mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4019
mod_vvisit_counterHôm Qua6243
mod_vvisit_counterTuần Này21070
mod_vvisit_counterTuần Trước49260
mod_vvisit_counterTháng Này197845
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8686888

We have: 109 guests online
Your IP: 54.198.139.134
 , 
Today: Jun 28, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Đào Tạo Môn Đệ
DAO TAO MON DE # 285=CAM HOA BANG TINH YEU PDF Print E-mail

Cảm hóa bằng Tình Yêu
22-07-2016 CSTL

Tại sao tôi không thể thực thi sự công bằng trong môi trường sống của mình? Tại sao tôi cố gắng giữ sự liêm khiết trong mọi công việc, nhưng lại không thể? Tại sao tôi làm mọi cách để sống đúng với phẩm giá mà Thiên Chúa trao ban, thì lại bị cho là người đi sau thời đại? Tại sao...? Biết bao nhiêu câu hỏi tại sao đã trở nên một sự thách đố cho mỗi người Kitô hữu chúng ta. Hành trình theo Chúa là một hành trình đầy gian nan, thử thách; nhiều khi thấm đượm cả máu và nước mắt. Cái khó khăn của hành trình này không phải từ nơi Thiên Chúa, nhưng do bởi chính con người với nhau. Cái dễ và cái khó, cái đúng và cái sai, cái thương và cái ghét... đã trở nên một sự mặc định do con người tự định nghĩa lấy để giải quyết mọi vấn đề. Thiên Chúa đã không tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của con người nữa. Tuy nhiên, đó là không phải là sự bế tắc của tất cả chúng ta khi phải sống làm chứng cho Chúa. Có tình yêu, chúng ta sẽ giải quyết được tất cả.

Người phụ nữ phạm tội ngoại tình đã thật sự bế tắc khi một đàng phải kiếm sống bằng cái nghề đáng bị khinh bỉ, một đàng phải chống chọi với sự lên án của cả xã hội. Chính tình yêu của Chúa Giêsu đã cảm hóa lòng chị, khiến chị biết khinh ghét tội lỗi của mình và sẵn sàng đón nhận một cuộc sống khó khăn hơn. Ngày nay, chúng ta cũng phải đối diện với biết bao con người có chức, có quyền trong xã hội; nhưng hành động của họ chẳng khác chi người phụ nữ ngoại tình, luôn bị mọi người lên án. Họ thật sự chẳng sung sướng gì khi phải làm những việc sai trái, nhưng họ lại không muốn mình bị đẩy ra khỏi một guồng máy của một tập thể đã quen sống như thế; và vô tình, thế hệ này tiếp nối thế hệ khác. Chúng ta chẳng thể nào thay đổi quan điểm của họ khi cái lợi trước mắt đã làm mờ mắt họ. Cần lắm lúc này chúng ta biết mang lấy chính hình ảnh của Chúa Giêsu khi đối diện với họ.

Đến với họ bằng một thái độ không dung túng với tội là điều rất cần thiết. Có thể, chúng ta sẽ phải chịu thua thiệt khi làm đúng; nhưng một khi chúng ta làm được, thì ảnh hưởng của chúng là không nhỏ trên những người khác. Thái độ này không phải là một sự chứng tỏ bản lĩnh cá nhân, nhưng chúng ta cần ý thức đó là lẽ phải của Tin Mừng. Chúng ta không thực hiện thái độ này với sức riêng của mình, mà bằng sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Có Ngài bên cạnh, chắc chắn chúng ta sẽ mạnh sức để lướt thắng mọi sự.

Đến với họ bằng sự cộng tác trong tình yêu là điều rất quan trọng. Dù chúng ta phải đón nhận những sự đối xử rất đáng ghét, những hành động không thể chấp nhận được...; thì chúng ta cũng hãy cố gắng nhìn họ bằng cái nhìn thông cảm và yêu thương. Đây không phải là một sự quỵ lụy để cho được việc; trái lại, khi chúng ta thể hiện tình yêu là chúng ta đã chiến thắng được chính bản thân mình khỏi sự ghen ghét và lòng thù hận. Đó là bài học mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta khi đối diện với kẻ thù. Mặt khác, khi có tình yêu, chúng ta sẽ ứng xử và hành động trong tình yêu; như thế, tấm gương của chúng ta sẽ soi rọi và phản chiếu nơi chính đối tượng mà chúng ta tiếp xúc. Chắc chắn, không ít thì nhiều, họ sẽ bị tác động bởi hình ảnh của chúng ta.

