mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4199
mod_vvisit_counterHôm Qua7192
mod_vvisit_counterTuần Này11391
mod_vvisit_counterTuần Trước54956
mod_vvisit_counterTháng Này159522
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11124115

We have: 106 guests online
Your IP: 23.20.236.61
 , 
Today: Jun 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 32 = THANH MONICA PDF Print E-mail

 

Thánh Monica: Người phụ nữ của đức tin và gia đình

26-08-2013 | Jos. Tú Nạc, NMS

"Người con của những giọt nước mắt sẽ không bao giờ hư hỏng"

Monica, một Thánh nữ được các bà mẹ đặc biệt tôn kính bởi những lời nguyện cầu bền bỉ cho sự hồi tâm của đứa con trai bướng bỉnh của mình, Augustine, được sinh ra trong một gia đình ki-tô giáo ở Thagaste, Bắc Phi năm 333, và mất tại Ostia, gần Rome, năm 387. Bà lập gia đình khi còn trẻ với một quan chức chính phủ, Patricius, không phải là tín đồ Ki-tô giáo, và tính khí cộc cằn khó chịu. Nhưng bà vẫn cam chịu những gánh nặng gia đình một cách nhẫn nại, và cuộc sống đoàn tụ tương đối thuận hòa. Ba người con được ra đời, Augustine, Navigius, và một con gái, Perpetua.

Augustine, con trai cả, lỗi lạc, theo sự nhận xét của chính mình, là một thanh niên lười biếng và trụy lạc mà cách ứng xử tệ bạc của Ngài đã làm cho mẹ Ngài vô cùng đau khổ, nhất là sau khi Ngài bỏ học ở Madaura và tới Carthage. Mặc dù Patricius trở thành một Ki-tô hữu không bao lâu trước khi chết, Augustine vẫn đắm đuối truy hoan. Khi là một sinh viên mười chin tuổi, đã gia nhập phái dị giáo Manichaean. Khi Ngài bắt đầu hùng hồn tuôn ra những tà thuyết, Monica đã trở nên hoảng sợ, và đã tăng cường mọi nỗ lực của mình để đem Ngài đến với Đức Ki-tô. Trong Confesions, Augustine đã tường thuật chi tiết giấc mơ của Monica mà đã an ủi, khích lệ bà:

"Trong giấc mơ, chính bà đã thấy mình đứng trên một loại thước bằng gỗ, và thấy một thanh niên thông minh đang tiến lại gần bà, hân hoan và mỉm cười với bà, trong lúc bà đang đau khổ và cúi mình với tâm trạng muộn phiền. Nhưng khi cậu ta yêu cầu bà cho biết nguyên nhân gây phiền muộn và hàng ngày đầy vơi nước mắt (không phải để biết về bà, mà để hướng dẫn bà, vì là theo cách tưởng tượng), và khi bà trả lời rằng đó là sự suy sụp của linh hồn bà mà bà đang than khóc, cậu ta ngỏ ý mời bà đến một nơi nghỉ ngơi hài lòng, thỏa mãn và bảo bà hãy trông chờ rằng nơi mà bà ở đó cũng là nơi tôi ở. Và khi bà trông chờ tôi đang đứng gần bà trên cùng một cây thước." (Confessions, Book III, 9. 14).

Trong suốt thời gian cầu nguyện với tinh thần thống khổ cho con trai mình, Monica đã thỉnh cầu một vị giám mục, người mà bản thân cũng đã là một thành viên của hệ tôn giáo Manichaean trước khi trở thành một Ki-tô hữu. Ông đã từ chối can thiệp với Augustine, một người mà, vị giám mục này đã để ý một cách chính xác, là không cởi mở để nghe chân lý. Bà đã năn nỉ đến hết nước mắt, nhưng ông vẫn khước từ. Tuy nhiên vị giám mục này an ủi Monica rằng "đứa con của những giọt nước mắt đó sẽ không bao giờ hư hỏng", điều mà bà đã nắm bắt như một dấu hiệu của Thiên Chúa. Cho dù Ngài tiếp tục chín năm trong những tà thuyết, Monica đã theo Augustine tới Rome và sau đó tới Milan trong một nỗ lực cứu vớt con trai của mình thoát khỏi những lỗi lầm. Ở Milan, bà đã gặp giám mục Ambrose, người mà đã giúp đỡ dẫn dắt Augustine trở về với đức tin chân chính.

Vài tháng sau khi hoán cải, Augustine, Monica và Adcodatus dự định quay trở lại Phi Châu, nhưng Monica đã qua đời tại Ostia, thành phố cảng cổ đại của Rome, và bà đã được mai táng ở đó. Augustine vô cùng cảm kích trước cái chết của mẹ mình mà Ngài đã được truyền cảm hứng để viết Confessions, "vô cùng viên mãn những gì mẹ tôi đã mong muốn ở tôi – mỹ mãn trong những lời nguyện cầu đã giành cho bà qua những lời thú tội này của tôi hơn những lời nguyện cầu của tôi côi cút." (Book IX. 13. 17).

