mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay577
mod_vvisit_counterHôm Qua9426
mod_vvisit_counterTuần Này18692
mod_vvisit_counterTuần Trước66679
mod_vvisit_counterTháng Này214879
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9714445

We have: 122 guests, 1 members online
Your IP: 54.166.188.64
 , 
Today: Nov 22, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
DAO TAO MON DE # KHONG SO NGAY PHAN XET PDF Print E-mail

KHÔNG SỢ NGÀY PHÁN XET

Vatican City, 22 April 2013 (VIS) – The reflection on Jesus as the "door" to enter into the Kingdom of God was the central theme of this morning's Mass celebrated by the Pope in the Domus Sanctae Marthae, at which the personnel of the Press Office of the Holy See and various technicians of Vatican Radio were in attendance.

The Holy Father recalled that in today's Gospel, which narrated the story of the Good Shepherd, Jesus asserted that: "whoever doesn't enter the sheepfold by the gate is not the shepherd. ... He is a thief or a robber," the Pope said, "someone seeking his own profit. ...There are also such people in the Christian community, who seek their own profit and, consciously or unconsciously, pretend to enter at the door. But they are thieves ... because the steal Jesus' glory and seek their own. ... They have not entered by the true door. ... The true door is Jesus and whoever does not enter by this door errs."

"How do we know that the true door is Jesus?" the pontiff asked. "Reading what the Beatitudes say, as they are told in St. Matthew: 'Be humble, be poor, be meek, be just' ... When they give you another suggestion, don't listen to it. The door is always Jesus and whoever enters by that door is not mistaken. Jesus isn't only the door; He is the way, the path. There are many paths: some seems more advantageous for arriving but they are misleading. They are false."

"Let us ask today for the grace to always knock at that door. ... Sometimes we have problems doing so. But we don't have to go looking for other, easier doors. The door is Jesus, who doesn't disappoint, who doesn't deceive. He has given his life for us. And each of us has to say: 'You have given your life for me, open, please, that I might enter. Open, Lord, because I want to enter by 'this' door, not by that other," Pope Francis concluded.

Ngày phán xét thúc đẩy chúng ta sống giây phút hiện tại tốt lành và bác ái hơn

Ngày phán xét không làm cho chúng ta sợ hãi, nhưng thúc đẩy chúng ta sống giây phút hiện tại tốt lành hơn, biết nhận ra Chúa nơi các anh chị em nghèo túng và yêu thương trợ giúp họ.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 100.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 24-5-2013. Trong số các đoàn hành hương hiện diện và được ngồi hai bên khán đài có phái đoàn 55 tín hữu Việt Nam, do Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn hướng dẫn. Đức Thánh Cha đã chào phái đoàn như sau:

Tôi thân ái chào các khách hành hương Việt Nam của tổng giáo phận thành phố Hồ Chi Minh, dưới sự hướng dẫn của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.

Trong hài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý ngày Chúa Giêsu Kitô quang lâm, như viết trong Kinh Tin Kinh: "Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết". Đức thánh Cha nói: Lịch sử loài người đã bắt đầu với việc tạo dựng người nam và người nữ giống hình ảnh của Thiên Chúa, và kết thúc với việc phán xét sau hết của Chúa Kitô. Thường khi chúng ta quên hai cực này của lịch sử, và nhất là niềm tin vào việc trở lại của Chúa Kitô và ngày phán xét sau hết đôi khi không rõ ràng và vững vàng trong tim của các kitô hữu. Trong cuộc sống công khai Chúa Giêsu đã thường dừng lại trên thực tại này của lần trở lại sau cùng.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã suy tư về ba dụ ngôn giúp mình giải ý nghĩa của tín lý này: đó là dụ ngôn 10 trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể, dụ ngôn các nén bạc và văn bản nói về ngày phán xét sau hết. Cả ba văn bản đều thuộc diễn văn của Chúa Giêsu về ngày tận thế trong Phúc Âm thánh Mátthêu.

Với việc Lên Trời Con Thiên Chúa đã đem nhân tính của chúng ta mà Người đã nhận lấy lên gần Thiên Chúa Cha, và muốn kéo tất cả chúng ta đến với Người, muốn kêu gọi toàn thế giới được đón nhận trong vòng tay rộng mở của Thiên Chúa, để khi lịch sử kết thúc, toàn thực tại được giao cho Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, có "thời gian tức khắc" giữa biến cố Chúa Kitô đến lần đầu và lần cuối, là thời gian chúng ta đang sống. Dụ ngôn mười trinh nữ nằm trong bối cảnh của "thời gian tức khắc" này (x. Mt 25,1-13).

Đây là mười trinh nữ đang chờ Chàng Rể tới, nhưng chàng đến chậm và các cô thiếp ngủ. Khi nghe báo Chàng Rể đang tới, tất cả các cô chuẩn bị tiếp đón Chàng, nhưng trong khi các cô khôn ngoan có dầu để châm cho đèn, thì các cô khờ dại bị tắt đèn vì không có dầu; và trong khi họ tìm cách đến với Chàng Rể thì các trinh nữ khờ dại thấy cửa vào phòng tiệc cưới đã đóng. Họ kiên trì gõ cửa nhưng đã qúa muộn, Chàng Rể trả lời: Ta không biết các ngươi. Chàng Rể là Chúa, và thời gian chờ đợi Người tới là thời gian Chúa cho chúng ta, cho tất cả chúng ta, với sự thương xót và lòng kiên nhẫn, trước ngày Chúa đến lần sau hết; đó là một thời gian tỉnh thức, thời gian trong đó chúng ta phải giữ cho đèn của đức tin, đức cậy và đức mến được cháy sáng, trong đó chúng ta phải giữ cho con tim rộng mở cho sự thiện, cho vẻ đẹp và cho tình bác ái; đó là thời gian sống theo Thiên Chúa, bởi vì chúng ta không biết ngày giờ cuộc trở lại của Chúa Kitô. Đức Thánh Cha giải thích giáo huấn của dụ ngôn như sau:

Điều đòi hỏi chúng ta là chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này, được chuẩn bị cho một cuộc gặp gỡ đẹp, cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu; nó có nghĩa là biết trông thấy các dấu chỉ sự hiện diện của Chúa, giữ cho đức tin của chúng ta được sống động, với lời cầu nguyện, với các Bí tích, tỉnh thức để đừng ngủ, để đừng quên Chúa. Cuộc sống của các kitô hữu ngủ là một cuộc sống buồn sầu, không phải là một cuộc sống hạnh phúc. Kitô hữu phải là người hạnh phúc, với niềm vui của Chúa Giêsu. Chúng ta đừng ngủ!

Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn các nén bạc, khiến chúng ta suy tư về tương quan giữa việc chúng ta dùng các ơn nhận được từ Thiên Chúa như thế nào và việc trở lại của Người, trong đó Người sẽ hỏi chúng ta đã dùng các ơn ấy ra sao (x. Mt 25,14-30). Chúng ta biết rõ dụ ngôn: trước khi đi xa, ông chủ trao cho mỗi đầy tớ vài nén bạc, để chúng được sử dụng trong lúc ông vắng nhà. Ông giao cho người thứ nhất năm nén, người thứ hai hai nén và ngươi thứ ba một nén. Trong thời gian ông đi vắng hai người dầu tiên làm cho các nén bạc sinh lợi, trong khi người thứ ba thích chôn nén bạc của mình và trả lại nguyên vẹn cho chủ. Khi chủ về ông xét xử công việc của họ: ông khen ngợi hai người đầu, trong khi người thứ ba bị đuổi ra ngoài trong tối tăm vì anh ta đã dấu nén bạc vì sợ hãi, và khép kín trong chính mình. Một kitô hữu khép kín trong chính mình, chôn dấu tất cả nhữmg gì Chúa đã ban cho không là một kitô hữu. Đó là một kitô hữu không cám ơn Chúa về tất cả những gì Chúa đã ban cho họ. Đức Thánh Cha giải thích giáo huấn của dụ ngôn như sau:

