mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay871
mod_vvisit_counterHôm Qua9925
mod_vvisit_counterTuần Này38888
mod_vvisit_counterTuần Trước47282
mod_vvisit_counterTháng Này185887
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8223031

We have: 48 guests online
Your IP: 54.162.4.139
 , 
Today: Apr 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH -CN22TN-C -KHIEM NHUONG PDF Print E-mail

Chúa Nhật XXII Thường Niên C
KHIÊM NHƯỜNG VÀ BÁC ÁI
Hc 3,19-21.30-31; Dt 12,18-19.22-24a; Lc 14,1.7-14

(BÀI CẦN NGĂN GỌN-XUC TICH VÀ TRONG SÁNG - (GM VŨ THIÊN)
Thị trưởng thành phố mời tất cả công dân của thành phố đến dự tiệc. Trong số những
người đến dự, có một người rất lỗi lạc có tên là Daniel. Daniel là một học giả lớn và là một người
khôn ngoan rất có ảnh hưởng trong thành phố mà mọi người đều quý mến. Dù nổi tiếng, nhưng
ông cũng rất khiêm nhường và không thích được tôn vinh khi ông đến dự tiệc. Khi thấy ông, dĩ
nhiên thị trưởng mời ông ngồi ở đầu bàn danh dự. Nhưng Daniel cám ơn sự nhã ý của ngài thị
trưởng và nói rằng ông thích ngồi ở giữa những người nghèo ở cái bàn gần cửa nhất. Và ông đã
làm như thế.
Khi những người khách mời danh giá khác đến, ông thị trưởng mời họ ngồi bất cứ nơi
nào họ thích. Dĩ nhiên họ đã chọn ngồi ở bàn đầu danh dự. Phòng tiệc đã đầy ắp và tình cờ chỗ
duy nhất còn lại ở bàn cuối gần chỗ Daniel đã chọn ngồi. Thế mà vào phút chót có một nhân vật
danh giá đến. Mọi ghế danh dự đều kín, chỉ còn chỗ cuối bên Daniel Ông thị trưởng không có
chọn lựa nào khác hơn là dẫn ông này đến chỗ trống.
"Nhưng đây là chỗ ở bàn cuối" người khách phản đối,
"Không, đây là chỗ bàn đầu", ông thị trưởng đáp.
"Tôi không hiểu" người khách nói.
"Nơi nào có ông Daniel ngồi thì chỗ ấy là bàn đầu". Ông thị trưởng đáp.
Thật thế Daniel nhân vật danh giá đã khiêm tốn chọn chỗ cuối, nhưng chỗ cuối đó trở nên
chỗ danh dự.
Tin Mừng Luca 14,1.7-14, không chỉ dừng ở sứ điệp tinh thần khiêm tốn mà đi xa hơn
Chúa Giêsu dạy cách thực thi sống bác ái quảng đại không vụ lợi, không mong được đáp trả như
người đời thường nghĩ: "có qua có lại mới toại lòng nhau". Giáo huấn khiêm tốn và bác ái đã
được Thánh Phaolô sau này khai triển tiếp ý của Thầy khi chia sẻ với giáo hữu thành Ephêsô:
"Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn
nhau" (Ep 4, 2). Và trong Thư gửi giáo đoàn Galat, vị Tông đồ còn nhấn mạnh các hoa trái sinh
từ Thánh Linh trong đó có Đức ái và sự khiêm tốn hiền hòa (x. Gl 5,22).
Trong hai đức tính mà Giáo huấn của Đức Kitô mời gọi, Phaolô quả quyết một cách xác
tín "Lòng mến (bác ái) là hoa quả tối thượng của Thánh Linh" (1Cr 13). Còn tấm gương khiêm
tốn hiền hoà, chúng ta học nơi chính Chúa Giêsu như Người đã dạy: "Anh em hãy mang lấy ách
của tôi và hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường" (Mt 11,29). Như thế, khiêm
tốn và bác ái đều khởi đi từ cung lòng Thiên Chúa và được chuyển đến con người với mong
muốn: con người thực thi trong lòng dương gian để cho chính bản thân mình và cho anh em.
Khiêm nhường và bác ái như là nền tảng và trụ cột trong việc xây dựng đời sống nhân
bản và thiêng liêng. Tin Mừng Luca 14,1.7-14 mời gọi chúng ta sống hai nhân đức nền tảng:
Khiêm tốn và Bác ái này. Khiêm tốn không chỉ thu tâm lòng người chung quanh theo ý niệm
nhân bản mà còn được đẹp lòng Thiên Chúa như Huấn ca đã viết: "Càng khiêm tốn thì các con
càng cao cả, và các con sẽ được Chúa ủng hộ cho" (Hc 3,19-20).
Chính lúc tôi và bạn khiêm hạ và sống bác ái vô vị lợi, chúng ta đang "thêu dệt" công
trình nhân cách chính mình trong cuộc sống hằng ngày. Hơn nữa tinh thần – đức tin của tôi và
bạn đang vươn tới được núi Sion thành thánh, nơi đại hội Giêrusalem của những người tin, do
đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa là những kẻ đã được ghi tên trên trời, như thư Do
Thái phác họa (x. Dt 12,18-19.22-24a).
Thật thế, hãy luôn giữ tâm hồn khiêm tốn, để nhân cách tôi và bạn được thêm hoàn thiện
khi nhận mình nhỏ bé, được sự hướng dẫn không ngừng của các vị khôn ngoan và nhờ phấn đấu
không ngừng trong cuộc sống với các đức tính nhân bản: Khiêm tốn giúp chúng ta thực hành mọi
việc trong kiên nhẫn và thu phục lòng người bằng cách sống khiêm nhu. Hơn nữa khi nhận mình
nhỏ bé trong đời sống đức tin để Thiên Chúa vun trồng mình trong ân sủng nhờ đó tinh thần
chúng ta thêm nở hoa. Hình ảnh của nước mưa rơi xuống trên những đỉnh núi cao sẽ chảy tuôn đi
hết chẳng đọng lại giọt nào. Rốt cuộc, mọi giòng nước đều tuôn về chỗ trũng...
Têrêsa Hài Đồng Giêsu suy niệm:
"Sống Tình yêu là cho đi mà không tính toán, không kêu cầu sự đáp trả".
Thật thế đó là những bông hoa nhỏ cho đời và dâng về Thiên Chúa như Têrêsa tâm niệm:
"Con muốn làm một bông hoa nhỏ đứng dưới chân bàn thờ mỗi ngày, con muốn làm
một bông hoa trắng, từng chiều vắng đon sơ diệu hiền...".
Lm. Vinh Sơn SCJ, Sài Gòn 17/08/2016.

