có ai đáng tin cậy hơn các môn đệ? Thế mà ông Phêrô "chối Chúa trước mặt mọi người" (Mt 26,71). Giuđa "nộp Đức Giêsu." (Mt 26,16.48) "Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết" (Mt 26,56). Cháy nhà mới ra mặt chuột! Nhưng Đức Giêsu không lệ thuộc vào con người mỏng dòn. Chỗ dựa không phải là con người. Sức mạnh cũng không phải là gươm giáo gậy gộc, nhưng là "Cha Thầy" với "mười hai đạo binh thiên thần" (Mt 26,53). Bởi vậy, Người mới có thể đứng vững trước bao thử thách. Qua bao đoạn đường gập ghềnh, Người vẫn thẳng bước, vì mục tiêu đã được xác định dứt khoát.
>
> Mục tiêu đó chính là vinh quang Thiên Chúa. Có lúc vinh danh Chúa Cha và Chúa Con không tách lìa. Chính lúc vào thành Giêrusalem, Đức Giêsu tưởng như đã lên chín tầng mây với Chúa Cha khi dân chúng tung hô: "Hoan Hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời." (Mt 21,9) Nhưng Người cũng thấy vinh quang Chúa Cha tràn ngập ngay cả lúc nghe những lời nhục mạ: "Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông đó?" (Mt 26,68), hay khi "lính của tổng trấn quì gối trước mặt Người mà nhạo rằng: Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!" (Mt 26,29). Một nguồn bình an khôn tả khỏa lấp con tim ngay giữa cảnh "kẻ qua người lại đều nhục mạ Người" (Mt 27,39). Vinh quang vẫn lóe lên ngay trong đêm đen hận thù: "Nếu mi là Con Thiên Chúa... Hắn là Vua Israel! Hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa!" (Mt 27,40.42.43). Đã đến lúc Cha làm vinh danh Con. Đứng trước các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng, Người vẫn khẳng quyết mình "là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa" (Mt 26,65), và trước mặt tổng trấn Philatô, Người xác nhận mình là "vua dân Do Thái" (Mt 27,11). Đứng giữa đám đông khát máu đang gào thét: "Đóng đinh nó vào thập giá!" (Mt 27,23.25.26), Đức Giêsu vẫn nghiễm nhiên vươn lên như Đấng "Kitô" (Mt 27,22)
>
> Tất cả xảy ra không ngoài "ý cha" (Mt 26,39). Những lúc "làm thinh" (Mt 26,63) hay "không trả lời một tiếng" (Mt 27,12) là những lúc Đức Giêsu kiên cường bất khuất trước cường lực đối phương. Người như chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa để tìm một lối thoát cho những bế tắc hiện tại. Càng nhìn lên cao, Người càng không thấy lý do phải đối đầu với những toan tính thấp hèn như thế. Chấp nhận cái chết nhục nhã để thi hành thánh ý Cha, chứ không chịu uốn cong ba tấc lưỡi để tìm đường chạy trốn khỏi định mệnh. Nếu chối bỏ sự thật về mình, chắc chắn Người đã không khơi bùng ngọn lửa căm hờn trong lòng các thượng tế và dân chúng. Nhưng Đức Giêsu đã không hèn nhát đi tìm một con đường dễ dãi như thế. Ngay cả khi giang tay trên thập giá, Người cũng không chấp nhận những thách thức rẻ tiền để chứng minh mình là "Con Thiên Chúa" (Mt 27,43). Không thể tìm thấy chân lý nơi những ồn ào phức tạp đó. Chính trong thinh lặng và cầu nguyện, Đức Giêsu đã khám phá được tất cả nét hào hùng và dịu ngọt của tình yêu Thiên Chúa.
>
> Tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Đức Giêsu đã có thể mạc khải mầu nhiệm Thiên Chúa tình yêu ngay giữa lúc tâm hồn đang cay đắng vì cảnh Giuđa "nộp Người" (Mt 26,48) và "tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy" (Mt 26,31). Chính khi mọi tương giao nhân loại bị bứt tung, Đức Giêsu lại mạc khải "đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội" (Mt 26,28). Máu Thầy đem lại sự giải thoát cho toàn thể nhân loại. Tất cả kế hoạch thâm hiểm của con người vô tình đã làm cho máu Thầy đổ ra theo đúng chương trình tình yêu của Thiên Chúa.
