mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3883
mod_vvisit_counterHôm Qua9215
mod_vvisit_counterTuần Này22064
mod_vvisit_counterTuần Trước58477
mod_vvisit_counterTháng Này243180
mod_vvisit_counterTháng Trước297597
mod_vvisit_counterTất cả13920783

We have: 120 guests online
Your IP: 100.25.214.89
 , 
Today: Jun 25, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH -THƯ GỞI TÍN HỮU PDF Print E-mail

Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới

(Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39)

www.conggiaovietnam.net This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

HDGMVN 2019Small.jpg

THƯ GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA VỀ MỘT SỐ LƯU Ý TRONG ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

Anh Chị Em thân mến,

Trong Hội nghị thường niên kỳ I-2019 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng tôi đã nhận được những thông tin, thắc mắc, kể cả những lời than phiền và phê phán về một số sự việc liên quan đến cử hành Phụng vụ và các thực hành đạo đức tại nơi này, nơi khác. Nay, với trách nhiệm mục tử, chúng tôi gửi thư này đến anh chị em, để đồng hành và giúp anh chị em sống đức tin một cách đúng đắn theo giáo huấn của Hội Thánh.

1. Nhìn chung, có thể nói, sinh hoạt đạo đức của người Công giáo Việt Nam rất phong phú, được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Chuyên tâm tham dự các cử hành Phụng vụ, tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Lòng Chúa thương xót, sùng kính Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh, đặc biệt Thánh Cả Giuse và các Thánh Tử đạo Việt Nam. Cùng với tâm tình yêu mến Chúa, người tín hữu Việt Nam cũng thể hiện lòng hiếu thảo với các bậc tiền nhân, qua việc cầu nguyện cho người đã qua đời, chăm sóc mộ phần và tưởng nhớ trong các ngày giỗ.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy hiện nay đang tồn tại và có chiều hướng gia tăng những hiện tượng và những cách thực hành đạo đức không xứng hợp, cụ thể là: tin dị đoan, ma thuật, bói toán; phổ biến những tư tưởng lệch lạc như Sứ điệp từ trời, Lòng Mẹ thương xót...; lạm dụng một số cử hành đạo đức của Hội Thánh như Lòng Chúa thương xót, đặc sủng chữa lành bệnh nhân, đặt tay cầu nguyện...

Trước tình hình trên, dựa trên giáo huấn của Hội Thánh, nhất là hai văn kiện “Hướng dẫn về lòng đạo đức bình dân và Phụng vụ” của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích (Tháng 12-2001), và “Hướng dẫn việc cầu nguyện xin ơn chữa lành” của Bộ Giáo lý Đức tin (Tháng 9-2000), chúng tôi muốn đưa ra những định hướng mục vụ sau đây.

Về Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân:

2. Phụng vụ là việc thờ phượng chính thức của Hội Thánh, do các thừa tác viên hợp pháp cử hành nhân danh Hội Thánh, nhằm tôn vinh Thiên Chúa, xây dựng Hội Thánh và thánh hoá con người. Cử hành Phụng vụ gồm Bảy Bí tích, Phụng vụ Các giờ kinh và các Á bí tích.

Lòng đạo đức bình dân thường bị hiểu sai là “thứ yếu”, là “tầm thường”, nhưng thật ra, đây là cảm thức đức tin của Dân Chúa, được Chúa Thánh Thần soi dẫn, biểu hiện qua các hình thức đạo đức đa dạng, tiếp nhận những tinh hoa của các nền văn hoá. Các việc đạo đức bình dân cũng thường gắn kết với Năm Phụng vụ, qua việc tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi, sùng kính Đức Maria và các Thánh, cầu nguyện cho người đã qua đời, hành hương đến các nơi thánh...

Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân có mối tương quan rất chặt chẽ với nhau. Phụng vụ là nguồn mạch và chóp đỉnh của lòng đạo đức bình dân. Vì thế, lòng đạo đức bình dân phải hoà hợp với Phụng vụ, bắt nguồn từ Phụng vụ và dẫn người tín hữu đến với Chúa.

3. Trong thực tế, tại một số địa phương, kỷ luật Phụng vụ chưa được tôn trọng đúng mực. Những thực hành đạo đức bình dân cũng có những lạm dụng tùy tiện, gây hoang mang nơi người tín hữu và xáo trộn nơi các cộng đoàn đức tin. Vì thế, để chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc và cổ võ lòng đạo đức bình dân chân chính, chúng tôi xin anh chị em lưu ý những điểm sau đây:

- Phải tránh những thực hành mê tín dị đoan, bói toán, lợi dụng lòng tin đơn thành của người tín hữu để trục lợi.

- Đừng quá coi trọng những hình thức đạo đức bình dân mà coi nhẹ cử hành Phụng vụ.

- Không được sử dụng, phổ biến các tài liệu có nội dung nghịch với đức tin Kitô giáo.

- Phải tôn trọng kỷ luật của Hội Thánh và quy định của Đấng Bản quyền liên quan đến Phụng vụ và việc đạo đức bình dân. Những kinh nguyện được sử dụng công khai và thường xuyên phải được Bản quyền địa phương cho phép.

- Cần hòa hợp những biểu hiện bên ngoài của lòng đạo đức bình dân với tình cảm chân thật trong tâm hồn, tránh những thực hành theo thói quen, trống rỗng.

