mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2496
mod_vvisit_counterHôm Qua9006
mod_vvisit_counterTuần Này2496
mod_vvisit_counterTuần Trước64276
mod_vvisit_counterTháng Này153269
mod_vvisit_counterTháng Trước108912
mod_vvisit_counterTất cả14236925

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH -KHI THAM DỰ THÁNH LỄ PDF Print E-mail

NHỮNG LƯU Ý KHI THAM DỰ THÁNH LỄ NGƯỜI CÔNG GIÁO CẦN PHẢI NHỚ ....

1.ĐỪNG ĐI TRỄ. Hãy nhớ Thiên Chúa luôn chờ đợi bạn để đong đầy tình yêu c��a Người trong bạn, để nói với bạn, và để tha thứ cho bạn.

2. ĐỪNG ĂN MẶC KHÔNG PHÙ HỢP. Hãy ý tứ, vì danh dự của chính mình, và vì tôn trọng cả người khác.

3. ĐỪNG VÀO NHÀ THỜ MÀ KHÔNG CHÀO CHÚA. Khi đến nhà thờ, hãy làm dấu Thánh Giá. Thiên Chúa đang thực sự ở đó, Người vui mừng khi gặp bạn. Hãy cảm ơn Người đã mời bạn đến.

4. ĐỪNG CẢM THẤY UỂ OẢI KHI PHẢI CÚI MÌNH HAY BÁI QUỲ.
Khi đi ngang trước bàn thờ, hãy cúi chào, vì bàn thờ là hình ảnh của Đức Kitô. Khi đi ngang nhà tạm, hãy bái quỳ, vì Đức Kitô đang ở trong đó.

5. ĐỪNG NHAI KẸO CAO SU, ĂN HAY UỐNG BẤT CỨ GÌ KHI ĐANG TRONG THÁNH LỄ. Chỉ nước lã là chấp nhận được nếu sức khoẻ đòi hỏi.

6. ĐỪNG VƯƠN VAI HAY NGỒI NHOÀI TRÊN GHẾ TỰA.
Tư thế của bạn thể hiện rõ thái độ của bạn trước Chúa.

7. KHÔNG CẦN BỔ SUNG BẤT CỨ "CÂU PHỤ THÊM" NÀO VÀO CÁC BÀI ĐỌC VÀ THÁNH VỊNH. Nghĩa là, đừng đọc các dòng chữ đỏ, đừng đọc "Bài đọc 1" hay "Thánh vịnh đáp ca."

8. ĐỪNG LÀM DẤU THÁNH GIÁ "NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN" TRƯỚC KHI NGHE TIN MỪNG. Chỉ làm ba dấu Thánh giá nhỏ trên trán, trên miệng và trên ngực, để cầu xin Lời Chúa ở lại trong tư tưởng, trong lời nói và trong con tim mình.

9. TUYỆT ĐỐI ĐỪNG BAO GIỜ NGỒI KHI LINH MỤC ĐANG TRUYỀN PHÉP. Nếu bạn không quỳ nổi, hãy đứng lên. Cử chỉ và thái độ của bạn khi Truyền Phép phải thể hiện sự Cung Kính và Tôn Thờ của bạn trước Chúa Giêsu đang hiện diện rất thật trong Thánh Thể trên bàn thờ.

10. HÃY CẦU NGUYỆN THẦM TRƯỚC CHÚA THÁNH THỂ KHI LINH MỤC TRUYỀN PHÉP. Nhiều người đọc thành tiếng lời nguyện "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con" của Thánh Tôma Tông Đồ. Nhưng ta nên ý tứ đọc thật nhỏ để khỏi làm phiền người khác.

11. ĐỪNG ĐỌC THÀNH TIẾNG "CHÍNH NHỜ NGƯỜI VỚI NGƯỜI VÀ TRONG NGƯỜI" (Kinh nguyện Thánh Thể). Đó là lời kinh chỉ một mình linh mục dâng lễ đọc mà thôi.

12. ĐỪNG RỜI KHỎI CHỖ VÀ ĐI XUNG QUANH ĐỂ CHÚC BÌNH AN. Hãy chỉ chúc bình an những ai đứng trong cùng bàn với bạn và những người ở trước mặt hay sau lưng thôi.

13. ĐỪNG RƯỚC LỄ. Nếu bạn thật sự chưa nhịn ăn đủ 1 giờ hoặc không sống trong tình trạng ân sủng, đừng rước lễ.

14. ĐỪNG NHẤT ĐỊNH ĐÒI RƯỚC LỄ TỪ TAY LINH MỤC MỚI CHỊU. Chúa Giêsu hiện diện thật sự và đầy đủ trong mọi Bánh Thánh, không phụ thuộc chuyện người cho rước lễ là linh mục hay một thừa tác viên phụ thêm nào khác được uỷ nhiệm.

15. SAU KHI RƯỚC LỄ, ĐỪNG NÓI CHUYỆN VỚI AI HẾT. Hãy về chỗ hay đi ra riêng và nói chuyện với một mình Chúa mà thôi. Nếu bạn không lên rước lễ, hãy rước lễ cách thiêng liêng và hãy thưa chuyện với Chúa y như đã rước lễ vậy.

16. HÃY TẮT ĐIỆN THOẠI. Đừng nhắn tin hay nói chuyện với ai trên điện thoại trong suốt Thánh lễ, điều đó làm phiền chính bạn lẫn người xung quanh. Hãy chú tâm vào một mình Chúa, Đấng vẫn đang rất chú tâm vào bạn.

17. HÃY GIỮ CON CÁI Ở BÊN BẠN, ĐỪNG ĐỂ CHẠY LUNG TUNG.
Hãy dạy chúng tận hưởng thời gian ở trong nhà Cha.

18. ĐỪNG RỜI NHÀ THỜ TRƯỚC KHI HẾT LỄ.
Tuyệt Đối Đừng bỏ rơi "Phép Lành Cuối Lễ", linh mục ban cho bạn nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để bạn đi làm chứng nhân cho Ba Ngôi Thiên Chúa trong thế giới. Hãy ra khỏi nhà thờ với ý tưởng mới, được Chúa gợi hứng, để xây dựng triều đại tình thương của Người.