-------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONGTHANH # 171- THANH MONICA PDF Print E-mail

AUGUST 27 & 28 KÍNH THÁNH NỮ MONICA & THÁNH AUGUSTINO

Anh Nguyen

AUGUST-27 - LỄ KÍNH THÁNH NỮ MONICA

AUGUST-28 - LỄ KÍNH THÁNH AUGUSTINO ( con trai thánh Monica )

KittyThiênKim
THÁNH MONICA

(BÀI NGẮN GỌN-XUC TICH VÀ TRONG SÁNG - GM VŨ THIÊN)
Hoàn cảnh cuộc đời Thánh Monica đã có thể biến ngài thành một người vợ hay mè nheo, một nàng dâu nhiều cay đắng, và một người mẹ tuyệt vọng, tuy nhiên ngài đã không chịu thua bất cứ cám dỗ nào. Mặc dù ngài là một Kitô Hữu, cha mẹ ngài đã gả cho một người ngoại giáo, ông Patricius, là người sống trong cùng tỉnh Tagaste ở Bắc Phi Châu. Patricius là người tốt nhưng ông vô cùng nóng nẩy và phóng túng. Ngoài ra Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng hay gắt gỏng. Ông Patricius thường rầy la vợ vì bà hay thương người. Nhưng sự cầu nguyện và gương mẫu đời sống của Thánh Monica sau cùng đã chinh phục được người chồng cũng như mẹ chồng, ngài đã đưa họ trở về với đức tin Kitô Giáo. Ông Patricius chết năm 371, sau khi rửa tội được một năm để lại người vợ goá và ba con nhỏ.