Về đặc sủng chữa lành:

4. Bệnh tật luôn là một sự dữ. Vì thế, việc chữa lành bệnh tật là dấu chỉ sứ vụ giải thoát của Đấng Cứu thế và là biểu tượng của sự chữa lành con người toàn diện, gồm thân xác và linh hồn. Trong cuộc sống trần thế, Đức Kitô đã chữa lành nhiều người khỏi nhiều thứ bệnh tật, thế nhưng ơn giải thoát cuối cùng lại được thực hiện bằng chính sự đau khổ tự nguyện của Chúa trong cuộc tử nạn và phục sinh. Như vậy, Ngài mang đến cho bệnh tật và đau khổ của con người một ý nghĩa và giá trị cứu độ: Mọi người đều có thể hiệp thông vào sự đau khổ sinh ơn cứu độ của Ngài bằng việc chấp nhận những bệnh tật và đau khổ của bản thân mình.

Theo ý hướng đó, Hội Thánh luôn cầu nguyện xin ơn sức khoẻ cho các bệnh nhân, đặc biệt qua Thánh lễ, Kinh nguyện và Bí tích Xức dầu Bệnh nhân. Chúa cũng ban cho Hội Thánh đặc sủng chữa lành bệnh tật. Tuy nhiên đặc sủng này được trao ban không phải vì vinh quang và trục lợi cá nhân, nhưng để xác nhận và củng cố sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Cũng thế, việc cầu nguyện không loại trừ việc sử dụng những phương pháp y học để phục hồi sức khỏe và gìn giữ sự sống cho bệnh nhân.

5. Hiện nay, tại một số nơi đang có những hình thức cầu nguyện và đặt tay xin ơn chữa lành. Về vấn đề này, chúng tôi xin anh chị em lưu ý mấy điểm sau đây:

- Mọi tín hữu đều được tự do cầu nguyện xin ơn chữa lành. Tuy nhiên, khi việc cầu nguyện xin ơn chữa lành có tính cách cộng đồng, nhất là trong nhà thờ, thì cần được các thừa tác viên có chức thánh hướng dẫn.

- Các Kinh nguyện Phụng vụ xin ơn chữa lành phải được cử hành theo đúng Sách Nghi Thức Rôma. Trong giáo phận, mọi cử hành Phụng vụ xin ơn chữa lành đều phải có phép rõ ràng của Bản quyền Giáo phận. Giám mục giáo phận có quyền ban hành các quy luật cho những cử hành Phụng vụ xin ơn chữa lành, cũng như từ chối những cử hành này vì lý do chính đáng.

- Không được phép đưa các nghi thức chữa lành vào Thánh lễ và các cử hành Phụng vụ. Không được lẫn lộn các buổi cầu nguyện không thuộc Phụng vụ với những cử hành Phụng vụ. Phải tránh các hình thức mang tính cuồng loạn, chứng nhân giả, diễn kịch hoặc kích động cảm xúc.

- Việc sử dụng các phương tiện truyền thông, nhất là trực tuyến, trong các cử hành xin ơn chữa lành, thuộc Phụng vụ hoặc không thuộc Phụng vụ, đều phải được Giám mục giáo phận cho phép.

- Trong các cử hành xin ơn chữa lành, nếu ơn được chữa lành xảy ra cho người tham dự, thì phải giữ sự thận trọng cần thiết và tường trình sự việc cho thẩm quyền Hội Thánh.

- Giám mục giáo phận có bổn phận giám sát việc thực hành các buổi cầu nguyện xin ơn chữa lành; đồng thời có quyền can thiệp khi có những lạm dụng gây tai tiếng cho cộng đoàn tín hữu.

Anh chị em thân mến,

Lòng đạo bình dân được nhìn nhận là “kho tàng vô giá của Hội Thánh” (Đức Bênêđictô XVI). Tuy nhiên, vì lòng đạo bình dân nghiêng về cảm nhận hơn là suy lý, quan tâm đến biểu tượng hơn là lô-gích, nên cũng dễ bị lệch lạc, kể cả bị khai thác vì chủ ý trục lợi. Đồng thời, tại một số nơi, những hình thức cầu nguyện và đặt tay xin ơn chữa lành chưa thể hiện ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm cứu độ trong Đức Kitô và sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Chính vì thế, Hội Thánh đưa ra những chỉ dẫn được trình bày tóm tắt trong thư này. Xin anh chị em vui lòng đón nhận, suy nghĩ và chia sẻ cho nhau những chỉ dẫn trên, để các thực hành đạo đức của chúng ta thật sự “diễn tả niềm khao khát Thiên Chúa”, đem lại an bình trong tâm hồn, duy trì sự hiệp nhất trong Hội Thánh, và là khí cụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.

Chúng ta cùng nhìn lên Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, xin Mẹ dẫn dắt chúng ta sống đức tin tông truyền và nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em.

Làm tại trụ sở Hội đồng Giám mục Việt Nam,
Lễ kính Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ Hội Thánh, ngày 10 tháng 06 năm 2019.

ChuKyNgan.jpg

Nguồn:

http://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hoi-dong-giam-muc-viet-nam-thu-gui-cong-dong-dan-chua-ve-mot-so-luu-y-trong-doi-song-duc-tin-35055

CAO TẤN TĨNH

--------------------------

------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - THANH GIUSE PHÓ MỘC CÔNG CHÍNH PDF Print E-mail

BÁC PHÓ MỘC CÔNG CHÍNH

Trần Mỹ Duyệt

- Bác Giuse ơi! Bố cháu bảo cháu sang nói với bác là chiếc cày của bố cháu vừa bị gẫy rồi. Bác qua sửa lại cho bố cháu bây giờ được không?