Theo Aleteia
Gioakim Nguyễn lược dịch
----------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - TÔI LÀ KITO HỮU PDF Print E-mail

MỘT VỊ THÁNH DÁM NGHĨ LỚN TRONG ĐỜI TU - THANH Y-NHÃ

Tôi có vài dịp trò chuyện với những người giúp khơi nguồn sáng tạo cho tuổi trẻ. Họ cố gắng giúp người trẻ tìm được động lực không chỉ để làm giàu, nhưng còn để phát triển một cách bền vững. Với những năm kinh nghiệm trong nghề, họ trích nhiều ví dụ sống động từ những người đã thành đạt và hạnh phúc trên thế giới. Những điều họ chia sẻ cứ theo tôi hoài. Tuy nhiên, là tu sĩ theo Chúa Giêsu, tôi có được phép nghĩ lớn và được làm những điều vĩ đại không? Nếu cứ lướt trên những đường băng [1] mơ mộng ấy, liệu người tu sĩ có rơi vào con đường danh vọng và cao ngạo kiêu kỳ không? Rối bời...

Tôi cầu nguyện, hỏi Chúa. Chiêm ngắm những vị thánh, tôi thấy họ cũng có những ước mơ lớn lao. Chỉ khác một điều là họ đặt ước mơ, hoài bão ấy trong kế hoạch của Thiên Chúa. Họ làm mọi thứ vì lòng yêu mến và dấn thân hết mình vì lý tưởng Giêsu. Một trong những vị thánh mang những đặc tính ấy, chúng ta phải kể đến thánh I–nhã, Đấng sáng lập Dòng Tên.

Trước năm Columbus khám phá ra Châu Mỹ cũng là lúc I–nhã chào đời (năm 1491). Được sinh ra trong một gia tộc giàu có ở Loyola, Tây Ban Nha, I–nhã mê thích chuyện binh đao thế sự. [2] Ông thích luyện võ nghệ và ước mơ chinh phục những tiểu thư xinh đẹp. Người ta ngả mũ tán phục chàng hiệp sĩ I–nhã trong trận chiến ở pháo đài Pamplona (năm 1521). Hào khí chiến đấu trong ông luôn hừng hực, kết quả là một viên đại bác đã khiến ông gãy chân.[3] May mà quân Pháp tử tế giúp đưa ông về gia đình để điều trị.

Không hài lòng với lần phẫu thuật đầu tiên, ông đề nghị bác sĩ mổ lần hai để kéo dài chân ông ra. Đau đớn vô cùng, vì thời đó không có thuốc gây mê, nhưng ông vẫn chấp nhận vì ông cần vẻ điển trai trước nhiều thiếu nữ. Sau lần phẫu thuật đó, ông vẫn phải chấp nhận đi cà nhắc.[4]

Có lẽ cuộc đời ông thay đổi từ những ngày tháng trên giường bệnh. Ông nhờ người tìm những sách kiếm hiệp, tiểu thuyết để giết thời gian. Tiếc là người ta chỉ tìm được cho ông hai cuốn: Gương Chúa Giêsu và Hạnh các thánh. Thôi thì có còn hơn không! Ông đọc và đọc. Trong sách đó, hai vị thánh tác động mạnh đến ông là thánh Phanxicô Assisi, và thánh Đa Minh.[5] Ông nói hai vị đại thánh này làm được những điều trọng đại, ông cũng sẽ làm được và muốn làm vĩ đại hơn. Họ ăn chay hãm mình, ông cũng muốn làm hơn họ. Theo gương hai vị thánh này, I–nhã cũng muốn hiến mình để đi chinh phục Đất Thánh cho Kitô giáo. Theo đó, người ta thấy tinh thần hiệp sĩ luôn chất chứa trong con người I–nhã.

Từ đó ông lên đường thực thi hoài bão lớn lao. Thay vì trở lại phục vụ vua trần gian, ông quay sang phục vụ Vua Hằng Sống, đó là Thiên Chúa. Chắc chắn đường lối huấn luyện của Thiên Chúa sẽ khác đường lối lập nghiệp của người đời hôm nay. I–nhã tìm nguồn động lực, gợi hứng từ chính Thiên Chúa. Ông rút lui vào cô tịnh. Một mình đối diện với chính mình, với Thiên Chúa để ông tìm câu trả lời cho thành công của mình.

Người ta vẫn còn thấy biết bao đau khổ gian nan của chàng hiệp sĩ chập chững trên con đường thiêng liêng. Ông nhiều lần muốn từ bỏ ước mơ thánh thiện, phụng sự Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân. Những hào nhoáng vinh quang thế sự thi thoảng ùa về khiến ông rối bời. Ngoài ra, hình ảnh những tiểu thư đài các khiến ông xao lòng. Tuy nhiên, sau những lần đó, ông cảm thấy không được gợi hứng nhiều. Ông thất vọng, nhụt chí và mất sức sống. Ngược lại, những lần suy nghĩ về Thiên Chúa, những lần cầu nguyện nhiều giờ bên Chúa, ông lại tìm được nhiều hứng khởi; nhiệt huyết yêu mến trong ông dâng trào. Kinh nghiệm ấy được ông gói gọn trong hai từ: Thần hiệp; nghĩa là, được kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa.

Trong khi ở hang động Marêsa chừng 1 năm [6], ông viết lại những kinh nghiệm thiêng liêng trong một cuốn sách: Linh Thao. Đây là công cụ để giúp người ta dám nghĩ lớn, dám làm lớn trong Thiên Chúa. Ông lên đường để thực hiện giấc mơ ấy vào năm 1523. Lúc nào ông cũng được thôi thúc nói về Thiên Chúa và giúp đỡ các linh hồn. Tâm hồn thính giả cũng bừng sáng khi nghe I–nhã chia sẻ. Từ đó, ông bắt đầu nổi tiếng.

Chưa dừng ở đó, I–nhã còn nghĩ lớn đến chuyện phải qua Giêrusalem để đi lại những chỗ Giêsu đã đi qua. Ông muốn giống Đức Giêsu hoàn toàn. Từ Barcelona, ông bắt tàu vượt biển đến Đất Thánh mà trong tay không có tiền (năm 1523). Ông đi bằng niềm tin! Chính Thiên Chúa đã giúp ông đến được Đất Thánh. Nơi đây, người đời thấy chí khí của ông rõ hơn: ông muốn ở lại để truyền giáo cho người Hồi giáo. Thời đó, dĩ nhiên không ai cho ông ở lại vì tính chất phức tạp và nguy hiểm của vùng đất này. Ông bị đuổi về Tây Ban Nha.