Điều này nói với chúng ta rằng sự chờ đợi Chúa trở lại là thời gian của hành động - chúng ta đang sống trong thời gian hành động - thời gian, trong đó sinh hoa trái các ơn Chúa ban cho chúng ta, không phải cho chính chúng ta, nhưng là cho Chúa, cho Giáo Hội, cho những người khác, là thời gian trong đó luôn tìm cách gia tăng sự thiện trong thế giới. Và một cách đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng ngày nay, điều quan trọng là không khép kín trong chính mình, bằng cách chôn dấu nén bạc, các phong phú tinh thần, trí tuệ, vật chất của mình, tất cả những gì mà Chúa đã ban cho chúng ta, nhưng phải mở ra, liên đới, chú ý tới người khác. Trong quảng trưởng tôi trông thấy nhiều người trẻ, có đúng thế không? Có nhiều người trẻ phải không? Người trẻ ở đâu rồi? Với các con là những người còn đang ở lúc khởi đầu của con đường cuộc sống cha xin hỏi: Các con đã nghĩ tới các nén bạc Thiên Chúa đã ban cho các con chưa? Các con đã nghĩ có thể dùng chúng để phục vụ tha nhân chưa? Đừng chôn dấu các nẻn bạc! Hãy đánh cá chúng trên các lý tưởng lớn, các lý tưởng rộng mở con tim, các lý tưởng phụng sự khiến cho các nén bạc của các con phong phú. Cuộc sống không được ban cho để chúng ta khư khư giữ nó cho chính mình, mà được ban để chúng ta cho đi. Các người trẻ thân mến, hãy có một tâm hồn cao thượng! Đừng sợ hãi mơ tưởng các điều vĩ đại!

Sau cùng là một lời liên quan tới sự phán xét sau hết, trong đó được miêu tả lần đến thứ hai của Chúa, khi Người sẽ phán xét tất cả mọi người kẻ sống và người chết (x. Mt 25,31-46). Hình ảnh được thánh sử dùng là hình ảnh của người mục tử tách chiên khỏi dê. Bên phải được đặt những người đã hành động theo ý muốn của Thiên Chúa, cứu giúp tha nhân đói khát, khách lạ, trần truồng, yếu đau, bị cầm tù - tôi đã nói "khách lạ": tôi nghĩ tới tất cả các người nước ngoài ở trong giáo phận Roma này, chúng ta phải làm gì cho họ? - trong khi đi về bên trái là những kẻ đã không cứu giúp tha nhân. Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa sự phân cách này như sau:

Điều này nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ bị Thiên Chúa phán xử theo tình bác ái, theo cách chúng ta sẽ yêu thương các anh chị em của chúng ta, đặc biệt là những người yếu đuối và cần được giúp đỡ. Chắc chắn chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng chúng ta được biện minh, chúng ta được cứu rỗi nhờ ơn thánh, vì một hành động của tình yêu thương nhưng không của Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn đi trước chúng ta; một mình chúng ta không thể làm được gì. Đức tin trước hết là một ơn mà chúng ta đã nhận được. Nhưng để mang hoa trái ơn thánh Chúa luôn luôn đòi hỏi chúng ta rộng mở cho Người, câu trả lời tự do và cụ thể của chúng ta. Chúa Kitô đến để đem lại cho chúng ta lòng thương xót của Thiên Chúa là Đấng cứu thoát. Chúng ta được yêu cầu tín thác nơi Người, đáp trả lại ơn tình yêu của Người với một cuộc sống tốt lành, gồm các hành động được linh hoạt bởi đức tin và tình yêu thương.

Rồi Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau: Anh chị em thân mến nhìn vào sự phán xét sau hết không bao giờ làm chúng ta sợ hãi; đúng hơn nó thúc đẩy chúng ta sống hiện tại tốt lành hơn. Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta thời gian này với lòng thương xót và sự kiên nhẫn, để chúng ta học nhận biết Người mỗi ngày nơi các anh chị em nghèo túng và bé nhỏ, để chúng ta làm việc thiện và tỉnh thức trong lời cầu nguyện và trong tình yêu thương. Ước chi vào cuối cuộc đời mình và khi lịch sử kết thúc Chúa có thể thừa nhận chúng ta như các đầy tớ tốt lành và trung tín của Người.

Đức Thánh Cha đã đặc biệt chào người trẻ và khuyến khích họ tận dụng mọi khả năng và tài khéo Chúa ban để xây dựng Nước Chúa, Giáo Hội rất cần đến họ. Sau cùng ngài cất Kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

 
DAO TAO MON DE # KHUNG KHOANG VE ON GOI PDF Print E-mail

 

Khủng Hoảng Về Ơn Gọi

Posted on 24/04/2013

by danchuahiepthong

Những thập niên gần đây, các thống kê cho thấy con số người đi tu sút giảm nhiều nơi, đặc biệt ở các lục địa có điều kiện hơn về mặt kinh tế và kĩ thuật.

Tại Châu Âu chẳng hạn, nhiều cơ sở nhà dòng ngày xưa chật không có chỗ nhận thêm người vào tu thì nay phòng trống rất nhiều. Hội Thánh băn khoăn, thao thức về tình trạng "khủng hoảng ơn gọi" này và nỗ lực nhiều cách để khơi dậy ý thức về việc cổ võ ơn gọi đi tu.

Tuy vậy, theo quan sát của người viết, trong gia đình Hội Thánh nói riêng và trong gia đình nhân loại nói chung, có một loại khủng hoảng ơn gọi khác trầm trọng, bấp bách hơn nhiều lần so với khủng hoảng ơn gọi tu trì. Đó là: khủng hoảng ơn gọi gia đình.

Làm sao có thể nói như thế được trong khi số người đi tu ít hơn nhiều lần so với số người lập gia đình?

Câu trả lời không phức tạp: Số người đi tu so với số người lập gia đình là rất ít, đúng! Nhưng trong con số rất lớn người lập gia đình ấy, có bao nhiêu phần trăm những gia đình thực sự hạnh phúc?

Ngày hôm nay, tình trạng đổ vỡ của các gia đình, kể cả gia đình Kitô giáo, là rất nhiều. Ngày càng ít đi những cặp vợ chồng sống đến đầu bạc răng long với nhau. Việc "trăm năm hạnh phúc" xem ra là một thực tại khá mong manh.

Khủng hoảng gia đình được gọi là trầm trọng và cấp bách vì nó là một nguyên nhân chính dẫn đến các vấn nạn xã hội. Chỉ cần xét hoàn cảnh của những người phạm pháp trên các mặt báo thì sẽ thấy rõ đa số trường hợp xuất thân từ các gia đình có vấn đề. Ai có kinh nghiệm mục vụ cũng có thể thấy rõ điều này. Khủng hoảng gia đình còn kéo theo việc giảm sút ơn gọi đi tu. Tắt một lời, phần lớn các khủng hoảng xã hội, Giáo Hội ngày nay bắt nguồn từ khủng hoảng gia đình.

Gốc rễ lớn nhất của tình trạng khủng hoảng và đổ vỡ gia đình hiện nay là gì?

Bệnh tật? Không phải, vì bệnh tật thường làm cho người ta biết quan tâm đến nhau và lớn lên hơn trong tương quan.

Nghèo khổ? Không phải, vì cảnh nghèo nhiều khi làm cho các thành viên gắn bó với nhau hơn, cùng nhau san sẻ trách nhiệm.

Giàu có? Không phải, vì giàu có là một điều kiện tốt để sống sung túc, xứng với phẩm giá con người.

Các lý do chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục khác xem ra cũng không phải là nguyên nhân gốc rễ của tình trạng các gia đình đổ vỡ tràn lan.

Ta có thể gọi tình trạng đổ vỡ gia đình là một căn bệnh xã hội nghiêm trọng. Một căn bệnh chỉ khỏi khi được chữa trị tận gốc. Nếu chỉ tác động phần ngọn thôi thì cho dù làm bao nhiêu cũng không đạt hiệu quả thực sự. Câu hỏi được lặp lại: Đâu là gốc rễ của tình trạng này?

