Người Tín Hữu Trưởng Thành
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6
mod_vvisit_counterHôm Qua7908
mod_vvisit_counterTuần Này30801
mod_vvisit_counterTuần Trước54108
mod_vvisit_counterTháng Này186124
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11150717

We have: 109 guests online
Your IP: 54.225.31.188
 , 
Today: Jun 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH-DUC TIN&BAT BO PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Jun 19 at 7:21 AM

Năm các Thánh Tử đạo VN

ĐỨC TIN VÀ SỰ BẮT BỚ

Người Kitô hữu luôn bị đặt giữa những thử thách nhưng chẳng bao giờ họ thua cuộc. Những bắt bớ chẳng thể nào huỷ diệt được đức tin; trái lại, càng làm cho nó lớn mạnh hơn.

Niềm tin Kitô giáo và những bắt bớ xưa đến nay luôn đi với nhau như hai người bạn đồng hành. Đức Giêsu, uy phong và hiển hách là vậy, nhưng ngay từ lúc giáng thế cho đến khi từ giã cõi đời, đã phải đối diện với không biết bao nhiêu chống đối từ người khác. Cái chết của Ngài là một minh chứng hùng hồn hơn cả về những ganh ghét mà người đời dành cho Ngài và cho giáo lý của Ngài. Người ta không thể thắng được Ngài trong những cuộc đối chất, người ta không thể phủ nhận những việc tốt Ngài làm, người ta không thể giả vờ như không biết những phép lạ Ngài thực thi, người ta không thể giấu được nỗi sợ hãi khi đứng trước Ngài... thế nên, người ta đố kỵ và cố sức làm mọi thứ để dồn Ngài vào chỗ chết.
Bước theo chân Thầy, các môn đệ cũng lăn mình vào vùng trời sứ mạng. Gặt hái được biết bao thành công, nhưng các ông thể thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của sự ác. Các ông đưa nhiều người về với Chúa bao nhiêu thì sự ganh ghét mà giới cầm quyền dành cho các ông cũng lớn bấy nhiêu. Dĩ nhiên, những người này chẳng thể dễ dàng chấp nhận cho một tôn giáo lạ lẫm phát triển bừng bừng như vậy. Vì như thế, họ sẽ mất dần ảnh hưởng, mất đi quyền lợi, mất cả chỗ đứng. Như một phương thức tự vệ, họ dùng hết mọi cách để ngăn chặn "thứ tôn giáo" này. Họ thuyết phục không được thì dùng đến bạo lực. Họ đánh đập không xong thì dùng đến ngục tù. Sau tất cả, họ dồn mọi điều tai tiếng về cho các môn đệ và những người tin theo Chúa, lấy cớ đó để thủ tiêu từng người. Cuộc bách hại trên diện rộng bắt đầu, máu và nước mắt không ngừng chảy xuống.
Khi niềm tin vào Đức Kitô vừa được gieo vãi ở mảnh đất cháu tiên con rồng này, nó đã sớm đâm rễ rồi trổ sinh hoa trái. Chỉ với một tấm lòng đơn sơ, cha ông chúng ta đã đón nhận giáo lý yêu thương của Chúa và thực thi nó ở mực độ cao nhất. Phần lớn trong số họ chẳng phải là những thần học gia, cũng chẳng phải những người với bộ óc siêu phàm. Có những mầu nhiệm cao siêu vượt trên tầm hiểu biết của họ. Nhưng một khi đức tin đã thấm vào lòng, chẳng gông cùm, xiềng xích, hay gươm đao nào có thể diệt được nó. Những con người Việt Nam năm xưa lại được sống kinh nghiệm của Chúa mình, một kinh nghiệm đau thương và thập giá. Họ đón nhận nó như một cái gì đó tất yếu phải kèm theo của việc tin vào Chúa. Họ nuôi dưỡng đức tin của mình trong bùn lầy tối đen của xã hội. Rồi người ta có thể giết chết thân xác họ, chứ cũng chẳng thể làm gì được hơn. Niềm tin đơn sơ, mạnh mẽ nhưng son sắt ấy vẫn cứ đứng vững vàng giữa bao chông chênh, ngày ngày vươn cao hơn nữa bất chấp những bắt bớ xung quanh đang rình chờ.
