mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6573
mod_vvisit_counterHôm Qua16592
mod_vvisit_counterTuần Này36019
mod_vvisit_counterTuần Trước100691
mod_vvisit_counterTháng Này100955
mod_vvisit_counterTháng Trước419088
mod_vvisit_counterTất cả22453526

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - CACH THỨC NGHE LỜI CHÚA PDF Print E-mail

Chi Tran

 

GƯƠNG CHÚA GIÊSU
Cách Thức Nghe Lời Chúa
Tiếng Chúa

- Này con ! Hãy nghe lời Cha, những lời đầy êm dịu, những lời thắng vượt ngàn lần khoa học của tất cả mọi triết nhân và các nhà thông thái trên đời.

"Lời Cha là Thần khí và là Sự sống" (Ga. 6, 64), giác quan người đời không lượng thức được.

Không nên tìm thỏa mãn trong đó, nhưng phải lắng nghe và tiếp thu với tâm hồn khiêm tốn hết sức và thành thực kính ái.

- Con đã thưa : "Lạy Chúa ! Hạnh phúc người được Chúa đích thân giáo huấn và chỉ dạy luật Chúa, để xoa dịu những ngày đen tối" (Ps. 92, 12-13) và để người đó khỏi cô quạnh trên trái đất.

Chính Cha, Cha đã dạy các tiên tri ngay từ thuở ban đầu, và ngày nay Cha cũng không thôi nói với hết mọi người. Nhưng nhiều người bưng tai giả điếc không muốn nghe.

Thậm chí có người thích nghe thế tục hơn nghe Thiên Chúa. Họ thích thỏa mãn nhục dục hơn đẹp lòng Thiên Chúa.

Đời chỉ hứa những cái tạm bợ và ít giá trị, mà người ta mê man theo nó. Còn Cha, Cha hứa những của cao quý và bất hủ mà lòng người vẫn lãnh đạm thờ ơ !

Ai là người chuyên cần phụng sự và vâng ý Cha trong mọi sự cũng như người ta chuyên cần phụng sự đời và những người quyền quý ở đời ?

"Biển gầm : hổ mặt cho Sidon" (Is. 23). Con muốn hiểu tại sao ? Đây hãy nghe : vì một chút lợi nhỏ xíu, người ta không quản ngại đường xa dặm thẳng. Mà bước một bước để được sống muôn đời, người ta lại ái ngại.

Vận dụng toàn năng lực để được một chút lợi hèn : người ta không nề quản.

Cãi vã khản tiếng vì một đồng xu nhỏ người ta không biết thẹn.

Vì một ngẫu tượng, vì một lời hứa suông mà người ta không sợ vất vả thâu đêm tối ngày.

Nhưng mỉa mai thay ! Để có một kho báu, một phần thưởng vô giá, một danh dự tuyệt hảo và vinh quang muôn đời... thì dù chỉ mỏi mệt đôi chút người ta cũng ngại ngùng.

Hỡi tôi tớ biếng lười và khó tính, hãy xấu hổ khi thấy người đời nhiệt thành để tự tiêu diệt, hơn con nhiệt thành để tự cứu thoát. Họ mê man vì của phù vân hơn con mê man chân lý.

Đã hẳn họ thất bại là phải. Nhưng lời Cha hứa không lừa dối ai, và không bao giờ Cha để người tín nhiệm lời Cha phải uổng công.

Điều Cha hứa, Cha sẽ cho. Điều Cha nói, Cha sẽ làm, miễn người ta thành tâm mến Cha đến cùng.

Chính tay Cha sẽ thưởng công tất cả những ai làm điều thiện. Chính Cha cũng sẽ ra tay thử thách một cách gắt gao những ai sốt sắng phụng thờ Cha.
Hai bài học

Con hãy ghi tâm khắc cốt lời Cha và ân cần suy gẫm luôn. Và con rất cần dùng đến lúc bị cám dỗ.

Điều con đọc mà con không hiểu, con sẽ hiểu lúc Cha đến thăm con.

Cha có hai cách thăm viếng những người Cha chọn : cám dỗ và yên ủi.

Và ngày ngày Cha dạy họ hai bài học : một bài khiển trách thói xấu và một bài huấn đức.

Ai nghe lời Cha mà coi thường, lời đó sẽ nên án phạt nó trong ngày công phán.

Ôi, Chúa Trời của con ! Chúa là tất cả may lành của con, nhưng con là ai mà dám nói cùng Chúa?

Con bần cùng hơn mọi tôi tớ bần cùng của Chúa, và là sâu bọ hèn hạ thiếu thốn. Con đáng khinh hơn con tưởng và xa điều con dám nói ra.

Xin Chúa hãy nhớ, lạy Chúa ! Con là hư vô, con chẳng có gì và chẳng làm được gì.

Duy mình Chúa thiện hảo, công bình và thánh thiện, Chúa làm gì cũng được, Chúa ban phát mọi ơn, Chúa cho mọi loài được sung túc. Chỉ có người tội lỗi là bị Chúa để cho thiếu thốn.

"Chúa hãy nhớ lòng lân tuất Chúa" (Is. 23,4), hãy đổ đầy ơn Chúa vào lòng con vì Chúa không muốn cho công việc Chúa ra vô hiệu.