Nơi quê nhà vào năm 1524, ông vẫn rong ruổi rao truyền kinh nghiệm thiêng liêng để giúp người ta yêu mến Chúa. Ông nói những điều liên quan đến đức tin mà một giáo dân như ông thời đó không được phép. Bởi thế, ông bị giáo quyền tra khảo, bỏ tù và dọa nạt. Tuy nhiên, vẫn khí chất cương nghị, ông không từ bỏ ước mơ nói về Thiên Chúa cho con người. Lúc ngoài 30 tuổi vẫn luôn đặt câu hỏi cho mình: "Tôi phải làm gì?" Đó là câu hỏi đã đẩy ông đến vùng trời Paris.

Số là sau những lần khó khăn với giáo quyền, ông quyết định đi học để làm linh mục. Vì khi có bằng cấp, ông được phép nói về Thiên Chúa và sẽ được nhiều người tin tưởng hơn. Ông chọn một trường học tốt nhất thời đó: Đại Học Paris.[7] Đây là giai đoạn thách đố với một người lớn tuổi (30) như ông, cặm cụi với từng con chữ. Nhanh chóng ông quen dần với môi trường tri thức, và có những người bạn mới. Ông gọi họ là những người bạn trong Chúa (friends in the Lord). Trong đó phải kể đến thánh Phanxicô Xaviê, một người có hoài bão lớn không kém I–nhã.

Lúc này, năm 1534, nhóm của I–nhã có 9 anh em. Ai cũng nuôi ước mơ lớn và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để tôn vinh Thiên Chúa hơn. Sau khi tốt nghiệp đại học [8], họ khấn hứa giữ khó nghèo, khiết tịnh.[9] Họ chọn một thủ lãnh là Chúa Giêsu. Đó là nhóm Bạn Đường, tiền thân của Dòng Tên sau này. Họ ước mơ xa hơn là đi đến Đất Thánh để phụng sự Chúa ở đó.[10] Tuy nhiên, thời đó đang có chiến tranh, nên tàu đi đất thánh rất hiếm. Trong hoàn cảnh đó, họ bàn thảo nghiêm túc với nhau dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Trong văn bản của cuộc họp đó, nhóm đã thống nhất: "Nếu trong vòng một năm không đi được Đất Thánh, họ sẽ về Rôma để đặt mình dưới chân Đức Giáo Hoàng." Chiến tranh mỗi lúc một leo thang, nên họ thực hiện kế hoạch về Rôma.

Khi về Rôma vào năm 1536, nhóm mạnh dạn xin với Đức Giáo Hoàng thành lập Dòng và lấy tên là Dòng Giêsu (The society of Jesus). Bởi, họ biết chỉ có như thế nhóm mới liên kết được với nhau trong Chúa Kitô và trong Giáo hội. Năm 1539, Giáo hoàng Phaolô III phê chuẩn. Kể từ đây, ước mơ của I–nhã được Thiên Chúa đặt vào lòng Giáo Hội để phục vụ con người một cách hiệu quả. Trong vai trò là bề trên tổng quyền, I–nhã cùng với Dòng phát triển nhanh chóng cả về hai phương diện: giáo dục và truyền giáo trên khắp thế giới: Âu, Á, Phi, Mỹ.

Thánh I–nhã qua đời tại Rôma vào ngày 31 tháng 7 năm 1556, để lại một con đường gợi hứng cho biết bao nhiêu người. Con đường ấy phải bắt nguồn từ Thiên Chúa, và mọi gợi hứng, động lực đều chỉ với một mục đích: Cho vinh danh Thiên Chúa hơn – Ad Maiorem Dei Gloriam.

Trở lại vấn đề trên đây, hóa ra đi tu cũng đòi hỏi người tu sĩ nhiều ước mơ lớn lao. Thiên Chúa đòi hỏi họ dấn thân hết mình, làm mọi sự với mục đích không vì danh vọng tiền tài. Đích nhắm cho những cố gắng ấy là để làm cho vinh danh Chúa hơn và giúp cho nhiều linh hồn được cứu độ hơn. Như thế, nguồn cảm hứng và động lực của người tu sĩ được kín múc từ Thiên Chúa. Họ sẵn sàng bước vào những cuộc chiến đấu thiêng liêng. Qua những môi trường huấn luyện như thế, họ biết mình, biết Chúa và biết phải làm gì.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: https://dongten.net/

[1] Đây là tựa đề cuốn sách nổi tiếng: Tony Buổi Sáng, Trên Đường Băng, Nxb Trẻ, 2017.

[2] Như lời thú nhận của thánh nhân: "Mãi cho đến 26 tuổi, ông ta là người chỉ xả thân vào những chuyện hư danh thế tục, đặc biệt ông thích thú về những việc tập luyện võ nghệ với khát vọng mãnh liệt và hư danh làm sao cho mình được nổi tiếng." (Tự thuật số 1).

[3] Một chân của I-nhã bị thương nhẹ, nhưng chân kia bị gãy nghiêm trọng. Sau khoảng 12-14 ngày ở lại Pamplona, I-nhã được khiêng về gia đình tại lâu đài Loyola trên một chiếc cáng, cách Pamplona chừng 70 dặm.

[4] Khi viết về giai đoạn này, cha Polanco –thư ký của cha I-nhã – cho biết: "Có thể thấy nơi I-nhã là một con người Thiên Chúa tạo nên cho một mục đích lớn lào."

[5] Ông nói: "Giả như tôi làm điều mà thánh Phanxicô đã làm và điều mà thánh Đaminh đã làm thì sao?", hay "Thánh Đaminh đã làm điều này; còn tôi, tôi cũng phải làm điều đó. Thánh Phanxicô đã làm điều kia, còn tôi, tôi cũng làm điều ấy." (Tự thuật số 7).

[6] Inhã lưu lại Manresa trong khoảng một năm từ 25-3-1522 đến tháng 2-1523, sau đó đến Barcelona.

[7] Inhã đã đi bộ tới Paris vào tháng 2 năm 1528.

[8] Năm 1535 I-nhã đã tốt nghiệp hai bằng: cử nhân triết học và cao học thần học tại Đại Học Paris. Một năm sau, I-nhã được thụ phong linh mục và cử hành thánh lễ mở tay tại Rôma.

[9] Trong một nhà nguyện ở Montmatre tại Paris vào ngày 15 tháng 8 năm 1534. Ở đó họ đã khấn khó nghèo và khiết tịnh như là một thân thể tông đồ tu trì đích thực, và họ đã khấn đi Giêrusalem, hoặc Rôma.

[10] Họ đã quyết định phải đi Giêrusalem để sống cả đời mình ở đó cho lợi ích của các linh hồn. Các học giả cho rằng có lẽ lần trước ở Giêrusalem, I-nhã đã ngầm xin phép với những vị có thẩm quyền của Dòng Phanxicô về ý định này.

