mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3208
mod_vvisit_counterHôm Qua7179
mod_vvisit_counterTuần Này3208
mod_vvisit_counterTuần Trước43250
mod_vvisit_counterTháng Này123207
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10264520

We have: 483 guests online
Your IP: 54.146.214.8
 , 
Today: Feb 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH = 31 = THANH NHAN PDF Print E-mail

 

Thánh Nhân

Tự hỏi thánh nhân là ai? Tại sao người đó được gọi là thánh nhân? Những nhân cách nào được gọi là thánh nhân?

Thánh nhân cũng là một con người bình thường bằng da bằng thịt, họ cũng có một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác, nhưng đời sống đạo đức của họ thì truyệt vời và cao thượng phi thường. Ai ai cũng có thể làm được, bởi vì đạo đức là những đức hạnh sống dành cho con người, chúng rất gần gủi, bình dị và giản đơn.

Vậy chúng ta hãy thử quan sát vài đức hạnh của các vị thánh nhân từ cổ tới kim như đức Phật, đức mẹ Maria, Chúa Giê-Su, ông thánh Martinô, bà thánh Theresa, v.v...:

Họ có một lòng yêu thương bao la rộng lớn. Lòng yêu thương của họ không chỉ giới hạn ở con người mà là các loài vật, cây cỏ thiên nhiên. Họ biết quý trọng sự sống của muôn loài. Bởi vì họ quan niệm rằng ai ai cũng có cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái, bà con thân bằng quyến thuộc. Các loài vật dù ác tới đâu cũng có cha mẹ anh chị em và người thân. Do hiểu rõ như vậy các vị thánh nhân không bao giờ giết hại hay làm hại bất kỳ ai, bất kỳ loài vật nào, họ không bao giờ vì ham vui mà bẻ một cành hoa đem đi cắm. Chính vì sống được với lòng yêu thương như vậy cho nên tâm họ bao la rộng lớn, không bao giờ có ý muốn hại ai, muốn đem sự đau khổ đến cho ai hay loài vật nào.

Họ không bao giờ tham lam lấy cắp của ai, dù là sợi chỉ cây kim, trái ớt. Vì họ hiểu khi người khác bị mất vật gì, người đó rất đau khổ và giận dữ. Thánh nhân không bao giờ muốn người khác buồn khổ vì mình, do vậy họ quyết không bao giờ tham lam lấy cắp của bất kỳ ai.

Họ thích sống một mình, sống không gia đình, sống trầm lặng. Không thích nói chuyện giao du, tụ họp ca hát, bàn tán chuyện đời. Họ dành thời gian lo trau dồi rèn luyện nhân cách của mình cho toàn thiện thêm. Mỗi khi rảnh rỗi họ "tư duy suy nghĩ về những hành động lời nói của mình có làm khổ mình, làm khổ người khác hoặc làm khổ các loài vật khác hay không. Nếu có thì họ quyết từ bỏ. Nếu không thì họ tư duy nhiều thêm để tăng trưởng những điều thiện trong tâm hồn mình." Cách sống tư duy như vậy dần dần hình thành những tính cách cao thượng tuyệt vời trong con người họ và trở thành bản năng tự nhiên.

Họ luôn thành thật, thật thà ngay thẳng, không gian dối, lương lẹo, mưu tính, không dối gạt người bao giờ dù là nói chơi. Vì họ hiểu người bị người khác dối gạt rất đau khổ và sẽ giận dữ. Do vậy họ không bao giờ muốn làm ai đau khổ vì lời nói của mình. Hơn nữa ta có thể thấy họ không bao giờ nói chuyện có nói không, chuyện không nói có. Không bao giờ nói hai lời. Không tranh biện với bất kỳ ai. Không bao giờ nói xấu ai, chỉ trích ai, chê bai ai. Chỉ nói những lời nói thương yêu, ôn tồn, nhỏ nhẹ, dịu dàng, khuyến khích mọi người thương yêu nhau, sống hòa hợp và đoàn kết nhau,...

Họ là một con người minh mẫn sáng suốt không dùng những chất kích thích như rượu, bia cafe thuốc lá hoặc các chất kích thích khác. Vì họ hiểu những chất kích thích đó chỉ hại người hại mình.

Đời sống của các vị thánh nhân thật đơn giản. Ít muốn biết đủ. Chỉ giữ lại đủ quần áo để mặc, không ngủ giường to rộng lớn, không tích trữ hoặc chạy theo các kiểu ăn mặc Á, Âu, Mỹ. Nếu có dư vật gì, tài sản gì thì chia sẻ, bố thí, xem có ai cần đều đem cho hết. Họ sống đơn giản tự nhiên không trang điểm làm đẹp, nhuộm chuốt. Quan trọng là ăn mặc sạch sẻ kín đáo và tươm tất. Trong nhà luôn ít đồ vật, nhìn thoáng mát, gọn gàng sạch sẽ không cầu kỳ, không chất chứa tàng trữ đồ đạc.

Họ không bao giờ đổ lỗi cho ai, không bao giờ trách ai. Vì họ hiểu khi trách ai là tự mình làm khổ mình. Họ biết cách sống vui vẻ chấp nhận tất cả mọi việc đến với họ. Không kêu than, không đổ lỗi cho ai hay cho hoàn cảnh nào, chỉ nhìn thấy lỗi mình.

Họ sẵn sàng giúp đỡ mọi người, chia sẻ ngay những gì mình có mà không hối tiếc từ công sức, của cải tài sản tiền bạc, thời gian, kinh nghiệm sống, những lời an ủi,...

Họ sống không lo lắng sợ hãi và buồn phiền. Với cách sống có lòng yêu thương bao la rộng lớn thì có ai làm cho họ phải lo lắng buồn phiền hoặc sợ hãi. Ai họ cũng có thể yêu thương và tha thứ được, dù là ai hại họ đến đâu, ác đến đâu, các vị thánh nhân cũng đều tha thứ bỏ qua và cho đi tất cả, kể cả mạng sống của chính mình. Đúng vậy, chúng ta thường lo lắng sợ hãi người khác hại mình vì chúng ta vẫn chưa có lòng yêu thương rộng lớn. Một con kiến cắn chúng ta, chúng ta còn thấy đau, thấy giận và giết chúng ngay nói chi là một con người đánh mình, giết mình hoặc hại mình. Lòng yêu thương rộng lớn đó có được là do hằng ngày họ vun đắp được từ những hành động thương yêu các loài vật bé nhỏ xung quanh, không bao giờ hại chúng, không bao giờ giết chúng, không bao giờ ăn thịt chúng vì họ không muốn thấy chúng khổ, không muốn chúng mất đi người thân thương.

