mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1435
mod_vvisit_counterHôm Qua8281
mod_vvisit_counterTuần Này46362
mod_vvisit_counterTuần Trước57178
mod_vvisit_counterTháng Này153797
mod_vvisit_counterTháng Trước157742
mod_vvisit_counterTất cả9212104

We have: 87 guests online
Your IP: 54.162.181.75
 , 
Today: Sep 23, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
DAO TAO MON DE #TAN GIAO HOANG - BI TICH RUA CHAN PDF Print E-mail

 

Papa Phanxicô giảng dạy về "Bí Tích Rửa Chân" cực cao cực trọng

"Các bạn hãy nhìn cử chỉ rửa chân các bạn này như là một sự vuốt ve của Chúa Giêsu", Đức Giáo Hoàng đã nói, trong bài giảng để giải thích cho các người trẻ về nghi thức rửa chân điển hình của "dịch vụ" và tình thương mà Nghi Lễ Thứ Năm Tuần Thánh mang ý nghĩa. Ngài đã rời họ trong lời khẩn khoản yêu cầu ; "Các bạn đừng để bị lấy trộm mất hy vọng". Rồi Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh, ngài đến đây chỉ vì trái tim ngài đã hướng dẫn : "Những chuyện của trái tim không có lời giải thích", ngài nói thêm.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cử hành Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh "In Cena Domini", hôm 28/03/2013 với các tù nhân trẻ trong nhà nguyện dâng hiến cho "cha hiền" của nhà tù dành cho trẻ em vị thành niên Casa del Marmo, ở phía Bắc Rôma.

Đức Giáo Hoàng và các người trẻ

Thánh Lễ đã được phụ họa bởi các bài ca và nhạc tây ban cầm của các người trẻ và thiện nguyện viên. Thánh Lễ đã được trực tiếp truyền đi bởi Đài Radio Vatican và Zenit đã xả băng để ghi những lời lẽ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Cuối Thánh Lễ, Đức Giáo Hoàng đã kiệu Mình Thánh tới Nhà Tạm, trong im lặng. Sau đó, ngài đã có một cuộc gặp gỡ với những người trẻ trong phòng tập thể dục. Tháp tùng Đức Giáo Hoàng, có vị giám mục phó Rôma, Đức Hồng Y Agostini Vallini. Các bài đọc trong Thánh Lễ đã được tuyên đọc bởi một tù nhân trẻ, một nữ quản giáo và Phúc Âm do Cha Nicolo Ciccolini, một trong các linh mục phục vụ trung tâm cải huấn.

Như nghi thức phụng vụ dự trù của ngày lễ hôm nay, Đức Giáo Hoàng đã rửa chân cho 10 cậu thanh niên và 2 cô thiếu nữ, tượng trưng cho 12 tông đồ mà Đức Kitô đã rửa chân cho, hôm trước ngày Khổ Nạn. Ngài đã đồng tế với vị giám mục phó của ngài là ĐHY Agostino Vallini, Đức Cha Tổng Đại Diện, Angelo Becciu, Đức Cha thư ký của ngài, Alfred Xuereb, Cha tuyên úy Gaetano Geco, và Cha Ciccolini. Hàng trăm người đã dự Thánh Lễ với các người trẻ.

Trung tâm hiện đang giam giữ 35 thanh niên và 11 thiếu nữ từ 14 đến 21 tuổi và cung cấp cho họ một chương trình huấn nghệ để tái hội nhập. Chỉ có 8 người trong họ là người Ý, những người khác đến từ Bắc Phi và những nước slavơ, và người Ruma (Rumania). Như vậy họ đều không phải là người công giáo và Đức Giáo Hoàng đã giải thích cho họ ý nghĩa của các cử chỉ, trong một bài giảng rất ngắn và rất mạnh mẽ.

Một sự vuốt ve của Chúa Giêsu

Trung tâm thông điệp của ngài đã là : "Các bạn hãy coi trong cử chỉ này [rửa chân cho các bạn] một cái vuốt ve của Đức Giêsu".

Đây là lần đầu tiên từ nhiều thế hệ nay mà Đức Giáo Hoàng không cử hành Ngày Thứ Năm Tuần Thánh ở Thánh Đường Lateran –như thông lệ của Giám Mục Rôma- hay ở Đền Thánh Phêrô. Thông thường, Đức Giáo Hoàng cũng rửa chân cho các linh mục của giáo phận mình. Nhưng năm 2007, ĐGH Biển Đức XVI đã rửa chân cho 12 tín hữu giáo dân.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói cho các người trẻ về lòng rộng lượng và đã rửa, lau và hôn chân những người trẻ, chính ngài đã quỳ hai đầu gối xuống đất, sáu lần, : hai cô gái và những người Hồi Giáo trong họ. Ngài cũng đã ôm hôn họ trong lúc trao Bình An Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng cũng đích thân cho rước lễ những người tiến gần để đón nhận Đức Giêsu trong phép Thánh Thể.

"Thật là cảm động, Đức Giáo Hoàng với lòng rộng lượng đã phát biểu trong bài giảng : Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ của Ngài. Thánh Phêrô đã không hiểu gì. Và ông đã từ chối. Nhưng Đức Giêsu đã giải thích cho ông. Đức Giêsu, Thiên Chúa, đã làm chuyện này. Và chính Ngài giải thích chuyện Ngài đã làm cho các môn đệ của Ngài : "Anh em có hiểu điều Thày làm cho anh em không ? Anh em gọi Thày là Thày và là Chúa và anh em nói đúng vì Thày chính là như vậy. Nếu cả Thày, là Chúa và là Thày mà còn rửa chân cho anh em, anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thày đã nêu gương cho anh em để cả anh em nữa, anh em cũng làm như vậy".

Đức Giáo Hoàng sau đó đã bình giải về những lời lẽ của Đức Kitô và nói rằng : "Đó là cái gương của Chúa : Ngài, Ngài là Đấng quan trọng nhất, và Ngài rửa chân, bởi vì trong chúng ta, người cao trọng nhất phải là người phục vụ những người khác, và đó là một biểu tượng và một dấu hiệu, phải không ?"

Tôi phục vụ anh

"Rửa chân có nghĩa là : "tôi phục vụ anh". Và chúng ta cũng thế, giữa chúng ta, có phải chúng ta cũng phải rửa chân cho nhau mỗi ngày ? Nhưng điều này có nghĩa là gì ? Là chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau. Đôi khi tôi hơi giận người này, người kia... Nếu vậy ! Bỏ đi. Bỏ. Và nếu người ta xin anh một đặc ân, hãy thỏa mãn cho họ"

"Giúp đỡ lẫn nhau, Đức Giáo Hoàng nói tiếp : đó là điều Đức Giêsu dạy bảo chúng ta và đó là điều tôi làm. Và tôi làm với tất cả tấm lòng, bởi vì đó là bổn phận của tôi với tư cách linh mục và giám mục : tôi phải phục vụ các bạn. Đó là một bổn phận đã đến với tôi từ trái tim, tôi thích nó. Tôi thích điều này và tôi thích làm bổn phận của mình bởi vì Chúa đã dạy tôi phải làm như vậy. Nhưng các bạn cũng vậy, hãy giúp đỡ nhau, hãy luôn giúp đỡ lẫn nhau và trong lúc giúp đỡ nhau như thế, chúng ta làm điều tốt lành cho chính chúng ta.