Cái gốc sâu xa của những đổ vỡ gia đình ngày hôm nay, theo người viết, là sự thiếu ý thức về Chúa trong tương quan gia đình. Muốn cứu các gia đình khỏi khủng hoảng, cần phải tập trung chữa cái gốc này. Nhưng làm thế nào đây?

Nhiều vị chủ chăn trong Hội Thánh nhiều năm nay cống hiến tâm huyết tìm cách giúp phục hồi, chữa lành các gia đình qua việc kêu gọi, cảnh báo, giảng dạy, tư vấn, tạo công ăn việc làm,...Nhưng xem ra những nỗ lực tốt lành ấy vẫn chỉ là tác động trên phần ngọn. Tình trạng gia đình ngay trong Hội Thánh vẫn xuống dốc. Số các gia đình đổ vỡ vẫn tăng. Vậy đâu là cách tốt?

Ta hãy nhìn ngắm chính Thiên Chúa để học hỏi. Tác giả thư gửi các tín hữu Do Thái viết: "Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử" (Dt 1:1-2).

Như vậy, Thiên Chúa đã dùng nhiều cách khác nhau trong dòng lịch sử để chuyển tải thông điệp tình yêu của mình cho nhân loại. Nhưng cuối cùng Thiên Chúa đã chọn "phán dạy chúng ta qua Thánh Tử", nghĩa là Người chọn con đường Nhập Thể như là cách thức tốt nhất để đến với nhân loại, để họ có thể tin sứ điệp của Người.

Thiên Chúa biết rằng con người bằng xương bằng thịt sẽ dễ dàng hiểu và đón nhận hơn khi tiếp xúc với một ai đó giống như họ, gần gũi họ, đồng cảnh ngộ với họ. Vì thế, Thiên Chúa đã trở nên một người phàm giống như họ, nói tiếng nói của họ, ăn thức ăn của họ, sống hoàn cảnh của họ, cùng thăng trầm, đau khổ với họ, cùng chết với họ.

Giải pháp hiệu quả cho các vấn nạn gia đình hôm nay xem ra cũng cần đi theo một con đường mang tính nhập thể. Nếu khủng hoảng là gia đình thì chìa khóa giải gỡ cũng cần phải đến từ gia đình. Một cách cụ thể, nhiều gia đình ở trong nguy cơ đổ bể vì sự thiếu ý thức về Chúa đang rất cần thấy những gia đình hòa hợp vì biết làm sáng danh Chúa. Các gia đình khủng hoảng tương quan vì thiếu sự thánh thiện đang rất cần chứng kiến những gia đình êm ấm vì có sự thánh thiện.

Nhiều gia đình đang mất hạnh phúc vì ít nhớ đến Chúa rất cần thấy những gia đình đang sáng lên trong hạnh phúc vì biết đặt Chúa ở trung tâm cuộc sống của mình. Khi một gia đình chủ tâm lấy hạnh phúc hôn nhân làm sứ mạng để làm chứng cho Chúa và để nêu gương sáng cho các gia đình khác, gia đình ấy sẽ tự nhiên có nhiều sức mạnh hơn là các gia đình không ý thức đủ điều này.

Tắt một lời, lời nói chỉ lung lay, gương bày mới lôi kéo. Chính các gia đình hạnh phúc vì biết sống với Chúa và cho Chúa sẽ cứu các gia đình khủng hoảng. Họ là các nhà truyền giáo trọng yếu trong thời đại hôm nay.

Phân tích như trên mới chỉ là phần nguyên lý, phần quan trọng hơn là câu hỏi: Ai sẽ yêu mến Chúa và các gia đình khủng hoảng đủ để tạo lập những gia đình hạnh phúc luôn đặt Chúa ở giữa trong mọi sự? Gia đình nào sẽ làm chứng cho các gia đình khác thấy rõ sự thật là: Khi sống với Chúa nhiều, hạnh phúc là điều chắc chắn, nguy cơ đổ vỡ sẽ bị đẩy lui? Gia đình nào sẽ can đảm quảng đại đảm nhận ơn gọi nhập thể hệ trọng này đây?

Cầu nguyện và mong thay!

Giuse Việt

--

PX

 
DAO TAO MON DE # THU GOI DGH PHANXICO PDF Print E-mail

THƯ GỞI ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

CHA THÌ THẾ-CON THÌ KHÔNG

"Hãy luôn luôn tín thác nơi lòng thương xót của Chúa

và đừng sợ hãi là Kitô hữu và sống như Kitô hữu"

Thưa cha,

Đáng lý ra con phải viết là "Kính thưa Đức Thánh Cha" hoặc "Trọng kính Đức Thánh Cha" nếu không sẽ bị mắng là "vô phép vô tắc" vì thưa chuyện với vị lãnh đạo tinh thần tối cao của hơn 1 tỷ người Công Giáo trên toàn cầu mà dám hỗn hào gọi trống là "thưa cha".

Ai mắng thì mắng, nhưng con biết chắc khi đọc lá thư này cha sẽ không mắng con, vì khi còn là Hoàng y Jorge Mario Bergoglio, Tổng Giáo mục Giáo phận Buenos Aires, cha vẫn thích được gọi là "anh Jorge" hay "cha Jorge". Đơn giản thế thôi, vậy mà rất thân thương và gần gũi đấy cha ạ!

Thông thường khi có được một chức vụ nào, người ta hãnh diện và thích gọi bằng chức vụ hơn là gọi bằng tên, hoặc phải đề chức vụ đó trước cái tên của mình trong danh thiếp. Ngoài đời như thế và trong đạo cũng vậy. Nào là "Tổng Giám Đốc NVX", "Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị TDM". Rồi "Ông Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Xứ TDN...", "Bà Trưởng Hội Các Bà Mẹ CG NTX...", "Cha Tổng Thư Ký MTL" "Chị Bề Trên Giám Tỉnh VTC"... Con cũng thích như vậy lắm chứ. Máu háo danh mà! Có lẽ Chúa thấy con ham hố quá cho nên Chúa chỉ cho con suốt đời là lính trơn, muốn đặt một chức vụ nào trước cái tên cúng cơm mà tìm mãi không ra!

Con đến thăm nhà một giáo dân. Đứa bé chạy ra ôm lấy con và nói "chào cha Long". Mẹ nó mắng ngay "Con gọi là cha được rồi. Con không được hỗn gọi tên cha! Nếu muốn gọi tên thì con phải gọi tên thánh là cha Giuse!" Ô kìa. Cái tên do cha mẹ đặt cho mình sẽ theo mình suốt đời lại không được gọi, hay không muốn người khác gọi trống không như thế, còn chức vụ được người ta ban cho hay bầu bán, chạy chọt lo lót, là cái nay còn mai mất, "quan nhất thời, dân vạn đại" lại là cái mình cứ khư khư muốn giữ lấy, muốn người ta gọi cái chức danh thay vì gọi tên. Hơn nữa còn tự xưng chức vụ của mình thay vì xưng tên. Lạ thật ! Chính vì thấy lạ như thế cho nên khi được bầu làm Giáo Hoàng với ba con số 3: ngày 13 tháng 3 năm 2013, cha vẫn cứ bình dân giản dị, cứ sống như cha đã sống, không quan tâm đến chức tước địa vị, và nhất là không để cho bả danh vọng chức vụ làm biến chất con người thật của cha, làm mất nét hồn nhiên của "anh Jorge" hay "cha Jorge".

Bà nội trợ 64 tuổi, Maria Elena Bergoglio ở thành phố Ituzaingó của Argentina, là người em gái duy nhất còn sống của cha, khi được hỏi bà đã nói chuyện với anh trai bà mấy lần từ ngày cha làm giáo hoàng, bà cho biết : "Ngài điện thoại ngay khi có thể sau khi được bầu, và đó là cuộc nói chuyện rất xúc động. Tôi không thể nào giải thích được xúc cảm của mình lúc đó. Sau lần đó, ngài còn gọi một lần nữa, và lần này, chúng tôi nói chuyện với nhau thân tình như anh trai nói với em gái. Một cuộc tán gẫu rất bình thường như vẫn thường xẩy ra. Thí dụ, ngài muốn biết tôi đang nấu món gì!"