Năm tháng qua đi, thấm thoát cũng đã hơn 2000 năm rồi, chẳng có thời nào mà đức tin Kitô giáo không bị người ta đưa ra bỡn cợt, đùa giỡn, chà đạp, khinh khi và đàn áp. Nơi nào nhẹ nhất thì cũng bị người ta xỉa xói bằng lời lẽ hay bằng hình ảnh xúc phạm. Nơi nào nặng hơn thì người ta cho người Kitô hữu một viên đạn hay một nhát kiếm vào đầu. Tiếng khóc than ai oán của những bà mẹ trong vụ thảm sát các trẻ nhỏ mà vua Hêrôđê thực hiện năm xưa như vẫn đang còn đó, chẳng bao giờ ngừng. Nhiều người đã chấp nhận chết để giữ vững niềm tin, còn những ai muốn sống niềm tin, thì phải khăn gói lên đường để đi tìm một mảnh đất khác. Nơi nào có bóng dáng người Kitô hữu, nơi đó có bắt bớ đến thăm. Cây thập giá của Giêsu luôn theo họ trên từng ngóc ngách.
Dù vậy, hạt giống Chúa gieo vào lòng đất, vẫn ngày càng lớn lên, đủ sức vươn xa để cho chim trời đến trú ngụ, chứ không vì những bắt bớ mà lụi tàn đi. Những chống đối mà thế lực bạo tàn dành cho người Kitô hữu không những không làm cho họ quỵ ngã mà còn giúp họ mạnh mẽ hơn. Ở một phương diện nào đó, ta có thể nói rằng chính những bắt bớ ấy lại làm cho đức tin của người Kitô hữu thêm trưởng thành, thêm cứng cáp, thêm tinh tuyền và quý giá. Người ta sẽ biết đức tin của mình mạnh đến đâu khi đối diện với thử thách. Đức tin là một viên ngọc quý, người ta phải đánh đổi mọi thứ mới có được. Đức tin cũng không đơn thuần là chút cảm xúc hay lòng mộ mến bâng quơ. Gương của hàng trăm ngàn người Việt Nam tử đạo đã cho chúng ta thấy rằng niềm tin vào Đức Giêsu không phải là một cái gì đó xa lạ bên ngoài, nhưng là chính cuộc sống của họ, là căn tính của họ, là cái mà họ không thể thiếu khi sống trên đời này. Niềm tin Kitô giáo cũng hệt như ngọn lửa cháy bừng; ngọn cuồng phong bắt bớ cứ ngỡ là nếu tấn công vào thì sẽ dập tắt được nó, nhưng gió càng thổi, ngọn lửa càng cháy mạnh thêm nữa. Đã hơn 400 trôi qua rồi, người Việt Nam dù đã trải qua đủ loại bắt bớ, nhưng máu của các anh hùng tử đạo đã tưới gội mảnh đất khô cằn và làm bừng dậy những bông lúa đức tin thơm ngon. Đến bây giờ, bông lúa ấy vẫn không ngừng cho ra những hạt lúa tốt.
Người Kitô hữu luôn bị đặt giữa những thử thách nhưng chẳng bao giờ họ thua cuộc. Những bắt bớ chẳng thể nào huỷ diệt được đức tin; trái lại, càng làm cho nó lớn mạnh hơn. Các Tông Đồ năm xưa cũng như phần lớn các nhà truyền giáo đều kết thúc cuộc đời mình bằng cái chết thương tâm, nhưng chẳng bao giờ những cái chết ấy bị xem là thất bại, vì nếu nó là thất bại, thì cũng chẳng có chuyện niềm tin Kitô lại được loan truyền cho đến tận bây giờ. Giữa những bách hại, các Kitô hữu càng xích lại gần nhau, họ được nhắc nhớ về ý nghĩa và giá trị niềm tin mà họ đang nắm giữ. Bạo tàn luôn có nét hùng hồn và cứ ngỡ mình chiến thắng nhưng nó đã bị chính nỗi sợ giết chết mình từ bên trong. Những kẻ từng đưa tay lên đóng nhát đinh thật mạnh vào thân thể Chúa tưởng là mình có thể dùng sức mạnh để uy hiếp hay huỷ diệt người khác. Nhưng người chấp nhận lấy cái chết để làm chứng cho tình yêu và sẵn sàng nói lên lời tha thứ mới là kẻ chiến thắng thật sự.
Ba mươi năm nhân ngày các anh hùng Việt Nam tử đạo được Giáo Hội tuyên thánh, ta lại được gợi nhớ về sự chiến thắng oai hùng của thập giá Đức Giêsu. Giáo Hội Chúa đang còn lữ thứ và chắc chắn sẽ còn chịu nhiều thử thách gian nan. Nhưng người Kitô hữu vẫn không hề nao núng vì luôn tìm thấy được sức mạnh nơi chính Đấng đã chết và phục sinh, cũng như nơi sức hoạt động phong phú và mãnh liệt của Thánh Thần.