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH-TÔI LÀ KITO HỮU NAO? PDF Print E-mail

TÔI LÀ LOẠI KI-TÔ HỮU NÀO?

Chi Trần chuyển

TÔI có quá nhiều kế hoạch, quá nhiều dự tính cho cuộc sống, nên TÔI chẳng còn chỗ để cho Thiên Chúa hoạt động.

Với tôi, đời sống thiêng liêng là chất liệu làm nên người Ki-tô hữu. Đời sống thiêng liêng ẩn tàng trong sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Cầu nguyện là hơi thở và là nhịp đập của con tim, giúp người Ki-tô hữu đi vào chiều sâu trong huyền nhiệm nơi tình yêu Đức Ki-tô. Đây không chỉ đơn thuần là việc làm của lý trí, nhưng phải là việc làm của con tim, bởi chỉ có con tim mới hiểu rõ được con tim. Trong thư thứ nhất của thánh Gioan Tông đồ, có đoạn nói đến nguồn mạch của Đức Ái như sau: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, và Thiên Chúa là tình yêu. ”(1 Ga 4,8) Hay trong cùng một ý tưởng đó, Thánh Gioan Bosco cũng thổ lộ rằng: “Giáo dục là việc làm của con tim.” Đúng thế, chúng ta không thể làm nên đời sống Ki-tô hữu nếu chúng ta không biết yêu thương, và cầu nguyện là cách chúng ta đào sâu, kín múc nguồn tình yêu vô tận nơi Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của tình yêu.

Trước khi đi chịu khổ hình, Chúa Giê-su vào vườn cây dầu mà cầu nguyện. Trong thinh lặng và cô quạnh, Ngài đã thân thưa cùng Thiên Chúa Cha, đã lắng nghe và vâng phục thánh ý Thiên Chúa là Cha của Ngài. Chúa Giê-su cũng bị cám dỗ, cũng lo lắng và Ngài đã mạnh dạn thân thưa rằng: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha.” Lòng Chúa xao xuyến bồi hồi, Chúa tha thiết khẩn xin Chúa Cha, một lời cầu xin của đứa Con thảo hiếu, một lời cầu xin chân thành của Kẻ đang gặp thử thách. Cuộc sống hằng ngày của chúng ta thì sao? Chắc hẳn cũng đầy những thử thách, những khó khăn và cả những bế tắc. Khi ấy, chúng ta như thế nào? Phải chăng là khóc lóc u buồn? Phải chăng là trốn chạy khỏi thực tại? Thử hỏi, có bao giờ chúng ta cầu xin Chúa, có bao giờ chúng ta thân thưa với Chúa về cuộc sống, về con người và cả những khó khăn ấy của ta chưa? Chúng ta đừng vội than trách, cũng đừng buồn lòng nản chí, vì Thiên Chúa luôn lắng nghe và thấu suốt mọi sự. Trong thư của thánh Gia-cô-bê Tông đồ, ngài có nói đến những ích lợi của thử thách: “Đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.” (Gc 1,2 ) Nếu không tin tưởng, chúng ta cũng không có quyền gì than trách Chúa; bởi lẽ, thánh Gia-cô-bê cũng mạnh mẽ khẳng định rằng: “Khi bị cám dỗ, đừng ai nói : Tôi bị Thiên Chúa cám dỗ, vì Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều gì xấu và chính Người cũng không cám dỗ ai. Nhưng mỗi người có bị cám dỗ, là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt. Rồi một khi dục vọng đã cưu mang thì đẻ ra tội; còn tội khi đã phạm rồi thì sinh ra cái chết.”(Gc 1, 13-15)

Mặt khác, cuộc sống ngày nay đem đến cho con người quá nhiều thứ, và những thứ ấy đã chi phối mạnh mẽ đến đời sống Thiêng liêng của họ. Nói một cách đơn giản, thế giới ngày nay đang có quá nhiều tiếng ồn, và tôi cũng đang thấy rõ điều đó. Tiếng ồn đi ngược lại với sự thinh lặng, nó phá vỡ khoảng không trầm lắng của đời sống cầu nguyện Thiêng liêng. Một cách gián tiếp, những tiếng ồn ấy đang kéo người Ki-tô hữu ngày một xa rời Thiên Chúa. Khi gặp một sự thử thách căng thẳng, chúng ta dễ dàng tìm kiếm sự giải khuây nơi các thú vui của thời đại mới này. Những lúc gục ngã và thất bại, chúng ta cũng dễ bám víu vào kẻ này, người khác. Chúng ta đang muốn tìm sự đồng cảm, tìm cảm giác an toàn; nhưng, chúng ta đang tìm sai địa điểm. Tôi cũng thế, tôi đã từng và cũng đôi ba lần như thế. Nên tôi có thể nói, Thiên Chúa của chúng ta không có trong những ồn ào và xô bồ đó. Tôi phải công nhận rằng: những thú vui trước mắt dễ lôi cuốn tôi hơn là sự tĩnh lặng để gặp gỡ Thiên Chúa. Khó khăn được đặt ra ở đây là chúng ta chưa đủ kiên nhẫn để lắng nghe Thiên Chúa, để ở lại lâu hơn với Người. Chúng ta có quá nhiều kế hoạch, quá nhiều dự tính cho cuộc sống, nên chúng ta chẳng còn chỗ để cho Thiên Chúa hoạt động.

Ngoài ra, cuộc sống hiện đại và tiện nghi như ngày nay đang dẫn khiến con người mất đi thái độ kiên trì. Có lẽ chúng ta đã từng nghe về việc một người bạn, nửa đếm đến nhà bạn mình xin ba cái bánh, vì anh có người bạn lỡ đường ghé lại nhà. Và rồi, anh ta đã bị từ chối vì nhiều lý do, nhưng cuối cùng Chúa Giê-su đã nói cho chúng ta biết rằng anh ta đã được toại lòng, vì anh ta cứ lỳ ra đó (Lc 11,5-6). Nhìn lại cuộc sống mình, đã bao giờ chúng ta cứ lỳ ra đó như cách Chúa Giê-su đã nói chưa? Hay cụ thể là đã bao giờ chúng ta có lỳ ra với Chúa hay chưa? Thái độ ấy là cần thiết cho một kẻ kêu xin. Điều ấy thể hiện cho sự thiện chí và thành tâm của kẻ kêu xin. Chắc hẳn Thiên Chúa chẳng nỡ để ta chịu thiệt hay phải ra về tay trắng khi chúng ta chạy đến, kêu xin Người. Thật vậy, sự kiên trì của chúng ta chẳng thể sánh được với lòng nhẫn nại của Thiên Chúa, nhưng sự kiên trì ấy có thể đi vào sâu bên trong lòng trắc ẩn của Thiên Chúa. Sự kiên trì là một biểu hiện cụ thể cho một Đức Tin sống động, thánh Phao-lô khẳng định: “Đức Tin được dưỡng nuôi hằng ngày nhờ sự kiên trì.” Chúng ta dễ mất sự kiên trì khi chúng ta chịu thử thách; nhưng chính trong những thử thách ấy, nếu chúng ta vượt qua được, thì sự kiên trì của chúng ta sẽ lớn mạnh và sinh hoa kết quả nơi tình yêu mà Đức Tin trong Đức Ki-tô.