Khi được hỏi vậy bà vẫn gọi ngài là "Jorge" hay đã gọi là "Phanxicô" hay "Đức Thánh Cha". Bà hồn nhiên đáp : "Tôi vẫn gọi là Jorge, Jorge! Bao lâu tôi còn biết đó là tên anh trai tôi thì tôi còn gọi ngài là Jorge!... Về căn bản, tôi muốn ngài vẫn là anh Jorge, vẫn làm những cử chỉ nhỏ mọn như lúc còn làm hồng y ở đây, như đi cử hành Thánh Lễ cho người trẻ vào Thứ Năm Tuần Thánh. Ngài vẫn giảng dạy và ban hành các sứ điệp mục vụ theo cách ngài vốn được dạy phải làm, tức là bằng gương sáng. Không phải nói bài nói, mà là bước đường bước."

Người em gái của cha tin chắc rằng "những hoành tráng và nghi lễ của Vatican" sẽ không làm sứt mẻ sự khiêm nhường mà cha theo đuổi suốt đời. Cha xin những người Argentina đừng chi tiêu tốn kém cho các chuyến đi đến Rome để dự lễ tấn phong của cha, mà dành tiền đó cho các tổ chức từ thiện, là một dấu hiệu mạnh mẽ chứng tỏ cha sẽ không thay đổi. Bà nói trong một cuộc phỏng vấn tại nhà, ở phía tây thành phố Buenos Aires. "Tin nhắn đó... làm cho tôi cảm thấy như ngài vẫn còn đi trên cùng một con đường, và ít ra là ngài đã không bị ảnh hưởng vào lúc này. Không có chất độc nào tồi tệ hơn là quyền lực !"

Bà nói thêm rằng tình cảm của cha "là dành cho người nghèo, người yếu đuối nhất, trẻ nhỏ. Cha có sự nghiêng chiều về người nghèo. Cha cũng không bao giờ mong muốn trở thành giáo hoàng. Bà nói. "Chúng tôi đã chọc anh ấy về chuyện đó, và anh ấy nói, 'Ồ, xin vui lòng!' ('Oh, please!')"

Cha ơi,

Nghe em gái của cha nhận định về anh của mình như thế làm con thấy "nhột" quá! Con lúc nào cũng khao khát được "thăng quan tiến chức". Con tìm mọi cách để leo lên chức này chức nọ. Tu mãi mà cứ làm lính quèn thì chán chết được! Nếu "mèo mù vớ cá rán", được "lên chức" thì con sẽ mời cả xứ, cả họ, cả giáo phận, cả nước đến trong ngày con "vinh quy bái tổ". Con sẽ cố gắng mời càng nhiều càng tốt các đấng bậc vị vọng, các đại gia, tiểu gia, thiếu gia, các ân nhân đặc biệt, các doanh nghiệp để chứng tỏ cho mọi người thấy "đẳng cấp" của con. Thiệp mời được gởi đến từng gia đình. Ai không đi được thế nào họ chẳng gởi phong bì, thế là con...có lời! Còn những người nghèo, những người yếu đuối bệnh tật con sẽ tặng họ tấm hình của con phóng thật lớn, photoshop làm thật đẹp để nhà nhà cùng treo tấm hình ấy mà...nhớ đến con, chứ không phải nhớ đến Thầy Giêsu!

Em gái của cha vẫn muốn cha là "anh Jorge" ngày nào dù bây giờ cha đã là người quyền lực nhất. Phần con khi còn là giáo lý viên, các em gọi con là "anh", nhưng khi con lên làm thầy xứ rồi mà không chịu gọi con là "thầy" thì con khó chịu lắm. Rồi khi con may mắn được thụ phong linh mục rồi mà ai lỡ miệng gọi con là "thầy" thì con không muốn nhìn mặt nữa. Thậm chí những người ruột thịt trong gia đình cũng không dám gọi con như là một thành viên trong gia đình mà cũng phải gọi con là cha, là thầy, là sơ...

Con là thế mà cha thì không!

Có ai khi đã lên đến đỉnh cao danh vọng mà còn nhớ đến những người nghèo hèn, còn chủ động gọi điện cảm ơn người đã giao báo cho mình như cha không. Hôm 18-3, khoảng 1g30 chiều giờ địa phương, Daniel Del Regno là con trai của chủ sạp báo, đã nhận được một cú điện thoại với giọng quen thuộc "Chào Daniel, đây là Jorge Bergoglio. Cha gọi từ Rôma",

Del Regno kể với toà báo La Nacion của Argentina : "Tôi đã bị sốc. Tôi bỗng oà khóc và không biết phải nói gì. Ngài cảm ơn tôi đã giao báo từ bấy lâu nay và gửi lời chúc tốt đẹp nhất cho gia đình tôi. Trước khi ngưng cuộc điện đàm, Đức Giáo Hoàng xin tôi cầu nguyện cho ngài."

Bố của Daniel, nổi da gà bất cứ khi nào ông nghĩ về sự đơn giản của cha. Ông kể : "Vào những ngày chủ nhật, Đức Hồng Y ghé qua sạp báo vào lúc 5:30 sáng và mua tờ nhật báo La Nacion. Ngài trò chuyện với chúng tôi trong chốc lát và sau đó đi xe buýt đến Lugano, nơi ngài sẽ phục vụ trà cho những người trẻ và người bị bệnh. Vào cuối tháng, Đức Hồng Y luôn mang những sợi giây thun mà ông buộc quanh các tờ báo để giữ cho chúng khỏi bị gió thổi bay khi giao báo. Ngài mang lại cho chúng tôi. Đủ cả 30 sợi! Tôi biết con người ngài như thế nào. Ngài là một con người có một không hai!"

Cha đã làm như thế. Con thì không.

Có được chức vị là con quên ngay quá khứ của mình, không muốn liên hệ với những người nghèo ngày xưa nữa sợ họ nhờ vả làm phiền. Con bắt đầu lưu số fone của những người "tai to mặt lớn", quan hệ rộng rãi mật thiết với những thành phần "con ông cháu cha", chịu khó qua lại với những người có máu mặt. Con quên phéng những người ngày xưa cùng nằm gai nếm mật với con, chẳng nhớ gì đến những người bạn cũ thuở hàn vi.

Con chẳng làm được gì, hoặc có làm cũng chẳng ra hồn, nhưng lại thích chức tước địa vị cho nó oai. Con thật là lố bịch phải không cha? Con chỉ là "hữu danh vô thực". Còn cha đúng là "hữu thực vô danh".

Cha thì thế-Con thì không!

Khi có chức vị nào đó, người ta thay chức danh đó vào tên của mình, đồng thời cũng thay đổi cách sống, thay đổi y phục, nhà ở, xe cộ, phương tiện... Khi được lên chức, con sẽ ăn mặc cho sang trọng lịch lãm kẻo "người ta coi thường mình". Con sẽ sắm xe hơi đời mới để đi lại với lý do là để "bảo vệ sức khoẻ", "có sức khoẻ để phục vụ". Con sẽ dọn vào ở trong những toà nhà nguy nga lộng lẫy, máy lạnh, kín cổng cao tường để "cho có bề thế, dễ dàng làm việc". Con sẽ mua sắm những phương tiện văn minh hiện đại và tốn kém nhất để "theo kịp với thời đại". Tất cả sự thay đổi "lên đời" ấy con đều có lý lẽ để biện minh, con đều lấy "mục đích biện minh cho phương tiện", nhưng thực ra con đã "biến phương tiện thành mục đích". Con thay đổi mẫu mã dáng vẻ bên ngoài, nhưng đời sống nội tâm, đời sống dấn thân phục vụ lại tỷ lệ nghịch với nấc thang danh vọng của con.

Con thì thế-Cha thì không !

Được biết ngay khi là Hồng Y Tổng Giám mục, cha đã nổi tiếng với sự khiêm tốn và khó nghèo, mạnh mẽ bảo vệ các học thuyết Giáo Hội và dấn thân cho công bằng xã hội. Cha sống trong một căn nhà nhỏ, chứ không phải tại nơi cư trú nguy nga của Toà Giám Mục. Dù là Hồng Y, cha thường sử dụng các phương tiện giao thông công cộng chứ không đi xe hơi riêng có tài xế lái, và tự nấu ăn cho mình chứ không có kẻ hầu người hạ.

