mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay268
mod_vvisit_counterHôm Qua5966
mod_vvisit_counterTuần Này10863
mod_vvisit_counterTuần Trước56369
mod_vvisit_counterTháng Này197736
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7998134

We have: 60 guests online
Your IP: 54.147.232.40
 , 
Today: Mar 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
DAO TAO MON DE # 269 = NGUOI NGHEO LA HINH ANH CHUA PDF Print E-mail

May 18 at 7:11 PM

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

TRONG NĂM THÁNH THƯƠNG XÓT

BÀI 15 - VỀ DỤ NGÔN

NGƯỜI PHÚ HỘ VÀ LAZARÔ NGHÈO

"Bỏ bê người nghèo là khinh thường Thiên Chúa!...

Ở trong cái đảo ngược của hai số phận chất chứa trong dụ ngôn

đó là mầu nhiệm cứu độ của chúng ta,

một mầu nhiệm Chúa Kitô liên kết nghèo khổ với lòng thương xót"

Xin chào Anh Chị Em thân mến!

Hôm nay tôi muốn suy niệm với anh chị em về dụ ngôn người phú hộ và Lazarô nghèo. Đời sống của 2 con người này dường như đi song song với nhau, ở chỗ, thân phận sống của họ tương phản và hoàn toàn tách biệt nhau. Cửa chính của nhà người phú hộ lúc nào cũng đóng kín trước con người nghèo khổ này, một con người nằm ngoài cửa ấy, mong tìm được một chút gì để ăn từ bàn ăn của người phú hộ này. Người phú hộ ăn mặc xa hoa, trong khu Lazaro thì lại đầy ghẻ lở. Người phú hộ yến tiệc linh đình hằng ngày, trong khi Lazarô đang bị chết đói. Chỉ có những con chó rình chực và đến liếm các chỗ lở loét của ông.

Cảnh tượng này nhắc nhở chúng ta về lời khiển trách khắc nghiệt của Con Người trong cuộc Chung Thẩm là "Ta đói các người không cho Ta ăn,Ta khát các người không cho Ta uống, Ta trần truồng các người không cho Ta mặc" (Mathêu 25:42-43). Lazaro là tiêu biểu rõ ràng cho tiếng kêu âm thầm của người nghèo qua mọi thời đại cũng như cho cái tương khắc của một thế giới có vô khối kho tàng và nguồn lợi ở trong tay của một thiểu số.

Chúa Giêsu nói rằng một ngày kia người phú hộ chết đi: người nghèo và người giầu đều chết, cả hai có cùng một số phận, như tất cả chúng ta; không có ngoại lệ ở chỗ này. Thế rồi con người ấy ngước lên Abraham, van xin ngài bằng danh xưng "cha" (các câu 24,27). Như thế là người này cho mình là con cái của Abraham, thuộc về Dân Chúa. Thế mà trong đời sống người ấy lại tỏ ra chẳng để ý gì đến Thiên Chúa; trái lại, ông ta biến mình thành tâm điểm của hết mọi sự, khép mình trong thế giới xa hoa và phung phí của mình. Khi loại trừ Lazarô như thế ông ta không quan tâm gì đến Thiên Chúa hay đến Lề Luật của Người. Bỏ bê người nghèo là khinh thường Thiên Chúa! Chúng ta cần phải biết rõ điều ấy: bỏ bê người nghèo là khinh thường Thiên Chúa.

Cần phải lưu ý tới một điểm đặc biệt trong dụ ngôn này, đó là con người giầu này không có tên, ngoại trừ tĩnh từ "giầu có"; trong khi tên của con người nghèo được lập đi lập lại đến 5 lần và "Lazarus" có nghĩa là "Chúa giúp". Lazarô, người nằm ở ngay trước cửa, là một tiếng gọi sống động đối với con người giầu có này là hãy nhớ đến Thiên Chúa, thế nhưng con người giầu ấy đã không đón nhận tiếng gọi ấy. Bởi thế mà ông ta sẽ bị luận phạt, chẳng phải vì cái giầu sang phú quí của ông, mà vì không biết cảm thương Lazarô và giúp đỡ Lazarô.