Giáo Hội sẵn sàng lên tiếng vì công bình nhưng không bao giờ giải quyết mọi chuyện bằng bạo lực vì Giáo Hội – nghe theo lời dạy của Thầy Chí Thánh – không hề có vũ trang, không tích trữ vũ khí. Như Giêsu đã dùng tình yêu của mình để chiếu sáng thế gian thế nào, từng người Kitô hữu cũng được mời gọi để noi gương Thầy như vậy. Đó là vũ khí mạnh mẽ nhất của họ và không một cường bạo nào của thế gian có thể chiến thắng được. Người đời cứ hả hê phô diễn trò cười của mình qua những nhạo báng và bắt bớ; còn người Kitô hữu thì vui niềm vui bất diệt trong Thiên Chúa của mình.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ (dongten.net)

---------------------------------

 
NGOI TIN HUU TRUONG THANH -DUNG BAO THU PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Jun 18 at 1:51 AM

Ðừng báo thù.
18/06 – Thứ Hai tuần 11 thường niên.
"Thầy bảo các con: đừng chống cự lại với kẻ hung ác".

Lời Chúa: Mt 5, 38-42
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con đã nghe bảo: "Mắt đền mắt, răng đền răng".
Còn Thầy, Thầy bảo các con: đừng chống cự lại với kẻ hung ác; trái lại, nếu ai vả má bên phải của con, thì hãy đưa má bên kia cho nó nữa. Và ai muốn kiện con để đoạt áo trong của con, thì hãy trao cho nó cả áo choàng nữa. Và ai bắt con đi một dặm, thì con hãy đi với nó hai dặm. Ai xin, thì con hãy cho. Ai muốn vay mượn, thì con đừng khước từ".

Suy Niệm-CHIA SẺ-SỐNG : Ðừng báo thù

      *FORGIVENESS IS HEALING -THA THỨ LÀ CHỮA LÀNH CẢ BẠN VÀ TÔI*


"Mắt đền mắt, răng đền răng", đó là công thức của luật báo thù. Người ta xúc phạm đến tôi bao nhiêu, tôi phải làm lại cho người đó bấy nhiêu. Kẻ lý luận như thế là dựa trên sự công bằng, nhưng đây là sự công bằng theo mức độ của loài người. Luật trả thù này đã được ghi chép thành văn trong bộ luật của vua xứ Babylon năm 1750 TCN. Trong Bộ Ngũ Kinh, người ta cũng có thể đọc thấy vài công thức của luật trả thù này, và đó là sự bất toàn của Luật Môsê thời Cựu Ước.


Nhưng luật trả thù này không những có trong những bộ luật lâu đời, mà còn nằm trong tâm hồn con người mọi thời. Chúa Giêsu muốn nhắc cho các môn đệ Ngài xưa cũng như nay, là cần phải sẵn sàng dập tắt ngay nơi bản thân mầm mống của bạo động: "Ðừng chống cự người ác". Ngài nhấn mạnh đến tinh thần mà người môn đệ phải có, đó là tinh thần tha thứ, vượt qua điều anh em xúc phạm đến mình.