Người con cả, Augustine Hippo, nổi tiếng nhất (sau này là thánh). Vào lúc cha chết, Augustine mới 17 tuổi và là sinh viên trường hùng biện ở Carthage. Thánh Monica thật đau buồn khi thấy con mình đi theo tà thuyết Manikê và sống cuộc đời phóng đãng. Có những lúc Thánh Monica không cho con được ăn ngủ ở trong nhà. Và rồi một đêm kia, ngài được thị kiến và được đảm bảo là Augustine sẽ trở về với đức tin. Từ đó trở đi ngài sống gần với con hơn để ăn chay và cầu nguyện cho con. Quả vậy, ngài ở gần đến nỗi Augustine cũng phải bực mình.

Khi 29 tuổi, Augustine quyết định đi Rôma để dạy về hùng biện. Một tối kia, Augustine nói với mẹ là anh ra bến tầu để từ giã bạn bè. Nhưng, anh lại lên tầu đi Rôma. Thánh Monica thật đau lòng khi biết mình bị lừa, nhưng ngài nhất định đi theo. Vừa đến Rôma thì ngài lại biết là Augustine đã đi Milan. Mặc dù việc di chuyển khó khăn, Thánh Monica vẫn nhất định bám sát.

Ở đây, Augustine bị ảnh hưởng bởi một giám mục, Ðức Ambrôsiô, là vị linh hướng sau này của Thánh Monica. Augustine chấp nhận mọi lời khuyên của đức giám mục, và tập được đức khiêm tốn đến độ ngài có thể từ bỏ được nhiều tật xấu. Thánh Monica trở thành người lãnh đạo của nhóm phụ nữ đạo đức ở Milan cũng như khi ở Tagaste.

Ngài tiếp tục cầu nguyện cho Augustine trong những năm anh theo học với đức giám mục. Vào Phục Sinh năm 387, Ðức Ambrôsiô rửa tội cho Augustine và một vài người bạn của anh. Không lâu sau đó, cả nhóm đi Phi Châu. Lúc ấy, Thánh Monica biết cuộc đời ngài sắp chấm dứt, ngài nói với Augustine, "Con ơi, không có gì trên trần gian này làm mẹ vui lòng cả. Mẹ không biết có gì còn phải thi hành và tại sao mẹ lại ở đây, vì mọi hy vọng của mẹ ở trần gian này đều đã được hoàn tất." Sau đó không lâu ngài bị bệnh và chịu đau đớn trong chín ngày trước khi từ trần.

Tất cả những gì chúng ta biết về Thánh Monica là trong tác phẩm Tự Thú của Thánh Augustine.

Thánh Monica rất được mộ mến, nên nhiều người đã nhận tên Thánh Monica. Giáo Hội tôn vinh ngài là bổn mạng của các bà mẹ, cách riêng các bà mẹ Công Giáo. Nhiều đoàn thể hay thành phố lấy tên Ngài như thành phố Santa Monica, Los Angeles để kỷ niệm lần đầu tiên các nhà truyền giáo đến đây đúng ngày Lễ kính Thánh Monica 27/8.
Nhờ có được một Người Mẹ Tuyệt Vời, sau này Augustinô trở thành nhà giảng thuyết hùng biện, học giả uyên bác, một Thánh Giám Mục được phong là Tiến sĩ Hội Thánh.
Trong xã hội ngày nay, mọi thứ đều sẵn sàng, từ mì ăn liền, cà phê uống liền, đến việc tiêu xài liền (instant-credit) khiến chúng ta không còn kiên nhẫn. Tương tự như thế, chúng ta cũng muốn lời cầu xin của chúng ta được đáp trả ngay lập tức. Thánh Monica là gương mẫu của sự kiên nhẫn. Những năm trường cầu nguyện, cộng với đức tính kiên cường và kỷ luật, sau cùng đã đưa đến sự trở lại của người chồng nóng nẩy, người mẹ chồng ưa gắt gỏng, và người con thông minh nhưng bướng bỉnh, là Augustine.