Nhìn vào tấm gương của Đức Cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận khi Ngài ở trong tù, cac bạn sẽ nhận ra được tình yêu có sức mạnh như thế nào. Khi biết đặt tình yêu trong mọi sự, chúng ta sẽ hành động trong tình yêu; khi biết dùng tình yêu để sửa lỗi, chúng ta sẽ cảm hóa được lòng người; khi biết sống bằng tình yêu, chúng ta sẽ yêu tha nhân như chính mình. Do đó, Thiên Chúa luôn mong muốn con cái của Ngài biết sống trong tình yêu. Tình yêu đó phải được xuất phát từ nơi Thiên Chúa, là tình yêu hoàn toàn tuyệt đối; tình yêu đó phải được lớn lên trong Thiên Chúa, là tình yêu không tính toán so đo; tình yêu đó phải luôn được kiên vững nơi Thiên Chúa, là tình yêu không hề đổi thay. Có được tình yêu như thế, chúng ta sẽ đến với tha nhân như là một nhân chứng sống động về tình yêu và biến đổi được lòng người.

Therese Trần Thị Kim Thoa

ĐẠO BINH ĐỨC MẸ

-------------------------

 
DAO TAO MON DE # 284= PDF Print E-mail

ĐTC công bố Tự sắc về các thẩm quyền trong lãnh vực kinh tế tài chánh
Linh Tiến Khải7/9/2016

VATICAN: Sáng ngày 9-7, ĐTC đã cho công bố Tự sắc về các thẩm quyền trong lãnh vực kinh tế tài chánh của Toà Thánh. Tự sắc đã được ký ngày mùng 4 tháng 7 bổ túc cho việc cải tố các cơ quan đặc trách viêc kiểm soát, canh chừng và điều hành các tài sản của Toà Thánh. Mở đầu Tự Sắc ĐTC viết:

"Các tài sản tạm thời mà Giáo Hội sở hữu được chỉ định cho viêc theo đuổi các mục đích của Giáo Hội là việc thờ phượng, trợ giúp hàng giáo sĩ, làm việc tông đồ và các công tác bác ái, đặc biệt trong việc phục vụ người nghèo. Vì thế, Giáo Hội cảm thấy có trách nhiệm phải rất chú ý để việc quản trị các tài nguyên kinh tế luôn phục vụ các mục đích này. Vì lý do đó Toà Thánh đặc biệt lưu tâm sự canh chừng việc quản trị tài sản của mình. Để đạt mục đích ấy ngày 24 tháng hai năm 2014 với Tự sắc "Fidelis dispensator et prudens" tôi đã thành lập 3 cơ quan mới là : Hội đồng kinh tế, Văn phòng thư ký Kinh tế và Văn phòng Tổng giám sát, bằng cách thiết định các nhiệm vụ chuyên biệt của tùng cơ quan. Tiếp theo đó ngày 22 tháng 2 năm 2015 tôi đã phê chuẩn thử nghiệm các Quy chế của các cơ quan nói trên.

Kinh nghiệm thực thi các Quy chế này đã minh nhiên việc cần thiết can thiệp liên quan tới việc giải thích đúng đắn và áp dụng cụ thể, dưới ánh sáng các nhiệm vụ nền tảng đã thiết định trong tự sắc Fidelis dispensator et prudens. Đặc biệt cần đề ra các đường nét rõ ràng hơn liên quan tới các lãnh vực hoạt động liên hệ giữa Văn phòng thư ký Kinh tế và việc Quản trị Tài sản của Toà Thánh, kiểu tiến hành và phối hợp của chúng với nhau.