Ở phần hai của dụ ngôn này, chúng ta lại thấy Lazarô và người phú hộ sau khi chết (các câu 22-31). Ở bên kia thế giới, tình hình bị đảo lộn, ở chỗ, Lazarô nghèo được Thiên Thần mang lên Trời cho Abraham; trái lại, người phú hộ lại bị trầm luân cực hình. Bấy giờ người phú hộ "ngước mắt lên thấy Abraham từ đằng xa và Lazarô ở trong lòng của ngài". Ông ta dường như trông thấy Lazarô lần đầu tiên, thế nhưng lời lẽ của ông ta lại quay ra phản bội ông: "Lạy Cha Abraham - ông ta lên tiếng - xin thương đến tôi và bảo Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi của tôi; vì tôi đang khốn cực trong ngọn lửa này". Bấy giờ người phú hộ nhìn nhận Lazarô và xin Lazarô giúp, trong khi ở đời này ông ta đã giả bộ như không thấy Lazarô. Biết bao nhiêu lần nhiều người giả bộ không nhìn thấy người nghèo! Đối với họ không có việc người nghèo hiện hữu. Trước kia ông ta đối xử tới độ từ chối Lazarô cả những gì dư thừa từ bàn ăn của mình, giờ đây ông ta lại muốn Lazarô mang đến cho ông ta một chút gì đó! Ông ta vẫn tin rằng ông ta có quyền đòi hỏi vì thân phận xã hội trước đây của ông ta. Khi từ chối không thể đáp ứng điều yêu cầu của ông ta, Abraham đích thân cống hiến cái then chốt của cả câu truyện này, ở chỗ, ngài giải thích rằng các sự lành và những sự dữ đã được phân phối để bù lại tình trạng bất công trên thế gian, và cánh cửa trong cuộc đời tách biệt người phú hộ khỏi con người nghèo đã bị biến thành "một vực thẳm khổng lồ". Bao lâu Lazarô còn ở nhà của ông ta thì người phú hộ đã có cơ hội cứu độ, bằng cách mở rộng cửa giúp đỡ cho Lazarô, thế nhưng giờ đây cả hai đều đã chết, tình trạng đã trở thành bất khả cứu chữa. Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp kêu gọi, thế nhưng bài dụ ngôn này bắt người ta phải cảnh giác là lòng thương xót Chúa đối với chúng ta được gắn liền với lòng thương xót của chúng ta với tha nhân; khi thiếu mất tha nhân thì Thiên Chúa không tìm thấy khoảng trống trong tấm lòng khép kín của chúng ta, Ngài không vào đó được. Nếu tôi không mở rộng cửa lòng của tôi ra cho người nghèo thì cánh cửa đó vẫn cứ đóng, cả với Thiên Chúa. Như thế thì ghê sợ thay.

Tới đây người phú hộ nghĩ tới anh em của mình, những người cũng có nguy cơ tiến đến một kết cục như ông, nên ông đã xin rằng nếu được thì Lazarô có thể về báo cho họ. Thế nhưng Abraham trả lời rằng: "Họ đã có Moisen và các vị tiên tri; họ hãy nghe theo những vị ấy".

Chúng ta không được đợi chờ xẩy ra những biến cố lạ lùng rồi mới hoán cải, thế nhưng chúng ta cần phải mở lòng mình ra cho Lời Chúa là lời kêu gọi chúng ta hãy kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Lời Chúa có thể làm cho con tim cằn cỗi phục hồi và chữa lành cái mù lòa của nó. Người phú hộ biết Lời Chúa, nhưng ông ta đã không để cho Lời Chúa lọt vào lòng của ông, ông không lắng nghe Lời Chúa, bởi thế ông không thể mở mắt mình ra và tỏ lòng cảm thương con người nghèo khổ ấy. Không có sứ giả nào hay không có sứ điệp nào có thể thay thế cho người nghèo chúng ta gặp ngoài phố xá, vì ở nơi họ, Chính Chúa Giêsu đến gặp gỡ chúng ta: "Thật vậy, Ta nói cho các người hay là khi các người làm điều ấy cho một trong những người anh em hèn mọn nhất của Ta đây là các người làm cho Ta" (Mathêu 25:40), Chúa phán. Vậy, ở trong cái đảo ngược của hai số phận chất chứa trong dụ ngôn đó là mầu nhiệm cứu độ của chúng ta, một mầu nhiệm Chúa Kitô liên kết nghèo khổ với lòng thương xót.