Đứng trước những thực tại đó, chúng ta hãy trở nên một con người khôn khéo để chọn lựa những giá trị đúng đắn cho mình. Khi ấy, chúng ta sẽ hiểu rằng đâu là điều chúng ta yêu mến. “Ai có và giữ các diều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14,21)

Nếu yêu mến Thiên Chúa, BẠN VÀ TÔI sẽ được nhiều mối lợi hơn cả, vì gia tài của ta chỉ có và duy nhất nơi Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu, là nguồn mạch và cùng đích mọi sự. Nhờ Chúa Giê-su, TÔI biết trao ban toàn thân xác mình cho Thiên Chúa, để nhờ Người, TÔI có đủ tự tin tiến vào quê trời, nơi dành riêng cho kẻ vì yêu mà đến.

Lưu Hành

------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH -THƯ GỞI TÍN HỮU PDF Print E-mail

Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới

(Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39)

www.conggiaovietnam.net This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

HDGMVN 2019Small.jpg

THƯ GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA VỀ MỘT SỐ LƯU Ý TRONG ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

Anh Chị Em thân mến,

Trong Hội nghị thường niên kỳ I-2019 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng tôi đã nhận được những thông tin, thắc mắc, kể cả những lời than phiền và phê phán về một số sự việc liên quan đến cử hành Phụng vụ và các thực hành đạo đức tại nơi này, nơi khác. Nay, với trách nhiệm mục tử, chúng tôi gửi thư này đến anh chị em, để đồng hành và giúp anh chị em sống đức tin một cách đúng đắn theo giáo huấn của Hội Thánh.

1. Nhìn chung, có thể nói, sinh hoạt đạo đức của người Công giáo Việt Nam rất phong phú, được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Chuyên tâm tham dự các cử hành Phụng vụ, tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Lòng Chúa thương xót, sùng kính Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh, đặc biệt Thánh Cả Giuse và các Thánh Tử đạo Việt Nam. Cùng với tâm tình yêu mến Chúa, người tín hữu Việt Nam cũng thể hiện lòng hiếu thảo với các bậc tiền nhân, qua việc cầu nguyện cho người đã qua đời, chăm sóc mộ phần và tưởng nhớ trong các ngày giỗ.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy hiện nay đang tồn tại và có chiều hướng gia tăng những hiện tượng và những cách thực hành đạo đức không xứng hợp, cụ thể là: tin dị đoan, ma thuật, bói toán; phổ biến những tư tưởng lệch lạc như Sứ điệp từ trời, Lòng Mẹ thương xót...; lạm dụng một số cử hành đạo đức của Hội Thánh như Lòng Chúa thương xót, đặc sủng chữa lành bệnh nhân, đặt tay cầu nguyện...

Trước tình hình trên, dựa trên giáo huấn của Hội Thánh, nhất là hai văn kiện “Hướng dẫn về lòng đạo đức bình dân và Phụng vụ” của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích (Tháng 12-2001), và “Hướng dẫn việc cầu nguyện xin ơn chữa lành” của Bộ Giáo lý Đức tin (Tháng 9-2000), chúng tôi muốn đưa ra những định hướng mục vụ sau đây.

Về Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân:

2. Phụng vụ là việc thờ phượng chính thức của Hội Thánh, do các thừa tác viên hợp pháp cử hành nhân danh Hội Thánh, nhằm tôn vinh Thiên Chúa, xây dựng Hội Thánh và thánh hoá con người. Cử hành Phụng vụ gồm Bảy Bí tích, Phụng vụ Các giờ kinh và các Á bí tích.

Lòng đạo đức bình dân thường bị hiểu sai là “thứ yếu”, là “tầm thường”, nhưng thật ra, đây là cảm thức đức tin của Dân Chúa, được Chúa Thánh Thần soi dẫn, biểu hiện qua các hình thức đạo đức đa dạng, tiếp nhận những tinh hoa của các nền văn hoá. Các việc đạo đức bình dân cũng thường gắn kết với Năm Phụng vụ, qua việc tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi, sùng kính Đức Maria và các Thánh, cầu nguyện cho người đã qua đời, hành hương đến các nơi thánh...

Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân có mối tương quan rất chặt chẽ với nhau. Phụng vụ là nguồn mạch và chóp đỉnh của lòng đạo đức bình dân. Vì thế, lòng đạo đức bình dân phải hoà hợp với Phụng vụ, bắt nguồn từ Phụng vụ và dẫn người tín hữu đến với Chúa.

3. Trong thực tế, tại một số địa phương, kỷ luật Phụng vụ chưa được tôn trọng đúng mực. Những thực hành đạo đức bình dân cũng có những lạm dụng tùy tiện, gây hoang mang nơi người tín hữu và xáo trộn nơi các cộng đoàn đức tin. Vì thế, để chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc và cổ võ lòng đạo đức bình dân chân chính, chúng tôi xin anh chị em lưu ý những điểm sau đây:

- Phải tránh những thực hành mê tín dị đoan, bói toán, lợi dụng lòng tin đơn thành của người tín hữu để trục lợi.

- Đừng quá coi trọng những hình thức đạo đức bình dân mà coi nhẹ cử hành Phụng vụ.

- Không được sử dụng, phổ biến các tài liệu có nội dung nghịch với đức tin Kitô giáo.

- Phải tôn trọng kỷ luật của Hội Thánh và quy định của Đấng Bản quyền liên quan đến Phụng vụ và việc đạo đức bình dân. Những kinh nguyện được sử dụng công khai và thường xuyên phải được Bản quyền địa phương cho phép.

- Cần hòa hợp những biểu hiện bên ngoài của lòng đạo đức bình dân với tình cảm chân thật trong tâm hồn, tránh những thực hành theo thói quen, trống rỗng.