Họ sống đối xử bình đẳng với tất cả mọi người và mọi loài vật. Cung kính và tôn trọng, nhường nhịn tất cả. Không phân biệt thiện ác, không phân biệt màu da dân tộc, nam nữ, có bệnh tật hay khỏe mạnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, thân thuộc máu mủ ruột thịt hay lạ mặt. Ai ai họ đều đối xử như nhau, không thiên vị ai.

Họ sống không màng danh lợi, không bao giờ muốn khẳng định cái tôi, cái ta. Họ không nhận xét, không bác bỏ, chê bai ý kiến, lời nói hoặc việc làm của người khác. Họ biết từ bỏ ý niệm riêng tư để sống vì người khác, diệt cái bản ngã bằng những đức hạnh nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

Họ không bao giờ nghi ngờ ai, họ luôn tin tưởng vào mọi người, tin vào mọi người là người tốt, người thiện, người giúp đỡ mình, người muốn tốt cho mình, người yêu thương mình...

Họ sống không chạy theo những ham muốn lạc thú thế gian như chạy theo ăn uống cầu kỳ, ngủ nghỉ, yêu đương, chơi bời, danh lợi, không tranh đua hơn thua đúng sai phải trái với đời, với người. Họ thích sống đời sống ẩn dật, buông xả. Ăn để sống chứ không phải sống để ăn, ngủ nghỉ rất ít. Không chơi bời, tham vui, không coi trọng đồng tiền và danh vọng, ...Đức Phật từ vị trí của một vị thái tử từ bỏ mọi danh vọng, giàu sang sống một đời sống nay đây mai đó, không gia đình, không cất giữ tiền bạc, ăn một ngày một bữa, không bao giờ ăn thịt các loài động vật, quyết đoạn diệt sạch lòng tham muốn của mình.

Họ không coi trọng cái thân vì họ biết rõ nó là bất tịnh, hôi thúi, biến hoại, tạm bợ. Do vậy họ không chú trọng làm đẹp trang điểm, lo cho nó, giữ gìn nó, bảo vệ nó, ai đụng vào thì ăn thua đủ. Họ không sợ bệnh, sợ chết, không sợ người khác làm hại đánh giết, không giận dữ khi ai xúc phạm, chê bai chỉ trích, nói xấu, đổ oan v.v... Ngược lại, họ càng yêu thương những người hại mình nhiều hơn và luôn luôn sẵn sàng tha thứ, khoan dung, độ lượng.

Trước tất cả mọi việc xảy đến, tâm họ thản nhiên bất động, thanh thản an lạc và vô sự dù thành hay bại, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ, khen hay chê, vinh hay nhục.

Họ không để tâm dính mắc vào những thương nhớ ích kỷ ràng buộc giữa những người thân thuộc quen biết, bởi vì họ hiểu những thương nhớ ích kỷ đó chỉ làm cho con người đau khổ thêm. "Càng mong nhớ nhớ thương thì càng đau khổ nhiều". Thay vào đó nên trải rộng lòng yêu thương ra khắp mọi người và muôn loài vạn vật, xem ai ai cũng là người thân quen như gia đình mình vậy.

Oai nghi chánh hạnh của họ rất từ tốn, chậm rãi, cẩn thận không hấp tấp vội vả. Đi, đứng, nằm, ngồi đều nhìn trước sau, tránh giẫm đạp lên các loài động vật bé nhỏ,...

V.v...

Tóm lại, nhân cách thánh nhân không chỉ dừng lại vài điểm chính ở trên mà con rất rất nhiều. Cái đáng chú ý nhất là họ cũng từ những con người bình thường mà ra. Những nhân cách đó ai ai cũng có thể tự trau dồi được, chứ không phải do tự nhiên sanh ra đã có hay do thần thánh nào ban tặng. Chính mỗi con người làm chủ cuộc đời của mình, chính mỗi con người tự tạo thiên đàng hoặc địa ngục cho chính mình chứ không ai khác, không ai có thể sắp đặt cho chính mình được. Chỉ cần sống đầy đủ những đạo đức đức hạnh không làm khổ mình, khổ người và khổ muôn loài vạn vật khác thì thiên đàng là của họ.Tất cả đều nằm trong tầm tay của con người.

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 30 = NGUOI TRUYEN DAO CAN DAM PDF Print E-mail

THẾ GIỚI CẦN CÓ NHỮNG NGƯỜI TRUỲÊN ĐẠO CAN ĐẢM

Trong ngày "Truỳên Giáo khánh nhật", Đức Thánh Cha Phanxicô mới ban hành một thông địêp mạnh mẽ kêu gọi những Kitô Hữu chia sẽ đức tin, vì thế giới ngày nay bị ưu sầu, phìên muộn nên cần thíêt công bố Lời Chúa cách mạnh dạn và trong mọi tình húông.

"Trong tình húông phức tạp này, ở chân trời hịên tại và tương lai dường như bị những đám mây đe dọa , cần thíêt công bố Phúc Âm của Đức Kitô một cách mạnh dạn va trong mọi tình húông, Phúc Âm Đức Kitô, là một thông địêp hy vọng, hòa giải, hịêp thông, sự cống bố thân mật của Chúa, lòng thương xót, cứu độ của Người và công bố sức mạnh tình ỵêu của Chúa có thể chế ngự tối tăm của sự dữ và dẫn đưa chúng ta trên con đường tốt lành," Đức Thánh Cha víêt trong thông dịêp của Người, ban hành ngày 6 tháng Tám bởi Tòa thánh Vatican.

Đức Thánh Cha khởi sự thông địêp đầu tiên của Người về Ngày Truỳên Giáo khánh nhật cử hành ngày 20 tháng 10, ngày kết thúc Năm Đức Tin, sẽ chỉ còn vài tùân lễ cách xa ngày cử hành ngày dâng híên nỗ lực truỳên giáo.