- Anh Giuse này! Chiều nay hay ngày mai ghé qua nhà tôi sửa lại 2 cái răng bừa hộ tôi được không? Khổ quá! Vừa bừa được vài luống thì gẫy bố nó 2 cái răng. Mùa màng đến nơi rồi mà có cái bừa còn gẫy răng thì làm ăn được cái gì nữa. Anh qua nhà tôi, chúng ta uống với nhau bát nước và nói truyện cho vui trong lúc anh sửa cho tôi chiếc bừa nha.

- Chị Maria ơi! Anh Giuse có ở nhà không vậy? Chị nói hộ anh ấy qua sửa cho nhà tôi cái chạn được không. Chán quá chị ơi! Chuột bọ như rươi mà có cái chạn thì cánh cửa lại xộc xà xộc xệch, rơi ra rơi vào như cái răng ông lão vậy. Chị nhớ nói với anh ấy sang sớm sớm một tí nhé.

THÁNH GIA TRONG BỐI CẢNH SỐNG THƯỜNG NGÀY

Bạn có nghĩa là những mẩu chuyện trao đổi như trên có xẩy ra trong đời sống thường ngày của gia đình Thánh Gia không? Tôi thì tôi cho là có, vì Giuse, Maria, và Giêsu trong một cái làng quê nhỏ bé như Nazareth thì ai mà chả biết. Nhất nữa Thánh Giuse lại làm nghề thợ mộc, thì hôm này người này, ngày mai người khác chạy qua, chạy lại nhờ vả, và trao đổi với nhau là chuyện rất bình thường. Chẳng vậy mà sau này khi Chúa Giêsu xuất hiện, rao giảng Tin Mừng về nước trời, thấy người trở nên lợi khẩu và thông thái, người ta đã bở ngỡ hỏi nhau: “Mọi người đều ca ngợi ngài. Họ bỡ ngỡ về những lời từ miệng ngài. Họ hỏi nhau: ‘Há chẳng phải là con ông Giuse sao?’” (Lc 4:22). Họ thắc mắc như thế vì có bao giờ thấy Giêsu đi học đâu. Con nhà nghèo thì làm gì có tiền của mà đi học.

Điều khiến chúng ta suy nghĩ không phải là cái nghề thợ mộc, và cuộc sống nghèo của Thánh Giuse hay của gia đình Ngài; cũng không phải cái tính ít nói, và trầm ngâm của Ngài. Nhưng là địa vị cao cả của Ngài trước mặt Thiên Chúa và con người. Đối với những người Do Thái đương thời và những người cùng làng quán với Ngài có lẽ không nhìn ra điều này. Nhưng đối với những người như Têrêsa D’avilla thì “trên thiên đàng, Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Ý chỉ quyền năng can thiệp và thế giá của Ngài trước tòa Thiên Chúa. Bởi vì khi còn sống, Chúa Giêsu đã được Ngài đích thân nuôi dưỡng và giáo dục. Cả Mẹ Maria cũng được Ngài bao bọc, che chở và yêu thương, săn sóc. Nhưng ngoài cảm tình vợ chồng, cha mẹ và con cái giữa Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu ra, Ngài còn có gì khác hơn để được Thiên Chúa yêu thương và loài người kính trọng không? Câu trả lời được tìm thấy trong Thánh Kinh. Thánh Kinh khi nói về Thánh Giuse và về đời sống nội tâm của Ngài đã ghi: “Giuse là ngưòi công chính” (Mt 1:19). Và chỉ bằng ấy cũng đủ nói lên tất cả sự thánh đức cao vời của Ngài. Đấng mà Thiên Chúa đã tuyển chọn để trao phó Chúa Giêsu, Thiên Chúa Nhập Thể, và Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ nhân loại cho Ngài con sóc, gìn giữ và yêu mến.

Thật vậy, Thiên Chúa tôn vinh và coi trọng Thánh Giuse không phải chỉ vì dòng tộc Đavít, hoặc vì vai trò dưỡng phụ Chúa Giêsu, phu quân trồng trinh của Đức Maria. Thiên Chúa tôn vinh và yêu thương Thánh Giuse vì tấm lòng và ý chí công chính của Ngài nữa. Cũng như Đức Maria được làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Chúa Giêsu không phải vì đã sinh ra Chúa Giêsu, đã cho Chúa bú, nhưng vì đã thực hành và tuân giữ lời Chúa - đã công chính - trong tâm hồn và ý chí của Mẹ: “Ai là mẹ ta? Ai là anh em ta” (Mt 12:48), Chúa Giêsu đã hỏi người chung quanh như thế, và trong khi họ không hiểu phải trả lời như thế nào, thì Chúa đã bảo họ: “Ai thực hiện ý Cha Ta trên trời, người đó là anh, chị, em, và là mẹ ta” (Mt 12: 50).

Dĩ nhiên, khi nói những lời trên, Chúa Giêsu không phủ nhận vai trò làm mẹ của Đức Maria, cũng không phủ nhận mình là con của Đức Trinh Nữ Maria. Nhưng cao cả hơn thế, Chúa muốn đề cao cái cốt lõi “làm mẹ” của Đức Maria trong trường hợp này, là nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Một sự lắng nghe và thực hành đến độ khiến Thiên Chúa cũng cúi nhìn Mẹ: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng trinh nữ. Trinh nữ có phúc hơn mọi người nữ” (Lc 1: 28). Những lời này do chính miệng Tổng Thần Gabriel đã nói với Đức Mẹ trong ngày Truyền Tin.