Con sống thế nào được giữa đời ô trọc này, nếu không được lòng lân mẫn và ân sủng Chúa nâng đỡ !

Chúa đừng ngoảnh mặt đi, và đừng trì hoãn đến thăm con. Đừng cất ơn an ủi, không vậy "hồn con sẽ nên như khoảng đất khô trước mặt Chúa" (Ps. 141, 6).

"Lạy Chúa, xin dạy con thực hiện thánh ý Chúa" (Ibid), dạy con sống cho khiêm tốn và xứng đáng trước nhan Chúa vì Chúa là đường sáng cho con. Chúa thấu hiểu tình trạng của con. Chúa biết con trước khi con sinh ra trên đời, và trước khi có trời đất.
SUY NIỆM

Để tiếp thu lời Chúa phải :

- Chế ngự giác quan và tưởng tượng.

- Tiếp thu lời Chúa không phải để thảo luận nhưng là để nhờ ánh sáng Đức Tin mà thấu hiểu.

- Mến mộ và đem ra thực hành. Điểm cuối cùng này can hệ hơn cả.

Lạy Chúa ! Con xấu hổ vì đã không ngại vất vả để đẹp ý đời, thỏa mãn dục vọng mà ít chuyên lo thống hối để đền tạ đức công bình Chúa ! Xin ban ơn sáng suốt để con nhận định và trung thành nắm giữ lời Chúa răn dạy.
(từ cuốn "The Imitation of Christ")

---------------------------------------------

 
NGƯỜI TIN HỮU TRƯỞNG THÀNH - CAC THÁNH PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Wed, Jun 2 at 3:18 AM

Các thánh không để ai yêu Chúa hơn mình.

Mẹ thánh Têrêxa gốc thành Avila mạnh mẽ tuyên bố: "Ở trên thiên đàng, có người được vinh hiển hơn tôi, tôi chịu được, nhưng ở trên mặt đất này, có ai yêu Chúa hơn tôi, tôi không chịu được".

Thánh Pôlicapô già khụm. Người ta bắt ngài chối Chúa. Ngài liền run run thốt lên những lời thành thật sau đây trước mặt toà sắp lên án xử tử ngài: "Tôi phụng sự Chúa tôi đã 86 năm rồi, thế mà Ngài không bao giờ xử tôi tệ bạc một chút gì cả. Làm thế nào tôi có thể thoá mạ Chúa Trời tôi và Chúa Cứu Chuộc tôi được".

Trong một bức thư gởi cho người chị em họ tên là Marie Guerin, thánh nữ Têrêxa Hài Đồng viết : "Tôi chỉ biết một phương thế để đi đến một sự trọn lành, đó là yêu Chúa. Bởi thế, chúng ta hãy yêu, vì trái tim chúng ta chỉ được dựng nên vì mục đích đó".

Tất cả cuộc sống của chị thánh Têrêxa Hài Đồng đều được thu gọn trong hai tiếng: yêu Chúa. Yêu Chúa luôn, yêu Chúa hơn nữa, yêu Chúa cho đến khi trái tim chị không thể chịu nổi nên đã ngã vật xuống. Vì thế, không những chị đã sống vì yêu Chúa, mà chị cũng đã chết vì yêu Chúa, và sau khi chết, chị vẫn còn yêu Chúa mãi vì tình yêu Chúa là tình yêu bất diệt.
GPVL

-----------------------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - NGƯỜI TU XUẤT PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Mon, May 3 at 1:51 A

MỘT THOÁNG NGHĨ VỀ

VAI TRÒ TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN CỦA NGƯỜI TU XUẤT

Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tức là cách đây hơn một năm, trên trang báo online Đồng Hành, trong bài viết có tựa đề: "Tu xuất, người là ai?" linh mục An-rê Đỗ Xuân Quế, OP đã chia sẻ như sau:

Rời bỏ đời tu trở về đời thường, họ (những người xuất tu – NV) đã thành những giáo dân có học thức, có trình độ và thành công trong nhiều ngành nghề. Giáo dân thường gọi họ là người tu xuất. Họ là những bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ, doanh nhân... Việc chia tay đời tu là một quyết định và một lựa chọn cam go đối với người trong cuộc. Tôi gọi những người chuyển hướng đời tu là những kẻ đổi đời. Những kẻ đổi đời được nói tới ở đây là những người trước kia sống trong đời tu, nay về đời thường sống như những người khác. (Nguồn: donghanhonline.com).

1. Tu xuất, bạn là ai?

Cụm từ "Tu xuất" hay "Tu ra" xưa nay được dùng để chỉ những giáo dân từng tu học ít nhiều năm tại các chủng viện, dòng tu, học viện hay đệ tử viện, nhưng vì lý do nào đó bây giờ không còn tu nữa, họ trở về đời sống giáo dân bình thường. Hiện nay, để tránh dư âm của một thời thành kiến về giới tu xuất, thay vì gọi ông bà, anh chị tu xuất, thì người ta nhắc đến những giáo dân tu ra đó là những cựu chủng sinh, cựu tu sĩ (nam-nữ), cựu đệ tử...