"Bây giờ, Đức Giáo Hoàng kết luận, chúng ta sẽ làm lễ nghi rửa chân và chúng ta hãy nghĩ về chuyện này. Xin mỗi ngươi trong chúng ta suy nghĩ : tôi, thực chất, liệu tôi có sẵn sàng giúp đỡ người khác không ? Xin chỉ nghĩ như thế thôi, và hãy nghĩ rằng dấu hiệu này là một sự vuốt ve mà Đức Giêsu làm, bởi vì Đức Giêsu thực ra đã đến để cho chuyện này, để phục vụ và để giúp đỡ chúng ta".

Những chuyện của trái tim không có lời giải thích

Bà Bộ Trưởng Tư Pháp Ý, Paola Severino, sau đó đã phát biểu : "Tôi đã thấy biết bao yêu thương trong ánh mắt của của các bạn. Biết bao tinh thần phục vụ". Các em đã khóc vì xúc động.

Đức Giáo Hoàng đã nói mấy lời với những người trẻ và với các giới chính quyền để cảm ơn họ trước khi thêm rằng : "Các bạn đừng để bị trộm mất hy vọng. Hãy tiến về phía trước trong niềm hy vọng, luôn luôm với niềm hy vọng !".

Ngài đã trao cho mỗi em một quả trứng Phục Sinh và một cái bánh mì sốp hình chim bồ câu "Colomba", loại bánh đặc biệt của lễ Phục Sinh ở Ý. Đức Giáo Hoàng cũng đã được các em dâng tặng một ghế quỳ và một cây Thánh Giá do chính bàn tay các em đã tạo nên trong xưởng mộc.

Khi nhận những tặng phẩm này, Đức Giáo Hoàng đã phán : "Các món quà này sẽ giúp tôi trở nên khiêm nhường hơn, trở nên tôi tớ như một giám mục phải làm tôi tớ. Tôi đã suy nghĩ, tôi đã đặt câu hỏi : đâu là nơi mà tôi tới thăm sẽ mang lại sự hài lòng cho mọi người ? Người ta đã trả lời tôi là Casa del Marmo. Và tôi đã tới đây, chỉ với trái tim. Những chuyện của trái tim không có lời giải thích. Chúng xảy đến, thế thôi".

Mai Khôi phỏng dịch

 

NGƯỜI NỮ TRONG GIÁO HỘI

TỪ ĐỨC MARIA MẸ THẦY GIÊSU ĐẾN CÁC NỮ PHÓ TẾ

Chúa Kitô phục sinh giúp can đảm và dấn thân sống các thực tại thường ngày

Sự Phục Sinh của Chúa Kitô soi sáng cuộc đời, giúp chúng ta tin tưởng sống các thực tại thường ngày và can đảm dấn thân đương đầu với chúng.

...

Nhưng sự thật đức tin về sự Phục Sinh của Chúa Kitô đã được thông truyền cho chúng ta như thế nào? Có hai loại chứng tá trong Thánh Kinh Tân Ước: vài chứng tá là trong hình thức của lời tuyên xưng đức tin, nghĩa là các công thức tổng hợp chỉ cho thấy trung tâm của đức tin; các công thức khác trái lại trong hình thức trình thuật biến cố Phục Sinh và các sự kiện gắn liền với nó. Hình thức thứ nhất là hình thức tuyên xưng đức tin, chẳng hạn như lời tuyên xưng mà chúng ta vừa mới nghe, hay hình thức của Thư gửi tín hữu Roma, trong đó thánh Phaolô viết: "Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ" (Rm 10,9). Ngay từ những bước đầu tiên của Giáo Hội niềm tin nơi Mầu Nhiệm cái Chết và sự Phục sinh của Đức Giêsu đã vững vàng và rõ ràng. Tuy nhiên, hôm nay tôi muốn dừng lại trên các chứng tá trong hình thái thứ hai là hình thái trình thuật mà chúng ta tìm thấy trong Tin Mừng. Trước hết chúng ta ghi nhận rằng các chứng nhân đầu tiên của biến cố này là các phụ nữ. Vào tảng sáng, họ ra mồ để ướp xác Chúa Giêsu, và họ tìm thấy dấu chỉ đầu tiên: đó là ngôi mộ trống (X. Mt Mc 16,1). Tiếp theo đó là cuộc gặp gỡ với một sứ giả của Thiên Chúa báo cho biết rằng Đức Giêsu thành Nagiarét, Đấng bị đóng đanh, không ở đây, Người đã sống lại (cc. 5-6). Rồi Đức Thánh Cha đã đề cao các phụ nữ như sau:

Các phụ nữ đã được thúc đẩy bởi tình yêu thương và họ biết tiếp nhận lời báo đó với đức tin: họ tin và ngay tức khắc họ thông truyền nó, chứ không giữ nó cho riêng mình. Niềm vui được biết rằng Chúa Giêsu sống, niềm hy vọng tràn ngập con tim không thể kìm hãn được. Điều này cũng phải xảy ra trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta cảm thấy niềm vui là Kitô hữu! Chúng ta tin nơi một Đấng Phục Sinh đã chiến thắng sự dữ và cái chết! Chúng ta có can đảm "đi ra" để đem niềm vui và ánh sáng này vào mọi nơi của cuộc sống thường ngày! Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là sự chắc chắn lớn nhất của chúng ta; và nó là kho tàng qúy báu nhất! Làm sao lại không chia sẻ với các người khác kho tàng đó, sự chắc chắn đó? Nó không phải chỉ để cho chúng ta mà thôi, mà là để thông truyền nó, trao ban nó cho người khác, chia sẻ với người khác. Đó chính là chứng tá của chúng ta.

Có một yếu tố khác nữa. Trong các lời tuyên xưng đức tin của Tân Ước chỉ có các người nam, các Tông Đồ, chứ không phải các phụ nữ được nhớ tới như các chứng nhân của sự Phục Sinh. Điều này bởi vì theo Luật do thái thời đó, các phụ nữ và trẻ em không thể làm chứng tá một cách đáng tin cậy. Trái lại trong các Phúc Âm phụ nữ có một vai trò hàng đầu nền tảng. Ở đây chúng ta có thể tiếp nhận một yếu tố thuận lợi cho tính cách lịch sử của sự Phục Sinh: nếu nó đã là một sự kiện được bịa ra, trong bối cảnh của thời đó, thì nó sẽ không được gắn liền với chứng tá của các phụ nữ. Đức Thánh Cha giải thích thêm điểm này như sau:

Trái lại, các thánh sử kể lại một cách đơn sơ điều đã xảy ra: các phụ nữ là các chứng nhân đầu tiên. Điều này muốn nói rằng Thiên Chúa không lựa chọn theo các tiêu chuẩn của con người: các chứng nhân đầu tiên của biến cố Chúa Giêsu sinh ra là các mục đồng, những người đơn sơ khiêm hạ; các chứng nhân đầu tiên của sự Phục Sinh là các phụ nữ. Và điều này thật là đẹp. Và đây một chút là sứ mệnh của phụ nữ: của các bà mẹ, của đàn bà! Làm chứng cho con cái cháu chắt biết rằng Chúa Giêsu sống, là Đấng đang sống, đã phục sinh. Hỡi các bà mẹ và chị em phụ nữ, hãy tiến lên với chứng tá đó!