Một nhận xét về cuộc sống ban đầu, thời thơ ấu, hôn nhân, những ngày cuối cùng và cái chết của bà đã được trình bày trong Confessions Book IX, 8-12. Ngài đã thể hiện lòng biết ơn của mình đối với mẹ:

"Tôi sẽ không nói về những món quà của bà, mà nói về món quà của Người ở cùng bà; vì bà đã không tự mình làm ra và cũng không tự mình đào tạo. Người đã sáng tạo bà và cả cha lẫn mẹ của bà cũng không biết những gì mà loài người đã được xuất thân từ chúng. Và đó là chiếc roi của Đức Ki-tô con Người, sự trừng phạt của Con Một Người để đào tạo bà trong ơn kính sợ của Người trong ngôi nhà của một trong những người trung thành của Người, là một thành viên hoàn hảo của Hội Thánh Người." (IX. 8.7)

Những thế kỷ sau, xác của Monica đã được cải táng ở Rome, và cuối cùng di hài của bà đã được chôn cất ở nơi thờ tự riêng phía trái bàn thờ cao của Nhà Thờ Thánh Augustine ở Rome.

Jos. Tú Nạc, NMS


 

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 31 = CO NHIEU KE THU CANH HUU PDF Print E-mail

 

Giáo Hoàng Phanxicô có nhiều kẻ thù cánh hữu?

Phe bảo thủ không đánh giá cao ưu tiên của Giáo hoàng làm cho "Giáo hội cao sang" trở nên giản dị

Tags: bảo thủ, cánh hữu, cánh tả, cấp tiến

August 13, 2013

David Gibson cho Charisma News, International

Giáo Hoàng Phanxicô có nhiều kẻ thù cánh hữu? thumbnail

Trong hơn ba thập kỷ, toà thánh Vatican dưới thời Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Bênêdictô XVI hoạt động dựa trên phương châm, "Không có kẻ thù cánh hữu."

Trong khi các nhà thần học cánh tả im lặng, các giám mục tự do hay ôn hòa tránh sang một bên vì sự cứng rắn hơn, còn các nhà bảo thủ văn hoá và truyền thống phụng vụ gây được chú ý và đưa về làm việc trực tiếp tại cung điện giáo hoàng.

Nhưng trong vài tháng ngắn ngủi, Đức Thánh cha Phanxicô đã chấm dứt xu hướng đó, ngài tránh xa hay từ chối các chương trình nghị sự ưa thích của họ. Trong khi đó ngài nhấn mạnh các vấn đề công lý xã hội là rất quan trọng cần cải biến.

"Cá nhân tôi thấy nhiều phương diện giáo hoàng này gây khó chịu, và phải cố gắng vượt qua cảm giác đó ngay từ đầu. Hầu như không phải chỉ có tôi," Jeffrey Tucker, biên tập viên blog Phong trào Phụng vụ mới, đã viết như thế khi đức Phanxicô được giới truyền thông ca ngợi trong chuyến đi gần đây đến Brazil.

"Mỗi ngày và trong nhiều cách thức khác nhau, chúng tôi luôn được nghe những chuyện như thật vinh dự biết bao vì những ngày cũ tồi tệ đã qua và những ngày mới tốt lành đang ở đây," ông than thở.

Ông Tucker và các nhà truyền thống khác dấn thân cho những nghi lễ cao sang đã đặc biệt phật ý bởi phong cách đơn giản của đức Phanxicô ngay từ khoảnh khắc cựu Hồng y Jorge Bergoglio được giới thiệu là tân Giáo Hoàng với toàn thể thế giới hồi tháng Ba.

"Làm sao tôi có thể yêu một vị giáo hoàng mà ngài thậm chí không muốn trở thành giáo hoàng?" Katrina Fernandez, một blogger bảo thủ nổi tiếng, viết về sự vỡ mộng của mình.

Kể từ cuộc bầu chọn đức Phanxicô, sự lo lắng của những người cánh hữu càng lên cao khi ngài tiếp tục một mô hình triều đại giáo hoàng khác biệt – rao giảng về những sự dữ của nền kinh tế toàn cầu và luôn nhắc nhở đồ đệ phải chăm sóc cho người nghèo và người bị bỏ rơi.

Thật vậy, ngài ít đề cập đến vấn đề phá thai hay vấn đề đồng tính một cách trực tiếp cho đến khi giới truyền thông hỏi ngài về những linh mục đồng tính trong cuộc họp báo trên chuyến bay từ Brazil về Vatican, ngài trả lời, "Tôi là ai mà phát xét?"

"Người Công giáo cánh hữu thật sự không hài lòng với việc bầu chọn đức Phanxicô nhưng ngài cũng phải quan tâm đến họ. Sẽ rất thú vị xem tất cả những việc này diễn ra thế nào trong tương lai", Tổng Giám mục Philadelphia Charles Chaput, người bảo thủ nổi tiếng tại Mỹ nói với tờ National Catholic Reporter vào tối trước khi đi Brazil.

Thật ra, những rủi ro đối với đức Phanxicô khi làm những người Công giáo bảo thủ thất vọng là không để họ hiện diện nhiều trong các chức vụ cao cấp của giáo hội.

"Họ đã trung thành hỗ trợ giáo hội bằng việc đóng góp vào các hoạt động, và dự kiến có thể ​​sẽ phản đối những thay đổi trong các lãnh vực mà đức Phanxicô đã phát tín hiệu", Michael D'Antonio, tác giả sách các vụ bê bối giáo sĩ, viết trong tạp chí Foreign Policy với đề tài "Đức Phanxicô có quá cấp tiến so với đàn chiên của mình?"