Anh chị em thân mến, nghe bài Phúc Âm này, tất cả chúng ta, cùng với thành phần nghèo khổ trên trái đất này, có thể cùng với Mẹ Maria hát lên rằng: "Ngài đã hạ người quyền hành xuống khỏi bệ cao và đã nâng người hèn mọn lên; Ngài đã cho người đói khó no đầy thiện hảo và để người giầu có trở về tay không" (Luca 1:52-53).

https://zenit.org/articles/general-audience-on-the-parable-of-lazarus/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

--------------------------------

 
DAO TAO MON DE # 268= DAO TAO NU PHO TE PDF Print E-mail

Đức Thánh Cha tiếp 870 nữ Bề Trên Tổng Quyền
15-05-2016 G. Trần Đức Anh OP.

VATICAN. ĐTC Phanxicô cho biết ngài sẵn sàng lập một ủy ban nghiên cứu về vai tro của các Nữ Phó Tế trong Giáo Hội sơ khai.

Đây là đề tài được dư luận báo chí chú ý nhiều nhất trong buổi tiếp kiến ĐTC dành cho gần 900 nữ Bề trên Tổng quyền sáng ngày 12-5-2013 tại đại thính đường Phaolô 6. Trong buổi tiếp kiến một số tham dự viên đã đưa ra những câu hỏi và ĐTC ứng khẩu trả lời.

Một nữ tu Bề trên hỏi ĐTC về việc các nữ tu đã giữ vai chính trong các công tác phục vụ ngừơi nghèo và bệnh nhân, dạy giáo lý và nhiều thừa tác vụ khác trong Giáo Hội, tại sao không thiết lập một ủy ban chính thức để nghiên cứu vấn đề phụ nữ làm phó tế vĩnh viễn như trong Giáo Hội sơ khai?

ĐTC nhận định rằng vai trò xưa kia của các nữ phó tế cho đến nay vẫn không rõ ràng lắm. Công đồng chung Calcedonia (451) cũng nói nhưng hơi tối. Đâu là vai trò của các nữ phó tế thời đó? Một nhà thần học uyên bác (đã chết rồi) nói với tôi rằng dường như vai trò của họ là để giúp các phụ nữ khi chịu phép rửa tội, dìm mình trong nước, rồi xức dầu trên thân thể các nữ tân dự tòng. Và cũng có một điều ngộ: khi có một vụ xử hôn phối vì người chồng đánh vợ, bà này đến khiếu nại với ĐGM, các nữ phó tế được giao phó nhiệm vụ xem xét trên thân thể người vợ ấy có những vết bầm vì chồng đánh hay không và trình lại cho Đức GM. Đó là điều tôi nhớ được... Tôi nghĩ là sẽ hỏi Bộ giáo lý đức tin thông báo cho tôi xe những nghiên cứu về vấn đề này, vì bây giờ tôi trả lời các chị theo những điều tôi đã nghe từ vị linh mục ấy, một nhà nghiên cứu uyên thâm và vững chắc về chức phó tế vĩnh viện. Về việc lập một ủy ban chính thức để nghiên cứu vấn đề, tôi đồng ý. Tôi nghĩ điều tốt là Giáo Hội làm sáng tỏ vấn đề này..

Về sự hiện diện của phụ nữ trong các tiến trình quyết định của Giáo Hội, ĐTC Phanxicô cho biết ngài đồng ý về việc gia tăng trách nhiệm của nữ giới ở các cấp độ khác nhau trong những trường hợp không đòi phải có quyền tài phán liên quan đến thánh chức. Lý do vì cái nhìn của phụ nữ có thể góp phần phong phú hóa giai đoạn chuẩn bị quyết định cũng như giai đoạn thi hành.