****************************** *********
Lạy Chúa, giữa những nghịch cảnh của cuộc sống gia đình, xin Chúa cho chúng con là những bà mẹ Công Giáo luôn biết siêng năng cầu nguyện. Ngay cả đôi khi lời cầu nguyện của chúng con xem ra chưa được chấp nhận ngay, xin cho chúng con không sờn lòng nản chí nhưng biết phó thác vào ơn quan phòng của Chúa. Xin cho chúng con hiểu rằng không phải những lời nói xuông của chúng con nhưng chính là những chứng tá yêu thương của chúng con trong những hy sinh hàng ngày mới đem lại ơn hoán cải cho những người xung quanh chúng con. Amen!
Sưu tầm

------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH -3 CON KHI TRUOC CONG CHUA PDF Print E-mail

>>> Câu chuyện về 3 con khỉ trước cổng chùa
>>>
>>> (PGVN)
>>> Hiện nay, ở một số chùa có trưng bày tượng ba con khỉ trong sân chùa. Nhưng không phải ai cũng biết về nguồn gốc cũng như hiểu đầy đủ ý nghĩa sâu xa mà người xưa muốn truyền dạy lại cho thế hệ sau qua bức tượng tưởng chừng như vô tri đó.
>>> Thoạt đầu khi mới nhìn qua bức tượng này có lẽ ai trong chúng ta cũng tưởng như đã hiểu được ẩn ý của nó. Đó là: "không nói, không thấy, không nghe". Nhiều người cho rằng bức tượng ấy muốn dạy chúng ta hãy ở yên và sống cuộc sống của mình, đừng quan tâm đến chuyện của người khác hay những gì đang xảy ra xung quanh. Nhưng nếu hiểu như vậy thì thiếu chính xác và chưa đầy đủ.
>>>
>>> Thực ra, nguồn gốc xuất xứ của bức tượng này bắt nguồn từ Ấn Độ vài ngàn năm về trước. Lúc đầu, đó là bức tượng về một vị thần, là thần Vajrakilaya. Đây là vị thần có sáu tay, mỗi đôi tay dùng để bịt hai mắt, hai tai và miệng. Theo đó bức tượng được khắc nhằm để răn dạy mỗi người: không được nói bậy, không nhìn bậy và không nghe bậy.
>>>
>>> Tư tưởng "ba không" đó theo các nhà tu Phật giáo đi qua Trung Quốc không rõ vào thời kì nào. Sau đó vào khoảng thế kỷ thứ 9 (có tài liệu ghi năm 838), một thiền sư người Nhật trong chuyến đi làm phật sự ở Trung Quốc đã mang theo về Nhật tư tưởng này.
>>>
>>> Tại Nhật Bản, vùng Nikko (cách Tokyo chừng 140 cây số về hướng Bắc) trong đền Toshogu hiện nay còn lưu giữ một bức điêu khắc cổ (tổng cộng có tám bức khác nhau) có tượng ba con khỉ tên là Kikazaru, Mizaru và Iwazaru: bịt tai, bịt mắt và bịt miệng bằng gỗ của nghệ nhân Hidari Jingoro rất nổi tiếng từ thế kỉ XVII.
>>>
>>> Vì từ "zaru" gần âm với "saru" có nghĩa là con khỉ, nên người ta khắc hình ba con khỉ bịt miệng, bịt mắt, bịt tai với vẻ mặt ngộ nghĩnh để biểu đạt triết lý này.
>>>
>>> Bức tượng cũng mang đậm tư tưởng của Đức Khổng Tử trong Luận Ngữ. Khi Nhan Uyên hỏi về đức nhân và những điều gì cần phải làm, Khổng Tử đã đáp: "Phi lễ vật thi, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động". Nghĩa là không nhìn điều sai, không nghe điều tầm bậy, không nói điều trái, không làm điều quấy".
>>>
>>> Người Nhật còn có thâm ý sâu xa hơn nhiều khi họ muốn: "bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói". Khi tâm ở trạng thái tịnh, không bị quấy rầy bởi những điều xấu thì từ tâm mới phát sinh những điều thiện.
>>>
>>> Hình ảnh "Bộ khỉ tam không" còn nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của "Tâm viên ý mã" trong phép thiền. Chúng ta phải biết kiểm soát cái tâm vọng động, chẳng khác gì con khỉ chạy lăng xăng. "Tâm viên là vượn tâm, là tâm tán loạn như vượn khỉ. Loài khỉ thường hay nhảy nhót, khọt khẹt, đứng ngồi không yên, thường chuyền hết từ cành này sang cành cây khác, lại hay phá phách, bắt chước nên người đời có câu "liếng khỉ".
>>>
>>> Tâm người ta cũng thế, không khi nào được yên, cứ lăng xăng, lộn xộn, suy nghĩ, nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, đó là tâm viên. Tâm này sẽ đưa con nguời đến loạn động, phát sinh ra đủ thứ phiền não, cấu uế... Bởi vậy tâm chúng sinh bị vô minh che lấp nên phần nhiều hướng ác nhiều hơn thiện."
>>>
>>> Trong xã hội hiện nay bức tượng ba con khỉ càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Bởi tôi thấy mỗi người đều đang tự làm khổ chính mình. Khổ vì nghe chuyện thiên hạ, khổ vì nói chuyện thế gian và khổ vì nhìn lỗi người khác.
>>>
>>> Bản chất của con người vốn là sự tò mò nên bất cứ câu chuyện nào, về bất cứ ai dù không liên quan thì cũng cố gắng nghe hết để có chuyện kể lại cho người khác. Trước đây, tôi cũng là một người hay để ý lỗi của người. Tôi luôn cố tìm ra khuyết điểm của người khác để chờ có dịp có thể nói lại họ để giành phần thắng cho mình. Nhưng rồi tôi thấy việc ghét bỏ và để ý người khác thật mất thời gian và tự khiến bản thân mình trở nên xấu xí. Xấu ở đây là ở cái tâm, không chịu nghĩ điều tốt đẹp cho người mà chỉ nhìn thấy những thói hư, tật xấu ở những người xung quanh.
>>>
>>> Bởi vậy, nếu biết tu sửa thân tâm, nhìn lỗi của người khác như lời nhắc nhở để ta không phạm phải những sai lầm đó. Lúc nào cũng phải nhắc nhở bản thân, tất cả mọi người quanh ta đều là Bồ tát chỉ có ta là kẻ phàm phu nên còn rất nhiều lỗi cần phải sửa chữa. Cũng như vậy, tai nghe thấy những việc phiền não cũng đừng giữ trong lòng. Nên nghĩ đó là lúc Đức Phật đang dạy ta chữ "Nhẫn", không được sân hận trước những lời nói của người khác, lúc nào cũng giữ cho mình tâm bình lặng trước mọi việc:
>>>
>>> "Nhẫn một chút sóng yên gió lặng
>>> Lùi một bước biển rộng trời cao"
>>>
>>> Từng bước, từng bước như vậy chúng ta sẽ dần hoàn thiện được con người của mình. Không phải nhờ năng lực siêu nhiên nào khiến bản thân mình thay đổi mà chính sự nhận thức sâu sắc từ trong tâm sẽ giúp ta quán chiếu được mọi vấn đề một cách vẹn toàn nhất. Hình ảnh "Bộ khỉ tam không" tưởng như đơn giản mà lại mang những giáo lý vô cùng sâu sắc.
>>>
>>> Lúc nào đó, khi đi dạo trong khuôn viên của chùa, nhìn thấy hình ảnh những chú khỉ ấy ta vừa thấy thích thú trước một hình ảnh ngộ nghĩnh vừa là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà thâm thúy của các bậc thiện tri thức muốn truyền đạt lại cho thế hệ mai sau.
>>>
>>> Diệu Âm Minh Tâm
>>>
-----------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH - CUA HEP-HY SINH PDF Print E-mail