Khi làm Giáo Hoàng, cha từ chối sử dụng xe hơi dành cho giáo hoàng mang bảng số CV1 (Cité du Vatican 1), mà di chuyển bằng xe buýt nhỏ (minibus) cùng các vị hồng y khác. Cuối thánh lễ sáng ngày 26-3 với các giám chức và linh mục, qua những lời rất đơn sơ, cha cho biết - ít là trong giai đoạn hiện nay - cha muốn tiếp tục ở lại với họ trong nhà trọ thánh Marta. Nhà trọ này có 131 căn hộ và phòng đơn dùng làm nơi cho các Hồng Y cử tri và những người phụ giúp. Ngoài thời gian đó, các phòng trong nhà trọ được dành cho các Giám Mục, Giám chức hoặc linh mục làm việc tại Tòa Thánh, hoặc cho các giáo sĩ vãng lai. Bây giờ cha đã chịu chuyển sang căn hộ số 201 trong nhà trọ thánh Marta. Đây là một nơi rộng rãi hơn, dành cho vị hồng y ngay sau khi đắc cử Giáo Hoàng hoặc cho các khách vị vọng. Trong thời gian qua, cha đã từ chối dọn vào đây. Nay cha đồng ý dọn vào để có thể tiếp nhiều người một cách dễ dàng hơn mà thôi. Hàng ngày cha vẫn ăn cơm với các Hồng Y và với các nhân viên đang trú ngụ tại nhà trọ Thánh Mattha. Cha vẫn dâng lễ mỗi sáng cho các nhân viên đang phục vụ cùng tham dự.

Thưa cha,

Khi Đức Hồng Y Louis Tauran đứng ở ban công để công bố "Habemus Papam". Chúng con thấy cha xuất hiện trong bộ áo chùng trắng đơn giản, treân ngöïc vẫn đeo caây thaùnh giaù bằng bạc khi coøn laø Toång Giaùm Muïc Buenos Aires, không dây stola, không giầy đỏ. Với cử chỉ đơn giản, thái độ tự nhiên quay qua quay lại ngay trên bancông đầy nghi lễ của Vatican trước hàng nửa triệu tín hữu chào mừng phía dưới, cha giơ cao một tay như để ban phép lành. Ai cũng cúi xuống chuẩn bị lãnh phép lành, nhưng không phải thế, cha nói : "Ta muốn xin các con một ân huệ, trước khi cha ban phép lành, cha xin các con đọc kinh thay cho lời chúc lành của cộng đoàn dân Chúa cho vị tân giám mục Roma" rồi cha cúi đầu để nhận sự chúc lành của các tín hữu. Mọi người nhôn nhao cả lên. Một Giáo Hoàng khiêm tốn cúi đầu xin tín hữu cầu sự chúc lành cho mình trước khi chúc lành cho họ. Cha làm việc này một cách bình thường như cha vẫn xin những người trong khu ổ chuột ở Argentina cầu Chúa ban phép lành cho cha trước khi cha chúc lành cho họ. Ấy vậy lại là một điều chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử Giáo Hội.

Trước khi tạm biệt đám đông, các chức sắc nghi lễ nhắc cha rời khỏi khán đài, nhưng cha quay sang xin người phụ tá mang micro tới để cha chúc mọi người ngủ ngon và hứa cầu nguyện cho họ vào ngày hôm sau. Con tâm đắc nhất là phần cầu nguyện của cha kéo dài hơn cả phần diễn văn. Thú thật với cha là chúng con rất sợ và rất ngán những bài diễn văn dài lê thê, những nghi lễ rườm rà. Dường như càng làm lớn người ta càng thích nói dài, uốn éo cung giọng cho trang trọng mất hết tự nhiên, cử chỉ cũng tỏ vẻ bệ vệ khác người. Họ quá chú trọng đến hình thức mà đánh mất hết nội dung.

Con thì thế-Cha thì không.

Lần xuất hiện đầu tiên của cha đã gây một ấn tượng rất mạnh. Cha đã loại bỏ nhiều điều rườm rà không cần thiết để đi vào trọng tâm sứ vụ của cha, đó là : "Bây giờ, giám mục và giáo dân, chúng ta bắt đầu cuộc hành trình huynh đệ, đầy yêu thương và tin cậy." Vâng thưa cha, đó phải là hành trình huynh đệ đầy yêu thương và tin cậy. Cha là thế, chứ con mà có chức có quyền trong tay thì lại là cuộc độc diễn của quyền hành, có "quyền" trong tay thì tha hồ "hành" người thuộc quyền.

Với các hồng y, cha đối xử như những người anh em với nhau chứ không như "bề trên với bề dưới". Cha đứng dậy để nhận sự "thần phục" của các hồng y anh em, chứ không ngồi chễm chệ trên ngai tại Nhà Nguyện Sistine cho các hồng y đến cúi mình hôn nhẫn. Cha như muốn ôm choàng lấy từng người anh em, không muốn họ hôn nhẫn của mình mà thậm chí cha còn cúi xuống hôn nhẫn của anh em hồng y nữa.

Không phải lên làm lớn rồi lúc nào mặt cũng phải lạnh như tiền hoặc mang bộ mặt hình sự nghiêm trang đạo mạo để người dưới phải khiếp sợ mà tránh xa. Cha có máu hài hước dí dỏm. Cha "bông đùa" trên bancông Vatican về việc các hồng y anh em "ñaõ ñi ñeán taän cuøng traùi ñaát ñeå choïn ngöôøi... vaø chuùng ta ñaõ coù ñöôïc ngöôøi aáy." Chuyện còn vui hơn nữa là lúc trở lại nhà trọ Thánh Marta, cha đi bằng xe minibus quen dùng lúc dự cơ mật viện chứ không phải bằng xe đặc chủng "limousine" của giáo hoàng. Cha hài hước với các hồng y như anh em trong nhà : "Xin Chúa tha tội cho anh em vì đã dại dột chọn tôi làm giáo hoàng!" Cha thật là dễ thương, gần gũi.

Năm 20 tuổi, cha phải giải phẫu vì bị nhiễm trùng đường hô hấp. Từ đó cha chỉ còn một lá phổi. Mặc dù vậy, cha có thói quen dậy lúc 4 giờ 30 sáng, suốt ngày cặm cụi làm việc. 9 giờ 50 sáng ngày 14/03/2013 lần đầu tiên rời Vatican trong tư cách giáo hoàng, cha vẫn không dùng xe "limousine" dành riêng cho giáo hoàng, mà dùng một trong các xe của cảnh sát Vatican để kính viếng Đền Thờ Đức Bà Cả. Thầy Giuseppe, một trong 15 chủng sinh, tu sĩ và giám chức tháp tùng cho biết cha vẫn mặc áo trắng, đi giầy đen (thay vì giầy đỏ giáo hoàng), đeo nhẫn hồng y và đeo thánh giá bằng bạc, không kèn không trống, không hàng rào danh dự. Khi đến nơi, cửa chính chưa mở, cha đi vào cửa phòng áo, rất thoải mái, không bực mình khó chịu vì người ta chưa kịp mở cửa chào đón. Tự tay cha cầm một bó hoa hết sức tầm thường, tới đặt trước tượng Đức Mẹ, bằng một nhịp bước không cần chờ ai. Trước khi ra về, cha bắt tay từng người và luôn xin mỗi người cầu nguyện cho cha.

Trên đường trở về, cha dừng lại Domus Internationalis Paulus VI, gần Piazza Navona, nơi cha cư ngụ trước khi tham dự cơ mật viện, để lấy hành lý còn gửi tại đó và nhất là trả tiền trọ! Cha bắt tay hỏi thăm và cảm ơn những người đang làm việc ở đây.

Cha thì thế- con thì không.