Chúng ta biết rằng, ơn gọi càng đông thì con số xuất tu cũng gia tăng. Đó được xem như một quy luật bình thường, tự nhiên. Vì, xưa nay vẫn nói "Gọi thì nhiều, chọn thì ít". Khi xưa, một lớp vào chủng viện 120 chủng sinh, khi ra trường chỉ còn lại chừng 20. Như vậy, số 100 không bền đỗ sẽ "ra đi" không hẹn ngày trở lại! Nhưng, đi ra để vào đời, làm giáo dân sống chứng tá Tin Mừng trong lòng Giáo hội và xã hội.

Ngày xưa, vị nào tu xuất, do có trình độ học vấn cao, được đào tạo bài bản, nên thường có địa vị và nghề nghiệp ổn định và vững chắc trong cuộc sống đời thường. Nhiều vị nổi tiếng trong các lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc, như trường hợp nhạc sư Hải Linh (1920–1988), nhạc sĩ Hùng Lân (1922–1986), nhà văn Công Giáo Phạm Đình Khiêm (1920-2013) hay học giả Hoàng Xuân Việt (1930–2014) vv.

Tuy nhiên, đa phần giới tu xuất vẫn là những người âm thầm phục vụ gia đình, xã hội và Giáo hội một cách đáng ghi nhận. Đúng như những nhận định sau đây của LM Đỗ Xuân Quế trong bài viết đã dẫn trên:

Nhiều người trong số họ tích cực giúp các cha xứ trong các họ đạo khi nhận các chức vụ trong ban điều hành, làm giáo lý viên, phụ trách ca đoàn, làm truyền thông, viết bài trong nội san...

Với vốn liếng thần học, Kinh Thánh và các bộ môn liên quan họ đã nhận được trong thời gian ở chủng viện hay tu viện, cộng thêm kiến thức trong các ngành nghề chuyên môn, họ đã trở thành những giáo dân trưởng thành, có học thức, được người bên ngoài kính nể.

Chính họ ở giữa đời, phải đương đầu với đời và dám mạnh dạn đứng ra bênh đạo và phi bác những luận điệu vô căn cứ bêu riếu đạo. Họ làm việc trong xã hội nhưng không quên đóng góp phần mình cho Giáo hội, bằng một nếp sống chân chính để làm chứng cho Chúa và cho đạo.

Nhiều người trong họ đã không quên những năm tháng được ăn học và tu luyện trong các chủng viện hay tu viện mà tìm cách đền ơn bằng nhiều hình thức. Họ không ngần ngại nhận rằng ngày nay mình được như thế này một phần cũng là do công ơn của Giáo hội.

Có thể nói họ là một thứ nguồn vốn và tài lực tinh thần cho Giáo hội khai thác. Giáo hội có thể khai thác họ và chắc chắn họ sẽ sẵn sàng đóng góp cho Giáo hội, nếu các vị trong giáo quyền cần đến và kêu gọi họ.

Ngày nay Giáo hội đề cao vai trò của giáo dân và kêu gọi giáo dân tham gia vào các hoạt động của Giáo hội. Dám ước mong các vị trong giáo quyền lưu tâm đến vốn quý này là các người đi tu ra, kêu gọi họ đem khả năng của mình để làm việc cho Giáo hội.

Còn về phía họ, cũng ước mong họ tổ chức thành các hội ái hữu, câu lạc bộ hay hội cựu chủng sinh như Hội Cựu chủng sinh Kon Tum để sinh hoạt với nhau, duy trì ảnh hưởng tốt của đời tu mình đã nhận được và nhân rộng lên để phục vụ Giáo hội và xã hội.

Có thể nói, ngày nay giới tu xuất không còn mang mặc cảm là những người đã từng "ăn cơm nhà Đức Chúa Lời nhưng vì lý do gì đó mất ơn Chúa, đã không bền đỗ đến cùng!...". Chẳng những họ không tự ty mặc cảm, mà trái lại họ hiên ngang "vào đời". Nhiều địa phương, trong và ngoài nước, giới tu ra tình nguyện thành lập nhóm/ hội cựu chủng sinh, cựu tu sĩ hay cựu đệ tử. Họ có cả một chương trình hoạt động riêng, làm sao để giữ được tình huynh đệ gắn bó như xưa và nhất là thúc đẩy nhau sống "tốt đời đẹp đạo", cùng nhau là những tấm gương tỏa sáng giữa đời thường.

2. Tu xuất: những tấm gương tông đồ giáo dân toả sáng giữa đời thường

Khi bước chân vào đời, người tu xuất được mệnh danh là những giáo dân cựu chủng sinh (hay cựu tu sĩ). Họ sẽ sống ơn gọi giáo dân như bao người giáo dân khác.

Công đồng Va-ti-ca-nô II đã khẳng định: "Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô-hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì được Giáo Hội công nhận. Nghĩa là những Kitô-hữu đã được tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô nhờ phép thánh tẩy, đã trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ ; họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô-giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình" (CĐ. Vat. II, Hiến chế Tín lý về Giáo Hội số 31; GLHTCG số 897) (Nguồn: simonhoadalat.com).