Với lá thư này, bằng cách minh xác những gì đã thiết định và thay đổi những gì cần tu chính, tôi có ý nêu bật việc chỉ dẫn nền tảng cần tách rời một cách rõ ràng, không thể lẫn lộn việc quản trị trực tiếp tài sản khỏi việc kiểm soát và canh chừng trên hoạt động quản trị.

Tiếp đến ĐTC đã xác định việc cần thiết tách biệt các nhiệm vụ giữa việc quản trị Tài sản của Toà Thánh và Văn phòng thư ký kinh tế, trong nghĩa là cơ quan thứ nhất quản trị các tài sản và điều hành tài chánh; trong khi cơ quan thứ hai kiểm soát và canh chừng trên hoạt động quản trị và điều hành. Phần còn lại của Tự Sắc liệt kê ra các nhiệm vụ của hai cơ quan này. ĐTC cho biết ngài huỷ bỏ khoản 17 của Quy chế Văn phòng thư ký Kinh tế. Ngài tín thác việc thực thi cho các Bề trên của các cơ quan liên hệ. Các vấn đề nảy sinh sẽ tuỳ thuộc các quyết định của một vị đặc sứ của ĐTC và các cộng sự viên. ĐTC truyền thi hành tất cả những gì đã thiết định và công bố trên báo Quan sát viên Roma, trước khi được công bố trong sưu tập các tài liệu Tông Toà (SD 9-7-2016)
-------------------------------