Ðây là hình thức cao cả của tình yêu Kitô: yêu thương một cách nhưng không, không đòi lại điều gì, cũng không chờ đợi điều gì. Như vậy câu nói của Chúa Giêsu: "Ai muốn lấy áo trong của con, thì hãy cho nó cả áo ngoài" không phải là thái độ thụ động, mà là thái độ tích cực sống yêu thương tha thứ như Chúa đã nêu gương từ trên Thập giá khi Ngài cầu nguyện:

"Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm". Chúa Giêsu đã yêu thương và tha thứ đến cùng, và Ngài dạy chúng ta sống theo gương Ngài, nếu chúng ta muốn trở nên môn đệ đích thực của Ngài.


*CAC BẠN CÙNG CẦU NGUYỆN VÀ THỰC HÀNH LỜI Lời HÁT Kinh Hòa bình VỚI CẢ TRÁI TIM của thánh Phanxicô Assisiô:

Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn u sầu.
(Trích trong 'Mỗi Ngày Một Tin Vui')

----------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONGTHANH - THANH CLARA- PDF Print E-mail

Kim Vu < This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

                          THÁNH CLARA
>
> Thánh Clara là thiếu nữ xinh đẹp của một gia đình giầu có ở Assisi. Khi mười tám tuổi, được khích động bởi một bài giảng của Thánh Phanxicô Assisi, ngài cương quyết noi gương các tu sĩ Phanxicô, thề sống khó nghèo, tận hiến cho Thiên Chúa.
>
> Cộng đoàn nhỏ bé ấy dần dà được biết đến dưới tên Các Chị Em Hèn Mọn (các tu sĩ Phanxicô là Anh Em Hèn Mọn). Các nữ tu trong dòng tận tụy trong việc cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân và thi hành việc bác ái cho người nghèo và người bị ruồng bỏ.
>
> Họ sống theo một quy luật khắc khổ hơn bất cứ nữ tu hội nào khác trong thời ấy, và tuyệt đối khó nghèo, cả về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ đi chân đất, không có giường, mà nằm trên các khúc gỗ được kết lại và chăn mền là vỏ cây gai dệt thành. Gió mưa tha hồ lọt qua các vết nứt ở mái nhà cũng như vách gỗ. Họ ăn rất ít và không bao giờ ăn thịt. Thực phẩm của họ là tất cả những gì xin được.
>
> Thật vậy, Thiên Chúa đã gìn giữ họ khỏi sự nguy hiểm khi bọn lính hung dữ đến tấn công Assisi và dự định bố ráp tu viện này trước hết. Lúc ấy, dù đang đau nặng, Thánh Clara đã gắng gượng quỳ xuống trước cổng, tay nâng Mình Thánh trong mặt nhật và ngài cầu xin, "Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các nữ tu mà con không thể nào bảo vệ nổi." Sau đó, dường như có tiếng trả lời: "Ta sẽ luôn gìn giữ họ," và đồng thời ngay lúc ấy, quân lính cảm thấy vô cùng sợ hãi và họ chạy tán loạn.
>
> "Happy moment, seek God.
> Quiet moment, worship God.
> Painful moment, trust God.
> Every moment, thank God."
>
> Tuyet Van
> --
> You received this message because you are subscribed to the Google Groups "Linh Thao Tin Yeu" group.
------------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH- DOI VOI NGUOI NGHEO PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
May 30 at 10:14 AM

NHU CẦU PHẢI CHIA SẺ SỰ GIÀU CÓ CỦA MÌNH VỚI NGƯỜI NGHÈO

Các bạn luôn luôn, cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Người nghèo cần ta, nhưng ta cũng cần họ nữa.

Chúng ta cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Của cải tích trữ luôn luôn làm hủ bại những người khư khư giữ nó. Bất kỳ tặng vật nào không được chia sẻ đều sẽ lên men chua thối. Nếu chúng ta không quãng đại với những ơn ích của mình thì rồi chúng ta sẽ trở nên ghen tỵ trong cay đắng và cuối cùng là trở nên chua chát và đố kỵ.