Về việc nữ giới giảng trong thánh lễ, ĐTC nhắc lại kỷ luật hiện nay của Giáo Hội là cần phân biệt: phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể, trong giải đoạn này việc giảng liên quan đến sự chủ tọa thánh lễ là của tư tế. Trong phần đầu, phụ nữ có thể giảng dạy.

ĐTC không quên mời gọi các nữ tu hãy dành chỗ đúng đắn cho việc nghỉ ngơi và đừng lơ là với việc hỏi ý kiến của các nữ tu cao niên, hoặc lãng quên các nữ tu già yếu bệnh tật trong tu việc. Các chị ấy chính là ký ức của Hội dòng, với kinh nghiệm và sự khôn ngoan của các chị.

Một số câu hỏi liên quan đến việc cải tổ trong nhiều dòng tu và có thể có những khó khăn về giáo luật. ĐGH cho biết ngài có khuynh hướng về việc có thể thay đổi một số điều nhỏ trong luật của Giáo Hội, miễn là đây là kết quả của một sự phân định sâu sắc của các giới chức có thẩm quyền.

Chiều ngày 13-5-2016, 870 nữ Bề trên Tổng quyền các dòng trên thế giới đã kết thúc Đại hội lần thứ 20, sau 5 ngày tiến hành tại khách sạn Ergiffe ở Roma, với chủ đề "Kết dệt tình liên đới hoàn cầu để phục vụ sự sống".

Đại Hội này do Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền dòng nữ tổ chức lần thứ 20. Đặc biệt lần này có 6 Bề trên Tổng Quyền của các dòng từ Việt Nam tham dự, đó là dòng Đa Minh Tam Hiệp, Đa Minh Phú Cường, Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, Dòng MTG Phan Thiết, Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Trinh Viên và dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân, Huế. Cũng có một Bề trên Tổng quyền người Việt của một dòng Quốc Tế là dòng Chúa Quan Phòng Portieux và một chị tổng cố vấn dòng Đức Bà Truyền giáo.

Cũng nên nói thêm rằng năm 2002, Ủy ban thần học quốc tế đã công bố kết quả nghiên cứu và đi đến xác quyết các nữ phó tế trong giáo hội sơ khai không co vai trò phụng vụ như các nam phó tế. (SD 13-5-2016)

G. Trần Đức Anh OP

---------------------------

 
DAO TAO MON DE # 267 = MUC TU NHAN LANH PDF Print E-mail

Cựu tị nạn Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo giáo phận
Đức cha Long trải qua một tuần lênh đênh trên biển trước khi được cứu
Tags: cựu tị nạn, thuyền nhân

May 9, 2016

Tin Giáo hội

Cựu tị nạn Việt Nam được bổ nhiệm lãnh đạo giáo phận thumbnail
Đức Giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Long. Ảnh: gospelcrusader.com

Đức Thánh cha Phanxicô bổ nhiệm một cựu tị nạn rời bỏ Việt Nam bằng thuyền đứng đầu giáo phận Parramatta ở Úc.

Đức Giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Long, 54 tuổi, bắt đầu vai trò mới sau khi làm linh mục dòng Phanxicô Viện tu tại Úc từ năm 1989 và giám mục phụ tá của Melbourne từ năm 2011. Vatican đưa ra thông báo này hôm 5-5, tờ Catholic News Service đưa tin.

Ngài sinh tại tỉnh Đồng Nai năm 1961, và là một trong hàng trăm ngàn "thuyền nhân" chạy trốn chế độ chuyên chế và tình trạng hỗn loạn xảy ra khắp khu vực vào thập niên 1970 và 1980 sau Chiến tranh Việt Nam.