Cũng một cách tương tự, khi Chúa Giêsu gọi Thánh Giuse là “cha” - bố hay ba - không chỉ vì Thánh Giuse thật sự là cha - người cha đồng trinh - đã có công nuôi dưỡng, che chở, và giáo dục mình, mà hơn thế nữa, vì Thánh Giuse đã lắng nghe, suy niệm, và thực hành lời Thiên Chúa. Vì lý do đó, khiến Ngài được trở thành cao cả, được tôn vinh không những ở trần gian, mà còn cả ở trên trời như lời Thánh Têrêsa D’avilla đã nhận định.

GIUSE CÔNG CHÍNH VÌ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

Bằng một cái nhìn vừa có tính cách thực tế, vừa tâm linh, chúng ta sẽ thấy ngay Thánh Giuse thật sự yêu mến, vâng giữa lời Thiên Chúa, nói một cách khác, đã công chính như thế nào. Thánh ký kể lại, trong biến cố Nhập Thể khi phải đối đầu với một vấn nạn không có lời giải thích, một vấn nạn mà trí khôn con người thật sự cảm thấy mâu thuẫn, thì Thánh Giuse đã can đảm, công chính thắng lướt tất cả vì lời của Thiên Chúa: “Hỡi Giuse đừng sợ. Hãy nhận lấy Maria về làm vợ của mình” (Mt 1:20). Chỉ một câu ấy thôi và khi biết được đó là ý Thiên Chúa, thì Ngài đã sẵn sàng bằng mọi giá hăm hở, vui vẻ, và yêu mến đi trọn con đường “đồng công” mà Thiên Chúa đã muốn Ngài và Đức Trinh Nữ Maria tham dự.

Có lẽ chúng ta cho rằng làm được như Thánh Giuse thì cũng dễ dàng, và ở vào hoàn cảnh của Ngài ai cũng có thể làm được. Nhưng nghĩ như vậy, thì vô tình ta coi thường sự phán xét của Thiên Chúa khi Ngài công nhận và gọi Thánh Giuse là “công chính”, và cũng coi thường thánh đức của Ngài.

Thật vậy, ở vào hoàn cảnh của Thánh Giuse, một người đàn ông tự trọng và biết coi trọng giá trị đạo đức, thì khi biết vị hôn thê của mình mang thai, mà cái thai ấy không phải là của chính mình thật sự cảm thấy lúng túng và khó xử. Và sự dằn vặt ấy đã đem đến ý nghĩa và quyết định “âm thầm” bỏ đi. Và chúng ta cũng có thể lý luận rằng, trên thực tế, hẳn cũng không thiếu những trường hợp người đàn ông bị đặt vào hoàn cảnh tương tự như Thánh Giuse. Họ cũng gặp những cắn rứt lương tâm và khó xử vậy. Trong những trường hợp như vậy, cũng có người đã im lặng, và cũng có người đã âm thầm bỏ trốn hoặc tha thứ. Nhưng im lặng, tha thứ và chấp nhận đến mức độ nào, có được Thiên Chúa cho là công chính hay không hẳn là hiếm có. Trường hợp của Thánh Giuse, rõ ràng Thánh Kinh thừa nhận là công chính: “Giuse là người công chính” (Mt 1:19). Cái đó chính là sự thánh thiện cao vời, và do lòng yêu mến Thiên Chúa thẳm sâu của Thánh Giuse. Người đời chỉ có thể suy tôn, học hỏi, và cố gắng bắt chước, nhưng hẳn là không mấy kẻ đạt được mức thánh đức như Thánh Giuse đã đạt tới.

GIUSE CÔNG CHÍNH VÌ THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Chúng ta hãy đưa tầm nhìn vào mái ấm gia đình Thánh Gia. Ở đó Mẹ Maria, thiếu nữ Sion tuyệt vời, bông hồng rực rỡ của vườn hồng Giêricô. Một thiếu nữ đẹp, và hiền thục, mặn mà như vậy, nhưng khi ở với Mẹ Maria, không chỉ bằng tình bằng hữu, anh chị em, tình cảm bình thường của con người đối với con người, mà bằng tình nghĩa vợ chồng, tình cảm, và tình nghĩa của hai người yêu nhau, vậy mà Thánh Giuse vẫn giữ được sự công chính tức là thánh đức từ trong tư tưởng, lời nói và việc làm trong cuộc đời hôn nhân thánh thiện ấy thì đủ biết Ngài công chính đến mực độ nào. Đủ biết Ngài yêu mến Thiên Chúa và vâng giữ lời Thiên Chúa đến mực độ nào. Người trần gian thật không ai dám nghĩ mình có thể và làm được như vậy. Dĩ nhiên, Thánh Giuse làm được việc này cũng là nhờ ơn Chúa, nhưng sự cộng tác vào ơn thánh của Ngài đã cho ta nhận thấy sự công chính của Ngài như thế nào!!!

Chúng ta có nghĩ rằng Thánh Giuse thiếu óc cầu tiến và không có tinh thần trách nhiệm với gia đình Ngài không? Cứ nhìn vào cảnh nghèo túng, đơn sơ của Thánh Gia, có thể nhiều người sẽ cho rằng việc Thánh Gia nghèo vì thiếu tiền có thể đến từ tâm thức an phận và buông xuôi của Thánh Giuse. Ngài không có óc cầu tiến. Không biết cách làm giầu. Và không biết cách xoay xở. Thấy nghề thợ mộc khó kiếm ăn, sao không đổi nghề. Sao không kiếm cho mình một nghề khác.