Cha hay thật đấy. Tại sao cha lại phải vất vả như thế? Nếu con ở chức vụ cao như thế, đi đến đâu cũng phải có người đưa kẻ đón, phải có hàng rào danh dự, có cờ quạt trống phách tưng bừng chào đón con. Cửa nhà thờ phải mở sẵn, chuông nhà thờ phải giật inh ỏi lên, phải có người xách cặp, có kẻ hộ tống, có bó hoa rõ to rõ đẹp cung kính dâng lên con. Nếu con đến mà cửa chưa mở, không có người tiếp đón thì con giận bỏ về ngay. Có đâu nhân vật quan trọng số một mà phải đi cửa sau, tự tay cầm bó hoa quèn và một mình đi đến đài Đức Mẹ. Hơn nữa việc lấy đồ và trả tiền khách sạn hay những chuyện lặt vặt khác có khi nào một người quyền cao chức trọng như con phải đụng ngón tay vào. Tất cả đã có người "cơm bưng nước rót" làm hết cho con rồi. Con chỉ việc đứng "chỉ tay năm ngón" thôi!

Cha thích đi bộ những khoảng cách ngắn trong Thành phố Vatican và chỉ thích phương tiện đi lại bình thường đến nơi muốn đến. Cha không thích dùng xe riêng nhưng di chuyển cùng với đoàn tuỳ tùng bằng xe chung, vẫn tấm áo dài trắng nhưng ngồi chung với anh em, không có sự cách biệt. Nếu đi xe giáo hoàng mui trần, cha không ngần ngại dừng xe giữa chừng để bước ra ngoài, hôn và ban phép lành cho một người bại liệt giữa đám đông. Giám Đốc Tin Tức của EWTN cho biết cha muốn đi đâu, đi thế nào thì đi. Cha là người của chính cha, không lệ thuộc vào nghi lễ quan cách, cũng chẳng sợ an ninh cho bản thân. Thấy điều đúng và cần làm thì cha làm vì "chính tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi."

Cha đến thăm và cử hành Thánh lễ chiều thứ Năm Tuần Thánh tại nhà tù dành cho các trẻ em vị thành niên ở Roma. Con rất xúc động khi thấy cha chẳng ngại ngùng cúi xuống rửa và hôn chân mười hai phạm nhân, trong đó có hai phạm nhân nữ người Hồi Giáo. Cha dám vượt qua hàng rào của những tục lệ, những truyền thống lâu đời để có những sáng tạo, những thay đổi đầy ý nghĩa trong các nghi lễ. Có mấy nhà thờ ngày Thứ Năm Tuần Thánh mà linh mục chủ sự dám rửa chân rồi hôn chân các tù nhân, nữ giới và nhất là người không cùng tôn giáo ?

Cha thì thế-con thì không.

Bài Huấn Từ đầu tiên của cha trong thánh lễ với các Hồng Y tại Nguyện Đường Sistine ngày thứ năm 14-03-2013 càng làm cho con thấy rõ con đường cha đã chọn : "Khi chúng ta đi mà không có Thánh Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thánh Giá, và khi chúng ta tuyên xưng Đức Kitô mà không có Thánh Giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa, chúng ta thuộc về thế gian. Chúng ta là Giám Mục, Linh Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa."

Trong bài giảng ngày lễ kính thánh Giuse 19-03-2013 cha nhắc con nhớ quyền bính đích thực là để phục vụ chứ không phải bắt người khác phục vụ : "Hôm nay, cùng với lễ Thánh Giuse, chúng ta cử hành khởi đầu sứ vụ của tân Giám Mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô, cũng bao gồm một quyền bính... Chúng ta không bao giờ được quên rằng quyền bính đích thực là phục vụ... Giáo Hoàng phải nhìn đến sự phục vụ khiêm tốn, cụ thể, đầy đức tin của thánh Giuse, và như thánh nhân, giáo hoàng cũng phải mở rộng vòng tay để giữ gìn toàn thể Dân Chúa và yêu thương, dịu dàng, đón nhận toàn thể nhân loại, nhất là những người nghèo nhất, yếu đuối nhất, những người nhỏ bé nhất..."

Trong cuộc gặp gỡ giới báo chí ngày 16-03-2013 tại hội trường Phaolô VI, cha đã muốn đi xa hơn, quyết liệt hơn, sát với Tin Mừng hơn, khi bày tỏ : "Tôi mong muốn biết bao một Giáo Hội nghèo..." Giáo hội không chỉ là giáo hội của người nghèo mà người nghèo chính là giáo hội. Ôi! Cha làm con sợ quá! Như vậy là con phải sống nghèo. Con phải là người nghèo, chứ không phải chỉ là người đi phục vụ người nghèo, trong khi con vẫn có thể...giầu!

Thưa cha,

Thư của con cũng khá dài rồi. Tuy nhiên còn một điểm đặc biệt nữa nơi cha mà con không thể bỏ qua vì đó là điều con đã, đang và sẽ đeo đuổi suốt đời dù gặp rất nhiều khó khăn trở ngại. Đó là lòng thương xót của Chúa. Lòng Thương Xót là chủ đề đặc biệt của cha trong những bài giảng và suy niệm.

Trong giờ kinh Truyền Tin ngày Chúa Nhật 17-03-2013, khi nói về lòng thương xót, cha nhắc nhở đám đông rằng:

"Gương mặt của Thiên Chúa là gương mặt của người cha đầy lòng thương xót, Ngài luôn kiên nhẫn với chúng ta... đây chính là lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài luôn kiên nhẫn để hiểu, chờ đợi và không mệt mỏi tha thứ cho chúng ta nếu chúng ta biết quay lại với Ngài với tất cả con tim. Như lời Thánh vịnh có chép rằng: 'Lòng thương xót của Thiên Chúa vĩ đại dường bao!'.

"Lòng thương xót có thể làm cho thế giới trở nên ấm áp hơn và công bằng hơn. Do đó, chúng ta cần hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài là một người cha đầy lòng thương xót đối với mỗi người chúng ta. Hãy nhớ lại lời của ngôn sứ Isaia: "Tội các ngươi dầu có đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, có thắm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông" (Is 1,18). Lòng thương xót đẹp biết bao!...Thiên Chúa là người cha yêu thương luôn tha thứ. Ngài có một trái tim đầy lòng thương xót dành cho tất cả chúng ta. Và chúng ta cũng cần học và thương xót người khác."

"Hãy luôn luôn tín thác nơi lòng thương xót của Chúa và đừng sợ hãi là Kitô hữu và sống như Kitô hữu" Cha đã nói như trên với hơn 100.000 tín hữu và du khách hành hương tụ tập tại quảng trường thánh Phêrô để đọc Kinh Nữ Vương Thiên Đàng với cha vào trưa Chúa Nhật lòng Thương Xót Chúa 7-4-2013. Mọi người đã vỗ tay thật to khi cha nhắc tới ngày lễ Lòng Thương Xót Chúa do Đức Chân Phước Gioan Phaolô II thiết lập, và người đã nhắm mắt lìa trần cách đây 8 năm vào chiều hôm trước ngày lễ. Cha nhấn mạnh :

"Cả chúng ta nữa cũng hãy can đảm hơn để làm chứng cho đức tin nơi Chúa Kitô Phục Sinh! Chúng ta không được sợ hãi là tín hữu Kitô và sống như Kitô hữu! Chúng ta phải có lòng can đảm ra đi loan báo Chúa Kitô Phục Sinh, bởi vì Ngài là sự bình an của chúng ta. Ngài đã trao ban cho chúng ta sự bình an với tình yêu thương cùng với sự tha thứ của Ngài, với máu và với lòng thương xót của Ngài."

"Chúng ta hãy cùng cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, để Mẹ giúp chúng ta, Giám Mục và Dân Chúa, tiến bước trong đức tin và trong tình mến, luôn luôn tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa, là Đấng luôn chờ đợi chúng ta, yêu thương chúng ta, tha thứ cho chúng ta với máu của Ngài và tha thứ cho chúng ta mỗi khi chúng ta đến gặp gỡ Ngài và xin ơn tha thứ. Chúng ta hãy tin tưởng nơi Lòng Thương Xót của Ngài."