 
DAO TAO MON DE # 283 = YEU NGUOI LAN CAN PDF Print E-mail

Chúa nhật XV Thường Niên C
HÃY YÊU NHƯ THẾ...
Đnl 30,10-14; Cl 1,15-20; Lc 10,25-37
Sir Launfal, một hiệp sĩ trẻ hào hùng. Một ngày nọ chàng hiệp sĩ lên đường đi truy tìm
chiếc chén thánh mà Chúa Giêsu đã sử dụng trong bữa tiệc ly. Khi chàng bắt đầu rời khỏi thành
phố ra đi thì gặp ngay một người cùi đang ngồi ăn xin bên vệ đường. Chạnh lòng thương, chàng
đã giúp cho người cùi một đồng, rồi ra đi.
Chàng tìm hoài tìm mãi, nhưng chẳng thấy chén thánh đâu !
Thất bại, chàng hiệp sĩ bèn lên ngựa quay trở về nhà. Lúc này chàng đã già hơn xưa sau
cuộc hành trình tìm kiếm thật gian khổ. Còn người cùi vẫn ngồi ăn xin ở chỗ cũ. Chàng hiệp sĩ
chẳng còn tiền bạc gì nữa để cho, anh chia sẻ với người cùi mảnh bánh vụn còn lại của anh. Ăn
xong, họ chẳng có gì để uống. Chàng hiệp sĩ bèn lấy cái tô của người cùi đi tìm nước cho người
cùi uống. Khi chàng bưng tô nước quay trở lại đưa cho người cùi thì người cùi đã biến thành
Chúa Giêsu và tô nước hoá nên chén thánh mà chàng đang đi tìm kiếm.
Cách hành xử của chàng hiệp sĩ giống cách hành xử của người Samaria trước người bị
nạn: là một người đáng thương cần được cứu giúp, và ông đã ra tay dù chính mình đang bân rộn
với sứ mạng...
"Hãy đi và làm như thế..." (Lc 10,37)
Chúa Giêsu nói với người thông luật nơi gương theo người Samaria, thấy người anh em
đồng loại xa lạ, dù không cùng gia tộc, lại là người bất đồng chứng kiến trong niềm tin, nhưng
trong cơn "hoạn nạn thập tử nhất sinh", anh đã dừng lại, băng bó vết thương, thanh toán mọi chi
phí cho chủ quán. Trong lúc Thầy tư tế lo việc dâng của lễ, Thầy Lêvi trợ tế trong các việc phụng
vụ, đã thấy người anh em cùng dân tộc, niềm tin trong cơn hoạn nạn trước đó, nhưng lại bỏ đi
qua...
Tình yêu mà Chúa Giêsu nói đến có hai chiều kích: Yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh
em. Việc tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa có lẽ chẳng ai thắc mắc. Còn chiều kích yêu mến với anh
em thì Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng khi mạc khải một tình yêu không biên giới nơi
tha nhân bằng dụ ngôn người Samaria nhân hậu (x. Lc 10,30-35).
Do những nguyên nhân về lịch sử và thực hành tôn giáo, người Samaria và người Do
Thái không ưa nhau, quan hệ giữa hai miền này rất căng thẳng đến nỗi họ không thể nói chuyện
với nhau. Người Samaria là những người cư ngụ trong miền Trung, khoảng đất giữa Giuđê và
Galilê, về phía tây sông Giođan. Họ chỉ chấp nhận Bộ Ngũ Thư là Kinh Thánh và đã xây một
đền thờ trên núi Garidim để thờ Giavê. Trong lúc người Do Thái hành hương về đền thờ
Giêrusalem. Với người Do Thái, người Samaria là lạc đạo, như Dân ngoại. Và người Samaria
cũng đáp lễ với người Do Thái cùng cách cư xử. Vì thế người phụ nữ thành Samaria khi đàm đạo
với Chúa Giêsu đã chất vấn sự khác biệt này và đặt vấn đề cách thờ phượng ở Giêrusalem hay tại
núi Garidim, ở đâu là việc thờ phượng chính đạo (x. Ga 4,21). Trước đó, chị cũng bày tỏ ngạc
nhiên khi Chúa Giêsu – người Do Thái xin chị là người Samaria nước uống, chị bối rối và trả lời:
"Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?". Các môn đệ
của Chúa là người Do Thái rất ngạc nhiên khi Chúa nói chuyện với người phụ nữ Samaria. Cũng
thể Tin Mừng Gioan đã khẳng định: "Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với người
Samaria" (x. Ga 4,1-42)
Vì thế, chúng ta hiểu cách hành xử một làng Samaria không tiếp đón Đức Giêsu và các
môn đệ hành hương về Giêrusalem (x. Lc 9,51-54).
Trong dụ ngôn Chúa Giêsu trình bày, người Samaria đã vượt qua ranh giới chủng tộc mà
con người đã tự tạo ra để ngăn cách tình anh em, xé rào những bất đồng để đến cứu nguy người
anh em Do Thái bị cướp, đánh đập nguy hiểm đến tính mạng. Chúa Giêsu cũng kêu gọi người
anh em Do Thái cũng hãy đáp lễ, xé rào hận thù, xóa bỏ ngăn cách của chủng tộc để đến với tha
nhân mà bước đầu tiên là anh em Samaria bên cạnh. Trước đó, Chúa Giêsu đã xé rào bằng tinh
thần đối thoại qua việc Chúa đã trao đổi với người phụ nữ Samaria, một hình ảnh tối kị trong
quan hệ Do Thái – Samaria.
Yêu thương anh em và anh em chính là tha nhân, bất cứ người nào ngoài ta dù khác biệt
dân tộc hay niềm tin, "Cứ làm như vậy là sẽ được sống" (Lc 10,28) như Chúa Giêsu đã truyền.
Hãy thi hành một tình yêu không biên giới đối với tất cả mọi người dù là người thân cận hay có
thù oán. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải yêu thương mọi người, kể cả những người không hợp với
mình và thù ghét mình (Mt 5,44).
Tình yêu mới: "Yêu không biên giới", là cơ bản trước mọi hành động của đời sống người
Kitô hữu như thánh Augustinô nói: "Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm". Tình yêu sẽ cho ta biết
ta phải làm gì. Không tình yêu, mọi hành động đều vô nghĩa. thánh Phaolô nói rất rõ: "Giả như
tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có
đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi" (1 Cr 13,3). Tình yêu không biên giới dành cho tha nhân
là dấu chứng cho tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, nếu có biên giới, tình yêu với Thiên
Chúa là giả dối, như thánh Gioan Tông đồ có viết: "Nếu ai nói: 'Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại
ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông
thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (1 Ga 4,20).
"Tôi phải làm gì để được sống đời đời", đó cũng là điều luôn thao thức trong tâm hồn tôi
tâm hồn bạn. Tiếng vang vọng lại trong cõi lòng "Hãy đi và làm như vậy" (Lc 10,37): Làm như
người Samaria nhân hậu, dám phá tan cái rào cản thù hiềm của ngăn cách chủng tộc, màu da,
ngôn ngữ để giúp người anh em trong lúc khốn cùng cần có người giúp đỡ. Làm như người
Samaria là thiệt thòi về thời gian, công sức, tiền của để cứu người anh em xa lạ có hiềm khích.
Làm như hiệp sĩ Sir Launfal luôn hết lòng với anh em, làm thành tâm tình của tình yêu luôn vang
vọng trong đời sống...
Thật thế, như Tagore tâm niệm:
"Tình yêu này là lời ca, lời ca đánh thức tôi. Lời ca dạy tôi những gì tôi đã học, chỉ cho
tôi những nẻo đường bí mật và những vì sao nơi chân trời của trái tim tôi" (Tagore – Lời
dâng).
Lm Vinh Sơn SCJ, Sài gòn 8/07/2017.