ĐTC Pi-ô XII cũng đã nêu rõ: "Các tín hữu, và chính xác hơn, các giáo dân, có mặt ở hàng ngũ tiền phong trong đời sống Giáo Hội ; nhờ họ, Giáo Hội trở thành nguyên lý sống động của xã hội nhân loại. Chính vì thế, họ là những người trước hết phải có một ý thức luôn luôn sáng suốt hơn rằng không những mình thuộc về Giáo Hội, mà còn là Giáo Hội, tức là cộng đồng tín hữu trên trần gian, dưới sự lãnh đạo của một vị thủ lãnh chung là Đức Giáo hoàng, và các vị Giám mục hiệp thông với ngài. Họ là Giáo Hội" (Đức Piô XII, Diễn từ đọc trước các tân Hồng y ngày 20/02/1946; GLHTCG số 899) (Nguồn simonhoadalat.com).

Một cách thực tế, chúng ta có thể ghi nhận như thế này, "Giáo dân không phải Ki-tô hữu hạng hai, vì họ cùng được tham dự chức tư tế của Chúa Ki-tô là chức tư tế chung của người đã được rửa tội. Họ lo giúp những người chung quanh mình (trường học, gia đình, nghề nghiệp) học biết Tin Mừng và yêu mến Chúa Ki-tô. Họ làm cho xã hội, kinh tế, chính trị... được thấm nhuần đức tin. Họ tham gia đời sống Hội thánh bằng thi hành chức vụ thừa tác viên, bằng sinh hoạt nhóm, tham gia các ban bệ và tổ chức của Hội thánh, như Hội đồng giáo xứ, Hội đồng mục vụ vv... Đặc biệt người trẻ phải nghiêm chỉnh suy nghĩ đến địa vị mà Thiên Chúa muốn họ phải đảm nhiệm trong Hội thánh" (Bài "Ơn gọi của giáo dân là gì?", nguồn: giaoxuchinhtoadanang.org).

Với ơn gọi làm tín hữu giáo dân trong cộng đoàn Dân Chúa, chúng ta, những cựu chủng sinh, cũng có một vai trò quan trọng và sứ mệnh hết sức đặc biệt, như Công đồng Vat. II đã chỉ rõ: "Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo hội hiện diện và hoạt động nơi mà trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ thì Giáo hội sẽ không trở thành muối của trần gian..."; và "Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại." (x. Vat.II LG 33).

Có thể liệt kê 3 nhiệm vụ chính yếu mà bất kỳ người tín hữu giáo dân nào cũng phải ý thức và chu toàn. Đó là: a- Nên thánh giữa đời; b- Làm chứng nhân Tin Mừng Chúa Ki-tô trong trần gian; c- Tham gia vào công cuộc cứu độ của Hội thánh thông qua công việc tông đồ giáo dân.

Bổn phận nên thánh.

Nên thánh là bổn phận căn cốt nhất của tất cả mọi người Ki-tô hữu dù ở đấng bậc nào, bởi vì họ là phần tử của Hội thánh, là dân được thánh hiến của Thiên Chúa. Mặt khác, vì là những người được tuyển chọn, họ phải là thánh trước khi lãnh nhiệm vụ giúp cho người khác trở nên thánh. Chính Chúa Giê-su cũng đòi hỏi các môn đệ của Chúa nên giống Ngài và phải trở thành men, muối, ánh sáng cho đời (x. Mt 5, 13-16).

Trong Tông Huấn "Gaudete et Exsultate" về Ơn gọi nên thánh trong thế giới ngày nay, ĐTC Phan-xi-cô đã viết như sau: "Ðể nên thánh không buộc phải là một giám mục, một linh mục hay một tu sĩ. Chúng ta thường bị cám dỗ để nghĩ rằng sự thánh thiện chỉ dành cho những ai có thể rút lui khỏi công việc bình thường để dành nhiều thời gian cầu nguyện. Trường hợp đó không đúng. Tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh bằng cách sống cuộc đời với tình yêu và bằng cách làm chứng trong mọi công việc mình làm, ở bất cứ nơi nào mình sống. Anh chị em được mời gọi đến đời sống thánh hiến ư? Hãy nên thánh bằng cách sống quyết tâm của mình với niềm vui. Anh chị em đã kết hôn ư?Hãy nên thánh bằng cách yêu thương và chăm sóc cho chồng hay vợ mình, như Đức Kitô chăm sóc cho Hội Thánh. Anh chị em làm việc để kiếm sống ư? Hãy nên thánh bằng cách làm việc với sự liêm chính và kỹ năng trong khi phục vụ anh chị em mình. Anh chị em là cha mẹ hoặc ông bà ư? Hãy nên thánh bằng cách kiên nhẫn dạy dỗ trẻ nhỏ cách theo Chúa Giêsu. Anh chị em ở địa vị thẩm quyền ư? Hãy nên thánh bằng cách làm việc cho công ích và từ bỏ lợi ích cá nhân" (Số 14).

Làm chứng nhân Tin Mừng Đức Ki-tô trong trần gian

ĐTC Phao-lô VI đã nói: "Ngày nay người ta tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy". Điều đó có nghĩa là Ki-tô hữu không chỉ rao giảng Tin Mừng bằng lời nói suông, mà còn phải làm chứng tá cho những những điều mình giảng và dạy bằng chính đời sống của mình. Cụ thể là chúng ta phải làm chứng bằng đức tin và đức ái. Đây là nét đặc trưng của công cuộc truyền giáo.