Hoặc chúng ta lại thắc mắc mà tự hỏi rằng, không biết ở trong hoàn cảnh như vậy Thánh Giuse nghĩ thế nào, nhất là khi Ngài biết vợ mình là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, và con mình, Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể. Tâm lý sống của Ngài lúc ấy như thế nào? Có mặc cảm tự ty, hay trở thành khô khan, vô cảm. Mặc cảm tự ty, trái tim không cảm, chắc chắn không có nơi trường hợp một tâm hồn công chính. Vậy thì, để hóa giải và để sống trong sạch, vui tươi, và bình an trong trường hợp Ngài, Thánh Giuse đã phải có lòng yêu mến Thiên Chúa nồng nàn biết bao để có thể chấp nhận hoàn cảnh sống của mình và của gia đình mình. Và Ngài đã phải tập luyện mình như thế nào để giữ được tâm lý sống thanh thản và trưởng thành khi phải đối diện với một cảnh sống như vậy. Sự khôn ngoan, thánh đức của Ngài ở chỗ là trong mọi cảnh ngộ vẫn giữ được lòng mình bình an và kính sợ Thiên Chúa.

BÁC PHÓ MỘC CÔNG CHÍNH

Tóm lại, khi xưng tụng Thánh Giuse là người công chính, Thiên Chúa muốn chúng ta hiểu rằng vai trò làm cha “đồng trinh” hay dưỡng phụ Đức Kitô, vai trò làm chồng đồng trinh của Đức Maria của Thánh Giuse là một đặc ân xứng đáng mà Thiên Chúa ban cho chỉ một mình Thánh Giuse, và cũng chỉ mình Ngài xứng đáng với những danh hiệu ấy. Bù lại, Thánh nhân đã phải chứng tỏ mình thật sự xứng đáng và xứng hợp với danh hiệu ấy không phải bằng những hình thức và lối sống bên ngoài, mà bằng việc chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và môi trường Thiên Chúa đã đặt Ngài vào.

Trường hợp của Thánh Giuse môi trường ấy là một gia đình và cuộc sống đơn sơ, bình dị và nghèo nàn. Một cuộc sống như tất cả mọi người chúng ta, và có thể kém hơn nhiều người về mặt tài chính, địa vị, học thức và nghề nghiệp. Điều này cũng đưa chúng ta đến một nhận định khác về cuộc đời, đó là cái làm cho con người trở nên cao cả không lệ thuộc hình thức và sắc thái bên ngoài, mà cốt lõi là tấm lòng và ý chí bên trong. Thánh Giuse đã nên gương cho chúng ta không phải vì Ngài cao cả và địa vị trước mặt người đời, cho bằng Ngài đã trở nên cao cả trước mặt Thiên Chúa. Bởi vì Ngài đã trở nên công chính bằng việc lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Ngài, một bác phó công chính.

-------------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - CN8TN-C PDF Print E-mail

Thấy rõ và hiểu rõ cho chính mình trước đã.

Chúa Nhật thứ 8 mùa thường niên Phúc Âm thánh Luca 6:39-49

Chúa Nhật hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của mùa thường niên trước khi chúng mình bước vào Mùa Chay, sẽ được bắt đầu với thứ Tư Lễ Tro trong tuần này. Các bài đọc phụng vụ hôm nay sẽ giúp chúng mình bước vào mùa Chay với một tâm tình sẵn sàng thay đổi những lối sống, những hành động và suy nghĩ của mỗi người chúng mình để phù hợp với nhũng tâm tình trở về “xé lòng đừng xé áo”, và đổi mới của Mùa Chay Thánh.

Bài đọc một cho chúng mình thấy những vấn nạn của những lời nói. Những yểu điểm, những tật xấu có thể sẽ được nhận ra qua những ngôn từ được phát ra từ môi miệng của mỗi người. Điều này có lẽ sẽ giúp chúng mình nghĩ đến bí tích hòa giải nhiều hơn nữa.

Bài Phúc Âm của Thánh Luca cho chúng mình thấy rất nhiều hình ảnh sống động và phong phú. Đầu tiên là hình ảnh một người mù cố gắng hướng dẫn người mù khác. Thứ đến, một người kia chỉ nhìn thấy “cái rác” nhỏ trong mắt người khác, mà không nhận ra “cái xà gỗ” lớn trong mắt của chính mình. Rồi đến hình ảnh của một cặp cây, một cây tốt và một cây xấu. Qua những hình ảnh này, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy suy nghĩ xem chúng nó đã và sẽ giúp họ những gì và như thế nào khi họ đi theo Ngài. Còn chúng mình là những người Công Giáo cũng tin và theo Thầy Giêsu thì sao?? Những hình ảnh nào trong bài Phúc Âm đã gợi lên những ân sủng cùng những điều thách đố gì cho mỗi cá nhân, cho nhóm và cho cộng đoàn giáo xứ của chúng mình!?

Chúa Giêsu đã hỏi những câu hỏi tu đức khi Ngài nói: "Người mù có thể dẫn người mù được chăng? Cả hai lại không sa xuống hố ư?” (Luca 6:39). Ý tưởng về một người mù hướng dẫn một người mù khác nói cho chúng mình biết rằng chúng mình được kêu gọi hãy cẩn thận khi chọn lựa khi đi theo một người nào đó. Đây quả thật là một sứ điệp quan trọng cho cuộc sống, vì ngoài kia nơi xã hội mà chúng mình đang sinh sống có quá nhiều những “sư phụ” hay những chuyên gia. Những “sư phụ” này sẵn sàng thống trị và hướng dẫn những vấn đề trong đời sống của chúng mình như: tâm linh, tài chánh, y tế, gia đình, kinh doanh, v.v... Thường thì những “sư phụ” này theo đuổi những kế hoạch ích kỷ và bí mật của họ. Và có thể là họ cũng bị mù quáng nhưng họ vẫn muốn lợi dụng sự mỏng dòn, nhẹ dạ của mỗi người chúng mình. Vì thế, thật là quan trọng khi chúng mình chọn lựa một người hướng dẫn, nhất là người hướng dẫn về tinh thần và tâm linh. Chúa Giêsu cũng nói rất rõ ràng rằng chúng mình không thể làm công việc cố vấn hướng dẫn người khác trừ khi chúng mình đã thấy rõ và hiểu rõ về vấn đề nào đó cho chính mình trước đã.