Trong bài giảng thánh lễ nhận nhà thờ chính tòa, cha đã kêu gọi chúng con đừng bao giờ đánh mất đi sự tin tưởng nơi lòng thương xót nhẫn nại của Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn yêu thương, dịu hiền, chờ đợi và tha thứ cho chúng con. Cha nhắc nhở chúng con hãy để cho mình đươc bao bọc bởi lòng thương xót của Thiên Chúa, hãy để cho Chúa yêu thương và gặp gỡ Chúa trong các Bí Tích để cảm nhận được sự dịu hiền và vòng tay yêu thương của Chúa hầu chúng con có thể xót thương, kiên nhẫn, tha thứ và yêu thương như Ngài.

Cha kính mến,

Chỉ mới đúng một tháng cha nhận lãnh nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên Chúa mà cha đã cho chúng con thấy cha quả là "mục tử như lòng Chúa mong ước" và "như lòng dân mong đợi" qua những gì cha đã làm, đã sống, đã giảng dạy. Soi chiếu vào cuộc sống khó nghèo, hồn nhiên, đơn sơ, khiêm tốn của cha càng làm con thấy hổ thẹn so với cuộc sống trưởng giả, quan liêu, quyền hành, cao ngạo của con. Đúng là cha thì thế-con thì không!

Xin cha thương cầu nguyện cho đứa con khốn khổ đang cần được xót thương này để con cảm nghiệm được lòng thương xót của Chúa qua tấm lòng xót thương của cha, của những người có chức có quyền trên những con người hèn kém thấp cổ bé miệng.

Con sẽ luôn ghi nhớ lời cha dạy là "Hãy luôn luôn tín thác nơi lòng thương xót của Chúa và đừng sợ hãi là Kitô hữu và sống như Kitô hữu". Con mà làm được như thế thì chắc cha sẽ vui lắm, vì đúng là "cha nào-con nấy"!

Người con đang cần được xót thương

Lm. Giuse Trần Đình Long

Dòng Thánh Thể

 
DAO TAO MON DE # CHUA CHIEN LANH PDF Print E-mail

 

CHÚA CHIÊN LÀNH

HY Nguyễn Văn Thuận

Ngày 21-04-1991 – Chúa Nhật IV Phục Sinh

Cv 4, 8-12; 1Ga 3, 1-2; Ga 10, 11-18

Trước đây, Giáo Hội gọi lễ Chúa Nhật này là Lễ Đấng Chăn Chiên Lành, vì bài Phúc Âm hôm nay luôn đề cập đến Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên nhân lành. Nhưng gần đây, Giáo Hội gọi ngày lễ Chúa Nhật này là Chúa Nhật Cầu Cho Ơn Thiên Triệu. Cả hai ý đó đều liên quan với nhau. Vì cầu cho ơn thiên triệu nghĩa là cầu cho có nhiều mục tử tốt lành như Chúa Giêsu là Đấng Chăn Chiên Lành.

Tại sao Giáo Hội phải đề cao ơn thiên triệu? Vì càng ngày ơn gọi làm linh mục, tu sĩ trong Giáo Hội càng giảm sút, nhất là ở tại các nước Âu Mỹ. Nhiều quốc gia ở những nơi này đang gặp cơn khủng hoảng thiếu hụt linh mục và tu sĩ trầm trọng.

Nhưng tại sao bây giờ ơn thiên triệu lại giảm sút? Có nhiều lý do, nhưng ở đây Cha chỉ đề cập tới một vài lý do căn bản.

Trước hết, vì ở Âu Mỹ bây giờ, đời sống gia đình và xã hội đã thay đổi nhiều. Trước thời Đệ Nhị Thế Chiến, gia đình nào cũng có nhiều con cái. Nhưng bây giờ, đa số các gia đình chỉ có một hay nhiều lắm là hai con. Con số trung bình hiện nay là cứ hai gia đình mới có một con. Vì thế, ít có cha mẹ nào khuyến khích con cái mình đi tu. Hơn nữa, chính những người con này cũng không muốn đi tu vì được cha mẹ nuông chiều, và đời sống vật chất quá đầy đủ.

Lý do thứ hai là đời sống vật chất, hưởng thụ tại các quốc gia này. Mọi tiện nghi, ăn uống, di chuyển, giải trí... đều có sẵn. Bước ra khỏi cửa nhà đã thấy tiệm ăn, quán cà phê, rạp hát chiếu phim. Nhưng phim tốt thì ít, phim xấu thì nhiều. Từ bé đến lớn luôn sống trong bầu khí hưởng thụ, nên khó có thể chấp nhận cuộc sống hy sinh, phục vụ của ơn gọi tu trì. Hơn nữa, đã quen sống ồn ào, bận rộn với đủ thứ chuyện bên ngoài thì làm gì có thời gian dành cho sự cầu nguyện và phản tĩnh về cuộc sống. Học hành, mua sắm thời trang, ăn uống, bạn bè, giải trí cuối tuần như cái vòng luẩn quẩn chiếm hết thời gian. Rồi đến dịp nghỉ mùa hè hoặc mùa đông, lại lo tính chuyện đi biển, lên núi, trượt tuyết. Chẳng còn chút thời giờ dành cho Chúa.

Sống trong hoàn cảnh ấy, các đấng chăn chiên cần phải có một tinh thần hy sinh và dấn thân quyết liệt hơn. Các Ngài cũng phải vận dụng óc sáng tạo để lôi kéo con chiên trở về với Chúa. Và trên hết, các Ngài phải là những chủ chăn nhân lành luôn yêu thương và gần gũi với con chiên. Luôn sẵn sàng phục vụ và hy sinh mình vì đoàn chiên. Nói cách khác, đời sống gương mẫu của người chủ chăn sẽ là động lực lôi kéo con chiên và huấn luyện họ thành những con chiên tốt. Gương sáng bao giờ cũng có hiệu quả hơn lời nói suông.

Dòng Don Bosco hiện là một dòng lớn trên thế giới. Ở Ba Lan, trong thời kỳ cấm cách, mỗi năm dòng nhận 100 người vào Nhà Thử. Đến khi được tự do, con số ơn gọi lại giảm xuống dần dần, chỉ còn 75, 70. Đây là một kinh nghiệm đáng cho chúng ta quan tâm. Rất có thể khi được cởi mở, Giáo Hội chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng sa sút ơn gọi và đi đến khủng hoảng. Vì thế, ngay từ bây giờ, chúng ta phải cố gắng tập sống tinh thần hy sinh phục vụ và chuẩn bị cho những thế hệ trẻ đàn em cũng biết sống tinh thần này.

Ở Tiệp, cách đây không lâu, có một anh thợ hồ (nề) tên là Bengiamin. Anh sống rất đạo đức và gương mẫu nên được bạn bè yêu quý. Một bữa kia, đang khi đứng trên dàn cao để trét tường, dàn bị bốc cháy và anh bị rơi vào đống lửa bên dưới. Người ta đưa anh vào bệnh viện để chữa trị vết phỏng khắp người. Vết phỏng làm cho anh đau đớn nhức nhối, nhưng không bao giờ thấy anh than thở, rên la. Một tuần lễ sau, anh lìa trần. Bạn bè bùi ngùi tiếc thương anh. Trong lúc mặc niệm tiễn biệt anh, một linh mục già đến cạnh quan tài cầu nguyện. Và thật ngạc nhiên, vị linh mục này lấy dây Stola và đặt lên trên quan tài, một dấu hiệu dành riêng cho người linh mục quá cố. Tất cả những người bạn Cộng Sản của anh giờ đây biết được anh là một linh mục chui và càng quý trọng anh hơn, vì mặc dầu không ai biết mình là linh mục, anh thợ hồ quá cố này vẫn sống cuộc đời gương mẫu của một linh mục xứng danh. Anh chính là hình ảnh của người mục tử nhân lành.