Đối với Thiên Chúa chỉ có con tim là đáng kể, khi chúng ta rộng mở cho Người, nếu chúng ta giống như trẻ em, chúng tin tưởng. Nhưng điều này cũng khiến cho chúng ta suy nghĩ về sự kiện trong Giáo Hội và trên con đường lòng tin, nữ giới đã và đang có một vai trò đặc biệt như thế nào trong việc rộng mở các cánh cửa cho Chúa, trong việc theo Người và thông truyền Gương mặt của Người, bởi vì cái nhìn của đức tin luôn luôn cần đến cái nhìn đơn sơ và sâu xa của tình yêu. Các Tông Đồ và các môn đệ vất vả hơn để tin. Các phụ nữ thì không. Thánh Phêrô chạy tới mồ, nhưng dừng lại ở ngôi mộ trống; còn Tôma phải sờ tay vào các vết thương của thân thể Chúa Giêsu. Cả trong con đường lòng tin của chúng ta thật là quan trọng biết và cảm thấy rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, không sợ hãi yêu thương Chúa: đức tin được tuyên xưng với môi miệng và con tim, với các lời nói và với tình yêu.

Sau các cuộc hiện ra với các phụ nữ Chúa Giêsu hiện diện một cách mới mẻ: đó là Đấng chịu đóng đanh, nhưng thân xác Người vinh hiển; Người không trở lại với cuộc sống trần gian nữa, nhưng trong một điều kiện mới mẻ. Ban đầu họ không nhận ra Người, và chỉ qua các lời và các cử chỉ của Người mắt họ mới mở ra: cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh biến đổi, trao ban một sức mạnh mới cho đức tin, một nền tảng không thể sụp đổ. Đối với chúng ta cũng thế, có biết bao nhiêu dấu chỉ qua đó Chúa Phục sinh tỏ hiện ra: Thánh Kinh, bí tích Thánh Thể và các Bí tích, lòng bác ái, các cử chỉ của tình yêu đem đến một tia sáng của Chúa Phục Sinh. Chúng ta hãy để cho mình được chiếu sáng bởi sự Phục Sinh của Chúa Kitô, chúng ta hãy để cho mình được biến đổi bởi sức mạnh của Người, để qua chúng ta trong thế giới các dấu chỉ của chết chóc nhường chỗ cho các dấu chỉ của sự sống. Tôi thấy có biết bao nhiêu bạn trẻ tại quảng trường. Họ đây: với họ tôi xin nói: Các con hãy mang theo sự chắc chắn này: đó là Chúa sống và bước đi bên cạnh chúng ta trong đời. Đó là sứ mệnh của chúng ta! Hãy đưa niềm hy vọng đó tiến lên. Hãy cắm neo vào niềm hy vọng ấy: cái neo này ở trên trời: hãy cầm chắc lấy dây neo, hãy cắm neo và đưa niềm hy vọng tiến lên. Các con là chứng nhân của Chúa Giêsu, hãy làm chứng rằng Người sống và điều này sẽ trao ban hy vọng cho chúng ta, sẽ trao ban hy vọng cho thế giới hơi già nua này vì chiến tranh, vì sự dữ vì tội lỗi. Các bạn trẻ ơi hãy tiến lên!

Đức Thánh Cha đã chào các nhóm tín hữu bằng tiếng Ý. Ngài đặc biệt cám ơn các bạn trẻ Libăng đã soạn các bài suy niệm cho buổi đi đàng Thánh Giá tối thứ sáu Tuần Thánh và cám ơn các ca đoàn tiếng Anh đã hát mừng ngài. Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

16 TRANG TÀI LIỆU VỀ "NỮ PHÓ TẾ" NẰM TRÊN BÀN ĐỨC GIÁO HOÀNG DANH DỰ BÊNÊDICTÔ XVI ĐỀ DÀNH LẠI CHO PAPA PHANXICÔ TRONG KẾ HOẠCH CỨU GIÁO HỘI

 
DAO TAO MON DE # ƯU THẾ CỦA PHỤ NỮ XƯA VÀ NAY PDF Print E-mail

 

ƯU THẾ CỦA PHỤ NỮ LỄ PHỤC SINH

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Tin Mừng đại lễ Phục Sinh đã dành cho giới phụ nữ một vị thế đáng trân trọng. Họ là những người nhận được tín hiệu Phục Sinh đầu tiên. Họ là những người được Đấng Phục Sinh cho gặp mặt trước hết. Và chính họ còn là những người được trao nhiệm vụ lớn lao là đem Tin Vui Phục Sinh đến cho các Tông Đồ.

Tại sao phụ nữ lại có được ưu thế ấy mà không phải là các Tông Đồ ? Phải chăng chỉ vì họ là phụ nữ ? Tất nhiên không phải thế, mà vì những lý do khác. Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống giải thích qua 3 lý do: phụ nữ có một trái tim chân thành, phụ nữ có một gắn bó trung thành và phụ nữ có những bước đi nhiệt thành (x. Hạt nắng vô tư, trang 27-32).

1. Trái tim chân thành

Phúc Âm kể : từ sáng sớm khi trời còn tối ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ đã đến thăm mồ Chúa Giêsu. Chiều thứ Sáu, sau khi Chúa chết, người Do thái đến xin Philatô cho hạ xác những người bị đóng đinh xuống. Họ không muốn thấy xác chết treo trên thập giá trong ngày Sabat. Phép tắc thủ tục xong, xác Chúa được hạ xuống thì đã chiều tà. Theo phong tục, ngày mới bắt đầu từ lúc mặt trời lặn. Vì thế, Đức Mẹ cùng với bà Maria Mađalêna và các môn đệ phải hối hả lo an táng để về nhà trước khi mặt trời lặn. Nếu không, họ sẽ lỗi luật tôn giáo, vì ngày Sabat chỉ được đi bộ một quãng bằng ném hòn đá mà thôi. Vì hối hả nên các bà về nhà, nhận thấy không cẩn thận đủ với Thầy kính yêu nên các bà nán lòng chờ đến sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, đem thuốc thơm đến mồ để ướp lại xác Thầy yêu quý. Theo định luật tâm lý: trái tim giới nữ chỉ có một ngăn duy nhất, một khi ngăn ấy đã dành cho ai thì họ chỉ có yêu một mình người ấy mà thôi. Các phụ nữ này rất yêu mến Chúa Giêsu. Chứng kiến cuộc khổ nạn, các bà càng yêu mến Chúa hơn. Họ bất chấp tất cả. Bất chấp sự chết, bất chấp mồ bị niêm phong, bất chấp cả lính canh. Miễn là họ được ở gần vị Thầy tôn quý. Thiết tưởng, một trái tim chân thành như thế, ở giới nữ cũng như ở bất cứ ai, cũng xứng đáng nhận được Tin Mừng Phục Sinh.