Thực vậy, truyền giáo bằng đời sống chứng tá là hình thức truyền giáo được xếp ưu tiên hàng đầu và là căn cơ nhất. Chia sẻ về đường lối truyền giáo bằng chứng tá đời sống, một tác giả đã nhấn mạnh: "Con người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là các thầy dạy. Tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết. Hình thức đầu tiên của việc truyền giáo là chứng tá đời sống Ki-tô hữu; hình thức này là điều không thể thay thế được. Chúa Ki-tô, Đấng mà chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của Người, là 'Vị Chứng Nhân' tuyệt hảo (Kh 1,5 ; 3,14) và là khuôn mẫu cho chứng tá Ki-tô giáo. Chúa Thánh Thần đang đồng hành với Giáo hội trên bước đường của Giáo hội, đồng thời liên kết Giáo hội với lời chứng của người về Chúa Ki-tô (Ga 15, 26-27)" (Nguồn Internet).

Chúng ta cũng lưu ý là một trong những cách thức hiệu quả nhất của việc truyền giáo bằng đời sống chứng tá, đó chính là nêu gương đời sống bác ái, "Truyền giáo bằng những việc làm cụ thể, bằng chính đời sống bác ái của mỗi người chúng ta. Chúng ta đến thăm viếng những người già, người nghèo, người đau khổ, người bị bỏ rơi trong xã hội. Chúng ta giúp đỡ họ, an ủi họ. Qua những việc làm cụ thể, họ nhận ra chúng ta là môn đệ Chúa Kitô. Bởi vì, lời nói lung lay, gương lành lôi cuốn. Những hành vi bác ái cụ thể là những bài giảng hùng hồn nhất về Thiên Chúa. Đây là cách thức truyền giáo hiệu quả nhất" (LM Nguyễn Văn Hương, bài "Truyền giáo, sứ mạng chính yếu của người Ki-tô hữu", nguồn: daichungvienvinhthanh.com).

Tham gia vào công cuộc cứu độ của Hội thánh

Cách đây hơn 50 năm, Công Đồng Vat.II đã chỉ rõ: "Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại. Vì thế, khắp nơi phải mở đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo hội, tùy sức lực của họ và tùy nhu cầu của thời đại" (x.Vat.II, LG 33).

Vậy rõ ràng là người tín hữu không chỉ lo có đạo, giữ đạo cho riêng mình mà họ còn có nghĩa vụ và bổn phận "tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội" nữa. Và khi tham gia như thế họ không chỉ "làm giáo dân" mà còn là "người tông đồ, là nhà truyền giáo, là sứ giả Tin Mừng Đức Ki-tô" nữa... Mặt khác, Hội thánh cũng đã từng khẳng định: "Tất cả các phần tử của Hội thánh mỗi người một cách đều được sai đi. 'Ơn gọi Ki tô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ'. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm làm cho Nước Đức Kitô rộng mở trên khắp hoàn cầu được gọi là 'việc tông đồ' " (x. Giáo lý Hội thánh CG, số 863).

Có thể nói rằng mỗi người giáo dân chúng ta đều mang trong mình căn tính của một tông đồ, nghĩa là khi lãnh nhận bí tích thánh tẩy, ta được tháp nhập vào Nhiệm thể Chúa Ki-tô, đồng thời mang lấy sứ mệnh của người được sai đi. Vai trò và nhiệm vụ của ta đã được Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân (SLTĐGD) năm 1965 minh định như sau:

"Vậy việc tông đồ của Giáo Hội và của tất cả các chi thể trong Giáo Hội trước hết nhằm loan báo sứ điệp của Chúa Kitô bằng lời nói, việc làm và nhằm chuyển thông ân sủng của Người cho trần gian. Công việc này được thực hiện chính là do tác vụ giảng lời Chúa và ban các bí tích, đặc biệt được trao phó cho hàng giáo sĩ, trong tác vụ đó, cả giáo dân cũng phải hoàn tất phần quan trọng của mình để trở nên "những kẻ hợp tác với chân lý" (3 Gio 8). Nhất là trong lãnh vực này, việc tông đồ giáo dân và tác vụ chủ chăn bổ túc cho nhau" (x. SLTĐGD số 6).

Vậy có thể khẳng định một lần nữa là người Kitô hữu không chỉ có nghĩa vụ làm giáo dân mà còn là tông đồ được Chúa sai đến mọi người, mọi nơi để loan báo Tin Mừng, để làm chứng nhân cho Chúa Kitô chết và sống lại, để làm cho nhiều người được biết và yêu mến Chúa. Đó là nhiệm vụ Truyền Giáo. Như lời thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu: "Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!" (1Cor 9,16).

Từ những nhận thức trên, chúng ta có thể khẳng định một điều là không có người giáo dân làm tông đồ thì Hội thánh khó hoàn thành nhiệm vụ truyền giáo và cứu rỗi của mình. Chính vì lý do đó, Công đồng Vat.II đã khẳng định rõ ràng: "Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo hội hiện diện và hoạt động nơi mà trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ thì Giáo hội sẽ không trở thành muối của trần gian...", và "Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại" (x. Vat.II LG 33) ./.

Aug. Trần Cao Khải

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH PDF Print E-mail

SỰ IM LẶNG CỦA THÁNH GIUSE PHẢN ẢNH TÂM LÝ TÍCH CỰC?