Hiện nay ở Ý, có một phong trào rất nguy hại cho Giáo Hội. Một số giáo dân tụ họp thành một nhóm, tách rời khỏi Giáo Hội, tự động đi rao giảng Lời Chúa theo cách thức của họ. Giáo thuyết này hằng năm lôi cuốn hàng vạn người đi theo. Đứng trước tình hình đáng lo ngại ấy, Giáo Hội Ý tự nhận khuyết điểm của mình và tìm cách sửa đổi. Trong khi những người thuộc giáo thuyết sai lạc kia dấn thân đi đến từng gia đình để giảng dạy và chia sẻ cơm bánh, các mục tử của Giáo Hội chỉ sống trong nhà thờ, sợ hy sinh và xa cách với dân chúng. Và kết quả là nhiều người Công Giáo đã rời bỏ Giáo Hội để tìm đến với giáo phái kia. Sự kiện này cũng là một bài học giúp chúng ta nhìn lại cách sống của mỗi người chúng ta. Chúng ta có thật sự là những mục tử nhân lành luôn gần gũi với đàn chiên hay không?

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta cầu xin Chúa ban cho Hội Thánh có nhiều ơn gọi linh mục để chăn dắt đoàn chiên Chúa, nhất là có thêm nhiều mục tử tốt lành, luôn quan tâm săn sóc và sẵn sàng thí mạng sống mình vì lợi ích của đoàn chiên. Và chúng ta cũng cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết luôn có tinh thần hy sinh, quan tâm đến người khác như Chúa Giêsu là Đấng Chăn Chiên Lành. Amen.

 
DAO TAO MON DE # NGUOI CONG GIAO COI CHUNG PDF Print E-mail

 

Người Công Giáo, hãy coi chừng "lối sống hai mặt"!

Bùi Hữu Thư4/13/2013

Đức Thánh Cha Phanxicô

Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô

Rome, 12 tháng 4, 2013 (Le Monde vu de Rome)

Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý người Công Giáo phải coi chừng về "lối sống hai mặt": ngài mời gọi "vâng theo Thiên Chúa" và không dung hòa với thế gian.

Thực vậy, Đức Thánh Cha đã chủ tế Thánh Lễ 7 giờ sáng ngày thứ năm 11 tháng 4 tại nhà nguyện Thánh Mác-ta, với sự hiện diện của ban biên tập nhật báo L'Osservatore Romano.

Không thoả hiệp

Nhật báo Vatican cho hay Đức Thánh Cha đã nhắc đến tâm tình của Thánh Phêrô trong bài đọc một (CVTĐ 5,27-33): trước Thượng Hội Đồng, Phêrô đã được mời gọi phải "lấy một quyết định".

Thực vậy thánh tông đồ có nghe "những gì các người Pharisêu và thầy thượng tế nói", nhưng ngài cũng nghe được "những gì Chúa Giêsu nói trong tim ngài": làm sao để lựa chọn một trong hai lời nói? Phêrô đã chọn: "Tôi phải làm những gì Chúa Giêsu nói, thay vì nghe lời các ông bảo tôi phải làm".

Đức Thánh Cha cũng nhận xét: "Trong đời sống chúng ta, chúng ta cũng nghe thấy những đề nghị như vậy không đến từ Chúa Giêsu. Điều này dễ hiểu, vì đôi khi những yếu đuối lôi kéo chúng ta đi vào con đường này."

Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, vẫn còn một "con đường khác nguy hiểm hơn": đó là con đường đề nghị chúng ta phải "thỏa hiệp: một phần cho Thiên Chúa, một phần cho chúng ta. Khi làm một sự thỏa hiệp là chúng ta bước vào cuộc sống có hai bề mặt: một chút đời sống do Chúa Giêsu chỉ định, và một chút đời sống do thế gian chỉ định, do các quyền lực của thế gian và của bao nhiêu điều khác nữa".

Đức Thánh Cha nhận xét: Tuy nhiên, đây là một lối sống "không tốt đẹp" và "không làm cho chúng ta hạnh phúc", ngài lưu ý chống lại chước cám dỗ này: "Nếu Phêrô đã có thể nói với các thượng tế: "Chúng ta hãy nói với nhau như những bạn hữu và hãy thiết lập một status vivendi", thì có thể mọi sự sẽ diễn tiến tốt đẹp." Nhưng như vậy thì không phải là một sự lựa chọn của "tình yêu".

Chính vì vậy, Đức Thánh Cha đã mời gọi "chọn lựa con đường của Chúa Giêsu" và không "nghe theo các đề nghị của thế gian, những đề nghị của tội lỗi hay những đề nghị nước đôi."

Vâng lời Thiên Chúa làm cho chúng ta được tự do

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã nhắc đến ba lần chữ "vâng lời". Nhất là khi Thánh Phêrô trả lời: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm."

Đức Thánh Cha tự hỏi: "vâng lời Thiên Chúa" có nghĩa là gì? Như vậy có phải là chúng ta muốn trở thành những nô lệ không?" Không, vì chính những ai vâng theo Thiên Chúa lại được tự do! Tại sao ? Tôi vâng lời, tôi không làm theo ý tôi và tôi tự do ? Điều này có vẻ mâu thuẫn. Nhưng lại không mâu thuẫn."

Thực vậy, ngài đã giải thích: "vâng lời theo tiếng La Tinh có nghĩa là lắng nghe người khác. Vâng lời Thiên Chúa là lắng nghe Thiên Chúa, có tâm hồn cởi mở để bước theo con đường Thiên Chúa ấn định cho chúng ta. Và điều này làm cho chúng ta tự do."

Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh ở đây: "Thánh Thần" là nguồn trợ lực "giúp chúng ta có sức mạnh" để vâng lời và "Chúa Cha ban cho chúng Thần Khí vô ngần vô hạn (Ga 3, 31-36), hãy lắng nghe Chúa Giêsu, và đi theo con đường của Chúa Giêsu."

Can đảm theo Chúa Giêsu

Đức Thánh Cha nói: Việc chọn lựa để "bước theo con đường Chúa Kitô" đôi khi có nguy hiểm cho đời sống, vì "những kẻ đề nghị gì khác với Chúa Giêsu sẽ có thể thắng thế và con đường chấm dứt trong sự bị áp bức."

Đức Thánh Cha đã nhắc đến những những Kitô hữu đang bị đàn áp ngày nay trên thế giới: "vào lúc này, biết bao nhiêu người anh chị em chúng ta, vì họ lắng nghe và nghe theo lời Chúa Giêsu dậy, đang chịu đau khổ vì bị áp bức. Chúng ta hãy luôn luôn nhớ rằng những người anh chị em này đã trao phó tính mạng và họ nói với chúng ta bằng đời sống của họ: "Tôi muốn vâng lời, và đi theo con đường Chúa Giêsu ban cho tôi."

Đức Thánh Cha kết luận: Sự lựa chọn của Chúa Kitô đòi hỏi "phải can đảm": "Chúng ta hãy xin được ban ơn can đảm", nhất là lòng can đảm để nói: "Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi, đôi khi con nghe theo những điều trần tục nhưng con muốn vâng lời Chúa, con muốn đi theo con đường của Người." Chúng ta hãy cầu xin được ban ân sủng này để luôn luôn đi theo con đường Chúa Giêsu, và khi chúng ta không làm được như thế, chúng ta hãy xin lỗi: Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta, vì điều này quá tốt đẹp."

Báo L'Osservatore Romano cũng cho hay có sự hiện diện của nhiều vị đồng tế từ nhiều nơi trên thế giới: Hồng y người Ấn Telesphore Placidus Toppo, tổng giám mục Ranchi, Tổng giám mục Mario Aurelio Poli, người kế vị Hồng y Bergoglio tại Tổng Giáo Phận Buenos Aires, Linh mục Indunil Janakaratne Kodithuwakku Kankanamalage, phụ tá thư ký Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối thoại liên tôn, Đức Cha Robinson Edward Wijesinghe, thuộc Hội Đồng Giáo Hoàng về Mục vụ di dân và người sơ tán, cũng như các giáo sĩ, tu sĩ Dòng Tên và Phanxicô.

Trong số tham dự viên cũng có sự hiện diện của Chủ tịch và Tổng thư ký Qũy Centesimus Annus Pro Pontifice, là hai ông Domingo Sugranyes Bickel và Massimo Gattamelata, và hai vị này cũng có buổi họp báo cùng ngày tại Vatican.

 
<< Start < Prev 41 42 43 44 45 Next > End >>

Page 41 of 45