 
DAO TAO MON DE # 282 = PHUC HOI CONG ĐOAN PDF Print E-mail

UCAN China
india news
Indonesia news
ucanews.com

facebook

Tổng giáo phận Seoul tìm cách phục hồi các cộng đoàn Giáo hội cơ bản
Tổ chức tọa đàm, và chuẩn bị tổ chức hội thảo kỷ niệm 25 năm thành lập phong trào
Tags: Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản

July 8, 2016

Tin từ Hàn Quốc

Tổng giáo phận Seoul tìm cách phục hồi các cộng đoàn Giáo hội cơ bản thumbnail
Hoạt động của Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản (BEC) ở châu Á.

Tổng giáo phận Seoul đã tổ chức tọa đàm đầu tiên hôm 2-7 chuẩn bị cho hội thảo sắp tới mừng 25 năm thành lập các Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản (BEC) ở Hàn Quốc, sẽ diễn ra ngày 16-9-2017.

Khoảng 100 thành viên BEC từ các giáo xứ trong Seoul tham gia tọa đàm và chia sẻ về các hoạt động mục vụ của phong trào tại các giáo xứ và những thách đố mà các giáo xứ có thể đối mặt.

Cha Francis Chung Woll-ki, cựu giám đốc mục vụ của tổng giáo phận, cho biết sau lễ kỷ niệm 10 năm thành lập các BEC hồi năm 2004, niềm đam mê của các nhân viên BEC đã giảm xuống và con số các cuộc họp cũng giảm đi.

"Để tái sinh phong trào, chúng ta nên tổ chức các cuộc họp cấp giáo phận định kỳ, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác của BEC giữa các giáo xứ, đào tạo thêm các nhà hoạt động và những việc như thề", cha Chung cho biết.

Hội thảo sắp tới được mong đợi sẽ đưa ra thêm các biện pháp thực tế hơn cho phong trào.

--------------------------

 
DAO TAO MON DE # 281=THANH PHERO PHAOLO PDF Print E-mail

VƯỢT THẮNG KHÁC BIỆT ĐỂ THỐNG NHẤT
LỄ KÍNH THÁNH PHERO VÀ PHAOLO
Cv 12:1-11; 2Tm 4:6-8, 17-18; Mt 16:13-19
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Xuyên suốt hành trình Giáo Hội sơ khai, hai thánh Phero và Phaolo đã có nhiều khác biệt, nhưng các ngài đã vượt qua để thống nhất. Nhân ngày lễ kính thánh Phero và Phaolo, xin có vài suy tư về hai vị thánh cả cầm đầu Giáo Hội.

Hành trinh của Phero đi từ yếu đuối, chối Chúa đến mạnh mẽ cứng như "đá". Cuối cùng ngài đã làm chứng cho lòng trung thành của ngài bằng cái chết trện thập tự đầu lộn ngược xuống dưới. Hành trình của Phaolo đi từ mù quáng truy nã đạo Chúa và những người theo Chúa đến tuyên xưng nảy lửa Lời Chúa. Lời Chúa đã trở nên sống động trên toàn thế giới bằng ngòi bút của ngài.