Trần Mỹ Duyệt

Ngoại trừ một số ít thánh nhân đã để lại các bút tích, sách vở, các bài giảng thuyết, hay những câu nói thời danh, nhưng đa số các vị khác người đời sau biết rất ít về các ngài. Điều này dễ hiểu vì có vị sống cách chúng ta hàng thế kỷ, hàng thiên niên kỷ nên việc xác định các ngài đã sinh hoạt ra sao, nói năng, hành động như thế nào là điều hầu như không dễ dàng. Thánh Giuse cũng không ngoại lệ.

Trường hợp im lặng của thánh Giuse khiến chúng ta nêu lên câu hỏi: "Liệu đây có phải là một sự im lặng tiêu cực?" Ngài là người công chính. Là một trong ba vị của Gia Đình Nazareth. Ngài sống giữa Đức Maria và Chúa Giêsu. Ngài cũng sống giữa anh em và đồng hương, bạn bè. Thế nên, sự im lặng của Ngài phải có một ý nghĩa quan trọng. Nó chắc chắn đem lại cho chúng ta một bài học trong cuộc sống, và trên con đường tu đức của mỗi người. Và điều này sẽ giúp chúng ta noi gương Ngài sống tốt, sống nên cuộc sống mình dù trong ơn gọi độc thân, hôn nhân, gia đình, hay tu trì.

Thế nên sự im lặng của Ngài không thể cắt nghĩa hoặc cho rằng đó là sự im lặng mang mầu sắc, thái độ bi quan, tiêu cực. Nếu như vậy, Ngài có vấn đề về tâm lý, và Ngài không thể được coi là người công chính, người thánh thiện. "Muốn nên thánh phải là người trước đã" (St. Gioan Don Bosco). Một người trưởng thành đầy đủ về thể lý, tâm lý và tâm linh. Do đó, chắc chắn chúng ta phải tìm hiểu và nhìn vào sự im lặng này bằng cái nhìn tích cực.

Câu hỏi về sự im lặng của Thánh Giuse bắt nguồn từ Thánh Kinh. Trong 4 Phúc Âm, các thánh sử được coi như sống đồng thời với Đức Mẹ, với Chúa Giêsu, hoặc nếu có thì cũng chỉ sau đó một thời gian ngắn. Tóm lại, những con người ấy ít nhiều cũng có dịp gặp gỡ Thánh Giuse, trao đổi với Ngài, hoặc nghe kể về Ngài để ghi lại một vài câu nói của Ngài, trong một số trường hợp. Rất tiếc, điều này đã không xảy ra!

Nhưng nếu chúng ta hiểu rằng Thánh Kinh là lời của Chúa, lời được linh ứng cho phần rỗi con người, thì việc không ghi lại những câu nói, hoặc những phát biểu của Thánh Giuse cũng là điều dễ hiểu. Ngay cả Đức Mẹ, các thánh ký cũng chỉ ghi lại một vài câu ít ỏi liên quan đến sứ mạng cứu thế của Chúa Giêsu mà thôi. Tuy nhiên, ai dám khẳng định rằng trong đời thường, giữa tương quan gia đình, xã hội và bạn bè Thánh Giuse lúc nào cũng giữ thái độ im lặng. Nếu việc này xảy ra, chắc chắn cuộc đời của Ngài sẽ buồn tẻ. Đời sống chung và xã hội của Ngài sẽ làm cho những người chung quanh cảm thấy chán ngán, khó hiểu, mất hứng thú. Điều này còn ảnh hưởng đến công việc làm ăn của Ngài vì Ngài là một người thợ mộc, đến việc giáo dục, dạy dỗ trẻ Giêsu vì Ngài là người cha trong gia đình.

Một trong những phương pháp trị liệu những khủng hoảng, tranh cãi, chia rẽ trong gia đình, bạn bè, và xã hội là "chia sẻ", là "trao đổi", là "lắng nghe." Đó là lý do tại sao có những cuộc họp thượng đỉnh, những hội nghị, những buổi gặp gỡ bạn bè, những cuộc đối thoại với nhau. Điều này có nghĩa là trong rất nhiều trường hợp, nếu không nói hay hoàn toàn im lặng cũng không phải là tốt, là xây dựng, là tích cực, vì ngôn ngữ là một cách thức tốt nhất để chuyển tải, để trao đổi và chia sẻ những suy nghĩ, những tình cảm, và những điều mình muốn người khác hiểu cũng như hiểu và biết về người khác. Để làm việc này, ngôn ngữ không chỉ là lời (đàm thoại), mà còn bằng chữ viết (bút đàm), và cử chỉ (ngôn ngữ cơ thể).

Con người không phải là thần thánh để biết hết những gì người khác nghĩ và những gì người khác muốn. Do đó, nói lên những cảm nghĩ của mình, viết ra hoặc diễn tả những suy nghĩ của mình chính là cách thức thông thường nhất để dẫn đến hiểu biết, chia sẻ và thông cảm. Nếu không, trong đời sống chung sẽ dẫn đến rất nhiều hiểu lầm nhau vì sự im lặng, câm nín của chính mình hay của người khác. Và Thánh Giuse sẽ bị cho là không tốt, không trọn lành nếu như vì thái độ im lặng của Ngài đã làm ngăn trở những chia sẻ, thông cảm, và trao đổi thường ngày trong tương quan vợ chồng giữa Ngài và Đức Maria, trong tương quan cha con giữa Ngài và Chúa Giêsu, trong tương quan giữa Ngài và những người thân tín, bạn bè, cũng như trong tương quan công việc giữa Ngài và các thân chủ.