>
> Khám phá và chấp nhận tất cả chương trình tình yêu Thiên Chúa đòi nhiều sáng suốt và can đảm. Chính vì vậy, trước khi nộp mình vào tay các quân lính thượng tế và kỳ mục, Đức Giêsu đã cầu nguyện ba lần trong vườn Ghếtsêmani. Trước giờ phút cực kỳ quan trọng đó, các môn đệ vẫn vô tình như đã vô tình từ trước đến nay. Lúc nào họ cũng chỉ quan tâm đến quyền lợi riêng. Họ có thể dùng chính những mỹ từ thân thương và cử chỉ âu yếm để che giấu sự phản bội (x. Mt 26,49). Những dấu chỉ tình yêu đó và những lời khẳng quyết "không chối Thầy" (Mt 26,35) đều mất hết ý nghĩa. Có nhiều lúc ngôn từ không mang nổi nội dung diễn đạt. Nhưng nếu cố tình phản bội nội dung ngôn từ, con người sẽ phải trả giá. Sau khi nuốt lời hứa, ông Phêrô "ra ngoài, khóc lóc thảm thiết" (Mt 26,75). Giuđa cũng hối hận không kém: "Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan." (Mt 27,4), rồi "Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ" (Mt 27,5). Hối hận đến thế vẫn chưa đủ sao? Tại sao phải thắt cổ mới xứng với việc đền bù? Thật là một mầu nhiệm. Giuđa đã trả giá quá mắc! Chúa có đòi vậy đâu!
>
> NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÂN CHÍNH.
>
> Điều Chúa đòi là người môn đệ phải chân thành với chính mình. Sau khi chối Chúa, ông Phêrô đã "khóc lóc thảm thiết" vì thấy mình quá yếu đuối. Còn ông Giuđa không hề khóc lóc, chỉ giận dữ lên án chính mình và tự xử cho mình, không kiên nhẫn đợi giây phút trở về với Cha nhân lành. Từ chỗ ồn ào hăm hở trả giá Thầy, ông đã đụng đầu một cái tôi rối loạn đến nỗi không còn nhận ra sự thật về mình. Muốn tránh được tai họa thảm khốc đó, "trên hết trong xã hội tục hóa ngày nay, cần phải có một mục tiêu rõ ràng và một ý chí kiên vững, trực tiếp phát sinh từ những nguồn mạch Phúc âm chân chính" (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 18.03.2002). Sống với Thầy suốt một quãng đường dài, nhưng ông Giuđa không hề một lần kinh ngạc về thực tại trước mắt. Thói quen và lối sống hằng ngày đã bưng mắt không cho người môn đệ thấy sự thật về Thầy. Mọi sự đương nhiên phải như thế!
>
> Thực tế mọi sự chẳng sẵn sàng như ta tưởng. Chính Thầy cũng không hiện diện đấy như một thực thể nằm sẵn trong tầm tay. Không coi Thầy như một giá trị tuyệt đối, không thể khám phá Thầy như một chân lý giải thoát. Nhất là trong thế giới ngày càng xa lạ với Thiên Chúa hôm nay, con người không biết mình là ai và tại sao mình sống. Triết lý sẽ giúp con người khám phá ra chiều kích sâu xa đó. Nhưng chỉ "khi triết lý gặp gỡ Đức Kitô trong Tin Mừng, thì Tin Mừng thực sự mới bắt đầu lan tỏa khắp thế giới." (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 19.03.2002).

Hiện nay, công bố Phúc âm ngày càng gặp nhiều khó khăn vì hoàn cảnh văn hóa phức tạp (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 19.03.2002). Trong thế giới quá ồn ào hôm nay con người không còn thời giờ khám phá những giá trị vô cùng quan trọng và cần thiết cho cuộc sống. Nếu không thấy mình có "bổn phận nặng nề phải chuyển đạt những giá trị nhân bản, tinh thần và thiêng liêng cho các thế hệ trẻ," (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit: 19.03.2002) cha mẹ và nhà giáo sẽ không thể cung cấp cho xã hội tương lai những con người chân chính và đầy trách nhiệm đối với xã hội.
>
> Chỉ trong xã hội đầy những con người như thế mới có thể loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu như Đấng cứu độ duy nhất cho toàn thể nhân loại.
>
> Sưu tầm
>--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 44