"Cuộc vượt biển bằng thuyền của chúng tôi đầy nguy hiểm. Thuyền chở quá nhiều người. Vào ngày thứ ba, chúng tôi hết lương thực, nước uống và nhiên liệu. Từ đó chúng tôi chỉ biết trông chờ vào ơn trên. Đến ngày thứ bảy, chúng tôi trôi dạt đến gần một giàn khoan dầu, nửa sống nửa chết", ngài nói trong cuộc phỏng vấn với Hội đồng Giám mục Công giáo Úc năm 2015.

Đức cha và các thành viên trong gia đình cùng đi với ngài được cứu và được đưa vào trại tị nạn ở Malaysia, và ngài đã ở trong trại tị nạn này 16 tháng trước khi tái định cư tại Úc năm 1981.

---------------------------

 
DAO TAO MON DE # 266 = PDF Print E-mail

May 1 at 10:18 PM

CHIA SẺ LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH NĂM C2016
Lời Chúa: Cv 15, 1-2. 22-29; Kh 21, 10-14. 22-23; Ga 14, 23-29

Ga 14, 23-29:"...Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Lời các con nghe, không phải là của Thầy, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Thầy. Thầy đã nói với các con những điều này khi còn ở với các con. Nhưng Đấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con. Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng.Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi. Các con đã nghe Thầy nói với các con rằng: Thầy đi, rồi Thầy trở lại với các con. Nếu các con yêu mến Thầy, thì các con hãy vui mừng vì Thầy về với Cha, bởi lẽ Cha trọng hơn Thầy. Giờ đây Thầy nói với các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra, thì các con tin...". Đó là lời Chúa.

- Xin kể Câu chuyện có thật sau đây để chúng ta cùng suy nghĩ thế nào là bình an thật do Chúa ban: Tháng 7 năm 1972 sau những tháng dài bị tra tấn trong trại lính, nơi cha Vania thi hành nghĩa vụ linh mục, ngài đã gục ngã dưới làn mưa đạn.Trong lá thư cuối cùng ngài viết cho cha mẹ già có những dòng sau đây:"Cha mẹ yêu dấu ! Thiên Chúa đã chỉ cho con một con đường phải theo. Con không chắc có thể còn sống được để trở về với cha mẹ nữa hay không, bởi vì những cuộc tra tấn lúc này dã man hơn trước kia rất nhiều. Thế nhưng con không lo sợ, vì có Chúa ở cùng con. Xin cha mẹ cứ an tâm, đừng lo lắng cũng đừng buồn phiền về số phận của con nữa...Con xin chào thăm cha mẹ trong tình yêu Chúa Kitô và trong sự bình an của Thiên Chúa Cha. Người ta cấm cản con không được rao giảng về Chúa Kitô nữa, và con phải trải qua nhiều thử thách...".
-Chương 14 của Tin Mừng theo Thánh Gioan ở đây không phải là một diễn từ hay diễn văn, nhưng thực sự là những lời hết sức thân mật, tâm huyết, cuộc trò truyện hết sức ân tình, giữa Chúa Giêsu và các môn đệ.
-Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 14, 23-29) nằm trong bối cảnh của nỗi bất an, lo sợ. Vì Đây là thời gian diễn ra bữa tiệc biệt ly của Chúa Giêsu với các môn đệ của Người,trước khi Chúa Giêsu chuẩn bị bước vào cuộc tử nạn.Chúa cũng đã nhìn thấy sự hoang mang, dao động hiện trên khuôn mặt của những người theo Chúa. Giữa lúc sợ hãi và u sầu bao trùm tâm tư mọi người hiện diện, thì lời an ủi của Chúa lại là lời chúc bình an: "...Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng... ".
-Trong Thánh Kinh, phạm trù bình an,(tiếng Do Thái là salom) không có nghĩa là thoát ly khỏi mọi đớn đau, lo sợ. Nói đến bình an, chúng ta hay nghĩ, đó là cuộc sống thoải mái, không đụng chạm rắc rối hay đối đầu với đau khổ. Bình an mà Chúa muốn nói không như thế. Đúng hơn, đó là bình an mà thế gian phải tìm tòi.
-Nhưng ở đây, lời Đức Giêsu nói với các môn đệ không chỉ là một lời chào chúc hay là một lời từ giã thông thường, mà còn là một sự trao ban bình an thật sự.Là món quà vô giá mà Thiên Chúa trao ban cho con người qua Đức Kitô, nhờ Thánh Thần của Người. Bình an nầy được trao ban từ Thiên Chúa Ba Ngôi.Trong dịp này ta có thể chia sẻ về ba khía cạnh quan trọng của sự bình an như sau:
I. BÌNH AN TRẦN GIAN BAN TẶNG
-Bình an theo quan niệm trần gian là không có chiến tranh, không hận thù chém giết, không gây nên những cuộc tranh dành đẫm máu, tan cửa nát nhà, phân tán chia ly, tha hương cầu thực, như biết bao người trong anh chị đồng bào chúng ta, đang phải hứng chịu cái hậu quả tàn khốc của chiến tranh hận thù hay thảm họa môi trường,như môi trường biển Hà Tĩnh ta và miền trung hiện nay.Bình an cũng không phải chỉ là được giầu sang phú quí, được thịnh vượng, được văn minh tiến bộ, được quyền hành thanh thế có thể áp đảo điều khiển được những kẻ yếu kém.
-Tất cả các điều trên đây tuy là những dữ kiện quí báu để góp phần xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống con người trên mặt đất; nhưng chúng vẫn chưa phải là điều kiện chính yếu, để có thể làm cho nhân loại được hưởng sự bình an chân thật Chúa trao ban cho những con cái yêu dấu của Người.
II. BÌNH AN CHÂN THẬT CỦA CHÚA
-Điều kiện để được tận hưởng sự bình an chân thật của Chúa ban tặng, chính là tâm hồn trong sạch, luôn sống trong ơn nghĩa thánh, như những tôi trung con thảo của Người, luôn trông cậy tín thác mọi sự nơi lòng thương yêu quan phòng khôn ngoan của Chúa, luôn hết lòng phụng sự và tận tình yêu mến Ngài, luôn khát khao làm hài lòng Ngài.