CỬA HẸP: CỬA HỒN, CỬA HY SINH

"Hãy chiến đấu để vào qua cửa hẹp". Muốn vào Nước Trời thì phải chiến đấu, phải qua cửa hẹp. Lời Chúa có vẻ ngược với tâm lí tự nhiên của con người. Thường ta thích chọn đường rộng rãi, dễ dàng để đi cho nó khoái chứ dại gì mà chọn đường hẹp cho nó khổ!


Tuy nhiên, nhìn kỹ thì thấy cuộc sống có nhiều cửa hẹp. Đoạt được huy chương Olympic là cửa hẹp; học hành, kinh doanh thành đạt cũng là những cửa hẹp, phải đổ nhiều mồ hôi công sức. Cửa hẹp là cửa hy sinh.


Đi máy bay lên bầu trời xanh cũng phải qua cửa hẹp. Hành lý phải gọn gàng mới lên được chứ tay xách nách mang đủ thứ lỉnh kỉnh, lại gồng gánh cả gà vịt nữa thì không thể lên được.


Thế nên, cửa Nước Trời luôn rộng mở nhưng nó trở nên hẹp khi mà cái tôi của mình trở nên cồng kềnh quá. Phải chấp nhận từ bỏ cái tôi cồng kềnh, phải sống tinh thần siêu thoát thì mới vào được. Cửa hẹp là từ bỏ mình. Rộng là cứ dễ dãi theo ý mình, hẹp là hy sinh làm theo ý Chúa. Cửa hẹp là cửa hồn.