"Nhưng những quan điểm này không thể tồn tại lâu, giáo hội hiện nay cần một vị có thể làm cầu nối giữa phong trào cánh hữu và thực trạng phương tây đang rời bỏ giáo hội. Vấn nạn này cần vị giáo hoàng khôn ngoan với kỹ năng và đặc sủng để cân bằng và hợp nhất hai đối trọng này.

Nguồn: Charisma News

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH = 31 = THANH NHAN PDF Print E-mail

 

Thánh Nhân

Tự hỏi thánh nhân là ai? Tại sao người đó được gọi là thánh nhân? Những nhân cách nào được gọi là thánh nhân?

Thánh nhân cũng là một con người bình thường bằng da bằng thịt, họ cũng có một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác, nhưng đời sống đạo đức của họ thì truyệt vời và cao thượng phi thường. Ai ai cũng có thể làm được, bởi vì đạo đức là những đức hạnh sống dành cho con người, chúng rất gần gủi, bình dị và giản đơn.

Vậy chúng ta hãy thử quan sát vài đức hạnh của các vị thánh nhân từ cổ tới kim như đức Phật, đức mẹ Maria, Chúa Giê-Su, ông thánh Martinô, bà thánh Theresa, v.v...:

Họ có một lòng yêu thương bao la rộng lớn. Lòng yêu thương của họ không chỉ giới hạn ở con người mà là các loài vật, cây cỏ thiên nhiên. Họ biết quý trọng sự sống của muôn loài. Bởi vì họ quan niệm rằng ai ai cũng có cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái, bà con thân bằng quyến thuộc. Các loài vật dù ác tới đâu cũng có cha mẹ anh chị em và người thân. Do hiểu rõ như vậy các vị thánh nhân không bao giờ giết hại hay làm hại bất kỳ ai, bất kỳ loài vật nào, họ không bao giờ vì ham vui mà bẻ một cành hoa đem đi cắm. Chính vì sống được với lòng yêu thương như vậy cho nên tâm họ bao la rộng lớn, không bao giờ có ý muốn hại ai, muốn đem sự đau khổ đến cho ai hay loài vật nào.

Họ không bao giờ tham lam lấy cắp của ai, dù là sợi chỉ cây kim, trái ớt. Vì họ hiểu khi người khác bị mất vật gì, người đó rất đau khổ và giận dữ. Thánh nhân không bao giờ muốn người khác buồn khổ vì mình, do vậy họ quyết không bao giờ tham lam lấy cắp của bất kỳ ai.

Họ thích sống một mình, sống không gia đình, sống trầm lặng. Không thích nói chuyện giao du, tụ họp ca hát, bàn tán chuyện đời. Họ dành thời gian lo trau dồi rèn luyện nhân cách của mình cho toàn thiện thêm. Mỗi khi rảnh rỗi họ "tư duy suy nghĩ về những hành động lời nói của mình có làm khổ mình, làm khổ người khác hoặc làm khổ các loài vật khác hay không. Nếu có thì họ quyết từ bỏ. Nếu không thì họ tư duy nhiều thêm để tăng trưởng những điều thiện trong tâm hồn mình." Cách sống tư duy như vậy dần dần hình thành những tính cách cao thượng tuyệt vời trong con người họ và trở thành bản năng tự nhiên.

Họ luôn thành thật, thật thà ngay thẳng, không gian dối, lương lẹo, mưu tính, không dối gạt người bao giờ dù là nói chơi. Vì họ hiểu người bị người khác dối gạt rất đau khổ và sẽ giận dữ. Do vậy họ không bao giờ muốn làm ai đau khổ vì lời nói của mình. Hơn nữa ta có thể thấy họ không bao giờ nói chuyện có nói không, chuyện không nói có. Không bao giờ nói hai lời. Không tranh biện với bất kỳ ai. Không bao giờ nói xấu ai, chỉ trích ai, chê bai ai. Chỉ nói những lời nói thương yêu, ôn tồn, nhỏ nhẹ, dịu dàng, khuyến khích mọi người thương yêu nhau, sống hòa hợp và đoàn kết nhau,...

Họ là một con người minh mẫn sáng suốt không dùng những chất kích thích như rượu, bia cafe thuốc lá hoặc các chất kích thích khác. Vì họ hiểu những chất kích thích đó chỉ hại người hại mình.

Đời sống của các vị thánh nhân thật đơn giản. Ít muốn biết đủ. Chỉ giữ lại đủ quần áo để mặc, không ngủ giường to rộng lớn, không tích trữ hoặc chạy theo các kiểu ăn mặc Á, Âu, Mỹ. Nếu có dư vật gì, tài sản gì thì chia sẻ, bố thí, xem có ai cần đều đem cho hết. Họ sống đơn giản tự nhiên không trang điểm làm đẹp, nhuộm chuốt. Quan trọng là ăn mặc sạch sẻ kín đáo và tươm tất. Trong nhà luôn ít đồ vật, nhìn thoáng mát, gọn gàng sạch sẽ không cầu kỳ, không chất chứa tàng trữ đồ đạc.