III. SỨ GIẢ HÒA BÌNH CỦA CHÚA
-Là con cái Chúa, là những Tông Đồ tình yêu thương của Chúa, chúng ta phải là những Sứ Giả Hòa Bình. Ngày lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, được diễm phúc trở nên con cái Chúa, Chúa đã ủy thác cho chúng ta sứ mạng đem sự bình an của Chúa đến cho nhân loại.
-Chính Thánh Phanxicô Khó Khăn đã thấu hiểu sứ mạng cao cả Chúa trao, nên Ngài đã sung sướng dâng lên Chúa lời khẩn nguyện tha thiết, xin Chúa ban cho ngài được trở nên Sứ Giả Hòa Bình của Chúa, để ngài có thể chu toàn được sứ mạng(Kinh Hòa Bình):"Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm".Nên Đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu phải là một trong những biểu hiện rất rõ nét cho sự hiện diện và bình an của Chúa.

.....................

Kinh chuyen,
QP

God bless you!
www.tonghoimancoi.org

-----------------------

 
DAO TAO MON DE # 265= LM HAY SO SU DU ! PDF Print E-mail

Apr 23 at 8:57 PM

LINH MỤC HÃY SỢ SỰ DỮ!

(SUY TƯ NHÂN CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH)

Mỗi lần giơ tay ban phép lành, Linh mục là người trao ban bình an của Thiên Chúa cho anh chị em. Đặc biệt, trong bí tích giải tội, không chỉ trao ban bình an, khi dùng tác vụ của Hội Thánh, cùng với việc trao ban bình an, linh mục còn là người xua trừ sự dữ khỏi tâm hồn anh chị em. Điều đó cũng có nghĩa là linh mục giải thoát anh chị em của mình ra khỏi sự dữ, khỏi mọi hình thức nô lệ của nó.