Những châm ngôn trên đều nói lên cùng một lời cảnh báo là chúng ta chỉ có thể lành mạnh nếu biết chia sẻ của cải giàu có của mình với người khác. Điều này nhắc cho chúng ta biết mình phải biết trao tặng cho người nghèo, không phải vì lý do đơn giản là họ cần chúng, dù họ cần thật, nhưng là nếu không làm thế, chúng ta sẽ không thể sống lành mạnh được. Khi trao tặng cho người nghèo, thì đó là lúc chúng ta thực thi cả lòng nhân lẫn công lý, nhưng đó cũng mang lại lợi ích riêng lành mạnh cho mình, cụ thể chúng ta sẽ không sống lành mạnh hay hạnh phúc nếu không chia sẻ sự giàu có, dưới mọi hình thức, của chúng ta với người nghèo. Sự thật này ghi đậm bên trong cảm nghiệm của mỗi người và trong tất cả mọi truyền thống đức tin và đạo đức đích thực.

Ví dụ: Từ kinh nghiệm, chúng ta biết rằng khi trao tặng những gì mình có cho người khác, chúng ta cảm nghiệm được một niềm vui trong cuộc sống, còn khi ích kỷ thu tích hay canh giữ các sở hữu của mình thì chúng ta sẽ ngày càng lo lắng và bồn chồn đến hoang tưởng. Văn hóa của người da đỏ ở Mỹ luôn luôn đề cao nhận thức này, thể hiện trong lễ Potlatch của họ, nghĩa là dù họ tin rằng tất cả mọi người đều có quyền tư hữu, nhưng có một giới hạn thực tế cho mức độ tư hữu đó. Một khi tài sản của mình đạt đến một mức độ nhất định, chúng ta cần phải bắt đầu trao tặng nó đi, không phải vì người khác cần nó, nhưng vì sự lành mạnh và hạnh phúc của chúng ta sẽ bắt đầu lụi tàn nếu chúng ta cứ khư khư tích trữ tất cả của cải đó cho riêng mình.

Linh đạo Do Thái giáo cũng có quan niệm tương tự: Nhiều lần lặp đi lặp lại trong Thánh Kinh Do Thái, nói rằng khi một lãnh đạo tôn giáo hay một ngôn sứ nói cho dân Do Thái biết rằng họ là dân được chọn, là một quốc gia được chúc phúc đặc biệt, thì đều luôn luôn đi kèm lời nhắc nhở rằng, phúc lành này không chỉ cho riêng dân Do Thái mà thôi, nhưng là, qua họ, mà cho tất cả mọi dân trên mặt đất nữa. Trong linh đạo Do Thái, phúc lành luôn luôn là để tuôn đổ qua người nhận mà làm phong phú cho những người khác nữa. Đạo Hindu, Phật giáo, và Hồi giáo, theo cách riêng của mình, cũng xác nhận quan niệm này, cụ thể là chỉ khi trao tặng một số ơn ban của mình, chúng ta mới có thể giữ cho mình được lành mạnh.

Chúa Giêsu và Tin Mừng, tất nhiên cũng dạy chân lý này, hết lần này đến lần khác và không nhân nhượng. Ví dụ như trong Tin mừng theo thánh Luca, với lời dạy của Chúa Giêsu là con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời, Ngài cũng khen ngợi những người giàu biết sống quãng đại và chỉ lên án những người giàu bủn xỉn. Với thánh Luca, lòng quãng đại là mấu chốt để sống lành mạnh và là chìa khóa vào thiên đàng. Trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, khi đưa ra các câu hỏi trong cuộc phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một tiêu chuẩn trọn vẹn về những gì chúng ta phải trao ban cho người nghèo: Con có cho kẻ đói ăn? Con có cho kẻ khát uống?