Họ không bao giờ đổ lỗi cho ai, không bao giờ trách ai. Vì họ hiểu khi trách ai là tự mình làm khổ mình. Họ biết cách sống vui vẻ chấp nhận tất cả mọi việc đến với họ. Không kêu than, không đổ lỗi cho ai hay cho hoàn cảnh nào, chỉ nhìn thấy lỗi mình.

Họ sẵn sàng giúp đỡ mọi người, chia sẻ ngay những gì mình có mà không hối tiếc từ công sức, của cải tài sản tiền bạc, thời gian, kinh nghiệm sống, những lời an ủi,...

Họ sống không lo lắng sợ hãi và buồn phiền. Với cách sống có lòng yêu thương bao la rộng lớn thì có ai làm cho họ phải lo lắng buồn phiền hoặc sợ hãi. Ai họ cũng có thể yêu thương và tha thứ được, dù là ai hại họ đến đâu, ác đến đâu, các vị thánh nhân cũng đều tha thứ bỏ qua và cho đi tất cả, kể cả mạng sống của chính mình. Đúng vậy, chúng ta thường lo lắng sợ hãi người khác hại mình vì chúng ta vẫn chưa có lòng yêu thương rộng lớn. Một con kiến cắn chúng ta, chúng ta còn thấy đau, thấy giận và giết chúng ngay nói chi là một con người đánh mình, giết mình hoặc hại mình. Lòng yêu thương rộng lớn đó có được là do hằng ngày họ vun đắp được từ những hành động thương yêu các loài vật bé nhỏ xung quanh, không bao giờ hại chúng, không bao giờ giết chúng, không bao giờ ăn thịt chúng vì họ không muốn thấy chúng khổ, không muốn chúng mất đi người thân thương.

Họ sống đối xử bình đẳng với tất cả mọi người và mọi loài vật. Cung kính và tôn trọng, nhường nhịn tất cả. Không phân biệt thiện ác, không phân biệt màu da dân tộc, nam nữ, có bệnh tật hay khỏe mạnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, thân thuộc máu mủ ruột thịt hay lạ mặt. Ai ai họ đều đối xử như nhau, không thiên vị ai.

Họ sống không màng danh lợi, không bao giờ muốn khẳng định cái tôi, cái ta. Họ không nhận xét, không bác bỏ, chê bai ý kiến, lời nói hoặc việc làm của người khác. Họ biết từ bỏ ý niệm riêng tư để sống vì người khác, diệt cái bản ngã bằng những đức hạnh nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

Họ không bao giờ nghi ngờ ai, họ luôn tin tưởng vào mọi người, tin vào mọi người là người tốt, người thiện, người giúp đỡ mình, người muốn tốt cho mình, người yêu thương mình...

Họ sống không chạy theo những ham muốn lạc thú thế gian như chạy theo ăn uống cầu kỳ, ngủ nghỉ, yêu đương, chơi bời, danh lợi, không tranh đua hơn thua đúng sai phải trái với đời, với người. Họ thích sống đời sống ẩn dật, buông xả. Ăn để sống chứ không phải sống để ăn, ngủ nghỉ rất ít. Không chơi bời, tham vui, không coi trọng đồng tiền và danh vọng, ...Đức Phật từ vị trí của một vị thái tử từ bỏ mọi danh vọng, giàu sang sống một đời sống nay đây mai đó, không gia đình, không cất giữ tiền bạc, ăn một ngày một bữa, không bao giờ ăn thịt các loài động vật, quyết đoạn diệt sạch lòng tham muốn của mình.

Họ không coi trọng cái thân vì họ biết rõ nó là bất tịnh, hôi thúi, biến hoại, tạm bợ. Do vậy họ không chú trọng làm đẹp trang điểm, lo cho nó, giữ gìn nó, bảo vệ nó, ai đụng vào thì ăn thua đủ. Họ không sợ bệnh, sợ chết, không sợ người khác làm hại đánh giết, không giận dữ khi ai xúc phạm, chê bai chỉ trích, nói xấu, đổ oan v.v... Ngược lại, họ càng yêu thương những người hại mình nhiều hơn và luôn luôn sẵn sàng tha thứ, khoan dung, độ lượng.

Trước tất cả mọi việc xảy đến, tâm họ thản nhiên bất động, thanh thản an lạc và vô sự dù thành hay bại, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ, khen hay chê, vinh hay nhục.

Họ không để tâm dính mắc vào những thương nhớ ích kỷ ràng buộc giữa những người thân thuộc quen biết, bởi vì họ hiểu những thương nhớ ích kỷ đó chỉ làm cho con người đau khổ thêm. "Càng mong nhớ nhớ thương thì càng đau khổ nhiều". Thay vào đó nên trải rộng lòng yêu thương ra khắp mọi người và muôn loài vạn vật, xem ai ai cũng là người thân quen như gia đình mình vậy.

Oai nghi chánh hạnh của họ rất từ tốn, chậm rãi, cẩn thận không hấp tấp vội vả. Đi, đứng, nằm, ngồi đều nhìn trước sau, tránh giẫm đạp lên các loài động vật bé nhỏ,...

V.v...