Theo quan nịêm ấy, Người dùng lá thư này để đề nghị năm ý tưởng bao trùm đức tin, sự cần thíêt chia sẻ nó, một vài rào cản nỗ lực truỳên giáo có thể bắt gặp và đìêu quan trong của sự đáp ứng cách rộng lượng cho tíêng gọi truỳên giáo của Đức Chúa Thánh Thần.

Đức Thánh Cha bắt đầu tập trung vào đỉêm thứ nhất là "đức tin," mà Giáo hội đã tập trung vào từ thời Đức Benedictô XVI, bắt đầu Năm Dức Tin vào tháng 10 ngày 11 năm 2012. Một nghi lễ cho NĂM là thời bỉêu kết thúc bằng một nghi lễ bế mạc vào ngày 24 tháng 11 năm 2013 tại quảng trường thánh Phêrô.

"Đức tin là một ân sủng quí báu của Thiên Chúa." Đức Thánh Cha víêt, Đức tin mở trí tụê để hỉêu bíêt Người. Tuy nhiên Đức tin cần thíêt được ưng thụân, nó cần có sự đáp ứng của cá nhân, mạnh dạn chính minh' tín thác nơi Chúa. Để sống tình yêu của Người và bíêt tri ân lòng thương xót vô biên của Chúa."

Đức tin cũng là một ơn sủng, không dành riêng cho một số it nhưng híên dâng với lòng rộng lượng. Mọi người phải có thể trải qua nìêm hoan lạc được Thiên Chúa thương mến, vui mừng ơn cứu độ! Nó là một ơn mà người ta không thể giữ làm của riêng, nhưng nó phải được chia sẻ. Nếu chúng ta múôn giữ nó làm của riêng, chúng ta sẽ bị cô lập, cằn cỗi và là những Kitô hữu bệnh họan," Người nói ở trong thông địêp.

Đức Giáo Hòang cũng đã quay trở lại một đỉêm của đề mục, trông đến những người ở bên lề xã hội.

"Mỗi cộng đồng, khi cộng đồng tuyên xưng Đức tin là "trưởng thành" ca tụng nó bằng sự vui mừng trong thời gian phụng vụ. sống nhân ái, công bố Lời Chúa không ngừng, sự tự do riêng của minh' đi 'vòng chu vi ngòai' cách đặc bịêt đến với những người chưa có dịp hỉêu bíêt Đức Kitô," Người đã khẳng định.

Sau đó Đức Thánh Cha quay trở lại ngày kỷ nịêm năm thứ 50 Công Dồng Vatican II, nó xẩy ra đồng thời trùng với Năm Đức Tin.

"Năm Đức Tin, năm mươi năm sau sau ngày khai mạc Công Đồng Vatican II, làm động cơ thúc đẩy tòan thể Giáo Hội hướng về nhận thức đổi mới bộ mặt của minh' trong thế giới đương thời và nhịêm vụ trong số những quốc gia và dân tộc." Người nói.

"Công Dồng Vatican II," Đức Thánh Cha đã phát bỉêu, "nhấn mạnh vào phương pháp đặc bịêt nhịêm vụ của người truỳên giáo thế nào, đó là mở rộng ranh giới đức tin, thuộc về bổn phận của mọi người đã lãnh phép rửa và tất cả những cộng đòan Kitô."

Như một phương pháp ứng dụng về mặt thực hành để ủy thác, Đức Thánh Cha mời gọi các Giám mục, hội đồng mục vụ và "từng người hay từng nhóm có trách nhịêm trong Hội Thánh để đưa ra một tư thế đáng chú ý về chìêu kích truỳên giáo bằng thông tin và những chương trình mục vụ, trong sự hỉêu bíêt lời hứa truyền giáo của họ không được chu tòan trừ phi mục đích của nó có ý nghĩa một chứng nhân Đức Kitô trước những quóc gia và tất cả mọi người.

Đỉêm thứ ba, Đức Thánh Cha đã để lộ ý múôn một sự ước tính ngay thẳng về một vài trở ngại bên trong và bên ngòai mà công vịêc phúc âm hóa gặp phải.

"Đôi lúc có sự thíêu hăng say, vui mừng, mạnh dạn, và hy vọng trong sự công bố Thông địêp của Đức Kitô cho tất cả và giúp mọi người trong thời đại của chúng ta để gặp gỡ Người.

"Đôi lúc, vẫn còn suy nghĩ, sự công bố chân lý Phúc âm cách thức công kích sự tự do," Người víêt.

Sự nói trái ngược quýêt định ấy, Đức giáo hòang trông cậy vào Đức Thánh Cha Phaolô VI, Người nói :"Đìêu ấy sẽ...bị.......sai lầm gây tác động mạnh một vài vấn đề đến lương tâm của anh em chúng ta. Nhưng đề ra cho lương tâm của họ một chân lý Phúc âm và sự cứu rỗi trong Đức Giêsu Kitô, với sự sáng tỏ hòan tòan và bằng tất cả sự tôn trọng quỳên chọn lựa tự do mà nó bỉêu thị.... Như là một sự kính trọng đối với sự tự do này.

Một cạm bẫy khác góp phần trong con đường của một người rao giảng Phúc âm là sự thử thách công bố Đức Kitô mà không có Hội Thánh của Người. "Sự rao giảng Phúc Âm không là hành động của cá nhân cô lập hay riêng tư ; luôn luôn thuộc Hội thánh (tập thể)." Đức Thánh Cha nói phản ứng lại.

Đức Thánh Cha dành riêng suy nịêm thứ bốn về cả tính di động của mọi người lẫn sự dễ dàng truỳên đạt "đã hòa hợp mọi người, quen bíêt, kinh nghịệm ." như thế nào.

"Về những nguyên nhân làm vịêc" Người ghi nhận, "Trọn vẹn những gia đình di chuỷên tự lục địa này sang lục địa kia, nghề nghị6p và văn hóa thay đổi, sự du lịch, va hịên tượng khác cũng đã đưa đến những động tác lớn lao cho mọi người. Đìêu này làm cho khó khăn, dù cho là công đồng giáo xứ, để bíêt ai là người thường trú, hay tạm trú trong khu vực."