2. Gắn bó trung thành

Trước thảm kịch ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chẳng ai bảo ai, các Tông đồ trốn chạy mỗi người một ngã. Mạnh miệng như ông Tôma có lần hạ quyết tâm "Nào cùng lên Giêrusalem chịu chết cả đám", thế mà trong ngày thương khó của Chúa, ông là "người thợ lặn" giỏi nhất, lặn biệt tăm. Sôi nổi như ông Phêrô có lúc đã quyết liệt "Dẫu mọi người bỏ Thầy, con đây xin đồng sinh đồng tử với Thầy". Thế mà sau đó, chính ông trở thành kẻ chối Chúa táo bạo nhất, không chỉ một lần mà những ba lần. Giuđa bán Thầy giá rẻ bằng giá một người nô lệ. Đầu Bin Lađen còn được treo giải 5 triệu đôla. Đầu Sađam Hussein tới 36 triệu đôla. Trong khi cái đầu của Thầy chỉ đáng giá ...một tháng lương. Các môn đệ trốn chui trốn nhủi vì sợ liên luỵ.

Trong khi ấy, phụ nữ lại là những người gắn bó trung thành với Chúa Giêsu hơn bất cứ ai. Họ có mặt bên Chúa trong cuộc khổ nạn. Họ đứng gần dưới chân thánh giá cùng với Mẹ Maria. Họ góp sức trong lúc an táng. Và dẫu Chúa đã ba ngày bị vùi chôn trong ngôi mộ niêm phong, họ vẫn trung thành đến viếng thăm ngay từ khi bình minh ló rạng. Và thế là cửa mồ đã mở toang và họ được hạnh phúc là những người đầu tiên ghi nhận sự kiện phục sinh. Nếu hạnh phúc không phải từ trời rơi xuống, mà "như ngọc trong đá không có cho ai đi qua hững hờ", thì rõ ràng gặp được Tin Vui Phục Sinh chính là hạnh phúc cho họ và cho tất cả những ai đã trung thành gắn bó với Đức Kitô trong cuộc khổ nạn đời sống hằng ngày, bất luận họ là giới nữ hay giới nam.

3. Bước đi nhiệt thành

Hình ảnh người nữ nêu lên trong Tin Mừng Phục Sinh rất lạ. Thay vì dáng vẻ yểu điệu thục nữ, thay vì những bước chuyển động nhẹ nhàng dịu dàng, thì phụ nữ lại chạy, chạy vội vàng, chạy hớt hải, cắm đầu mà chạy. Nhưng đó chính là hình ảnh sinh động minh họa cho một chuyển động nhiệt thành. Lòng nhiệt thành chính là điều kiện cần thiết để loan Tin Vui Phục Sinh đến với mọi người.

Xin đọc tiếp www.cungmedonghanh.com

*****

NHỮNG CÂU KINH THÁNH CẦN ĐỌC THÊM : Các Bạn thấy các bà nhiệt thành, trung thành và can đảm với Chúa chừng nào ! ?

Ngày xưa và hôm nay các bạn đang thấy các bà được Chúa,  Xã hội, Quốc gia và Hội Thánh đang mời các bà tham gia thế nào ?

*** Mời đọc Tin Mừng Gioan 10, 11-18"Khi ấy bà Maria Madala đứng ở ngoài, gần bên mộ mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ" (Ga 20, 11)

 "Thiên thần hỏi bà: "Này bà, sao bà khóc?"  Bà thưa: "Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu ?!..." (x. câu 13 đến 18)

Ptế GB Định Nguyễn

 
DAO TAO MON DE # DGH CAU NGUYEN CHO HOA BINH PDF Print E-mail



Đức Giáo hoàng Francis kêu gọi hòa bình trong dịp lễ Phục sinh

Đức Giáo hoàng Francis đã cầu nguyện cho hòa bình trong khi cử hành thánh lễ Phục Sinh đầu tiên của ngài trên cương vị mới.

Ngài đã sử dụng lời cầu nguyện của mình để kêu gọi hòa bình ở châu Phi, châu Á và Trung Đông và đặc biệt là nơi mà ngài gọi là "Syria thân yêu".

Các bài liên quan

 Giáo hoàng sẽ rửa chân cho tù nhân

 Cuộc đời của tân Giáo hoàng Francis

 Giáo hoàng từ chối dinh thự sang trọng

 Tôn giáo,

 Tòa thánh La Mã

"Chúa Kitô là sự bình an của chúng ta, và thông qua Ngài, chúng ta cầu khẩn hòa bình cho cả thế giới," Giáo Hoàng Francis nói với hàng nghìn người ở quảng trường.

Phục Sinh là lễ hội quan trọng nhất trong lịch Cơ đốc giáo và người hành hương đi đến nhà thờ trên khắp thế giới trong dịp này.

Tại Iraq, người Công giáo đã đổ xô đến các nhà thờ trong bối cảnh an ninh chặt chẽ với khoảng 200 tín đồ dâng Thánh Lễ tại Nhà thờ St Joseph Chaldean ở Baghdad.

Tại Pakistan, chính quyền cũng áp dụng các biện pháp an ninh đặc biệt khi các tín đồ tham dự các thánh lễ ở nhà thờ.

Tại Anh, trong một thông điệp cho lễ Phục Sinh, Thủ tướng David Cameron ca ngợi "vai trò đặc biệt" của các nhà thờ và tổ chức Kitô giáo ở Anh cũng như toàn cầu.

'Chia rẽ bởi lòng tham'

Đức Giáo Hoàng Francis, nguyên là Đức Tổng Giám Mục Buenos Aires Jorge Mario Bergoglio, được bầu vào ngày 13/3/2013, trở thành giáo hoàng đầu tiên không phải người châu Âu trong gần 1.300 năm.

Ngài đã thay thế Đức Giáo hoàng Benedict XVI, người giữ chức vụ này trong tám năm và trở thành vị giáo hoàng đầu tiên từ chức trong hơn 700 năm qua, với lí do sức khỏe và cao niên.

"Hòa bình trên toàn thế giới vẫn còn bị chia rẽ bởi lòng tham lam muốn chiếm lĩnh mọi thứ dễ dàng, bị thương tổn bởi lòng ích kỷ đe dọa cuộc sống con người và các gia đình..."

Đức Giáo hoàng Phanxicô

Trong bài thông điệp "Urbi et orbi" (nói với thành phố và thế giới), Giáo hoàng Francis bắt đầu với một câu đơn giản "Happy Easter!" (Phục sinh Hạnh phúc.)

Tân Giáo hoàng, người đã bắt đầu nhiệm kỳ của mình bằng cách nhấn mạnh sự khiêm nhường, nói tiếp: "Chúa Kitô đã sống lại. Tôi thật vui sướng thông báo tin lành này... Tôi muốn tin lành ấy đi đến mọi nhà và mỗi gia đình, đặc biệt là tới những nơi đau khổ lớn nhất, tới các bệnh viện, và vào trong các nhà tù. "

Sau đó trong bài phát biểu của mình, Đức Giáo Hoàng Francis nói: "Chúng con cầu xin Chúa Giêsu phục sinh, người biến cái chết thành sự sống, hãy biến đổi căm hận thành tình yêu, oán thù thành sự tha thứ, chiến tranh thành hòa bình."

Sau đó, Giáo hoàng lần lượt nhắc đến các khu vực đang gặp khó khăn nhất của thế giới.

Đức Giáo hoàng Francis I hôn một em bé tại quảng trường thánh Peter nơi cử hành thánh lễ Phục sinh

"Hòa bình cho Trung Đông, và đặc biệt là giữa những người Israel và Palestine, những người đang vất vả để tìm ra một con đường tới thỏa thuận, xin cầu cho họ có thể sẵn lòng và can đảm tiếp tục đàm phán để chấm dứt một cuộc xung đột đã kéo dài quá lâu.