Về đặc sủng chữa lành:

4. Bệnh tật luôn là một sự dữ. Vì thế, việc chữa lành bệnh tật là dấu chỉ sứ vụ giải thoát của Đấng Cứu thế và là biểu tượng của sự chữa lành con người toàn diện, gồm thân xác và linh hồn. Trong cuộc sống trần thế, Đức Kitô đã chữa lành nhiều người khỏi nhiều thứ bệnh tật, thế nhưng ơn giải thoát cuối cùng lại được thực hiện bằng chính sự đau khổ tự nguyện của Chúa trong cuộc tử nạn và phục sinh. Như vậy, Ngài mang đến cho bệnh tật và đau khổ của con người một ý nghĩa và giá trị cứu độ: Mọi người đều có thể hiệp thông vào sự đau khổ sinh ơn cứu độ của Ngài bằng việc chấp nhận những bệnh tật và đau khổ của bản thân mình.

Theo ý hướng đó, Hội Thánh luôn cầu nguyện xin ơn sức khoẻ cho các bệnh nhân, đặc biệt qua Thánh lễ, Kinh nguyện và Bí tích Xức dầu Bệnh nhân. Chúa cũng ban cho Hội Thánh đặc sủng chữa lành bệnh tật. Tuy nhiên đặc sủng này được trao ban không phải vì vinh quang và trục lợi cá nhân, nhưng để xác nhận và củng cố sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Cũng thế, việc cầu nguyện không loại trừ việc sử dụng những phương pháp y học để phục hồi sức khỏe và gìn giữ sự sống cho bệnh nhân.

5. Hiện nay, tại một số nơi đang có những hình thức cầu nguyện và đặt tay xin ơn chữa lành. Về vấn đề này, chúng tôi xin anh chị em lưu ý mấy điểm sau đây:

- Mọi tín hữu đều được tự do cầu nguyện xin ơn chữa lành. Tuy nhiên, khi việc cầu nguyện xin ơn chữa lành có tính cách cộng đồng, nhất là trong nhà thờ, thì cần được các thừa tác viên có chức thánh hướng dẫn.

- Các Kinh nguyện Phụng vụ xin ơn chữa lành phải được cử hành theo đúng Sách Nghi Thức Rôma. Trong giáo phận, mọi cử hành Phụng vụ xin ơn chữa lành đều phải có phép rõ ràng của Bản quyền Giáo phận. Giám mục giáo phận có quyền ban hành các quy luật cho những cử hành Phụng vụ xin ơn chữa lành, cũng như từ chối những cử hành này vì lý do chính đáng.

- Không được phép đưa các nghi thức chữa lành vào Thánh lễ và các cử hành Phụng vụ. Không được lẫn lộn các buổi cầu nguyện không thuộc Phụng vụ với những cử hành Phụng vụ. Phải tránh các hình thức mang tính cuồng loạn, chứng nhân giả, diễn kịch hoặc kích động cảm xúc.

- Việc sử dụng các phương tiện truyền thông, nhất là trực tuyến, trong các cử hành xin ơn chữa lành, thuộc Phụng vụ hoặc không thuộc Phụng vụ, đều phải được Giám mục giáo phận cho phép.

- Trong các cử hành xin ơn chữa lành, nếu ơn được chữa lành xảy ra cho người tham dự, thì phải giữ sự thận trọng cần thiết và tường trình sự việc cho thẩm quyền Hội Thánh.

- Giám mục giáo phận có bổn phận giám sát việc thực hành các buổi cầu nguyện xin ơn chữa lành; đồng thời có quyền can thiệp khi có những lạm dụng gây tai tiếng cho cộng đoàn tín hữu.

Anh chị em thân mến,

Lòng đạo bình dân được nhìn nhận là “kho tàng vô giá của Hội Thánh” (Đức Bênêđictô XVI). Tuy nhiên, vì lòng đạo bình dân nghiêng về cảm nhận hơn là suy lý, quan tâm đến biểu tượng hơn là lô-gích, nên cũng dễ bị lệch lạc, kể cả bị khai thác vì chủ ý trục lợi. Đồng thời, tại một số nơi, những hình thức cầu nguyện và đặt tay xin ơn chữa lành chưa thể hiện ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm cứu độ trong Đức Kitô và sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Chính vì thế, Hội Thánh đưa ra những chỉ dẫn được trình bày tóm tắt trong thư này. Xin anh chị em vui lòng đón nhận, suy nghĩ và chia sẻ cho nhau những chỉ dẫn trên, để các thực hành đạo đức của chúng ta thật sự “diễn tả niềm khao khát Thiên Chúa”, đem lại an bình trong tâm hồn, duy trì sự hiệp nhất trong Hội Thánh, và là khí cụ loan báo Tin Mừng Nước Trời.

Chúng ta cùng nhìn lên Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, xin Mẹ dẫn dắt chúng ta sống đức tin tông truyền và nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em.

Làm tại trụ sở Hội đồng Giám mục Việt Nam,
Lễ kính Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ Hội Thánh, ngày 10 tháng 06 năm 2019.

ChuKyNgan.jpg

Nguồn:

http://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hoi-dong-giam-muc-viet-nam-thu-gui-cong-dong-dan-chua-ve-mot-so-luu-y-trong-doi-song-duc-tin-35055

CAO TẤN TĨNH

--------------------------

------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - THANH GIUSE PHÓ MỘC CÔNG CHÍNH PDF Print E-mail

BÁC PHÓ MỘC CÔNG CHÍNH

Trần Mỹ Duyệt

- Bác Giuse ơi! Bố cháu bảo cháu sang nói với bác là chiếc cày của bố cháu vừa bị gẫy rồi. Bác qua sửa lại cho bố cháu bây giờ được không?

- Anh Giuse này! Chiều nay hay ngày mai ghé qua nhà tôi sửa lại 2 cái răng bừa hộ tôi được không? Khổ quá! Vừa bừa được vài luống thì gẫy bố nó 2 cái răng. Mùa màng đến nơi rồi mà có cái bừa còn gẫy răng thì làm ăn được cái gì nữa. Anh qua nhà tôi, chúng ta uống với nhau bát nước và nói truyện cho vui trong lúc anh sửa cho tôi chiếc bừa nha.

- Chị Maria ơi! Anh Giuse có ở nhà không vậy? Chị nói hộ anh ấy qua sửa cho nhà tôi cái chạn được không. Chán quá chị ơi! Chuột bọ như rươi mà có cái chạn thì cánh cửa lại xộc xà xộc xệch, rơi ra rơi vào như cái răng ông lão vậy. Chị nhớ nói với anh ấy sang sớm sớm một tí nhé.