Trong bài Phúc Âm Chúa Giêsu nói: "Sao ngươi nhìn cái rác trong mắt anh em, còn cái đà trong chính mắt ngươi thì lại không thấy? ...Hỡi kẻ giả hình, hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã,.” (LK 6;41-42) Những câu nói như thế này liên quan đến những thái độ phán xét. Ai mà tự đặt mình lên làm quan tòa xét đoán những lỗi lầm của người khác thì trước tiên phải ý thức được rằng chính họ cũng là những người có đầy những khuyết điểm và thiếu xót. Chúa Giêsu không bao giờ có ý định khuyên chúng mình hãy chấp nhận một cách mù quáng tất cả những gì chúng mình nghe và thấy trong cuộc sống. Nhưng Chúa Giêsu đã nói “Qua những hoa trái của họ các con sẽ nhận ra được họ.” Câu nói này khẳng định cho chúng mình rằng mọi sự, mọi việc cần phải trải qua một cuộc suy nghĩ chính chắn; nhờ đó chúng mình sẽ phân biệt được những tốt xấu của sự việc. Việc nhận định này rất quan trọng và cần thiết vì chúng mình đang sống trong một thời đại mà có qúa nhiều điều tốt lẫn lộn với những điều xấu rất khó phân biệt. Tuy nhiên nếu không cẩn thận trong việc nhận định sẽ dẫn đền một việc tai hại có thể làm cho chúng mình trở nên những người “tự phụ, tự mãn,” nếu chúng minh không có lòng khiêm hạ tự nhận mình cũng là những người “tội lỗi.” Qua kinh nghiệm của cuộc sống chúng mình thấy rằng “phe tả cũng không được miễn trừ khỏi những sự vương mắc vào những tội lỗi của tính kiêu ngạo, xét đoán như bên phe hữu.”

Bài đọc một của Chúa Nhật tuần này thách đố chúng mình hãy để ý đến những suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng mình. Các giáo huấn của Phúc Âm trong Phúc Âm thánh Luca mời gọi chúng mình hai điều: Thứ nhất hãy cẩn thận khi chọn người hướng dẫn, đặc biệt là về vấn đề tâm linh. Thứ hai quan trọng hơn nữa là hãy luôn xét đoán chính bản thân mình trước đã rồi hãy xét đoán đến người khác.

Qua cầu nguyện chúng mình hãy cầu xin Thiên Chúa tách chúng mình ra khỏi sự nhẹ dạ và những tội lỗi của sự vô cảm, xét đoán và xin Ngài ban ơn để chúng mình có thể bước đi trên con đường đức tin sâu đậm hơn trong hành trình của mùa Chay sắp tởi trong năm nay.

Phó tế Giuse Nguyễn Xuân Văn

------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - BẢN ÁN CHỐNG LẠI HỒNG Y PELL PDF Print E-mail

Tóm tắt những điều người Công Giáo cần biết về bản án chống lại Đức Hồng Y George Pell
Đặng Tự Do
28/Feb/2019
1. Người ta tố cáo Đức Hồng Y chuyện gì?

Thưa: Một người, toà án giấu tên, chỉ gọi bằng bí danh là AA, cáo buộc rằng sau thánh lễ ngày Chúa Nhật 15 tháng 12, hoặc là 22 tháng 12, 1996, anh ta và một ca viên khác trong dàn hợp xướng trốn khỏi đám rước và lao vào phòng thánh của nhà thờ để uống rượu lễ, thì lúc đó Tổng Giám Mục Pell bước vào, cởi một phần áo lễ ra và buộc họ thực hiện khẩu dâm.

2. Chuyện đó có thể xảy ra được không?

Thưa: Không. Không thể nào xảy ra. Vì những lý do sau:

2.1 Đức Tổng Giám Mục Pell, cũng như hầu hết các linh mục tại Úc, luôn đứng bên ngoài thánh đường sau Thánh lễ để chào hỏi anh chị em giáo dân.

2.2 Lúc nào bên cạnh ngài cũng có vị trưởng ban nghi lễ Phụng Vụ đi kèm. Đức Ông Charles Portelli, vị phụ trách các nghi lễ Phụng Vụ của ngài, đã làm chứng rằng những cuộc tấn công không thể xảy ra bởi vì “Tôi đã ở bên ngài suốt thời gian ngài mặc áo lễ trong những ngày đó.”

2.3 Phòng thánh của nhà thờ chính tòa St. Patrick lúc nào cũng nhộn nhịp sau thánh lễ với ít nhất hàng chục người ra vào, dọn dẹp và thay áo. Ai đã từng đến nhà thờ này đều nhận ra phòng thánh này lúc nào cũng mở toang sau thánh lễ và có thể quan sát từ nhiều phía.