"Hòa bình ở Iraq, cầu cho tất cả các hành vi bạo lực chấm dứt, và trên hết cho Syria thân mến, cho những người dân đang bị giằng xé bởi cuộc xung đột và cho nhiều người tị nạn, những người đang chờ đợi sự giúp đỡ và an ủi."

'Cầu nguyện cho Triều Tiên'

Đối với châu Phi, Đức Giáo Hoàng đề cập Mali, Nigeria, "nơi mà các cuộc tấn công đáng buồn vẫn tiếp diễn." Ngài cũng nhắc tới Cộng hòa Dân chủ Congo và Cộng hòa Trung Phi.

Ngài nói thêm: "Cầu cho hòa bình ở châu Á, trên hết là bán đảo Triều Tiên: cầu cho sự bất đồng có thể được khắc phục và một tinh thần đổi mới hòa giải được phát triển."

Đức Giáo hoàng Francis kết luận bài diễn thuyết của ngài bằng câu nói:

"Hòa bình trên toàn thế giới vẫn còn bị chia rẽ bởi lòng tham lam muốn chiếm lĩnh mọi thứ dễ dàng, bị thương tổn bởi lòng ích kỷ đe dọa cuộc sống con người và các gia đình và bởi lòng ích kỷ tiếp tục việc buôn bán người, một hình thức rộng rãi nhất của chế độ nô lệ trong thế kỷ 21," ngài nói với sự hiện diện của hàng ngàn người tại quảng trường thánh Peter.

Theo ước tính, có hàng triệu cử tọa theo dõi buổi lễ lần đầu tiên do Tân Giáo hoàng cử hành trên cương vị mới của ngài, qua các phương tiện thông tin đại chúng và mạng Internet trên phạm vi toàn cầu.

Đám đông chào đón Đức Giáo Hoàng khi xe chở Ngài ra khỏi Quảng trường Thánh Phêrô, ngày 31/3/2013.

31.03.2013

Tín đồ Ky-tô khắp thế giới mừng lễ Phục Sinh

Tín đồ Ky-tô khắp thế giới hôm nay cử hành lễ Phục Sinh, lễ thiêng liêng nhất trong lịch của người Ky-tô, đánh dấu sự sống lại của Chúa Giê-su ba ngày sau khi bị đóng đinh trên thập giá.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô cử hành Thánh lễ Phục sinh đầu tiên tại Quảng trường Thánh Phêrô. Vatican cho biết có khoảng 250.000 người đã dự lễ, và đám người dự lễ đã tung hô Giáo Hoàng khi xe chở Ngài ra khỏi quảng trường sau buổi lễ.

Sau đó, Ngài đã đứng tại bao lơn để đọc thông điệp cho thế giới. Ngài kêu gọi hòa bình, đặc biệt là tại những điểm nóng trên thế giới.

Tại Australia, trên hòn đảo Melville thuộc nhóm đảo Tiwi, người thổ dân Công giáo cử hành Phục Sinh với bản sắc riêng.

Tại Philippines, Tổng thống Benigno Aquino nói giống như Chúa sống lại, ông hy vọng sức mạnh chống tham nhũng sẽ sống lại nơi người dân Philippines.

Tại Hoa Kỳ, Tổng thống Obama nói rằng Phục Sinh là dịp để mọi người "hướng đến những lợi ích lớn hơn lợi ích cá nhân."

Đức Giáo Hoàng Phanxicô rửa chân của một tù nhân tại trung tâm giam giữ thiếu niên Casal del Marmo tại Rome, ngày 28/3/2013.

ĐỨC GIÊSU NAZARETH CÔNG BỐ "TÍN ĐIỀU HÒA BÌNH" TRÊN NÚI BÁT PHÚC KORAZIM :

"HỒNG PHÚC CHO NHỮNG AI XÂY DỰNG HÒA BÌNH !

VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ CON THIÊN CHÚA !" (Mt 5:9)

KINH HÒA BÌNH CỦA THÁNH PHANXICÔ ASSISI

Lạy Chúa từ nhân,

Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa

Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,

Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục

Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,

Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,

Ðể con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.

Lạy Chúa xin hãy dạy con:

Tìm an ủi người hơn được người ủi an,

Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết

Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.

Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh,

Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,

Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,

Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Ôi Thần Linh thánh ái xin mở rộng lòng con,

Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình.

http://www.youtube.com/watch?v=acfRiK2mT-4

http://www.youtube.com/watch?v=shkl9TXRf7E

http://www.youtube.com/watch?v=g7kSV1AQcAM

 

 
DAO TAO MON DE # HAY DE DUC GIESU BUOC VAO PDF Print E-mail

 

HÃY ĐỂ ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH BƯỚC VÀO TRONG CUỘC SỐNG CỦA BẠN.

Lời Chúa chuyển

"Hãy chấp nhận Đức Giê Su Phục Sinh trong đời sống các con, hãy đón nhận Ngài như một người bạn, với niềm tin tưởng rằng: Ngài là cuộc sống. Nếu như đến tận bây giờ mà các con còn ở xa Ngài, hãy tiến bước: Ngài sẽ đón nhận các con trong vòng tay mở rộng". Đó là lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô trong đêm Vọng Phục Sinh.

Trong đêm vọng Phục Sinh, Đức Thánh Cha đã cử hành ba bí tích khai tâm Ki Tô giáo; Rửa tội, Thêm Sức và Thánh Thể, cho 4 bạn trẻ: một người Anbani 30 tuổi, một người Ý 23 tuổi, một người Nga 30 tuổi và một bạn trẻ Việt Nam sống ở Mỹ 17 tuổi.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến 3 điểm chính yếu. Trước hết, Tin Mừng về sự Phục Sinh của Chúa Ki Tô nói về việc các phụ nữ chạy đến bên mộ Chúa, bởi tình yêu thúc đẩy: "Tình yêu hiện hữu trong các phụ nữ, tình yêu hướng về Giê Su đã thúc bách các bà chạy đến bên mộ".

Sau đó các bà đã gặp thấy tảng đá bị lăn đi: "Có cái gì đã xảy ra hoàn toàn không như mong đợi, cái gì đó mới, cái gì đó đã làm đảo lộn con tim, các dự định và cả cuộc sống của các bà: các bà đã thấy tảng đá lăn ra khỏi cửa mộ, các bà tiến lại gần, và không thấy xác Chúa đâu nữa. Đó là một thực tế làm cho họ cảm thấy do dự, bối rối và ngập tràn các câu hỏi: " Cái gì đã xảy ra?", "Những việc ấy có ý nghĩa là gì?"

Đức Thánh Cha lưu ý về những gì xảy ra cho chúng ta trong cuộc sống hàng ngày: "Cái gì không xảy ra cũng như xảy ra cho chúng ta khi có một cái thực sự mới đến với chúng ta trong các sự kiện liên tiếp hàng ngày? Chúng ta dừng lại, chúng ta không hiểu, chúng ta không biết làm sao để đối phó với nó. Những cái mới luôn làm chúng ta sợ hãi, cũng như những điều mới mẽ mà Chúa mang đến cho chúng ta, điều mới mà Chúa đòi hỏi chúng ta(...) Chúng ta sợ hãi trước những bất ngờ của Thiên Chúa, chúng ta sợ trước những bất ngờ của Thiên Chúa! Ngài luôn làm chúng ta ngạc nhiên!"