Những phương tịên di chuyển này mà mọi người trước đây đã từng tạo thành trong đức tin ở một nơi đang bị bỏ qua và "con số những người xa lạ với đức tin, hay thờ ơ với chìêu kích tôn giáo hoặc bị cổ vũ bởi nìêm tin khác, đang gia tăng." Đức Thánh Cha giải thích.

Tất cả những nguyên tố này, Đức Giáo Hòang nói : "tân phúc âm hóa" là cần thíêt.

Đức Thánh Cha cũng nhận thấy rằng chúng ta " sống vào thời đại khủng hỏang, va chạm với nhìêu lãnh vực của cuộc sống, không phải chỉ là kinh tế, tài chính, an tòan thực phẩm, hay môi trường, nhưng cả những người rơi sâu hơn váo ý nghĩa của cuộc sống và giá trị căn bản mà nó làm cho có sinh khí.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh "Quí anh chị em trong thời đại này,"cần thíêt có một nguồn ánh sáng vững bền rọi sáng đường đi của họ và đìêu ấy chi Đức Kitô có thể ban cho."

Đồng thời, Người làm cho rõ ràng tinh thần truỳên giáo của Hội Thánh không phải là thuýêt phục ai theo đạo (proselytizing), mà bằng chứng của cuộc đời nó rọi sáng con đường, nó mang theo hy vọng và tình yêu thương. HỘI THÁNH - Cha nhắc lại một lần nữa – không phải là một tổ chức nổi bật, một xí nghịêp hay một cơ quan phi chính phủ (NGO) , mà là một cộng đồng con người, phấn khởi lên bởi Chúa Thánh Thần, là Đấng đã sống và đang sống kỳ dịêu bằng sự gặp gỡ Đức Giêsu Kitô và ước múôn chia sẻ sự từng trải nìêm vui sâu xa, thông địêp cứu độ mà Chúa đã ban cho chúng ta.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã dung phần cúôi cùng để cám ơn tất cả những ai đã dành thời gian như một người truỳên giáo hay là cống híên cụôc đời của họ để rắc gieo Lời Chúa. Người cũng cám ơn Qúy vị Giám Mục, cộng đồng dân Chúa đã gửi những tư tế đến những khu vực thíêu thốn ơn kêu gọi và khuýên khích sự tíêp tục rộng lượng của họ. Sự gửi những nhà truyền giáo, Người víêt, "Không bao giờ là mất mát, nhưng là kíêm được."

Trước khi kết thúc thông địêp, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tưởng nhớ những ngừơi "Kitô hữu, họ ở trong mọi thành phần trên thế gian, trải qua những khó khăn công khai công bố đức tin của họ và có được quỳên hợp pháp để thực hành đìêu ấy bằng những cử chỉ thích đáng."

"Họ là những anh chị em của chúng ta, những chứng nhân can đảm – họ lại còn đông hơn là những vị Tử đạo trong những thế kỷ đầu – Họ nhẫn nại, kiên trì trong vịêc tông đồ với bíêt bao hình thức khủng khố đương thời. Một số ít cũng hy sinh đời sống của họ để trung thành với Phúc Âm của Đức Kitô. Cha mong múôn tái xác nhận sự gần gũi của Cha trong lời cầu nguỵên cho mọi cá nhân, gia đình và những cộng đồng đang chịu đưng bạo lực, và tính không khoan nhượng, và Cha nhắc nhở họ những lời khích lệ của Đức Giêsu :"Hãy mạnh dạn lên, Thầy đã thắng thế gian."

Cúôi thông địêp Đức Thánh Cha chúc lành cho những nhà truỳên giáo và tất cả những ai cùng đi và trợ giúp lời cam kết chủ ýêu này của Hội Thánh để truỳên bá Phúc Âm khắp tận cùng trái đất."

Đọc tòan văn bản thông địêp "Ngày Khánh Nhật Truỳên Giáo" này của Đức Thánh Cha , theo link : http://www.catholicnewsagency.com/document.php?n=1077

QQ chuỷên ngữ 08-10-2013 – 07:45pm

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 29 = TRUYEN THONG LOAN BAO TIN MUNG PDF Print E-mail

 

Sử dụng truyền thông để truyền bá Tin Mừng

Vũ Văn An8/6/2013

Viện Napa được thành lập để giúp các nhà lãnh đạo Công Giáo đối diện với các thách đố do "Nước Mỹ Kế Tiếp" đặt ra, là tiếp tục công việc của các Tông Đồ và các vị kế nhiệm các ngài, tức các giám mục, bằng cách lưu tâm tới lời kêu gọi liên tục phúc âm hóa của Chúa Kitô.

Qua kế hoạch hướng dẫn các tham dự viên thấu hiểu chân lý nằm ở đàng sau đức tin, Viện Napa giúp người Công Giáo dám sống và dám bảo vệ đức tin của họ một cách đầy tự tin thanh thản, một niềm tự tin phát sinh từ một nền đào luyện vững chắc, tình hiệp thông và sự phong phú hóa thiêng liêng.

Chú tâm chính của Viện là cuộc hội thảo hàng năm. Được tổ chức tại Thung Lũng Napa, California, cuộc hội thảo giới thiệu các vị Hồng Y, giám mục, linh mục và tu sĩ cũng như các nhà trí thức Công Giáo nổi danh trình bày nhiều bài học sâu sắc về các chủ đề hợp thời.

Viện đã tổ chức được 2 khóa hội thảo vào các năm 2011 và 2012. Khóa hội thảo thứ ba vừa kết thúc vào Chúa Nhật 4 tháng 8 vừa qua. Khóa năm nay bàn tới các chủ đề: Tính Thánh Thiêng Của Việc Làm, Xây Dựng Nền Văn Hóa Công Giáo, và Lý Trí Và Đức Tin.