Dù vậy, ta vẫn dám khẳng định chắc rằng, sau khi nhân danh Thiên Chúa tha tội cho anh chị em, hiểu theo một nghĩa rộng nào đó, linh mục là tác giả của sự giải thoát, có thể là kẻ không chất chứa sự lành, ngược lại, chất chứa cả một hố sâu thăm thẳm đầy sự dữ, tội lỗi ngay trong chính tâm hồn mình?

Bởi bên cạnh rất nhiều linh mục ngày đêm vươn tới sự lành, lo vun bồi, tưới bón để ơn gọi của mình phong phú hơn, thánh thiện hơn, thì đâu đó vẫn còn những bóng tối của sự dữ thống trị tâm hồn linh mục. Nó biến họ thành những kẻ thích xoi mói, thích gieo tiếng xấu, thích nịnh bợ bề trên, xem thường anh em và những người cùng sống, cùng làm việc, cùng chia sẻ gánh nặng mà chính mình phải mang vác trước...

Hoặc chính linh mục lại hạ danh dự, ganh ghét, gièm pha... anh em linh mục với nhau nói riêng và anh chị em xung quanh nói chung. Tệ hại hơn, chính anh em linh mục chẳng những không thể tha thứ, lại rắp tâm nuôi lòng thù và muốn trả thù một điều gì đó, một ai đó đã gây ra điều bất lợi cho mình.

Linh mục cũng chính là người có thể kéo bè, lập nhóm, a dua theo những thế lực khác nhau, không nhằm giới thiệu Chúa Kitô, hay xây dựng những cộng đoàn yêu thương và cầu nguyện, nhưng hoàn toàn ngược lại, chỉ nhắm củng cố và tạo thêm sức mạnh quyền lực, sức mạnh phòng thủ của riêng bản thân.

Người linh mục cũng có thể lợi dụng chức vụ linh mục của mình tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm những giá trị vật chất. Nếu không tự đào tạo ơn gọi và lương tâm từng ngày, họ có thể cũng bon chen, cũng mưu toan tính toán như bao nhiêu tật xấu của nhiều anh chị em sống giữa đời.

Nếu không lo tích trữ sự lành, lại để những sự dữ ấy tự do thống trị, người linh mục sẽ trở thành kẻ nguy hiểm, bởi họ đi những bước rất dài trong sự xa cách ba lời khuyên Phúc Âm đã từng thề hứa trong ngày chịu chức: vâng lời, khó nghèo, khiết tịnh.

Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: "Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc" (Ed 34, 2- 4).

Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, phải chăng rất giống lời cảnh báo trong sách tiên tri Isaia dành cho sự đen tối và tội lỗi của Babylon: "Chính ngươi đã tự nhủ: 'Ta sẽ lên trời: ta sẽ dựng ngai vàng của ta trên cả các vì sao của Thiên Chúa; ta sẽ ngự trên núi Hội Ngộ, chốn bồng lai cực bắc. Ta sẽ vượt ngàn mây thẳm, sẽ nên như Đấng Tối Cao'. Nhưng ngươi lại phải nhào xuống âm phủ, xuống tận đáy vực sâu... Ngươi bị liệng ra khỏi mồ, như một mầm non ghê tởm, nằm trong đám người chết vì gươm đâm, trên những phiến đá dưới vực thẳm, tựa thây ma bị người ta giày xéo..." (Is 14, 13-19).

Ơn gọi thánh hiến và chính đời linh mục của mình mà để xảy ra như thế thì thật là bi đát, thật nguy hiểm cho Hội thánh của Chúa và xúc phạm danh Chúa.

Là linh mục của Chúa, anh em chúng ta hãy nuôi dưỡng một lối sống lành mạnh. Hãy theo đuổi ơn gọi nên thánh suốt đời, đó là điều mà chính Chúa Giêsu đã dạy: "Các ngươi hãy nên thánh thiện, như Cha các ngươi trên trời là Đấng thánh thiện" (Mt 5, 48).

Trên hết hãy gieo sự lành.

Xin đừng gieo sự dữ! Đừng gieo vào lòng, vào đời sống anh chị em. Đừng gieo nơi chính tâm hồn mình... Hãy sợ sự dữ!...

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

Kính chuyển:

Hồng

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 40