Con có cho kẻ trần truồng áo mặc? Cuối cùng, và thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa, trong chuyện bà góa bỏ hai đồng cuối cùng của mình vào hòm tiền, Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta không chỉ đem cho người nghèo những của dư thừa, nhưng là cho những gì là thiết yếu sinh nhai của chúng ta. Các Tin Mừng và trọn cả Thánh Kinh đều mạnh mẽ lên tiếng đòi hỏi chúng phải trao tặng cho người nghèo, không phải vì họ cần của từ thiện của chúng ta, dù họ cần thật, nhưng là vì trao tặng là cách duy nhất để chúng ta giữ mình được lành mạnh.

Chúng ta cũng thấy cùng một thông điệp này, kiên quyết và lặp đi lặp lại, trong huấn giáo xã hội của Giáo hội Công giáo.

Từ Tông thư Tân Sự (Rerum Novarum) của giáo hoàng Lêô XIII năm 1891, cho đến tông thư Niềm vui Tin mừng (Evangelii Gaudium) mới đây của giáo hoàng Phanxicô, chúng ta đều nghe cùng một điệp khúc. Trong khi chúng ta có quyền về mặt luân lý để tư hữu, thì quyền đó không phải là tuyệt đối và nó chịu ảnh hưởng bởi một số điều khác, cụ thể là, chúng ta chỉ có quyền dư dả khi tất cả mọi người khác đều có được những gì thiết yếu cho cuộc sống. Vì thế, khi nhìn đến người nghèo luôn luôn phải đi kèm với nhìn lại của dư dả của chúng ta.

Hơn nữa, Huấn giáo Xã hội Công giáo cũng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa tạo thành địa cầu cho tất cả mọi người và sự thật này cũng giới hạn cách chúng ta xác định những gì thực sự là của sở hữu riêng của mình. Nói cho đúng, chúng ta là những người quản lý của cải của mình, hơn là chủ nhân của chúng. Và tất nhiên, ẩn bên trong tất cả những điều này là một nhận thức rằng chúng ta có thể sống đạo đức và lành mạnh chỉ khi biết đặt quyền tư hữu của mình liên đới với bức tranh lớn hơn bao gồm cả những người nghèo nữa.

CAC BẠN luôn luôn, cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Người nghèo cần ta, nhưng ta cũng cần họ nữa. Và như Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng rằng chúng ta sẽ được phán xét dựa theo những gì đã làm với người nghèo, thì như thế họ chính là giấy thông hành cho chúng ta vào thiên đàng. Và họ cũng là giấy thông hành cho chúng ta có được sự lành mạnh. Sự lành mạnh của chúng ta phụ thuộc vào việc chúng ta chia sẻ của sung túc của mình như thế nào.
Ronald Rolheiser,
J.B. Thái Hòa dịch

-------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH - LIVING IN SIN PDF Print E-mail

This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
May 27 at 11:46 PM


Living in Sin

Đôi giòng tiểu sử

John Shelby "Jack" Spong sinh ngày 16 tháng 6 năm 1931. Ông là vị Giám mục người Mỹ thuộc Giáo hội Anh giáo Êpiscôpan Hoa Kỳ. Từ 1979 đến năm 2000, ông làm Giám mục Địa phận Newark , thuộc tiểu bang New Jersey . Là thần-học-gia phóng-khoáng, đồng thời lại là bình-luận-gia và tác-giả viết nhiều sách về Đạo Chúa, ông kêu gọi mọi người hãy suy-tư trở về lại với niềm tin Kitô-giáo vốn xa rời chủ-thuyết hữu-thần và các tín-điều rải rác trong truyền-thống Đạo mình (*1).

Cuộc sống và sự-nghiệp ban đầu

John Shelby Spong sinh ra tại làng Charlotte , nằm ở mạn Bắc Carolina; và từ hồi còn trẻ đã theo học tại Trường Tiểu học Công-lập Charlotte . Lớn lên, ông gia-nhập Đại học miền Bắc Carolina ở Chapel Hill và không lâu sau đó được bầu vào nhóm danh-dự có tên là Phi Beta Kappa rồi tốt-nghiệp cử-nhân Văn Khoa năm 1952.