Các diễn giả và các giáo phẩm tham dự gồm: các TGM José Gomez, Charles Chaput, John Nienstedt, Samuel Aquila, Salvatore Cordileone, và Alexander Brunett; các GM Robert Vasa, Kevin Vann, và Robert Morlino; các LM Robert J. Spitzer, S.J., Ronald Tacelli, S.J., và Brian Mullady, OP; cùng với Tim Gray, Ph.D., Carolyn Woo, Ph.D., Kathryn Jean Lopez, John Garvey, và Tiến Sĩ Francis Beckwith.

Theo tin CNA/EWTN ngày 5 tháng 8, tại cuộc hội thảo năm nay, Kathryn Jean Lopez, giám đốc Catholic Voices USA kiêm tổng biên tập National Review Online, đã phát biểu rằng: Người Công Giáo phải coi truyền thông thế tục như một cơ hội để phúc âm hóa và vươn tới "những ai cần anh hùng và Tin Mừng" một cách hữu hiệu hơn.

Cô cho hay: "Hãy nhìn truyền thông như một cơ hội tông đồ. Hãy gọi cho các phóng viên, hãy thành bạn bè của họ. Hãy mời họ bước vào để nói về Tin Mừng. Qúy vị không cần đồng ý với họ về mọi điều họ nói hay làm họ trở lại ngay lập tức. Qúy vị nên kiên nhẫn. Hãy tôn trọng sự tự do của họ. Hãy chia sẻ sự thật với họ. Hãy chân thực với họ".

Cô bảo: "tôi biết ta dễ bị cám dỗ ta thán về truyền thông, tìm các sai lạc của họ. Nhưng sở dĩ tường trình của họ thù nghịch đối với ta, là vì những người chủ trì chương trình, các phóng viên, các nhà sản xuất không biết gì về Đạo Công Giáo, họ có thể chỉ biết những gương xấu, những bài giáo lý tệ hay một biếm họa nào đó".

Cô đưa ra một số gợi ý để trả lời các chỉ trích và tranh luận về đức tin Kitô Giáo. Cô bảo: "Qúy vị nên nhìn ý hướng tích cực nằm đàng sau các chỉ trích. Thông thường vẫn có một giá trị Kitô Giáo nào đó. Hãy đề cập tới giá trị đó".

Cô khuyên các nhà truyền thông Công Giáo "chiếu sáng đừng chiếu nóng" và giúp "mở cửa dẫn vào các bí tích. " Theo cô, "người ta không nhớ bạn đã nói gì cho bằng bạn làm họ cảm nhận ra sao".

Song song với ngôn từ ngắn gọn "có thể nói với trái tim người ta bằng một nội dung vững chắc", truyền thông hiện đại còn có khả năng sử dụng "các hình ảnh và viđêô lôi cuốn được chú ý mà lời không thôi không làm được".

Lopez cũng nhấn mạnh sự quan trọng của kể truyện trong việc chia sẻ đức tin, cho rằng nó là "một trong những điều tốt nhất qúy vị có thể làm khiến người ta phải lắng nghe. Truyện ấy không phải về chính qúy vị. Mà là về Chúa Kitô. Điều này cực kỳ có tính giải thoát. Thiên Chúa phải được nâng cao, còn tôi, cần phải nhỏ đi".

"Ta phải sẵn sàng sánh bước với người ta bất cứ họ đi đâu, chỉ cho họ thấy Đạo Công Giáo trong cái viên mãn của nó. Cho họ thấy niềm vui, sự hy sinh và cả tính nghiêm ngặt nữa. Hãy sống chân thực, cho họ thấy rõ ta đang sống trong thế giới thực".

Lopez cho rằng điều quan trọng cần nhớ là quan điểm văn hóa chính dòng hiện nay coi Thiên Chúa và tôn giáo chỉ như một "cái bến an toàn", niềm ủi an của kẻ chết và người bệnh chứ không phải là điều nên "lây lan ra các lãnh vực khác của cuộc sống".

Cô giải thích: "Truyền thông không khuyến khích người ta ước mơ, hy sinh, phục vụ và tin những vấn đề vượt quá các thèm muốn của họ. Ta cần khuyến khích những người có óc sáng tạo viết những kịch bản tốt hơn, kể những câu truyện cứu vớt nâng cao tâm hồn hơn. Ta cần những con người biết mở truyền hình và những cuốn sách và không đầm mình vào các khốn cùng của người khác để trốn tránh các khốn cùng của riêng mình, nhưng để trở thành tốt hơn và đi tìm các giải trí có thể giúp họ trong hành trình này".

Theo Lopez, quả là "bất công" đối với công chúng, đối với sinh viên, các đồng nghiệp, bạn bè và tín hữu nói chung nếu truyền thông Công Giáo chẳng "là gì khác hơn một cố gắng tông đồ".

Đồng thời cô cũng cho rằng các cố gắng truyền thông của Công Giáo "cũng phải tốt như các linh hồn của ta". Cô bảo: "khốn thay cho ai cố gắng bênh vực Giáo Hội nơi công cộng mà lại không thường xuyên xưng tội, tham dự Thánh Lễ hàng ngày bao nhiêu có thể, và nghiêm chỉnh đối với việc cầu nguyện". Cô cho rằng sinh hoạt bận bịu của truyền thông có nguy cơ khiến người ta sống "không cần ơn bí tích và chiêm niệm. Người chuyên nghiệp Công Giáo rất dễ mất linh hồn. Hoặc làm người khác sa ngã hoặc mất linh hồn vì tiếng xấu". Cô nhấn mạnh: "các câu truyện có tính cứu rỗi thường không tạo ra tin sốt dẻo".

Lopez cũng cho rằng hiện có một không khí tang chế trong cuộc sống hiện nay nơi những người cảm thấy họ đang mất mát điều gì hay đang thiếu một điều gì khiến họ phải đi tìm tình yêu "không đúng chỗ. Ta cần nhớ tới cảnh tang chế của những người ta bất đồng với, nỗi đau họ đang phải mang. Không phải để thỏa hiệp nhưng để mở cửa giúp cho tâm hồn họ có thể cởi mở đối vớ các đề xuất của Đạo Công Giáo".

Bất luận xuất hiện trên tin tức, bên ngoài Giáo Hội, tại quán bar địa phương, hay trong sinh hoạt gia đình, người Công Giáo nên chào đón mọi dịp để thảo luận đức tin của họ, vì "đây là mệnh lệnh của Tin Mừng, giúp mọi người hiểu rõ điều gì đáng sống và đáng chết cho".