Đức Thánh Cha mời gọi mọi người mở ra trước "những cái mới mẽ của Thiên Chúa": " Hỡi anh chị em, đừng đóng kín lòng mình trước những điều mới mẽ mà Thiên Chúa muôn mang lại trong cuộc sống chúng ta! Không phải là chúng ta thường xuyên mệt mõi, thất vọng, buồn bã, không phải là chúng ta cảm thấy gánh nặng của tội lỗi chúng ta, không phải là chúng ta đã không nghĩ rằng chúng ta không thể làm những điều đó hay sao? Đừng đóng kín chính mình, đừng đánh mất niềm tin, đừng bao giờ từ bỏ, không có hoàn cảnh nào mà Thiên Chúa không thể thay đổi, không có tội lỗi nào mà Thiên Chúa không thể thứ tha nếu như chúng ta biết mở lòng ra với Ngài".

Sau đó Đức Thánh Cha nhấn mạnh- điểm thứ hai- Sự gần gũi của Thiên Chúa không luôn luôn ở ngay nơi mà chúng ta tìm kiếm: "Đã bao nhiêu lần chúng ta cần Đấng Tình Yêu nói với chúng ta: tại sao chúng ta tìm Đấng Phục Sinh giữa những kẻ chết? Những vấn đề, những bận tâm túi bụi hàng ngày có xu hướng làm chúng ta thu mình lại, trong sự cay đắng, sự buồn bã... và ngay cả trong cái chết. Đừng tìm kiếm ở nơi đó Đấng đang sống!"

Đức Thánh Cha mời gọi mỗi người: "Hãy chấp nhận để Đức Giê Su Phục Sinh bước vào trong đời sống của con, đón nhận Ngài như một người bạn, với tất cả niềm tin tưởng. Ngài là cuộc sống. Nếu như đến tận bây giờ con còn ở xa Ngài, hãy bước tới một chút: Ngài sẽ đón nhận con bằng vòng tay rộng mở. Nếu con còn nghi ngờ, hãy chấp nhận mạo hiểm: con sẽ không hề thất vọng. Nếu việc bước theo Ngài dường như là một khó khăn, con đừng sợ, hãy tin tưởng vào Ngài, hãy tin chắc rằng, Ngài gần gũi với con, Ngài ở với con và sẽ ban cho con bình an mà con đang tìm kiếm và ban cho con sức mạnh đế sống như Ngài muốn".

Điểm thứ ba là đức tin của những người phụ nữ và việc nhớ lại lời của Chúa Ki Tô: "Đứng trước ngôi mộ trống và hai người trong trang phục rực sáng, phản ứng đầu tiên của các bà là phản ứng sợ hãi: Thánh Luca ghi lại: "các bà sấp mặt xuống đất, các bà không còn đủ can đảm để nhìn lên. Nhưng khi các bà nghe lời loan báo về Sự Phục Sinh, các bà đã đón nhận điều đó bằng một niềm tin".

Và đây là điểm cần lưu ý: việc nhớ lại những điều tốt đẹp Thiên Chúa đã làm. "Đây là lời mời gọi nhớ lại những cuộc gặp gỡ với Đức Giê Su, những lời Ngài nói, những việc Ngài làm, nhớ lại đời sống của Ngài. Đây thực sự là một sự kiện để nhớ lại bằng cả tình yêu những kinh nghiệm với Thầy của mình, đã hướng dẫn các bà vượt qua tất cả mọi nỗi sợ hãi để đem Tin Mừng Phục Sinh cho các tông đồ và mọi người khác (x. Lc24,9). Hãy nhớ lại những điều mà Thiên Chúa đã làm và làm cho cha, làm cho chúng ta, hãy nhớ lại những chặng đường đã đi qua; và điều đó sẽ mở rộng con tim cho niềm hy vọng để hướng về tương lai. Hãy học biết cách nhớ lại những gì Thiên Chúa đã làm trong đời sống chúng ta". Đức Thánh Cha nhấn mạnh

Lm Mic NKM. Giáo Phận Cần Thơ

 

 
DAO TAO MON DE = MOT HOI THANH NGHEO VA VI NGUOI NGHEO PDF Print E-mail

MỘT HỘI THÁNH NGHÈO

Linh mục Giuse Nguyễn Công Đoan, SJ đã từng là Bề trên Miền Dòng Tên Việt nam từ năm 1975-2003. Sau đó ngài đã được Cha Bề Trên Tổng Quyền Peter-Hans Kolvenbach bổ nhiệm là Phụ tá Bề Trên Tổng quyền đặc trách Vùng Đông Á- Úc. Từ năm 2008, ngài là Giám đốc Viện Kinh Thánh Giáo Hoàng tại Giêrusalem.

Cha Phụ Tá Bề Trên Tổng Quyền Dòng Tên Nguyễn Công Đoan viết đôi dòng giới thiệu người anh em của mình từ Dòng Chúa Giêsu ra nhận lãnh trọng trách sứ vụ "Simon Phêrô Đứng Đầu Giáo Hội" là Papa Phanxicô:

"Một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo"

"Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không đá gối đầu"

(Mt 8-20)

Khi kể chuyện về giây phút cái danh hiệu Phanxicô đi vào lòng ngài, Đức Thánh Cha Phanxicô diễn tả chương trình hành động của ngài, không phải bằng một lời tuyên bố long trọng, nhưng bằng cách bộc lộ một nỗi khao khát: "Ôi, tôi mong ước biết bao có được một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo". Lời tâm sự của ngài làm tôi liên tưởng tới lời tâm sự của Chúa Giêsu: "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bừng lên" (Lc 12,49) .

Nhưng khi nghe đến "một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo", có người hỏi tôi: "Thế còn người giàu thì sao?"

Câu hỏi thật chí lý! Có lần tôi đã phải bút chiến với một người anh em trong Dòng Tên ở châu Mỹ Latinh, vì anh ấy viết một cách rất xác tín: "Bạn hữu và những người thân tín quanh Chúa Giêsu luôn luôn là người nghèo". Đọc một câu này đã thấy là người anh em của tôi "lọc" sách Thánh với cái "sàng" của ý thức hệ hơn là để cho Lời Chúa dạy dỗ và mở mắt cho mình.

1- Trong các môn đệ của Chúa Giêsu, có cả giàu lẫn nghèo

Trước hết, trong số bạn hữu và những người thân tín quanh Chúa Giêsu có nhiều người giàu: sách Tin Mừng Lu-ca kể ra trước hết là các phụ nữ: "Cùng đi với Người, có nhóm Mười Hai và mấy người phu nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mac-đa-la, người đã được giải thóat khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ" (Lc 8,1-3).