Phero là biểu tượng của thống nhất trong Giáo Hội Kito Giáo. Phaolo là biểu tượng của tuyên xưng Lời Vàng Ngọc của Chúa Kito. Cả hai đều hăng say tuyên xưng Tin Mừng Chúa Giesu. Các ngài nhất quyết xếp đặt cho mỗi người một vị thế trong Giáo Hội. Các ngài trung thành với Chúa Kito cho đến chết và bằng chính cái chết của mình. Phero và Phaolo là nền móng vững chắc cho chúng ta. Các ngài là cột trụ của Giáo Hội chúng ta.

XÁC ĐỊNH CĂN TÍNH CHÚA GIESU VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI KITO HỮU

Bài Phúc Âm hôm nay (Mt 16:13-19) nói về một xác quyết, căn tính và mục đích của Chúa Gieu. Trên bước đường hành trình dài từ những vùng quen thuộc, Chúa Giesu và các môn đệ đi vào Caesarea Philippi, một vùng được Philip xây lên để làm trại lính cho quân đội La Mã. Đây là một thành phố với đủ loại kiến trúc, ngẫu tượng và nếp sống của một thị trấn văn minh Hy Mã. Đối với các tông đồ thì đây quả là một thành phố quá xa lạ sánh với những làng mạc và tỉnh ở vủng biển hồ của các ông.

Sắc dục và bạo động thì lan tràn trong những đền đài tôn giáo thờ thần Hy Lạp. Tại trung tâm quyền lực này với những cảnh tượng thờ cúng, ăn chơi phóng đáng và ma quái ấy, Chúa Giesu quay qua các môn đệ và hỏi các ông người ta nói Thầy là gì. Người ta thấy việc Thầy làm thế nào? Họ nghĩ Thầy là ai? Bị hỏi bất ngờ các ông không biết phái nói thế nào cho đúng, bèn moi trong đầu xem dân làng đánh cá của các ông họ bàn luận, nghĩ thế nào về Thầy mình để tìm câu trả lời mà chính Chúa Giesu cũng biết được phần nào rồi, trong đó có thái độ của chính tỉnh nhà Nazareth của Chúa đã khơi lại nỗi niềm đau buồn của Chúa.

Các môn đệ đã đưa ra một lô những danh hiệu mà người ta nghĩ về Chúa, mỗi danh hiệu đều nói lên những ước vọng riêng tư của họ. Có người nói Chúa là Elijah, vị thường đối đầu với chính quyền đương thời. Người khác nói Chúa là Jeremiah, đấng nghiêng về cuộc sống cá nhân, sống nội tâm nhiều hơn. Vượt lên trên tất cả những ý nghĩ đó, câu hỏi đặt ra cho các môn đệ -qua thời gian- hiện nay vẫn còn vang vọng là mổi Kito hữu chúng ta cần phải xác định Chúa Giesu là ai?

Mỗi người chúng ta qua cảm nghiệm quang cảnh thành Caesarea Philippi phải trả lời câu hỏi nhức nhối này của Chúa Giesu: "...Nhưng, các anh nói Thầy là ai?" Trách nhiệm và quyết định của chúng ta là gì khi tuyên xưng niềm tin của chúng ta nơi Chúa Giesu?

PHAOLO TRỞ LẠI TRÊN ĐƯỜNG ĐI DAMASCUS

Năm 35AD, Saulo là tên thệ phản trẻ thuộc phe tả, chống phá người Kito giáo một cách điên cuồng . Đọc Công Vụ Tông Đồ đoạn 7 chúng ta thấy ông hiện diện trong cuộc ném đá chết ông Stephano, vị tử đạo đầu tiên, dù ông không chính thức tham dự. Ít lâu sau đó Saulo được mạc khải đã cải đổi hoàn toàn cuộc sống.

Trên đường đi Damascus thị xã Syria để tiếp tục truy nã người Kito giáo, ông bị choáng mắt và mù. Sau đó Saulo được ủy nhiệm rao truyền Tin Mừng Chúa Kito mà nhiều người cho là một công tác vĩ đại. Nhưng ông cảm thấy không xứng đáng bèn rút lui về ở ẩn 3 năm tại "Arabia" để cấm phòng, suy tư và chiêm nghiệm trước khi ra đi thi hành sứ mệnh.