Sau đó, ông đậu Thạc-sĩ Thần-Học tại Học-viện Virginia vào năm 1955. Ông tốt-nghiệp Tiến-sĩ môn Thần-tính Chúa tại Trường Cao-Đẳng thánh Phaolô ở Virginia với học vị Tiến-sĩ Văn Chương do Trường Muhlenberg, Pennsylvania cấp.

Năm 2005, ông viết lên lời trần-tình hầu khẳng-định:

"Tôi đắm mình vào các môn uyên-thâm về Kinh thánh tại các học-viện như: Chủng-viện Hiệp-nhất ở New York City , Phân-khoa Thần tại Đại học Yale, Trường Thần-học Harvard và các Đại-học cao-cấp khác như Edinburg , Oxford và Cambridge ." (*2)

Giáo sư John Spong từng phục-vụ Giáo hội qua tư-cách Mục-sư Nhà thờ thánh Giuse ở Durham, miền Bắc Carolina suốt 2 năm liền từ 1955 đến 1957. Ông còn là Mục-sư trưởng Giáo xứ Calvary, thủ-phủ Tarboro, miền Bắc Carolina suốt từ năm 1957 đến 1965. Là, Mục-sư Nhà thờ thánh Gioan ở Lynchburg Virginia từ năm 1965 đến 1969, rồi làm Mục-sư Trưởng Nhà thờ Saint Paul ở Richmond Virginia từ năm 1969 đến 1976. Sau đó, ông làm Giáo sư thỉnh-giảng chuyên đứng lớp thần-học tại các cơ-quan, hội-quán thần-học tại các viện Triết/thần nổi tiếng của Hoa Kỳ, phần lớn thời-gian là Phân Khoa Thần học Trường Harvard đến năm 2000 thì về hưu. Là Giám mục hồi-hưu, ông còn là thành-viên Hội-đồng Giám-mục thuộc Giáo-hội Êpiscôpan của Hoa Kỳ (*3).

Gm John Spong mô-tả cuộc sống của chính ông như một hành-trình khởi từ chủ-thuyết phóng-khoáng và thần-học bảo-thủ vào thời trẻ cho đến tầm nhìn mở rộng của Đạo Chúa. Trong cuộc phỏng-vấn diễn ra hồi 2013, Gm John Spong được Đức cố Giám mục Anh-giáo là John Robinson dùng làm cố-vấn của ngài trong hành trình này và đã đọc các bài gây tranh-luận của tác-giả Robinson hồi thập-niên 1960s khiến ông trở thành người bạn rất thân lại có tương-quan mật-thiết với ngài trong nhiều năm dài. (*4)

Tác-giả John Spong cũng vinh-danh Gs Robinson như bậc thày từng mở nhiều trang giấy trong cuốn do ông viết vào năm 2002 có tên là A New Christianity for a New World.

Là người từng nhận nhiều giải-thưởng trong đó có giải Nhà Nhân-bản trong năm (*5), Gm John Spong là người đóng góp nhiều công-sức cho chương trình DVD Living the Question và từng là khách diễn-giải trên nhiều bang tần Truyền hình Quốc gia trong đó có chương trình Today Show, Politically Incorrect hợp-tác với Bill Maher, Dateline, 60 Minutes, và Larry King Live. Lịch-trình thỉnh-giảng đã khiến ông phải đi khắp nơi trên thế-giới để hướng-dẫn và giảng-dạy. (*6)

Gm John Spong là họ hàng với cựu Nghị sĩ Đảng Dân chủ ở Virginia là William B. Spong, Jr. một chính-trị-gia từng đánh bại đương-kim Absalom Willis Robertson, cha đẻ của diễn-giả Tin Mừng trên truyền-hình Pat Robertson.

Bằng nỗ-lực riêng-tư của mình, ông liên-đới chặt chẽ với Giáo-hội Hiệp-nhất (*7).

Theo tin từ Giáo-phận Êpiscôpan Newark cho biết, thì Gm John Spong đã bị trụy tim mạch trước hôm ông tham-gia diễn-thuyết tại Marquette , Michigan vào Thứ Bảy 10/9/2016 (*8).

------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 41