Tóm lại, nhân cách thánh nhân không chỉ dừng lại vài điểm chính ở trên mà con rất rất nhiều. Cái đáng chú ý nhất là họ cũng từ những con người bình thường mà ra. Những nhân cách đó ai ai cũng có thể tự trau dồi được, chứ không phải do tự nhiên sanh ra đã có hay do thần thánh nào ban tặng. Chính mỗi con người làm chủ cuộc đời của mình, chính mỗi con người tự tạo thiên đàng hoặc địa ngục cho chính mình chứ không ai khác, không ai có thể sắp đặt cho chính mình được. Chỉ cần sống đầy đủ những đạo đức đức hạnh không làm khổ mình, khổ người và khổ muôn loài vạn vật khác thì thiên đàng là của họ.Tất cả đều nằm trong tầm tay của con người.

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 30 = NGUOI TRUYEN DAO CAN DAM PDF Print E-mail

THẾ GIỚI CẦN CÓ NHỮNG NGƯỜI TRUỲÊN ĐẠO CAN ĐẢM

Trong ngày "Truỳên Giáo khánh nhật", Đức Thánh Cha Phanxicô mới ban hành một thông địêp mạnh mẽ kêu gọi những Kitô Hữu chia sẽ đức tin, vì thế giới ngày nay bị ưu sầu, phìên muộn nên cần thíêt công bố Lời Chúa cách mạnh dạn và trong mọi tình húông.

"Trong tình húông phức tạp này, ở chân trời hịên tại và tương lai dường như bị những đám mây đe dọa , cần thíêt công bố Phúc Âm của Đức Kitô một cách mạnh dạn va trong mọi tình húông, Phúc Âm Đức Kitô, là một thông địêp hy vọng, hòa giải, hịêp thông, sự cống bố thân mật của Chúa, lòng thương xót, cứu độ của Người và công bố sức mạnh tình ỵêu của Chúa có thể chế ngự tối tăm của sự dữ và dẫn đưa chúng ta trên con đường tốt lành," Đức Thánh Cha víêt trong thông dịêp của Người, ban hành ngày 6 tháng Tám bởi Tòa thánh Vatican.

Đức Thánh Cha khởi sự thông địêp đầu tiên của Người về Ngày Truỳên Giáo khánh nhật cử hành ngày 20 tháng 10, ngày kết thúc Năm Đức Tin, sẽ chỉ còn vài tùân lễ cách xa ngày cử hành ngày dâng híên nỗ lực truỳên giáo.

Theo quan nịêm ấy, Người dùng lá thư này để đề nghị năm ý tưởng bao trùm đức tin, sự cần thíêt chia sẻ nó, một vài rào cản nỗ lực truỳên giáo có thể bắt gặp và đìêu quan trong của sự đáp ứng cách rộng lượng cho tíêng gọi truỳên giáo của Đức Chúa Thánh Thần.

Đức Thánh Cha bắt đầu tập trung vào đỉêm thứ nhất là "đức tin," mà Giáo hội đã tập trung vào từ thời Đức Benedictô XVI, bắt đầu Năm Dức Tin vào tháng 10 ngày 11 năm 2012. Một nghi lễ cho NĂM là thời bỉêu kết thúc bằng một nghi lễ bế mạc vào ngày 24 tháng 11 năm 2013 tại quảng trường thánh Phêrô.

"Đức tin là một ân sủng quí báu của Thiên Chúa." Đức Thánh Cha víêt, Đức tin mở trí tụê để hỉêu bíêt Người. Tuy nhiên Đức tin cần thíêt được ưng thụân, nó cần có sự đáp ứng của cá nhân, mạnh dạn chính minh' tín thác nơi Chúa. Để sống tình yêu của Người và bíêt tri ân lòng thương xót vô biên của Chúa."

Đức tin cũng là một ơn sủng, không dành riêng cho một số it nhưng híên dâng với lòng rộng lượng. Mọi người phải có thể trải qua nìêm hoan lạc được Thiên Chúa thương mến, vui mừng ơn cứu độ! Nó là một ơn mà người ta không thể giữ làm của riêng, nhưng nó phải được chia sẻ. Nếu chúng ta múôn giữ nó làm của riêng, chúng ta sẽ bị cô lập, cằn cỗi và là những Kitô hữu bệnh họan," Người nói ở trong thông địêp.

Đức Giáo Hòang cũng đã quay trở lại một đỉêm của đề mục, trông đến những người ở bên lề xã hội.

"Mỗi cộng đồng, khi cộng đồng tuyên xưng Đức tin là "trưởng thành" ca tụng nó bằng sự vui mừng trong thời gian phụng vụ. sống nhân ái, công bố Lời Chúa không ngừng, sự tự do riêng của minh' đi 'vòng chu vi ngòai' cách đặc bịêt đến với những người chưa có dịp hỉêu bíêt Đức Kitô," Người đã khẳng định.

Sau đó Đức Thánh Cha quay trở lại ngày kỷ nịêm năm thứ 50 Công Dồng Vatican II, nó xẩy ra đồng thời trùng với Năm Đức Tin.

"Năm Đức Tin, năm mươi năm sau sau ngày khai mạc Công Đồng Vatican II, làm động cơ thúc đẩy tòan thể Giáo Hội hướng về nhận thức đổi mới bộ mặt của minh' trong thế giới đương thời và nhịêm vụ trong số những quốc gia và dân tộc." Người nói.