Cuộc di hành rộng lớn của ông từ đất liền qua biển cả đã đựợc kể lại trong những bức thư của ông đăng trong Tân Ước. Chính Phaolo kể cho chúng ta ngài bị ném đá, bị đánh bằng roi ba lần, bị đắm thuyền ba lần, bị đói khát hành hạ, bị mất ngủ nhiều đêm, bị cực khổ thử thách rất cam go. Bên cạnh những cực hình thể xác, ông còn gặp nhiều đau khổ tinh thần, chán nản, buồn phiền, lo lắng về những cộng đồng Kito Hữu yếu kém rải rắc nhiều nơi.

GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG Ở TRẦN THẾ CỦA PHERO VÀ PHAOLO

Theo chuyện kể, khi bị bắt hai ông Phero và Phaolo bị nhốt chung trong một phòng. Vào sáng ngày 29 tháng 6, hai ông được đem ra khỏi nhà tù Mamertine ở Roma để ngăn cách. Phero bị mang đến Circus Nero và bị treo trên thập tự đầu lộn xuống đất và Phaolo mang về phia Đông Roma, vùng mà ngày nay gọi là Tre Fontane. Qua mọi thời đại ai cũng đã đặc biệt chú ý đến những lời từ biệt của hai ông, lúc ôm nhau giã từ lần cuối. Câu chuyện ghi lại những lời từ biệt như sau:

-Phaolo nói với Phero: "Bằng an ở cùng anh, đá nền tảng của mọi thánh đường, chủ chiên của các chiên lớn và chiên con của chúa Kito"
-Phero nói với Phaolo: "Hãy đi bằng an, kẻ truyền giảng cuộc sống đạo đức, đấng trung gian và thủ lãnh ơn cứu độ của người công chính!"

Sự liên kết giữa hai vị thánh này rất rõ ràng nơi hai Vương Cung Thánh Đường. Hoàng đế Constantine đã xây sáu thánh đường Kito giáo đầu tiên tại Roma từ năm 313 đến 328, trong số những thánh đường này có Vương Cung Thánh Đường Phero và Vương Cung Thánh Đường Phaolo, riêng thánh đường Phaolo thì nằm ở bên ngoài Tường Thành.

Năm thánh đường quay mặt về hướng Đông như bình thường các thánh đường vào thời đó. Riêng Thánh Đường Phaolo quay mặt về hướng Tây. Như vậy bao trùm khắp thị trấn là hai Vương Cung Thánh Đường Phero và Phaolo đều nhìn xuống đàn chiên lớn và chiên con của Roma.

Bài giảng của thánh Gioan Chrysostom rất thích hợp vào ngày lễ lớn mửng hai thánh cả Phero và Phaolo. Bài giảng nói về bức thư thánh Phaolo gửi cho tín hữu Roma. Sau khi diễn tả ước vọng nồng nhiệt của
mình muốn viếng mộ thánh Phaolo và được nhìn thấy những hạt bụi của thân xác thánh Phaolo, Chrysostom đã kêu lên:

" Lúc này đây, ai có thể cho tôi được nằm cạnh xác thánh Phaolo và gắn chặt nó vào mộ ngài để tôi có thể nhìn thấy được những hạt bụi của thân xác ngài đã hoàn thành nỗi niềm đớn đau của Chúa Kito, một thân xác đã mang những dấu vết của Chúa và đem gieo trồng khắp muôn nơi....những hạt bụi từ miệng ngài đã phát ra Lời Chúa...
Không phải chỉ có miệng ngài thôi, tôi còn muốn nhìn thấy cát bụi của trái tim ngài mà chính thực phải gọi là trái tim thế giới, suối nguồn tràn đầy ơn phúc và là yếu tố căn bản của sự sống chúng tôi...Một trái tim rộng lớn có thể bao phủ toàn thể mọi thị trấn, mọi dân tộc và mọi quốc gia....trái tim cao hơn cả trời, rộng hơn cả thế giới, sáng chói hơn cả mặt trời, nóng bỏng hơn cả lửa cháy, mạnh mẽ hơn cả sắt đá khiến sông ngòi cũng phát nguồn từ đó....một trái tim đã yêu mến Chúa Kito hơn bất cứ ai đã từng mến yêu.
Tôi ước ao có thể nhìn thấy được những hạt bụi của những bàn tay của ngài, bàn tay bị xiềng xích, qua đó Chúa Thánh Thần đã đổ muôn ngàn ân sủng để ngài viết lên bức thánh thư này gửi cho tín hữu Roma.
Tôi ước ao có thể nhìn thấy được những hạt bụi của đôi mắt đã bị mù nhưng được chữa lành do ơn cứu chuộc thế giới, đôi mắt xứng đáng được nhìn thấy Chúa Kito nơi thân xác mình, đôi mắt đã trông thấy mọi sự ở trần thế nhưng lại không nhìn, đôi mắt đã nhìn mọi sự nhưng lại không thấy, đôi mắt không biết ngủ nhưng đã nhìn thấu suốt giữa đêm khuya.
Tôi cũng ước ao có thể nhìn thấy được những hạt bụi của đôi chân ngài đã chạy xuyên qua thế giới mà không biết mệt mỏi, đôi chân đã bị cùm khi cả nhà tù rung động, đôi chân đã đi qua cả những vùng hoang dã lẫn những miền đông dân, đôi chân đã bước đi biết bao nhiêu là cuộc hành trình....
Tôi ước ao có thể nhìn thấy ngôi mộ trong đó có những khí cụ của sự công chính, khí giới của ánh sáng, tứ chi của thánh Phaolo, tứ chi mà hiện nay vẫn còn sống nhưng trong cuộc sống thì đã chết ( vì tội lỗ)...tứ chi trong tứ chi của Chúa Kito, mặc lấy hình hài Chúa Kito, gắn bó với Chúa Thánh Thần, nối liền với kính sợ Thiên Chúa, mang những dấu vết của Chúa Kito.
(St John Chrysostom, "Homily 32 on the Epistle to the Romans," Migne, Patrologia Graeca 60, 678-80)

CÁC NGÀI CÙNG NHAU XÂY DỰNG GIÁO HỘI

Như những người bình thường hai ông Phero và Phaolo đôi khi cũng tránh mặt không gặp nhau. Phero là dân thuyền chài đánh cá ở vùng biển hồ Galilee, Phaolo là dân trí thức có nền giáo dục Hy Lạp. Nhưng Chúa Giesu đã liên kết hai người lại với nhau như dấu hiệu của Hội Thánh Chúa trong đó toàn thể nhân loại có thể tìm thấy một "mái nhà mới". Hai ông cùng làm việc với nhau để xây dựng Giáo Hội. Hai ông cùng là chứng nhân của Chúa Kito. Hai ông cùng nhau đau khổ cái chết của Chúa, cái chết do bàn tay của những kẻ sát nhân. Phaolo chết bằng gươm. Phero chết bị treo trên thập tự đầu lộn ngược xuống đất. Hai ông đã vượt thắng mọi khác biệt để đi tới thống nhất. Các ngài dạy cho chúng ta hiểu được chiều sâu của thề hứa và cương quyết của Kito Giáo. Đối với Phero và Phaolo, suy gẫm và hiểu rõ căn tính thực sự của Chúa Giesu đã thúc đẩy các ông có những đòi hỏi và trách nhiệm mới.

Vào buổi kết thúc Năm Thánh Phaolo ngày 29 tháng 6 năm 2009, Đức Benedict XVI đã mời gọi những người Công Giáo hãy nhìn lại cuộc sống của mình và tự hỏi:

-"Tôi đã xác định và cương quyết truyền bá Niềm Tin Công Giáo như Thánh Phaolo chưa? Tôi đã loan truyền Niềm Tin bằng cả gương sáng và bàn luận với bạn bè, đồng nghiệp và những người quen biết, ngay cả những ưu tư về mình chưa? Tôi quan niệm thế nào về trách niệm phải có của tôi để tuyên xưng niềm tin vào chúa Giesu Kito?

Fleming Island, Florida
June 29, 2016
NTC

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 42