Ba chị em Mac-ta, Maria và La-da-rô (Lc 10,38-42 và Ga 11,1-44; 12,1-8) hẳn không phải là nghèo, vì có thể tiếp đón Chúa Giêsu và các môn đệ tại nhà mình, và Maria cầm nguyên chai dầu thơm, mà Giu-đa đánh giá tới ba trăm quan tiền, trút lên chân Chúa Giêsu (Giu-đa bán Chúa được có một phần mười!). Ông Da-kêu, "giám đốc sở thuế" (đúng hơn, là chủ thầu thu thuế) của thành phố Giê-ri-khô, chắc chắn không phải là người nghèo! được đón Chúa vào nhà và được nghe lời tuyên bố: "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này" (Lc 19,9); Cả bốn sách Phúc Âm kể về ông Giu-se A-ri-ma-thê: "người giàu có... và cũng là môn đệ Đức Giêsu" (Mt 27,57) "thành viên có thế giá của Hội Đồng" (Mc 15,43) "một người lương thiện, công chính" (Lc 23,50), "Ông đã mạnh dạn đến gặp Tỏng Trấn Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giêsu"(Mc 15,43). Nếu không có ông môn đệ "chui" vừa giàu vừa có thế giá, lại mạnh dạn, một mình đến gặp Phi-la-tô mà xin xác Chúa Giêsu để mai táng thì xác của Chúa đã bị quăng xuống hố cùng với cây gỗ như các tử tội khác! "Khi ông Giu-se đến hạ thi hài Người xuống thì ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. ông này trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương" (Ga 19,38-39). "Ông là thủ lãnh của người Do Thái" (3,1). Khi cuộc tranh luận trong nội bộ giới lãnh đạo về việc giết Chúa Giêsu tới hồi quyết liệt thì ông đã dám một mình chống lại tất cả (Ga 7,50-52). Ngay trong nhóm Mười Hai thì ít là ba ông không phải là người nghèo: Mat-thêu người thu thuế; hai người con ông Dê-bê-đê "bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền cùng với những người làm công, mà đi theo Người". Thế là rõ, trong hàng bạn hữu, thân tín chung quanh Chúa Giêsu có cả người nghèo và người giàu.

2- Trong cộng đoàn tín hữu ban đầu ở Giêrusalem và ở các thành phố dân ngọai khác do thánh Phaolô qui tụ cũng có đủ người giàu và người nghèo. Chỉ cần đọc sách Công Vụ Tông Đồ và các thư của thánh Phao-lô là thấy. Ông Phi-le-mon, người đựơc thánh Phaolô viết riêng một bức thư, không phải là nghèo. Chương 16 trong thư gởi tín hữu Rôma kể ra bao nhiêu người có đủ khả năng tiếp đón cả một cộng đoàn tín hữu qui tụ tại nhà mình, chắc chắn không phải là những người nghèo...

3- Thế nào là giàu, thế nào là nghèo

Vậy phải hiểu thế nào lời Chúa Giêsu trong sách Tin Mừng Lu-ca: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em" – "Khốn cho các người là những kẻ giàu có, vì các người đã được phần an ủi của mình rồi" (Lc 6,20.24)? Phải chăng một "Hội Thánh nghèo" là một Hội Thánh gồm toàn những người nghèo?

Sách Tin Mừng Mat-thêu đã giải quyết bằng cách giải thích: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ" (Mt 5,3). Người giàu có thể có tâm hồn nghèo khó, người nghèo lại có thể không có tinh thần nghèo khó. Trong một cuốn sách của Đức Hồng Y Carôlô Maria Martini, có câu chuyện về một vị ẩn tu sống rất nghèo, chỉ có một tấm áo rách trên mình và một cái vò đựng nước đã bể... Một hôm ông hỏi Chúa: "Lạy Chúa, con có phải là người nghèo nhất trên thế gian này chưa?" Chúa sai thiên thần đưa ông đến trước một lâu đài sang trọng và bảo: "Người sống trong lâu đài này mới là người nghèo nhất trên thế gian". Vị ẩn sĩ rách rưới ngẩn người hỏi Chúa: " Sao lại như thế được?" Chúa trả lời: "Người sống trong lâu đài sang trọng này có đủ mọi thứ, nhưng lòng không dính bén chút gì, còn con, con dính bén với chính cái áo rách và cái vò đã bể của con".

Sách Tin Mừng Lu-ca dạy cho cả người giàu và người nghèo biết làm sao vào được Nước Thiên Chúa: các môn đệ đã được gọi vào nhóm Mười Hai thì "bỏ mọi sự mà theo Chúa", còn các phụ nữ giàu có thì đem theo của cải mà "giúp đỡ Chúa Giêsu và các môn đệ". Ông Da-kêu chia phân nửa gia tài cho người nghèo (Lc 19,8). Vậy thì vấn đề ihông phải là giàu hay nghèo mà là thái độ đối với của cải vật chất cũng như quyền lực và cách sử dụng. Sách Tin Mừng Lu-ca dùng nhiều dụ ngôn và các nhân vật để giải thích điều này sau lời tuyên bố có tính khiêu khích mà người nào muốn đọc Tin Mừng theo ý thức hệ cũng có thể "sàng" ra để giải thích theo chủ nghĩa Mac-xít. Dụ ngôn "người phú hộ ngu ngốc" (Lc 12,16-21) nêu bật tính "phù vân" của sự giàu có về vật chất và chỉ có Thiên Chúa mới tồn tại và đáng cho ta tìm kiếm để khi nhắm mắt lìa đời không phải trắng tay. Dụ ngôn "người quản gia bất lương" (Lc 16,1-9) đưa tới bài học về cách sử dụng của cải: "Hãy dùng tiền của bất chính mà mua lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu". Có người thắc mắc, vậy tiền của ngay chính thì sao? Câu trả lời có thể tìm thấy ở dụ ngôn tiếp theo: "ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo". Ông nhà giàu chết được chôn táng, nhưng lại bị cực hình dưới hỏa ngục. Chúa chẳng nói lý do nào cả. La-da-rô nghèo cũng chết (không ai chôn!) và "đuợc thiên thần đem vào lòng ông Ap-ra-ham". Chính tổ phụ Ap-ra-ham giải thích lý do: "Con ơi, hãy nhớ lại, suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn bất hạnh. Bây giờ La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con có một vực thẳm lớn..."(Lc 16,25-26).

Chúng ta như nghe tổ phụ giải thích mối phúc thứ nhất và mối họa thứ nhất. Nước trời thuộc về người nghèo. Của cải thuộc về người giàu. Mỗi người lãnh phần của mình. Muốn chung chia với nhau thì phải chung chia ngay bây giờ. Chết rồi thì không chung chia được nữa, vì có vực thẳm ngăn cách hai bên. Phải chi ông nhà giàu chia phần của mình với La-da-rô và nhận phần La-da-rô chia lại cho ông là những vết lở lóet đầy mình, lấy dầu và rượu lau chùi băng bó như người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,29-37), thay vì để cho những con chó đến liếm, thì đâu phải chịu cảnh này. Chương 18 cho chúng ta chuyện "người thật việc thật" chứ không phải dụ ngôn nữa: người thủ lãnh giàu có đến xin Chúa Giêsu chỉ giáo: "Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?" Chúa Giêsu nhắc cho ông ta rằng chỉ có Thiên Chúa là "TỐT", đáng cho ông ta tìm kiếm. Rồi Chúa nhắc con đường thông thường, là giữ các diều răn. Ông ta trả lời: "Tất cả những điều ấy, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ". Chúa đáp: "Ông chỉ còn thiếu có một điều là hãy bán tất cả những gì ông có mà phân phát cho người nghèo, và ông sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi. Nghe vậy ông ta buồn lắm, vì ông rất giàu". Chúa Giêsu thấy ông có thiện chí, mách cho ông một con đường an toàn: đóng thùng tất cả những gì ông có, rồi nhở người nghèo đem ký gởi vào Nước Thiên Chúa trước, để có sẵn kho tàng ở trên trời. Nhưng ông buồn lắm, vì ông muốn được cả hai: giữ nguyên của cải và được cả sự sống đời đời làm gia nghiệp.