Như vậy nếu Thánh Giuse không để lại, hoặc không được ghi lại câu nói nào, những lời phát biểu nào thì phải hiểu là Ngài đã không dư thừa, không lạm dụng lời nói. Ngài không dùng ngôn từ để khiến ai phải mất lòng, gây đau khổ cho những người chung quanh, hoặc đánh bóng mình. Ngài là người biết dùng lời, biết nói đúng nơi và đúng lúc, với đúng người. Thánh Kinh đã ca tụng người biết kiềm chế, biết dùng lời nói và gọi họ là người "hoàn hảo" - những thánh nhân:

"Thưa anh em, đừng có nhiều người trong anh em ham làm thầy thiên hạ, vì anh em biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn. Thật vậy, tất cả chúng ta thường hay vấp ngã. Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân. Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè : dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy : nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao ! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, nó làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy. Thật thế, mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được : nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh em, như vậy thì không được. Chẳng lẽ một mạch nước lại có thể phun ra, từ một nguồn, cả nước ngọt lẫn nước chua sao ? Thưa anh em, làm sao cây vả lại có thể sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh trái vả ? Nước mặn cũng không thể sinh ra nước ngọt." (Giacôbê 3:1-12)

Người biết kiềm chế, tiết độ được lời nói là một người thánh. Đó là hình ảnh của Thánh Giuse trong ơn gọi hôn nhân, gia đình, đời thường, và nghề nghiệp. Ngài đã biết kìm hãm con người của mình để khôn ngoan điều khiển gia đình trong những lúc tưởng như nghiệt ngã, đầy thử thách.

Nếu trong Năm Thánh Giuse, noi gương Ngài chúng ta có thể thay đổi gì, thì theo tôi, thay đổi tích cực nhất là thay đổi cách nói năng, chia sẻ, và cảm thông với nhau trong gia đình, trong những tương quan bạn bè, tương quan xã hội.

"Những ai yêu sự sống và mong muốn được nhìn thấy những ngày tốt đẹp, hãy giữ miệng lưỡi khỏi điều xấu và đôi môi khỏi nói những lời dối trá." (Thánh Vịnh 34:12-13)

Và:

"Miệng người công chính là suối nước sự sống." (Cách Ngôn 10:11)

Lễ Thánh Giuse Thợ

1 tháng 5 năm 2021

----------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH PDF Print E-mail

SỰ IM LẶNG CỦA THÁNH GIUSE PHẢN ẢNH TÂM LÝ TÍCH CỰC?

Trần Mỹ Duyệt

Ngoại trừ một số ít thánh nhân đã để lại các bút tích, sách vở, các bài giảng thuyết, hay những câu nói thời danh, nhưng đa số các vị khác người đời sau biết rất ít về các ngài. Điều này dễ hiểu vì có vị sống cách chúng ta hàng thế kỷ, hàng thiên niên kỷ nên việc xác định các ngài đã sinh hoạt ra sao, nói năng, hành động như thế nào là điều hầu như không dễ dàng. Thánh Giuse cũng không ngoại lệ.

Trường hợp im lặng của thánh Giuse khiến chúng ta nêu lên câu hỏi: "Liệu đây có phải là một sự im lặng tiêu cực?" Ngài là người công chính. Là một trong ba vị của Gia Đình Nazareth. Ngài sống giữa Đức Maria và Chúa Giêsu. Ngài cũng sống giữa anh em và đồng hương, bạn bè. Thế nên, sự im lặng của Ngài phải có một ý nghĩa quan trọng. Nó chắc chắn đem lại cho chúng ta một bài học trong cuộc sống, và trên con đường tu đức của mỗi người. Và điều này sẽ giúp chúng ta noi gương Ngài sống tốt, sống nên cuộc sống mình dù trong ơn gọi độc thân, hôn nhân, gia đình, hay tu trì.

Thế nên sự im lặng của Ngài không thể cắt nghĩa hoặc cho rằng đó là sự im lặng mang mầu sắc, thái độ bi quan, tiêu cực. Nếu như vậy, Ngài có vấn đề về tâm lý, và Ngài không thể được coi là người công chính, người thánh thiện. "Muốn nên thánh phải là người trước đã" (St. Gioan Don Bosco). Một người trưởng thành đầy đủ về thể lý, tâm lý và tâm linh. Do đó, chắc chắn chúng ta phải tìm hiểu và nhìn vào sự im lặng này bằng cái nhìn tích cực.

Câu hỏi về sự im lặng của Thánh Giuse bắt nguồn từ Thánh Kinh. Trong 4 Phúc Âm, các thánh sử được coi như sống đồng thời với Đức Mẹ, với Chúa Giêsu, hoặc nếu có thì cũng chỉ sau đó một thời gian ngắn. Tóm lại, những con người ấy ít nhiều cũng có dịp gặp gỡ Thánh Giuse, trao đổi với Ngài, hoặc nghe kể về Ngài để ghi lại một vài câu nói của Ngài, trong một số trường hợp. Rất tiếc, điều này đã không xảy ra!