Kính chuyển.

Hồng

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 28 =THANH MARIA MADALENA PDF Print E-mail

 

Chân dung Thánh Maria Mađalêna

23-07-2013 | Trầm Thiên Thu

Thánh Maria Mađalêna (hoặc Maria Mácđala) được cả Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, và Tin lành Luther tôn kính là một vị thánh, lễ nhớ ngày 22 tháng 7 hằng năm. Các Giáo hội Tin lành khác tôn kính bà là nữ anh hùng đức tin. Chính thống giáo Đông phương cũng kính nhớ bà vào Chúa nhật Myrrh-bearers (người mang dầu thơm).

Tên "cúng cơm" của Thánh Maria Mađalêna là Μαρία (Maria), và thường được coi ở dạng Latin viết là Μαριὰμ (Mariam). Tên Maria rất phổ biến trong thời Chúa Giêsu vì liên quan việc cai trị thời Hasmonea và các triều đại Hêrôđê.

Tuy nhiên, bà bị tai tiếng vì bà bị hiểu lầm là "người phụ nữ tội lỗi" đã khóc và xức dầu thơm chân Chúa Giêsu.

Thực ra Maria Mađalêna (Hy ngữ: Μαρία ἡ Μαγδαληνή) là một phụ nữ đạo đức và can đảm. Trong Tân ước, Thánh Maria Mađalêna được coi là người phụ nữ quan trọng thứ nhì sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Bà đồng hành với Chúa Giêsu cùng với các Tông đồ. Bà hiện diện trong hai thời điểm quan trọng nhất của Chúa Giêsu: Chịu đóng đinh và phục sinh. Trong 4 Phúc Âm, tài liệu lịch sử cổ xưa nhất nhắc đến tên bà, ít nhất 12 lần, hơn cả các Tông đồ khác. Phúc Âm diễn tả bà là người đủ can đảm nên mới có thể đứng bên Chúa Giêsu trong thời gian Ngài chịu khổ nạn, chịu chết và sau đó.

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã trừ bảy quỷ và chữa bệnh cho bà (x. Lc 8:2; Mc 16:9), đôi khi được hiểu là các chứng bệnh phức tạp. Bà nổi bật nhất trong những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên thế gian. Khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, bà có mặt ở đó với Ngài, trong giây phút khủng khiếp nhất, và bà đã than khóc Ngài. Sau khi các Tông đồ "bỏ của chạy lấy người", trừ Thánh Gioan Tông đồ, bà vẫn ở bên Chúa Giêsu. Khi an táng Chúa Giêsu, bà là người duy nhất được kể tên trong cả 4 Phúc Âm khi biết Chúa Giêsu phục sinh và chính bà là nhân chứng đức tin. Ga 20:11-18 và Mc 16:9 xác nhận bà là người đầu tiên gặp Chúa Giêsu phục sinh. Bà có mặt vào ngay giây phút đầu tiên mà sau đó biến đổi Tây phương. Bà là "Tông đồ đối với các Tông đồ", một cách nói kính cẩn mà thần học gia Augustine (Chính thống giáo, thế kỷ IV) đã dành cho bà, và những người thời Giáo hội sơ khai cũng nói về bà như vậy.

Mặc dù ngày xưa bà bị mang tai tiếng khi người ta mô tả trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, và cả những cuốn sách và các bộ phim mới đây, như The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci), ngày nay người ta cũng đồng ý điều này: "Không có chứng cớ Kinh Thánh nào chứng tỏ bà là gái điếm, người vợ, người mẹ, hoặc người yêu bí mật".

maidelien2

Trong cả 4 Phúc Âm, Thánh Maria Mađalêna hầu như luôn được phân biệt với các phụ nữ khác tên là Maria bằng cách thêm chữ Mađalêna vào tên bà. Theo truyền thống, điều này có nghĩa bà là người vùng Mađalêna, một thành phố thuộc Tây duyên hải Galilê. Lc 8:2 nói rằng bà thực sự được gọi là Mađalêna. Theo tiếng Do thái, Mađalêna (Migdal, מגדל) nghĩa là "tháp", "thành lũy"; theo tiếng Aram, Mađalêna nghĩa là "tháp" hoặc "được nâng lên, cao cả, nguy nga". Các bản văn truyền thống Do Thái nói: "Miriam, hamegadela se'ar nasha" – Maria, người bện tóc phụ nữ (Hagigah 4b; x. Shabbat 104b), có thể nói Maria Mađalêna phục vụ như người làm tóc.

Trong Phúc Âm theo Thánh Gioan, Thánh Maria Mađalêna cũng được nhắc tới bằng tên Maria ít nhất là 2 lần. Các văn bản không chính thức khác thì dùng tên Maria, Maria Mađalêna, hoặc Mađalêna.

Ngày nay, hầu như người ta đồng ý điểm quan trọng: Người ta cho rằng Thánh Maria Mađalêna là "gái điếm sám hối", đó là vô căn cứ. Tuy nhiên, Thánh Maria Mađalêna vẫn bị lầm lẫn với các phụ nữ khác cũng tên Maria và vài phụ nữ nặc danh vẫn bị coi là phụ nữ phạm tội ngoại tình. Người ta đồng hóa Maria Mađalêna với nữ tội nhân vô danh nào đó (thường biết đến là phụ nữ ngoại tình) trong trình thuật Lc 7:36-50. Mặc dù Thánh Maria Mađalêna được nhắc tên trong cả 4 Phúc Âm, nhưng không lần nào nói bà là gái điếm hoặc tội nhân. Tân ước không hề có "gợi ý" nào nói bà là một cô gái làng chơi hoặc một phụ nữ trắc nết. Các học giả đương đại đã phục hồi "danh tiếng" cho Thánh Maria Mađalêna là người dẫn dắt quan trọng của Kitô giáo thời sơ khai.