2.4 Tất cả các ca viên khác (bây giờ, tất nhiên, đã trưởng thành), cũng như giám đốc dàn hợp xướng và trợ lý của ông, các cựu thành viên đã trưởng thành khác của dàn hợp xướng, Đức Ông phụ trách các nghi lễ Phụng Vụ, và ông từ đều làm chứng, và từ lời chứng của họ, chúng ta biết được những điều này:

2.5 Ít nhất 40 người đã không hề thấy hai đứa trẻ trong dàn hợp xướng đột nhiên tách khỏi đám rước sau Thánh lễ.

2.6 Hai đứa trẻ trong dàn hợp xướng nói là bị lạm dụng sau đó không thể vào phòng tập hát, qua hai cánh cửa bị khóa, vì chúng không có thẻ an ninh.

2.7 Không có tin đồn cũng như không có bất kỳ bàn tán nào liên quan đến một biến cố tệ hại như vậy xảy ra từ đó và trong suốt mấy chục năm trời qua.

2.8 Trước phiên tòa, mẹ của người được cho là nạn nhân thứ hai, nay đã chết, cho biết con bà đã nói với bà trước khi qua đời rằng anh ta chưa bao giờ bị lạm dụng tính dục.

2.9 Trên hết là điều này: Là thành viên của Hồng Y đoàn của Hội Thánh Rôma và là một quan chức của Vatican, Đức Hồng Y có hộ chiếu ngoại giao của Vatican và quyền công dân của Quốc gia Thành Vatican. Nếu thực sự ngài đã phạm tội, ngài lẽ ra có thể ở lại trong vùng an toàn đặc miễn ngoại giao của Vatican, chính quyền Úc không thể chạm tới. Nhưng vì Đức Hồng Y Pell biết mình vô tội, nên ngài quyết tâm về quê nhà để bảo vệ danh dự của mình, của Giáo Hội và theo nghĩa rộng hơn, để bảo vệ hàng thập kỷ làm việc của ngài để tái xây dựng Giáo Hội Công Giáo ở Úc, nơi nhiều phần sống động vẫn còn nợ rất nhiều sự lãnh đạo và lòng can đảm của ngài.

3. Tiến trình xét xử ngài đã diễn ra như thế nào?

Thưa: 3.1 Cảnh sát Victoria đã bắt đầu một cuộc điều tra một năm trước khi có bất kỳ khiếu nại nào được đệ trình. Trong quá trình điều tra, cảnh sát đã lấy ra các quảng cáo trên báo để tìm kiếm thông tin về bất kỳ hành vi không đáng có nào với trẻ vị thành niên tại nhà thờ chính tòa St. Patrick ở Melbourne, dù chính quyền không có bất kỳ gợi ý nào về các hành vi sai trái tại đây.

3.2 Khi các cáo buộc đã được đặt ra và Đức Hồng Y Pell đã tạm thời rời bỏ chức vụ của mình ở Vatican để trở về Úc, một phiên điều trần để xác định liệu các cáo buộc có đáng được đưa ra xét xử hay không đã được tổ chức. Chánh án trong phiên điều trần đã loại bỏ nhiều cáo buộc vô lý nhưng cho phép điều tra tiếp một số khác - mặc dù bà nhận thấy rằng mình sẽ không bỏ phiếu kết án đối với các các cáo buộc đó, nhưng dù sao bà nghĩ những cáo buộc ấy cũng nên được xét xử cho sáng tỏ giữa bầu không khí công cộng sôi sục có thể so sánh với Salem, và Massachusetts, trong cơn cuồng loạn săn lùng phù thủy vào thế kỷ XVII

3.3 Một phiên tòa hình sự đã được tổ chức. Trong phiên tòa đó, và sau khi các luật sư bào chữa cho Đức Hồng Y Pell chứng minh rằng những tội ác mà ngài bị cáo buộc không thể nào xảy ra nổi, một bồi thẩm đoàn đã bỏ phiếu 10-2 để tha bổng ngài; nhưng điều đó có nghĩa là một bồi thẩm đoàn bế tắc đã xảy ra (một số thành viên đã khóc khi phán quyết của họ được đọc [vì họ không thuyết phục được 2 người kia đồng thuận với họ]) và như thế tòa đã quyết định xét xử lại. Cần nhớ rằng bồi thẩm đoàn được chọn từ các công dân bình thường của Úc.

3.4 Tại phiên tòa xét xử lại, các luật sư bào chữa cho Đức Hồng Y Pell đã chứng minh rằng có mười điều không thể tin được và không thể xảy ra đồng thời trùng hợp như thế trong cáo buộc chống lại ngài.

Tuy không có thêm bất kỳ tố cáo nào mới từ nguyên cáo hay từ bất cứ người nào khác về bất cứ hành vi sai trái nào của ngài từ lần xử trước đến lần xử này; và đồng thời cảnh sát cũng bị chỉ ra là đã sơ suất trong việc điều tra hiện trường vụ án được cho là nơi xảy ra lạm dụng; thế mà bồi thẩm đoàn thứ hai đã bỏ phiếu 12-0 để kết tội ngài!

Thẩm phán phiên tòa cũng có vẻ ngạc nhiên khi nghe phán quyết. Có thể vì thế mà phán quyết đã được đưa ra từ tháng 12, nhưng đến bây giờ mới công bố.

Sự khác biệt một trời một vực giữa phán quyết của bồi thẩm đoàn đầu tiên, và của bồi thẩm đoàn thứ hai, cho thấy giữa cơn xiếc truyền thông xung quanh Đức Hồng Y Pell, một phiên tòa xét xử công bằng không có các yếu tố ý thức hệ, không có lòng căm thù Công Giáo, là hầu như không thể.