Việc hy sinh, từ bỏ không dễ, tuy nhiên quan trọng là ở cái lòng của mình. Lòng mình có muốn không, lòng mình có quyết tâm không? Người ta nói: "đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông".
Cái tôi to lớn thì bị vướng, nhưng tấm lòng lớn, đức tin lớn thì lại qua được cửa hẹp để vào Nước Trời hưởng phúc muôn đời.

KRISTIE PHAN CHUYỂN

​-------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH -CN21TN-C- VAO CUA HEP PDF Print E-mail

CN21TN-C : Cửa hẹp là cửa nào? -TIN MỪNG LUCA 13, 22-30

(BÀI CẦN NGẮN GỌN - XUC TICH VÀ TRONG SÁNG - GM VŨ THIÊN)
Phúc âm cho thấy; kẻ đặt vấn nạn cho Đức Giêsu có thể là một người Do Thái bất kỳ,
vì Cựu Ước đã dạy cho toàn dân xác tín rằng: vương quốc vẻ vang của Đấng Thiên Sai
(Messiah) sẽ chỉ dành cho những ai trung thành nắm giữ lề luật. Trước nội dung những lời
rao giảng của Đức Giêsu về một Tin Mừng cứu độ phổ quát, mọi người Do Thái chân
chính đều cảm thấy khó chịu; học thuyết mới này có nguy cơ tiêu diệt mọi nỗ lực giữ cặn
kẽ luật pháp Môsê, mở đường cho lối sống buông thả về mặt chính trị cũng như tôn giáo.
Chính câu hỏi được đặt ra tự nó đã hàm ý khảng định con đường luật pháp truyền thống
mới thực sự là đúng đắn, là đáng khích lệ.
Câu trả lời của Đức Giêsu có vẻ chủ yếu nhắm thẳng vào tư duy này của người Do
thái, vì Người cho thấy: họ đã không nắm bắt được tư tưởng nòng cốt của Cựu Ước, cũng
như niềm tin đích thực của Abraham, Isasac, Giacop và tất cả các ngôn sứ: toàn bộ nội
dung Cựu Ước phải hướng tới việc đón nhận Tình Yêu cứu độ của đấng Mêsia. Đơn giản
là người Do Thái đã hiểu sai, khi đồng hóa sự cứu rỗi với trung thành giữ lề luật; "Bấy giờ
anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Abraham, Isasac, và Giacop cùng tất cả
các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài"; nếu quả là
như thế, nếu không phải những kẻ giữ lề luật được vào thiên đàng, thì 'ai' mới là những
người được vào thiêng đàng? Câu hỏi này, cũng như các câu hỏi tương tự: "Thưa Ngài,
những người được cứu thoát thì ít, có phải không? "Thưa Thầy, vậy thì ai mới được cứu
rỗi?"; cho tới nay câu hỏi này vẫn còn là vấn nạn rất phổ thông của nhiều Kitô hữu chúng
ta; và nó sẽ còn tiếp tục tiềm tàng trong thâm tâm của hầu hết mọi người.
Về vấn nạn này, câu trả lời của Đức Giêsu cũng rất thẳng thắn: "Hãy chiến đấu để qua
được cửa hẹp mà vào!" Hình ảnh tuy đã rõ ràng, nhưng nội dung thì chưa mấy sáng tỏ. Ta
phải hiểu'cửa hẹp' theo nghĩa nào đây, cửa hẹp là cửa nào?
Ta vẫn thường nghe giải thích: cửa hẹp là ăn ngay ở lành, là sống lương thiện, là tuân
giữ cặn kẽ các qui định luân lý đạo đức... Một nếp sống như thế chắc chắn đòi phải phấn
đấu, phải chế ngự các tính mê nết xấu v.v..., và vì vậy chỉ những ai cặn kẽ giữ các điều đó
mới xứng đáng được vào qua 'cửa hẹp' này, tức là được vào thiên đàng. Nói như thế nghe
rất có vẻ hợp lý theo lý luận thông thường. Tuy nhiên ta vẫn cần khảng định rằng: Đức
Giêsu đang đầ cập tới Tin Mừng cứu rỗi. Tương tự, nếu ta giải thích cửa hẹp là: trung
thành giữ đạo, là năng đi nhà thờ, là đọc kinh tối sớm..., thì làm sao giải thích được điều
Đức Giêsu không ngừng khảng định: 'cửa hẹp' này không hề khép lại để ngăn cản nhiều
người muốn được vào: "Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong nước Thiên
Chúa". Ngược lại, cửa hẹp này lại đóng lại trước nhiều người đã từng lên tiếng: "Chúng
tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường
phố của chúng tôi". Họ chưa chắc sẽ được lọt vào! Theo Đức Giêsu thì chính hạng người
sau này lại rất dễ bị gạt ra ngoài: "Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt
ta!"