"Công Dồng Vatican II," Đức Thánh Cha đã phát bỉêu, "nhấn mạnh vào phương pháp đặc bịêt nhịêm vụ của người truỳên giáo thế nào, đó là mở rộng ranh giới đức tin, thuộc về bổn phận của mọi người đã lãnh phép rửa và tất cả những cộng đòan Kitô."

Như một phương pháp ứng dụng về mặt thực hành để ủy thác, Đức Thánh Cha mời gọi các Giám mục, hội đồng mục vụ và "từng người hay từng nhóm có trách nhịêm trong Hội Thánh để đưa ra một tư thế đáng chú ý về chìêu kích truỳên giáo bằng thông tin và những chương trình mục vụ, trong sự hỉêu bíêt lời hứa truyền giáo của họ không được chu tòan trừ phi mục đích của nó có ý nghĩa một chứng nhân Đức Kitô trước những quóc gia và tất cả mọi người.

Đỉêm thứ ba, Đức Thánh Cha đã để lộ ý múôn một sự ước tính ngay thẳng về một vài trở ngại bên trong và bên ngòai mà công vịêc phúc âm hóa gặp phải.

"Đôi lúc có sự thíêu hăng say, vui mừng, mạnh dạn, và hy vọng trong sự công bố Thông địêp của Đức Kitô cho tất cả và giúp mọi người trong thời đại của chúng ta để gặp gỡ Người.

"Đôi lúc, vẫn còn suy nghĩ, sự công bố chân lý Phúc âm cách thức công kích sự tự do," Người víêt.

Sự nói trái ngược quýêt định ấy, Đức giáo hòang trông cậy vào Đức Thánh Cha Phaolô VI, Người nói :"Đìêu ấy sẽ...bị.......sai lầm gây tác động mạnh một vài vấn đề đến lương tâm của anh em chúng ta. Nhưng đề ra cho lương tâm của họ một chân lý Phúc âm và sự cứu rỗi trong Đức Giêsu Kitô, với sự sáng tỏ hòan tòan và bằng tất cả sự tôn trọng quỳên chọn lựa tự do mà nó bỉêu thị.... Như là một sự kính trọng đối với sự tự do này.

Một cạm bẫy khác góp phần trong con đường của một người rao giảng Phúc âm là sự thử thách công bố Đức Kitô mà không có Hội Thánh của Người. "Sự rao giảng Phúc Âm không là hành động của cá nhân cô lập hay riêng tư ; luôn luôn thuộc Hội thánh (tập thể)." Đức Thánh Cha nói phản ứng lại.

Đức Thánh Cha dành riêng suy nịêm thứ bốn về cả tính di động của mọi người lẫn sự dễ dàng truỳên đạt "đã hòa hợp mọi người, quen bíêt, kinh nghịệm ." như thế nào.

"Về những nguyên nhân làm vịêc" Người ghi nhận, "Trọn vẹn những gia đình di chuỷên tự lục địa này sang lục địa kia, nghề nghị6p và văn hóa thay đổi, sự du lịch, va hịên tượng khác cũng đã đưa đến những động tác lớn lao cho mọi người. Đìêu này làm cho khó khăn, dù cho là công đồng giáo xứ, để bíêt ai là người thường trú, hay tạm trú trong khu vực."

Những phương tịên di chuyển này mà mọi người trước đây đã từng tạo thành trong đức tin ở một nơi đang bị bỏ qua và "con số những người xa lạ với đức tin, hay thờ ơ với chìêu kích tôn giáo hoặc bị cổ vũ bởi nìêm tin khác, đang gia tăng." Đức Thánh Cha giải thích.

Tất cả những nguyên tố này, Đức Giáo Hòang nói : "tân phúc âm hóa" là cần thíêt.

Đức Thánh Cha cũng nhận thấy rằng chúng ta " sống vào thời đại khủng hỏang, va chạm với nhìêu lãnh vực của cuộc sống, không phải chỉ là kinh tế, tài chính, an tòan thực phẩm, hay môi trường, nhưng cả những người rơi sâu hơn váo ý nghĩa của cuộc sống và giá trị căn bản mà nó làm cho có sinh khí.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh "Quí anh chị em trong thời đại này,"cần thíêt có một nguồn ánh sáng vững bền rọi sáng đường đi của họ và đìêu ấy chi Đức Kitô có thể ban cho."

Đồng thời, Người làm cho rõ ràng tinh thần truỳên giáo của Hội Thánh không phải là thuýêt phục ai theo đạo (proselytizing), mà bằng chứng của cuộc đời nó rọi sáng con đường, nó mang theo hy vọng và tình yêu thương. HỘI THÁNH - Cha nhắc lại một lần nữa – không phải là một tổ chức nổi bật, một xí nghịêp hay một cơ quan phi chính phủ (NGO) , mà là một cộng đồng con người, phấn khởi lên bởi Chúa Thánh Thần, là Đấng đã sống và đang sống kỳ dịêu bằng sự gặp gỡ Đức Giêsu Kitô và ước múôn chia sẻ sự từng trải nìêm vui sâu xa, thông địêp cứu độ mà Chúa đã ban cho chúng ta.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã dung phần cúôi cùng để cám ơn tất cả những ai đã dành thời gian như một người truỳên giáo hay là cống híên cụôc đời của họ để rắc gieo Lời Chúa. Người cũng cám ơn Qúy vị Giám Mục, cộng đồng dân Chúa đã gửi những tư tế đến những khu vực thíêu thốn ơn kêu gọi và khuýên khích sự tíêp tục rộng lượng của họ. Sự gửi những nhà truyền giáo, Người víêt, "Không bao giờ là mất mát, nhưng là kíêm được."