Nhiều thế kỷ qua, Công giáo Tây phương dạy rằng Thánh Maria Mađalêna là người được nói tới trong các Phúc Âm vừa là Maria ở Bêthania vừa là "người đàn bà tội lỗi" xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Lc 7:36-50). Khái niệm về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm sám hối đã phổ biến qua nhiều thế kỷ, ít là từ Ephraim người Syria (thế kỷ IV), Thánh GH Grêgôriô Cả (thế kỷ VI), nhiều họa sĩ, văn sĩ và các nhà chú giải Kinh Thánh cũng theo xu hướng đó. Từ thế kỷ XII, Abbot Hugh ở Semur (qua đời năm 1109), Peter Abelard (qua đời năm 1142), và Geoffrey ở Vendome (qua đời năm 1132) đều nhắc tới Thánh Maria Mađalêna là người tội lỗi và được tặng danh hiệu "apostolarum apostola" (Tông đồ đối với các Tông đồ), danh hiệu này trở thành phổ biến trong các thế kỷ XII và XIII. Do đó, hình ảnh cô-gái-điếm-sám-hối trở thành "đặc điểm" bị gán cho Thánh Maria Mađalêna trong nghệ thuật và văn chương tôn giáo ở Tây phương. Vì hiểu sai về bà nên trong nghệ thuật, người ta thường vẽ bà mặc áo hở cổ, lả lơi, thậm chí có họa sĩ còn vẽ bà khỏa thân bên chiếc sọ đầu lâu với bình dầu thơm, và một tay cầm Thánh Giá, hoặc là một phụ nữ xa lánh mọi người để sám hối nơi hoang địa.

Sự đồng hóa đó là do Công giáo Tây phương, có trong bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả vào khoảng năm 591. Thánh GH Grêgôriô Cả được coi là một trong những người ảnh hưởng nhất và trở thành giáo hoàng. Trong các bài giảng nổi tiếng của ngài về Thánh Maria Mađalêna, giảng tại Rôma, ngài đã xác định Mađalêna không chỉ là phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca, mà còn là Maria ở Bêthania, chị của Matta và Ladarô; chính bảy quỷ được Chúa Giêsu trục xuất "đã tạo thành 7 tội trọng, và Maria Mađalêna bắt đầu bị kết án không chỉ vì tội dâm dục mà còn vì tội kiêu ngạo và tham lam". Bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả về Phúc Âm theo Thánh Luca đã tạo thành cách hiểu chính thức của Giáo hội về Thánh Maria Mađalêna, cho rằng bà là phụ nữ "alabaster jar" (gái điếm).

Trong bài giảng XXXIII, Thánh GH Grêgôriô Cả nói: "Bà [Maria Mađalêna] là người mà Thánh Luca gọi là phụ nữ tội lỗi, Thánh Gioan gọi là Maria, chúng ta tin là Maria được trừ bảy quỷ trong Phúc Âm theo Thánh Máccô. Bảy quỷ này biểu hiện điều gì, nếu không phải là các thói hư? Anh chị em thân mến, rõ ràng là phụ nữ này trước đó đã xức thơm thân xác cô bằng những hành động bị cấm. Do đó điều cô biểu hiện càng khiếm nhã hơn, nhưng nay cô dâng cho Chúa bằng động thái đáng khen. Cô đã ham muốn bằng con mắt trần tục, nhưng nay cô ăn năn bằng nước mắt. Cô đã xõa tóc che mặt, nhưng nay cô dùng tóc lau khô nước mắt. Miệng cô đã nói những điều kiêu ngạo, nhưng nay cô dùng miệng hôn chân Chúa, cô đặt miệng mình lên chân Đấng Cứu Thế. Do đó, đối với mỗi niềm vui, cô đã có trong lòng, nay cô hy sinh chính mình. Cô biến tội lỗi thành nhân đức để phục vụ Thiên Chúa hoàn toàn trong sự ăn năn".

Với điều này, tác giả Susan Haskins viết trong cuốn "Mary Magdalene: Myth and Metaphor" (Maria Mađalêna: Huyền thoại và Ẩn dụ): "Cuối cùng, hình ảnh xung đột của Thánh Maria Mađalêna cũng được sáng tỏ... sau gần 140 năm".

Năm 1969, trong triều đại giáo hoàng của Chân phước Phaolô VI, Tòa Thánh không phê bình về nhận xét của Thánh GH Grêgôriô Cả, mà chỉ bỏ điều đó bằng cách tách biệt người phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca với bà Maria ở Bêthania và Maria Mađalêna qua Sách lễ Rôma.

Do đó, tai tiếng vẫn cứ "lờn vờn" bị gán cho Thánh Maria Mađalêna. Sau thời gian quá lâu, cách tin này trở thành "thâm căn cố đế" không chỉ trong Giáo hội Tây phương mà còn trong một số Giáo hội Tin lành đã từng theo truyền thống Công giáo Rôma. Cách hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là cô-gái-điếm-sám-hối vẫn được nhiều văn sĩ và họa sĩ hồi thập niên 1990. Thậm chí ngay cả ngày nay, cách hiểu sai đó vẫn được truyền bá. Điều đó được phản ánh trong bộ phim của Martin Scorsese – phỏng theo tiểu thuyết "Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Đức Kitô" (The Last Temptation of Christ) của Nikos Kazantzakis, trong phim "Phúc Âm theo Chúa Giêsu Kitô" (The Gospel According to Jesus Christ) của José Saramago, trong "Siêu Sao Giêsu Kitô" của Andrew Lloyd Webber, trong "Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô" của Mel Gibson, trong "Màu Thập Giá" (Color of the Cross) của Jean-Claude La Marre và trong "Sách Sự Sống" (The Book of Life) của Hal Hartley.

Vì hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm nên người ta mới chọn bà làm bổn mạng của "các phụ nữ hư hỏng", và Viện tế bần Mađalêna đã được thành lập để "cứu vớt" các chị em từ nhà thổ.

Thánh sử Luca cho biết: "Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mađalêna, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ" (Lc 8:1-3).