Dựa trên toàn bộ nội dung Tin Mừng thì khiêm cung thống hối để đón nhận lòng
thương xót thứ tha của Thiên Chúa mới đích thực là cánh của hẹp và thấp mà mọi người
cần phấn đấu vào cho bằng được. Gioan Tiền Hô đã kêu gọi dân chúng thống hối như điều
kiện thiết yếu để chuẩn bị đón đấng Mêsia..., nhưng nhiều người Do-Thái đã không chấp
nhận lời rao giảng của Gioan, cho dầu không ít người trong số họ thực tình mong đợi
Đấng Thiên Sai đến; "Có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được". Đức Giêsu
khi rao giảng nội dung này cách quyết liệt, thì chính nhóm Biệt Phái, luật sĩ, Sa-đốc và
Hê-rốt đã tìm cách chống lại. Họ là những hạng người vốn tự coi mình có địa vị cao trọng
trong xã hội hơn nhiều kẻ khác, kể cả về diện vật chất như giầu sang chức quyền, lẫn về
diện tinh thần - tôn giáo như công chính đạo đức. Ngược lại, những người vốn dĩ bị coi là
tội lỗi, thấp hèn (hạng thu thuế, gái điếm, tật nguyền...) mới là những kẻ thực thi lời mời
gọi sám hối của Gioan, và rộng mở đón nhận Tin Mừng thương xót của Đức Giêsu. Toàn
bộ các tường thuật Tin mừng đều đã không ngừng xác minh thực tế này; do đó, thật dễ
hiểu khi Đức Giêsu đưa ra kết luận: "Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có
những kẻ đứng hàng đầu sẽ xuống hàng chót".
Như vậy 'cửa hẹp' đối với Tin Mừng phải là: lòng khiêm nhường thống hối; điều này
Kitô hữu chúng ta luôn xác tín: không ai sẽ được cứu rỗi nếu không vào Nước Trời qua
cánh cửa hẹp này, đơn giản là vì không một ai là cao trọng, là trong sạch trước mặt Thiên
Chúa. Kitô hữu chúng ta đã chính thức bước qua cửa hẹp này ngày chịu phép Thánh Tẩy,
ngày mà mỗi người chúng ta chân thành thống hối và xưng thú các tội lỗi mình trước toàn
thể cộng đoàn Giáo Hội; rồi chúng ta còn tiếp tục bước qua ngưỡng cửa đó trong suốt đời
sống mình mỗi khi đi xưng tội, để khiêm tốn nhìn nhận những yếu hèn của mình và rộng
mở cõi lòng đón nhận ơn cứu rỗi; bước qua 'cửa hẹp' này là điều kiện thiết yếu mà tất cả
mọi người chúng ta - không trừ một ai, cho dầu có được nâng lên tới địa vị cao trọng tới
mấy - đều phải thực hiện.
Lạy Chúa, xin cho con luôn mãi duy trì được nơi mình lòng khiêm cung thống hối; đó
chính là điều kiện tiên quyết để con đón nhận hồng ân thương xót cứu độ của Chúa. Cho
dầu con có đạt được bất cứ điều tốt lành, thánh thiện nào trong cuộc sống, xin hãy cho
con vẫn cứ khiêm nhường cúi mình chui qua cửa hẹp Tin Mừng. Xin Mẹ Maria, người nữ
tì khiêm hạ của Giavê, gìn giữ xác hồn con luôn thấp hèn, để như Mẹ, con biết luôn rộng
mở tâm hồn đón lấy lòng từ nhân của Thiên Chúa cứu độ. Amen
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty. SDB
----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 36