Trước khi kết thúc thông địêp, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tưởng nhớ những ngừơi "Kitô hữu, họ ở trong mọi thành phần trên thế gian, trải qua những khó khăn công khai công bố đức tin của họ và có được quỳên hợp pháp để thực hành đìêu ấy bằng những cử chỉ thích đáng."

"Họ là những anh chị em của chúng ta, những chứng nhân can đảm – họ lại còn đông hơn là những vị Tử đạo trong những thế kỷ đầu – Họ nhẫn nại, kiên trì trong vịêc tông đồ với bíêt bao hình thức khủng khố đương thời. Một số ít cũng hy sinh đời sống của họ để trung thành với Phúc Âm của Đức Kitô. Cha mong múôn tái xác nhận sự gần gũi của Cha trong lời cầu nguỵên cho mọi cá nhân, gia đình và những cộng đồng đang chịu đưng bạo lực, và tính không khoan nhượng, và Cha nhắc nhở họ những lời khích lệ của Đức Giêsu :"Hãy mạnh dạn lên, Thầy đã thắng thế gian."

Cúôi thông địêp Đức Thánh Cha chúc lành cho những nhà truỳên giáo và tất cả những ai cùng đi và trợ giúp lời cam kết chủ ýêu này của Hội Thánh để truỳên bá Phúc Âm khắp tận cùng trái đất."

Đọc tòan văn bản thông địêp "Ngày Khánh Nhật Truỳên Giáo" này của Đức Thánh Cha , theo link : http://www.catholicnewsagency.com/document.php?n=1077

QQ chuỷên ngữ 08-10-2013 – 07:45pm

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 29 = TRUYEN THONG LOAN BAO TIN MUNG PDF Print E-mail

 

Sử dụng truyền thông để truyền bá Tin Mừng

Vũ Văn An8/6/2013

Viện Napa được thành lập để giúp các nhà lãnh đạo Công Giáo đối diện với các thách đố do "Nước Mỹ Kế Tiếp" đặt ra, là tiếp tục công việc của các Tông Đồ và các vị kế nhiệm các ngài, tức các giám mục, bằng cách lưu tâm tới lời kêu gọi liên tục phúc âm hóa của Chúa Kitô.

Qua kế hoạch hướng dẫn các tham dự viên thấu hiểu chân lý nằm ở đàng sau đức tin, Viện Napa giúp người Công Giáo dám sống và dám bảo vệ đức tin của họ một cách đầy tự tin thanh thản, một niềm tự tin phát sinh từ một nền đào luyện vững chắc, tình hiệp thông và sự phong phú hóa thiêng liêng.

Chú tâm chính của Viện là cuộc hội thảo hàng năm. Được tổ chức tại Thung Lũng Napa, California, cuộc hội thảo giới thiệu các vị Hồng Y, giám mục, linh mục và tu sĩ cũng như các nhà trí thức Công Giáo nổi danh trình bày nhiều bài học sâu sắc về các chủ đề hợp thời.

Viện đã tổ chức được 2 khóa hội thảo vào các năm 2011 và 2012. Khóa hội thảo thứ ba vừa kết thúc vào Chúa Nhật 4 tháng 8 vừa qua. Khóa năm nay bàn tới các chủ đề: Tính Thánh Thiêng Của Việc Làm, Xây Dựng Nền Văn Hóa Công Giáo, và Lý Trí Và Đức Tin.

Các diễn giả và các giáo phẩm tham dự gồm: các TGM José Gomez, Charles Chaput, John Nienstedt, Samuel Aquila, Salvatore Cordileone, và Alexander Brunett; các GM Robert Vasa, Kevin Vann, và Robert Morlino; các LM Robert J. Spitzer, S.J., Ronald Tacelli, S.J., và Brian Mullady, OP; cùng với Tim Gray, Ph.D., Carolyn Woo, Ph.D., Kathryn Jean Lopez, John Garvey, và Tiến Sĩ Francis Beckwith.

Theo tin CNA/EWTN ngày 5 tháng 8, tại cuộc hội thảo năm nay, Kathryn Jean Lopez, giám đốc Catholic Voices USA kiêm tổng biên tập National Review Online, đã phát biểu rằng: Người Công Giáo phải coi truyền thông thế tục như một cơ hội để phúc âm hóa và vươn tới "những ai cần anh hùng và Tin Mừng" một cách hữu hiệu hơn.

Cô cho hay: "Hãy nhìn truyền thông như một cơ hội tông đồ. Hãy gọi cho các phóng viên, hãy thành bạn bè của họ. Hãy mời họ bước vào để nói về Tin Mừng. Qúy vị không cần đồng ý với họ về mọi điều họ nói hay làm họ trở lại ngay lập tức. Qúy vị nên kiên nhẫn. Hãy tôn trọng sự tự do của họ. Hãy chia sẻ sự thật với họ. Hãy chân thực với họ".