THÁNH GIA TRONG BỐI CẢNH SỐNG THƯỜNG NGÀY

Bạn có nghĩa là những mẩu chuyện trao đổi như trên có xẩy ra trong đời sống thường ngày của gia đình Thánh Gia không? Tôi thì tôi cho là có, vì Giuse, Maria, và Giêsu trong một cái làng quê nhỏ bé như Nazareth thì ai mà chả biết. Nhất nữa Thánh Giuse lại làm nghề thợ mộc, thì hôm này người này, ngày mai người khác chạy qua, chạy lại nhờ vả, và trao đổi với nhau là chuyện rất bình thường. Chẳng vậy mà sau này khi Chúa Giêsu xuất hiện, rao giảng Tin Mừng về nước trời, thấy người trở nên lợi khẩu và thông thái, người ta đã bở ngỡ hỏi nhau: “Mọi người đều ca ngợi ngài. Họ bỡ ngỡ về những lời từ miệng ngài. Họ hỏi nhau: ‘Há chẳng phải là con ông Giuse sao?’” (Lc 4:22). Họ thắc mắc như thế vì có bao giờ thấy Giêsu đi học đâu. Con nhà nghèo thì làm gì có tiền của mà đi học.

Điều khiến chúng ta suy nghĩ không phải là cái nghề thợ mộc, và cuộc sống nghèo của Thánh Giuse hay của gia đình Ngài; cũng không phải cái tính ít nói, và trầm ngâm của Ngài. Nhưng là địa vị cao cả của Ngài trước mặt Thiên Chúa và con người. Đối với những người Do Thái đương thời và những người cùng làng quán với Ngài có lẽ không nhìn ra điều này. Nhưng đối với những người như Têrêsa D’avilla thì “trên thiên đàng, Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Ý chỉ quyền năng can thiệp và thế giá của Ngài trước tòa Thiên Chúa. Bởi vì khi còn sống, Chúa Giêsu đã được Ngài đích thân nuôi dưỡng và giáo dục. Cả Mẹ Maria cũng được Ngài bao bọc, che chở và yêu thương, săn sóc. Nhưng ngoài cảm tình vợ chồng, cha mẹ và con cái giữa Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu ra, Ngài còn có gì khác hơn để được Thiên Chúa yêu thương và loài người kính trọng không? Câu trả lời được tìm thấy trong Thánh Kinh. Thánh Kinh khi nói về Thánh Giuse và về đời sống nội tâm của Ngài đã ghi: “Giuse là ngưòi công chính” (Mt 1:19). Và chỉ bằng ấy cũng đủ nói lên tất cả sự thánh đức cao vời của Ngài. Đấng mà Thiên Chúa đã tuyển chọn để trao phó Chúa Giêsu, Thiên Chúa Nhập Thể, và Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ nhân loại cho Ngài con sóc, gìn giữ và yêu mến.

Thật vậy, Thiên Chúa tôn vinh và coi trọng Thánh Giuse không phải chỉ vì dòng tộc Đavít, hoặc vì vai trò dưỡng phụ Chúa Giêsu, phu quân trồng trinh của Đức Maria. Thiên Chúa tôn vinh và yêu thương Thánh Giuse vì tấm lòng và ý chí công chính của Ngài nữa. Cũng như Đức Maria được làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Chúa Giêsu không phải vì đã sinh ra Chúa Giêsu, đã cho Chúa bú, nhưng vì đã thực hành và tuân giữ lời Chúa - đã công chính - trong tâm hồn và ý chí của Mẹ: “Ai là mẹ ta? Ai là anh em ta” (Mt 12:48), Chúa Giêsu đã hỏi người chung quanh như thế, và trong khi họ không hiểu phải trả lời như thế nào, thì Chúa đã bảo họ: “Ai thực hiện ý Cha Ta trên trời, người đó là anh, chị, em, và là mẹ ta” (Mt 12: 50).

Dĩ nhiên, khi nói những lời trên, Chúa Giêsu không phủ nhận vai trò làm mẹ của Đức Maria, cũng không phủ nhận mình là con của Đức Trinh Nữ Maria. Nhưng cao cả hơn thế, Chúa muốn đề cao cái cốt lõi “làm mẹ” của Đức Maria trong trường hợp này, là nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Một sự lắng nghe và thực hành đến độ khiến Thiên Chúa cũng cúi nhìn Mẹ: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng trinh nữ. Trinh nữ có phúc hơn mọi người nữ” (Lc 1: 28). Những lời này do chính miệng Tổng Thần Gabriel đã nói với Đức Mẹ trong ngày Truyền Tin.

Cũng một cách tương tự, khi Chúa Giêsu gọi Thánh Giuse là “cha” - bố hay ba - không chỉ vì Thánh Giuse thật sự là cha - người cha đồng trinh - đã có công nuôi dưỡng, che chở, và giáo dục mình, mà hơn thế nữa, vì Thánh Giuse đã lắng nghe, suy niệm, và thực hành lời Thiên Chúa. Vì lý do đó, khiến Ngài được trở thành cao cả, được tôn vinh không những ở trần gian, mà còn cả ở trên trời như lời Thánh Têrêsa D’avilla đã nhận định.

GIUSE CÔNG CHÍNH VÌ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

Bằng một cái nhìn vừa có tính cách thực tế, vừa tâm linh, chúng ta sẽ thấy ngay Thánh Giuse thật sự yêu mến, vâng giữa lời Thiên Chúa, nói một cách khác, đã công chính như thế nào. Thánh ký kể lại, trong biến cố Nhập Thể khi phải đối đầu với một vấn nạn không có lời giải thích, một vấn nạn mà trí khôn con người thật sự cảm thấy mâu thuẫn, thì Thánh Giuse đã can đảm, công chính thắng lướt tất cả vì lời của Thiên Chúa: “Hỡi Giuse đừng sợ. Hãy nhận lấy Maria về làm vợ của mình” (Mt 1:20). Chỉ một câu ấy thôi và khi biết được đó là ý Thiên Chúa, thì Ngài đã sẵn sàng bằng mọi giá hăm hở, vui vẻ, và yêu mến đi trọn con đường “đồng công” mà Thiên Chúa đã muốn Ngài và Đức Trinh Nữ Maria tham dự.