3.5 Các luật sư của Hồng Y Pell, tất nhiên, sẽ kháng cáo. Kháng cáo sẽ được xét xử bởi một hội đồng xét xử gồm các thẩm phán cao cấp, là những người có thể quyết định rằng bản án vừa qua “unsafe verdict”, tức là một “phán quyết không an toàn” mà bồi thẩm đoàn không thể đạt được một cách hợp lý trên cơ sở các bằng chứng đáng tin cậy – và nếu như thế phản quyết vừa qua chống lại Đức Hồng Y Pell là vô hiệu và bị hủy bỏ.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho ngài và cho công lý. Ngày nay người ta nói nhiều về công lý dành cho các nạn nhân bị hàng giáo sĩ lạm dụng tính dục. Nói đúng lắm. Nhưng, còn công lý dành cho các linh mục thì sao? Bao nhiêu các linh mục bị bề trên ép phải “cúi đầu nhận tội” để bề trên lo liệu giải quyết “êm đẹp” các tố cáo sai trái nhằm mục đích duy nhất là moi tiền thì sao? Còn những linh mục không làm gì cả đi khơi khơi ngoài đường bị nhổ vào mặt, bị chửi thề, bị buông lời xúc xiểm thì sao?

-----------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - NGƯỜI GIÁO LÝ VIÊN PDF Print E-mail

Khi người dạy giáo lý có đời sống nội tâm,
chính Chúa Giêsu hướng dẫn họ
CHI TRAN CHUYỂN 20-2-19

Một giáo sĩ điều khiển Hội Dòng Nữ Tu dạy giáo lý, ngày kia nói với bà bề trên sở tại:
- "Thưa bà, tôi nghĩ nên cho chị X...nghỉ dạy giáo lý ít nhất là một năm."
Bà bề trên không đồng ý:
- "Nhưng thưa Cha, Cha quá rõ. Chị X... là người có biệt tài chỉ huy. Với tài khôn khéo, chị đã lôi kéo được các trẻ khắp vùng ngoại ô đấy. Không cho chị ấy dạy giáo lý, tức là bỏ rơi một số lớn thiếu nhi."
Vị giáo sĩ này liền đưa ra nhận xét:
- "Tôi đã ngồi dự lớp giáo lý của chị này dạy rồi. Chị làm cho thiếu nhi ham thích, nhưng bằng phương pháp quá nhân loại. Sau một năm tập lại để được huấn luyện kỹ về đời nội tâm hơn, chị đó sẽ thánh hoá bản thân, và nhờ lòng nhiệt thành, nhờ tài khéo léo, sẽ thánh hoá thiếu nhi. Nhưng hiện tại, tôi dám chắc chị ấy là trở lực cho tác dụng trực tiếp của Chúa Giêsu nơi linh hồn các em đang sửa soạn rước lễ lần đầu. Chắc bà lấy điều tôi yêu cầu làm phiền lòng. Vậy được! Tôi dàn xếp thế này... Tôi biết chị N... là một linh hồn có đời nội tâm khá, nhưng kém tài. Bà hãy xin Bề Trên Cả sai chị đó đến đây ít lâu. Rồi mỗi giờ dạy giáo lý, cho chị X... đến dạy 15 phút để cho bà khỏi lo các em bỏ học, sau đó, chị X... sẽ rút lui hoàn toàn. Lúc đó, bà sẽ thấy các em biết cầu nguyện, ca hát cách sốt sắng hơn nhiều. Sự cầm trí và vâng lời của chúng sẽ phản chiếu tính cách siêu nhiên hơn. Đó là hàn thử biểu để đo lường."
Nửa tháng sau, bà bề trên cũng nghiệm thấy chị N... dạy giáo lý một mình và số trẻ em lại đông hơn. Lúc này, chính Chúa Giêsu dạy giáo lý qua lời chị. Từ cặp mắt, cử chỉ, tính hiền lành, dịu dàng, cho tới cách làm Dấu Thánh Giá, điệu giọng, tất cả đều phản chiếu Chúa Giêsu.
Chị X... có tài tô điểm, làm những gì buồn tẻ nhất thành ra vui vẻ. Nhưng Chị N... còn đi xa hơn. Đành rằng chị vẫn cố gắng sửa soạn bài, cắt nghĩa và giảng hết sức rõ rệt, nhưng bí quyết trổi vượt trong lời chị giảng bảo, là nhiệm cảm. Chính nhờ nhiệm cảm này, các linh hồn thấy mình được tiếp xúc với Chúa Giêsu.
Trong lớp giáo lý của chị N..., có kém phần vui vẻ nhộn nhịp, ít có những cái nhìn sửng sốt, ít sự say mê thường được gây nên do những bài diễn thuyết vô cùng hấp dẫn của những nhà hùng biện hay là câu truyện rất cảm kích về một cuộc chiến đấu gay go.
Trái lại, với một thái độ chăm chỉ, trầm tĩnh, thiếu nhi ngồi trong lớp như trong thánh đường. Không cần áp dụng phương thế nhân loại nào để giúp chúng khỏi chia trí, chán nản nữa. Vậy ở giữa các em, phải chăng có một sức hấp dẫn huyền nhiệm nào?
Chúng tôi dám quả quyết đó là ảnh hưởng do Chúa Giêsu trực tiếp gây ra. Vì một linh hồn nội tâm cắt nghĩa giáo lý, chính là cái đàn huyền cầm vang âm thanh dưới ngón tay nhạc sĩ thần linh. Và không một nghệ thuật gia nào, dầu xuất sắc đến đâu, có thể so sánh với tác dụng của Chúa Giêsu được. (Hồn Tông Đồ)

gpvinhlong
-------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 44