Nhưng nếu chúng ta hiểu rằng Thánh Kinh là lời của Chúa, lời được linh ứng cho phần rỗi con người, thì việc không ghi lại những câu nói, hoặc những phát biểu của Thánh Giuse cũng là điều dễ hiểu. Ngay cả Đức Mẹ, các thánh ký cũng chỉ ghi lại một vài câu ít ỏi liên quan đến sứ mạng cứu thế của Chúa Giêsu mà thôi. Tuy nhiên, ai dám khẳng định rằng trong đời thường, giữa tương quan gia đình, xã hội và bạn bè Thánh Giuse lúc nào cũng giữ thái độ im lặng. Nếu việc này xảy ra, chắc chắn cuộc đời của Ngài sẽ buồn tẻ. Đời sống chung và xã hội của Ngài sẽ làm cho những người chung quanh cảm thấy chán ngán, khó hiểu, mất hứng thú. Điều này còn ảnh hưởng đến công việc làm ăn của Ngài vì Ngài là một người thợ mộc, đến việc giáo dục, dạy dỗ trẻ Giêsu vì Ngài là người cha trong gia đình.

Một trong những phương pháp trị liệu những khủng hoảng, tranh cãi, chia rẽ trong gia đình, bạn bè, và xã hội là "chia sẻ", là "trao đổi", là "lắng nghe." Đó là lý do tại sao có những cuộc họp thượng đỉnh, những hội nghị, những buổi gặp gỡ bạn bè, những cuộc đối thoại với nhau. Điều này có nghĩa là trong rất nhiều trường hợp, nếu không nói hay hoàn toàn im lặng cũng không phải là tốt, là xây dựng, là tích cực, vì ngôn ngữ là một cách thức tốt nhất để chuyển tải, để trao đổi và chia sẻ những suy nghĩ, những tình cảm, và những điều mình muốn người khác hiểu cũng như hiểu và biết về người khác. Để làm việc này, ngôn ngữ không chỉ là lời (đàm thoại), mà còn bằng chữ viết (bút đàm), và cử chỉ (ngôn ngữ cơ thể).

Con người không phải là thần thánh để biết hết những gì người khác nghĩ và những gì người khác muốn. Do đó, nói lên những cảm nghĩ của mình, viết ra hoặc diễn tả những suy nghĩ của mình chính là cách thức thông thường nhất để dẫn đến hiểu biết, chia sẻ và thông cảm. Nếu không, trong đời sống chung sẽ dẫn đến rất nhiều hiểu lầm nhau vì sự im lặng, câm nín của chính mình hay của người khác. Và Thánh Giuse sẽ bị cho là không tốt, không trọn lành nếu như vì thái độ im lặng của Ngài đã làm ngăn trở những chia sẻ, thông cảm, và trao đổi thường ngày trong tương quan vợ chồng giữa Ngài và Đức Maria, trong tương quan cha con giữa Ngài và Chúa Giêsu, trong tương quan giữa Ngài và những người thân tín, bạn bè, cũng như trong tương quan công việc giữa Ngài và các thân chủ.

Như vậy nếu Thánh Giuse không để lại, hoặc không được ghi lại câu nói nào, những lời phát biểu nào thì phải hiểu là Ngài đã không dư thừa, không lạm dụng lời nói. Ngài không dùng ngôn từ để khiến ai phải mất lòng, gây đau khổ cho những người chung quanh, hoặc đánh bóng mình. Ngài là người biết dùng lời, biết nói đúng nơi và đúng lúc, với đúng người. Thánh Kinh đã ca tụng người biết kiềm chế, biết dùng lời nói và gọi họ là người "hoàn hảo" - những thánh nhân:

"Thưa anh em, đừng có nhiều người trong anh em ham làm thầy thiên hạ, vì anh em biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn. Thật vậy, tất cả chúng ta thường hay vấp ngã. Ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thân. Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè : dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy : nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao ! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, nó làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy. Thật thế, mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được : nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh em, như vậy thì không được. Chẳng lẽ một mạch nước lại có thể phun ra, từ một nguồn, cả nước ngọt lẫn nước chua sao ? Thưa anh em, làm sao cây vả lại có thể sinh ra trái ô-liu, hoặc cây nho sinh trái vả ? Nước mặn cũng không thể sinh ra nước ngọt." (Giacôbê 3:1-12)

Người biết kiềm chế, tiết độ được lời nói là một người thánh. Đó là hình ảnh của Thánh Giuse trong ơn gọi hôn nhân, gia đình, đời thường, và nghề nghiệp. Ngài đã biết kìm hãm con người của mình để khôn ngoan điều khiển gia đình trong những lúc tưởng như nghiệt ngã, đầy thử thách.

Nếu trong Năm Thánh Giuse, noi gương Ngài chúng ta có thể thay đổi gì, thì theo tôi, thay đổi tích cực nhất là thay đổi cách nói năng, chia sẻ, và cảm thông với nhau trong gia đình, trong những tương quan bạn bè, tương quan xã hội.

"Những ai yêu sự sống và mong muốn được nhìn thấy những ngày tốt đẹp, hãy giữ miệng lưỡi khỏi điều xấu và đôi môi khỏi nói những lời dối trá." (Thánh Vịnh 34:12-13)

Và:

"Miệng người công chính là suối nước sự sống." (Cách Ngôn 10:11)

Lễ Thánh Giuse Thợ

1 tháng 5 năm 2021

--

 
<< Start < Prev 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 Next > End >>

Page 17 of 66