Có lẽ chúng ta cho rằng làm được như Thánh Giuse thì cũng dễ dàng, và ở vào hoàn cảnh của Ngài ai cũng có thể làm được. Nhưng nghĩ như vậy, thì vô tình ta coi thường sự phán xét của Thiên Chúa khi Ngài công nhận và gọi Thánh Giuse là “công chính”, và cũng coi thường thánh đức của Ngài.

Thật vậy, ở vào hoàn cảnh của Thánh Giuse, một người đàn ông tự trọng và biết coi trọng giá trị đạo đức, thì khi biết vị hôn thê của mình mang thai, mà cái thai ấy không phải là của chính mình thật sự cảm thấy lúng túng và khó xử. Và sự dằn vặt ấy đã đem đến ý nghĩa và quyết định “âm thầm” bỏ đi. Và chúng ta cũng có thể lý luận rằng, trên thực tế, hẳn cũng không thiếu những trường hợp người đàn ông bị đặt vào hoàn cảnh tương tự như Thánh Giuse. Họ cũng gặp những cắn rứt lương tâm và khó xử vậy. Trong những trường hợp như vậy, cũng có người đã im lặng, và cũng có người đã âm thầm bỏ trốn hoặc tha thứ. Nhưng im lặng, tha thứ và chấp nhận đến mức độ nào, có được Thiên Chúa cho là công chính hay không hẳn là hiếm có. Trường hợp của Thánh Giuse, rõ ràng Thánh Kinh thừa nhận là công chính: “Giuse là người công chính” (Mt 1:19). Cái đó chính là sự thánh thiện cao vời, và do lòng yêu mến Thiên Chúa thẳm sâu của Thánh Giuse. Người đời chỉ có thể suy tôn, học hỏi, và cố gắng bắt chước, nhưng hẳn là không mấy kẻ đạt được mức thánh đức như Thánh Giuse đã đạt tới.

GIUSE CÔNG CHÍNH VÌ THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Chúng ta hãy đưa tầm nhìn vào mái ấm gia đình Thánh Gia. Ở đó Mẹ Maria, thiếu nữ Sion tuyệt vời, bông hồng rực rỡ của vườn hồng Giêricô. Một thiếu nữ đẹp, và hiền thục, mặn mà như vậy, nhưng khi ở với Mẹ Maria, không chỉ bằng tình bằng hữu, anh chị em, tình cảm bình thường của con người đối với con người, mà bằng tình nghĩa vợ chồng, tình cảm, và tình nghĩa của hai người yêu nhau, vậy mà Thánh Giuse vẫn giữ được sự công chính tức là thánh đức từ trong tư tưởng, lời nói và việc làm trong cuộc đời hôn nhân thánh thiện ấy thì đủ biết Ngài công chính đến mực độ nào. Đủ biết Ngài yêu mến Thiên Chúa và vâng giữ lời Thiên Chúa đến mực độ nào. Người trần gian thật không ai dám nghĩ mình có thể và làm được như vậy. Dĩ nhiên, Thánh Giuse làm được việc này cũng là nhờ ơn Chúa, nhưng sự cộng tác vào ơn thánh của Ngài đã cho ta nhận thấy sự công chính của Ngài như thế nào!!!

Chúng ta có nghĩ rằng Thánh Giuse thiếu óc cầu tiến và không có tinh thần trách nhiệm với gia đình Ngài không? Cứ nhìn vào cảnh nghèo túng, đơn sơ của Thánh Gia, có thể nhiều người sẽ cho rằng việc Thánh Gia nghèo vì thiếu tiền có thể đến từ tâm thức an phận và buông xuôi của Thánh Giuse. Ngài không có óc cầu tiến. Không biết cách làm giầu. Và không biết cách xoay xở. Thấy nghề thợ mộc khó kiếm ăn, sao không đổi nghề. Sao không kiếm cho mình một nghề khác.

Hoặc chúng ta lại thắc mắc mà tự hỏi rằng, không biết ở trong hoàn cảnh như vậy Thánh Giuse nghĩ thế nào, nhất là khi Ngài biết vợ mình là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, và con mình, Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể. Tâm lý sống của Ngài lúc ấy như thế nào? Có mặc cảm tự ty, hay trở thành khô khan, vô cảm. Mặc cảm tự ty, trái tim không cảm, chắc chắn không có nơi trường hợp một tâm hồn công chính. Vậy thì, để hóa giải và để sống trong sạch, vui tươi, và bình an trong trường hợp Ngài, Thánh Giuse đã phải có lòng yêu mến Thiên Chúa nồng nàn biết bao để có thể chấp nhận hoàn cảnh sống của mình và của gia đình mình. Và Ngài đã phải tập luyện mình như thế nào để giữ được tâm lý sống thanh thản và trưởng thành khi phải đối diện với một cảnh sống như vậy. Sự khôn ngoan, thánh đức của Ngài ở chỗ là trong mọi cảnh ngộ vẫn giữ được lòng mình bình an và kính sợ Thiên Chúa.

BÁC PHÓ MỘC CÔNG CHÍNH

Tóm lại, khi xưng tụng Thánh Giuse là người công chính, Thiên Chúa muốn chúng ta hiểu rằng vai trò làm cha “đồng trinh” hay dưỡng phụ Đức Kitô, vai trò làm chồng đồng trinh của Đức Maria của Thánh Giuse là một đặc ân xứng đáng mà Thiên Chúa ban cho chỉ một mình Thánh Giuse, và cũng chỉ mình Ngài xứng đáng với những danh hiệu ấy. Bù lại, Thánh nhân đã phải chứng tỏ mình thật sự xứng đáng và xứng hợp với danh hiệu ấy không phải bằng những hình thức và lối sống bên ngoài, mà bằng việc chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và môi trường Thiên Chúa đã đặt Ngài vào.

Trường hợp của Thánh Giuse môi trường ấy là một gia đình và cuộc sống đơn sơ, bình dị và nghèo nàn. Một cuộc sống như tất cả mọi người chúng ta, và có thể kém hơn nhiều người về mặt tài chính, địa vị, học thức và nghề nghiệp. Điều này cũng đưa chúng ta đến một nhận định khác về cuộc đời, đó là cái làm cho con người trở nên cao cả không lệ thuộc hình thức và sắc thái bên ngoài, mà cốt lõi là tấm lòng và ý chí bên trong. Thánh Giuse đã nên gương cho chúng ta không phải vì Ngài cao cả và địa vị trước mặt người đời, cho bằng Ngài đã trở nên cao cả trước mặt Thiên Chúa. Bởi vì Ngài đã trở nên công chính bằng việc lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Ngài, một bác phó công chính.

-------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 44