Lúc Chúa Giêsu chịu khổ hình và phục sinh, Thánh Maria Mađalêna đã có mặt bên Chúa Giêsu. Trong số những người theo Chúa Giêsu chỉ có bà được nói rõ tên là nhân chứng 3 sự kiện quan trọng: Chúa Giêsu chịu khổ nạn, Chúa Giêsu chịu mai táng, và ngôi mộ trống. Mc 15:40, Mt 27:56 và Ga 19:25 nói đến Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng khi Chúa Giêsu chịu khổ nạn, cùng với các phụ nữ khác. Thánh Luca không nêu tên nhân chứng, nhưng nói: "Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilê; các bà đã chứng kiến những việc ấy" (Lc 23:49). Thánh Máccô nói: "Còn bà Maria Mađalêna và bà Maria mẹ ông Giôxết, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người" (Mc 15:47), và Thánh Matthêu nói: "Còn bà Maria Mađalêna và một bà khác cũng tên là Maria ở lại đó, quay mặt vào mồ" (Mt 27:61). Lc 23:55 cho biết: "Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào". Ga 19:39-42 mô tả: "Ông Nicôđêmô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó".

Thánh Máccô, Matthêu và Gioan đều nói Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng đầu tiên đối với việc Chúa phục sinh. Ga 20:1 cho biết Thánh Maria Mađalêna mô tả việc thấy ngôi một trống. Mc 16:9 nói: "Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mađalêna, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ". Mt 28:1 nói: "Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ".

Sau khi thuật lại cho các Tông đồ biết Chúa Giêsu đã phục sinh, Thánh Maria Mađalêna không được nhắc đến trong Tân ước nữa. Bà cũng không được nhắc tên trong sách Công vụ, và "số phận" bà vẫn không được tài liệu ghi lại và không được "minh oan". Có phải vì vậy mà bà cứ bị hiểu lầm là "người phụ nữ tội lỗi" chăng?

Hy vọng từ nay Thánh Maria Mađalêna sẽ không còn bị "mang tiếng" và không còn bị chúng ta hiểu lầm như xưa nay nữa!

Lạy Thánh Maria Mađalêna, xin nguyện giúp cầu thay. Amen./.

Trầm Thiên Thu

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 27 = PHEP LA THU HAI PDF Print E-mail

 

Phép lạ thứ hai đã nâng Đức Gioan Phaolô II lên hàng hiển thánh.

Trung Ngọc7/9/2013

SANTO DOMINGO Vào tháng Năm năm 2011, các bác sĩ điều trị cho Bà Floribeth Mora Diaz đã thấy tình trạng của Bà được hồi phục một cách nhanh chóng và đã không tìm ra lý do, đó chính là phép lạ thứ 2 nhờ lời chuyển cầu của Chân Phước Gioan Phaolô 2. Và đây là phép lạ được công nhận để Đức Thánh Cha Phanxicô ký sắc lệnh phong Thánh cho vị tiền nhiệm của Ngài.

Sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô ký sắc lệnh phong thánh cho Chân Phước Gioan Phaolô II vào ngày 5/7, tại Costa Rican cũng đã mở cuộc họp báo và Bà Floribeth Mora Diaz đã tường thuật cho báo chí biết rõ sự việc xảy ra phép lạ đối với bà.

Bà Mora đã bị bệnh bướu màng óc, và Bác Sĩ đã quyết định nói rằng Bà chỉ còn sống được vài ngày cho nên bà đã xin về nhà để được xum họp với gia đình và đã cầu nguyện đến Chân Phước Gioan Phaolô II.

Rồi từ căn phòng ngủ trong căn nhà tại một tỉnh lẻ ở Cartago nước Costa Rica. Bà Mora đã nghe được một tiếng nói trong lòng bà " Hãy đứng dậy .... Đừng sợ!"

Bà bước xuống giường và đứng dậy đã khiến cho người chồng sửng sốt "Em à! Có chuyện gì vậy". Trong nước mắt bà đã kể lại câu bà nói với chồng "Em cảm thấy khỏe hơn".

Trong cuộc họp báo với báo chí bà đã khóc ra nước mắt và cầm trên tay tạp chí có hình bìa là Chân Phước Gioan Phaolô II. Bà đã nói với báo chí rằng bà đã biết không thể thoát tay tử thần.

Vào tháng Tư năm 2011 bà đã cảm thấy choáng váng nhức đầu rất dữ dội, khi tới nhà thương bà được chuẩn đóan là bị bướu màng óc. Bà nói "tôi buồn lắm, khi nhìn thấy những đứa con và người chồng đứng chung quanh giường".

Trong gia đình, bà có lòng tôn kính đến Chân Phước Gioan Phaolô II một cách rất đặc biệt, gia đình đã lập một bàn thờ nhỏ có hình Chân Phước. Và cuốn tạp chí mà bà cầm ngay hôm nay là có người đã tặng cho bà cách đây 2 năm. Bà nhìn vào hình bìa của Chân Phước, rồi bà nghe thấy Chân Phước Gioan Phaolô nói trong lòng bà. "Tôi rất ngạc nhiên và tôi vẫn chăm chú nhìn vào tấm hình rồi tôi nói 'Vâng thưa Ngài con sẽ đứng dậy' ".

Trong cuộc họp báo còn có Bác Sĩ Alejandro Vargas là người đã điều trị cho Bà, chính Bác Sĩ Vargas cũng nói khi chuẩn đoán căn bệnh của bà, Bác Sĩ biết là tính mạnh của bà đang trong tình trạng nguy cập khó lòng thoát khỏi. Và Bác Sĩ cũng nói sự hồi phục của bà, y khoa không thể nào chứng minh nổi "Tôi rất đỗi ngạc nhiên, thực sự là một phép lạ vì tôi không thể nào giải thích được".

Bà Mora cũng cho biết bà rất đỗi sợ hãi vì căn bệnh của bà, thế nhưng "tôi luôn luôn giữ vững đức tin một cách kiên cường, tôi luôn đặt trọn vào tình yêu của Thiên Chúa".

Đây là phép lạ thứ 2 do Đức Gioan Phaolô II chuyển cầu, phép lạ đầu tiên đã được công nhận để Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 ký sắc lệnh phong Chân Phước là phép lạ lành bệnh của một nữ tu người Pháp mắt bệnh Parkinson vào năm 2005 cũng là năm mà Đức Gioan Phaolô II được Chúa gọi về nhà Cha trên trời

Kính chuyển.

Hồng

 
<< Start < Prev 31 32 33 34 35 36 37 38 39 Next > End >>

Page 36 of 39