Nhìn ông buồn rầu bỏ đi, Chúa Giêsu ngao ngán thốt lên: "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa bíết bao!... Những người nghe Đức Giêsu nói liền hỏi: "Thế thì ai có thể được cứu?" Người đáp: "Những gì không thể được đối với loài người, thì đều có thể được đối với Thiên Chúa".

Lập tức chúng ta được thấy những nhân vật minh họa cho quyền năng của Thiên Chúa, ông Phê-rô và nhóm Mười Hai: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ hết mọi sự mà theo Thầy".

Giàu hay nghèo đều có thể được cứu nhờ quyền năng Thiên Chúa.

Trước khi Chúa Giêsu lên tới Giêrusalem, ở trạm nghỉ cuối cùng là Giê-ri-khô, chúng ta được chúng kiến một trường hợp điển hình: ông Da-kêu, một người chắc chắn là rất giàu có, nhưng ông là người khôn, ông chia liền phân nửa gia tài cho người nghèo, nên bảo đảm là sẽ được chia phân nửa Nước Thiên Chúa với người nghèo. Chính Chúa xác nhận khi tuyên bố: "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này".

4- Một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo

Một Hội Thánh nghèo không phải là một Hội Thánh gồm toàn người nghèo. Hội Thánh không phải là Bang Hội của Cái Bang (ăn mày) trong kiếm hiệp Trung Hoa. Hội Thánh gồm tất cả những ai tìm kiếm và tin nhận Thiên Chúa là hạnh phúc duy nhất và vĩnh cửu và "Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin" (Dt 12,2). Chính khi kêu gọi các tín hữu quyên góp để chia sẻ với cộng đoàn Giêrusalem đang lâm cảnh khó khăn mà thánh Phaolô nại đến gương Chúa Giêsu: "Quả thật anh em biết Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của minh mà làm cho anh em trở nên giàu có" (2 Cor 8,9). "Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân..."(Pl 2,7) để cho chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa.

Thánh Gio-an trong thư thứ nhất cũng nói rõ: "Căn cứ vào điều này chúng ta bíêt được tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được." (I Ga 3,16-17). "Thí mạng" nghe cao cả và xa vời; "thí của" là chuyện hàng ngày, nhưng lại không dễ vì "đồng tiền liền khúc ruột".

"Thí mạng" hay "thí của" đều phải xuất phát từ con tim: mở rộng con tim thì tất cả sẽ mở theo. Trong bài giảng lễ nhậm chức hôm 19/3, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến lòng yêu thương âu yếm đối với những người cùng khổ. Lúc ra quảng tường đi chào đám đông, ngài cho ngừng xe để bước xuống ôm hôn một người bất toại. Khi mới làm Tổng Giám Mục, ngài đã ôm hôn và rửa chân cho 12 người bệnh Siđa.

Một Hội Thánh nghèo là một Hội Thánh sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng, không dính bén với của cải vật chất, không chạy theo thói thế gian, không đặt của trọng hơn người. Một Hội Thánh vì người nghèo là một Hội Thánh theo gương người Sa-ma-ri nhân hậu, cúi xuống săn sóc cho bất cứ ai cần được giúp đỡ.

Thánh Gia-cô-bê nói rất thiết thực trong thư của ngài: "Lòng đạo đức tinh tuyền và không tì ố trước mặt Thiên Chúa Cha là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian" (Gc 1,27). "Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được không? Giả như có người anh em hay chị em khong có áo che thân và không đủ ăn hàng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ:"Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích gì? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết." (Gc 2,14-16). Trong sách Tin Mừng Mat-thêu, dụ ngôn về ngày phán xét, Đấng Phán Xét chỉ đề cập tới những gì đã làm hay đã không làm "cho những người anh em bé nhỏ nhất của Ta" trong cảnh đói, khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu, ngồi tù: làm cho họ là làm cho Ta, không làm cho họ là không làm cho Ta (x. Mt 25,31-48).

Trong "cuộc họp tại Giêrusalem", ba vị cột trụ của Hội Thánh tại Giêrusalem là Gia-cô-bê, Kê-pha và Gio-an bắt tay thỏa thuận với hai vị tông đồ dân ngọai Phaolô và Banaba: ba vị trụ cột tiếp tục lo cho dân Do Thái, hai vị tông đồ dân ngọai tiếp tục lo cho dân ngọai đón nhận Tin Mừng, "chỉ có điều này là chúng tôi phải nhớ đến những người túng thiếu, điều mà tôi vẫn gắng làm" (Gl 2,10).

Chung một đức tin và một lòng yêu mến người nghèo, đó là ấn tín để nhận ra nhau giữa các môn đệ của Chúa, không phân biệt nguồn gốc. Đức Thánh Cha Phanxicô đưa Hội Thánh trở về cội nguồn: một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo hôm nay là Hội Thánh vẫn có từ thời các Tông Đồ và có thể làm chứng cho Tin Mừng. "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền".

HOAN HÔ PAPA PHANXICÔ TÂN CHỦ TỊCH NGHIỆP ĐOÀN TÔNG ĐỒ THỢ (Mt 10:10)

GIÁO HỘI KHÔNG NGHÈO KHÔNG PHẢI CỦA CHÚA GIÊSU

GIÁO HOÀNG KHÔNG NGHÈO KHỔ HẠNH LÀ GIÁO HOÀNG GIẢ

Đức Thánh Cha Phanxicô đưa Hội Thánh trở về cội nguồn: một Hội Thánh nghèo và vì người nghèo hôm nay là Hội Thánh vẫn có từ thời các Tông Đồ và có thể làm chứng cho Tin Mừng. "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền".

Lm Giuse Nguyễn Công Đoan, SJ

-------

MỘT HỘI THÁNH NGHÈO TÔNG TRUY ỀN ĐẾN MUÔN ĐỜI

 PAPA SIMON PHÊRÔ ĐỨNG ĐẦU GIÁO HỘI KHÔNG ĐỒNG XU DÍNH TÚI !

 PAPA PHANXICÔ THỪA KẾ CÁI TÚI KHÔNG TIỀN ĐÀNH VUI VẺ ĐI THEO !

 GIÁO HỘI NGHÈO VÌ NGƯỜI NGHÈO ĐƯỢC NGHE TIN MỪNG

"AN BẦN LẠC ĐẠO" LÀ TÍN ĐIỀU CAO TRỌNG BẰNG TÍN ĐIỀU ĐỨC GIÊSU LÀ CON THIÊN CHÚA

Đức Giêsu đáp : "Nếu Anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán hết tài sản của Anh và đem cho người nghèo, Anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi Anh hãy đến theo tôi !" (Mt 19:21)

 
<< Start < Prev 41 42 43 Next > End >>

Page 41 of 43