Cô bảo: "tôi biết ta dễ bị cám dỗ ta thán về truyền thông, tìm các sai lạc của họ. Nhưng sở dĩ tường trình của họ thù nghịch đối với ta, là vì những người chủ trì chương trình, các phóng viên, các nhà sản xuất không biết gì về Đạo Công Giáo, họ có thể chỉ biết những gương xấu, những bài giáo lý tệ hay một biếm họa nào đó".

Cô đưa ra một số gợi ý để trả lời các chỉ trích và tranh luận về đức tin Kitô Giáo. Cô bảo: "Qúy vị nên nhìn ý hướng tích cực nằm đàng sau các chỉ trích. Thông thường vẫn có một giá trị Kitô Giáo nào đó. Hãy đề cập tới giá trị đó".

Cô khuyên các nhà truyền thông Công Giáo "chiếu sáng đừng chiếu nóng" và giúp "mở cửa dẫn vào các bí tích. " Theo cô, "người ta không nhớ bạn đã nói gì cho bằng bạn làm họ cảm nhận ra sao".

Song song với ngôn từ ngắn gọn "có thể nói với trái tim người ta bằng một nội dung vững chắc", truyền thông hiện đại còn có khả năng sử dụng "các hình ảnh và viđêô lôi cuốn được chú ý mà lời không thôi không làm được".

Lopez cũng nhấn mạnh sự quan trọng của kể truyện trong việc chia sẻ đức tin, cho rằng nó là "một trong những điều tốt nhất qúy vị có thể làm khiến người ta phải lắng nghe. Truyện ấy không phải về chính qúy vị. Mà là về Chúa Kitô. Điều này cực kỳ có tính giải thoát. Thiên Chúa phải được nâng cao, còn tôi, cần phải nhỏ đi".

"Ta phải sẵn sàng sánh bước với người ta bất cứ họ đi đâu, chỉ cho họ thấy Đạo Công Giáo trong cái viên mãn của nó. Cho họ thấy niềm vui, sự hy sinh và cả tính nghiêm ngặt nữa. Hãy sống chân thực, cho họ thấy rõ ta đang sống trong thế giới thực".

Lopez cho rằng điều quan trọng cần nhớ là quan điểm văn hóa chính dòng hiện nay coi Thiên Chúa và tôn giáo chỉ như một "cái bến an toàn", niềm ủi an của kẻ chết và người bệnh chứ không phải là điều nên "lây lan ra các lãnh vực khác của cuộc sống".

Cô giải thích: "Truyền thông không khuyến khích người ta ước mơ, hy sinh, phục vụ và tin những vấn đề vượt quá các thèm muốn của họ. Ta cần khuyến khích những người có óc sáng tạo viết những kịch bản tốt hơn, kể những câu truyện cứu vớt nâng cao tâm hồn hơn. Ta cần những con người biết mở truyền hình và những cuốn sách và không đầm mình vào các khốn cùng của người khác để trốn tránh các khốn cùng của riêng mình, nhưng để trở thành tốt hơn và đi tìm các giải trí có thể giúp họ trong hành trình này".

Theo Lopez, quả là "bất công" đối với công chúng, đối với sinh viên, các đồng nghiệp, bạn bè và tín hữu nói chung nếu truyền thông Công Giáo chẳng "là gì khác hơn một cố gắng tông đồ".

Đồng thời cô cũng cho rằng các cố gắng truyền thông của Công Giáo "cũng phải tốt như các linh hồn của ta". Cô bảo: "khốn thay cho ai cố gắng bênh vực Giáo Hội nơi công cộng mà lại không thường xuyên xưng tội, tham dự Thánh Lễ hàng ngày bao nhiêu có thể, và nghiêm chỉnh đối với việc cầu nguyện". Cô cho rằng sinh hoạt bận bịu của truyền thông có nguy cơ khiến người ta sống "không cần ơn bí tích và chiêm niệm. Người chuyên nghiệp Công Giáo rất dễ mất linh hồn. Hoặc làm người khác sa ngã hoặc mất linh hồn vì tiếng xấu". Cô nhấn mạnh: "các câu truyện có tính cứu rỗi thường không tạo ra tin sốt dẻo".

Lopez cũng cho rằng hiện có một không khí tang chế trong cuộc sống hiện nay nơi những người cảm thấy họ đang mất mát điều gì hay đang thiếu một điều gì khiến họ phải đi tìm tình yêu "không đúng chỗ. Ta cần nhớ tới cảnh tang chế của những người ta bất đồng với, nỗi đau họ đang phải mang. Không phải để thỏa hiệp nhưng để mở cửa giúp cho tâm hồn họ có thể cởi mở đối vớ các đề xuất của Đạo Công Giáo".

Bất luận xuất hiện trên tin tức, bên ngoài Giáo Hội, tại quán bar địa phương, hay trong sinh hoạt gia đình, người Công Giáo nên chào đón mọi dịp để thảo luận đức tin của họ, vì "đây là mệnh lệnh của Tin Mừng, giúp mọi người hiểu rõ điều gì đáng sống và đáng chết cho".

Kính chuyển.

Hồng

 
<< Start < Prev 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 Next > End >>

Page 37 of 41