mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2695
mod_vvisit_counterHôm Qua4629
mod_vvisit_counterTuần Này12099
mod_vvisit_counterTuần Trước60881
mod_vvisit_counterTháng Này194197
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7994595

We have: 91 guests online
Your IP: 54.157.226.227
 , 
Today: Mar 28, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 211 = CHI CO ON CHUA PDF Print E-mail

Chỉ Có Ơn Chúa Mà Thôi

Thư Gởi Bạn Hiền 32

Atlanta ngày 6 tháng 6, năm 2016

Bạn thân mến,

Tín lý thứ ba của các anh em Tin Lành là 'Chỉ có ơn Chúa mà thôi' (Grace alone). Ðể hiểu được tín lý này, chúng ta phải hiểu ơn Chúa là gì.

Ơn Chúa là những món quà mà Thiên Chúa ban hay những việc Thiên Chúa làm cho chúng ta cách siêu nhiên theo thánh ý của Chúa; để chúng ta có thể đáp lại tiếng Chúa mời gọi hầu làm sáng danh Chúa; để chúng ta được ơn cứu chuộc, và đem ơn cứu chuộc đến cho mọi người. Thí dụ Thánh Phaolô được ơn thông hiểu Kinh Thánh mà không phải học hỏi. (Xin xem Galatians chương 1) Hoặc các tông đồ chữa lành nhiều bệnh nhân khi các ngài đi rao giảng. Ngày nay cũng có rất nhiều người được ơn thông hiểu Lời Chúa dù họ không được học hành gì bao nhiêu, và cũng có lắm kẻ được chữa cho khỏi những 'bệnh thầy chê' mà không cần thuốc men gì, và còn nhiều nữa.

Ðối với Người Công Giáo thì ơn Chúa gồm có ơn thánh hoá và ơn phù trì. Ơn thánh hoá là ơn Chúa ban cho chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa để chúng ta có thể tham dự vào thần tính Thiên Chúa, tham dự vào cuộc sống vĩnh cửu của Người, tức là được ơn cứu chuộc. Ơn phù trì, còn gọi là ơn phù trợ hay ơn trợ giúp, là những trợ giúp siêu nhiên mà Thiên Chúa ban để làm mạnh mẽ những ơn thánh hoá mà ta đã đón nhận, và để giúp ta tìm lại ơn thánh hoá mà ta đánh mất vì phạm tội trọng.

Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta qua các phép bí tích, qua những việc chúng ta làm theo ý thánh ý Chúa, và qua ý Chúa.

Qua các Phép Bí Tích, Thiên Chúa ban ơn thánh hoá cho chúng ta được tái sinh làm con cái Chúa qua Phép Rửa Tội, được kết hợp với Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể, được thông phần vào công cuộc cứu chuộc chúng ta của Chúa Giêsu qua Phép Truyền Chức Thánh, được tham gia vào chương trình tạo dựng con người của Chúa Cha qua Phép Hôn Phối. Cũng qua các phép bí tích, Thiên Chúa ban ơn phù trì để giúp chúng ta tìm lại mọi ơn thánh hoá mà ta đánh mất vì phạm tội trọng qua Phép Giải Tội. Giúp chúng ta được khôn ngoan, thông minh, biết lo liệu, được mạnh mẽ, biết suy luận, được lòng kính mến, và biết kính sợ Thiên Chúa qua Phép Thêm Sức. Giúp chúng ta được mạnh sức phần hồn phần xác, nhất là được sự an bình trong giờ lâm tử, qua Phép Xức Dầu Thánh.

Qua những việc chúng ta làm theo thánh ý Chúa, như cầu nguyện, ăn chay, bố thí, v.v., Thiên Chúa cũng ban nhiều ơn lành khác cho người sống cũng như chết; những người mà chúng ta cầu nguyện cho họ, và những người mà chúng ta làm những việc lành thay cho họ. Thí dụ điển hình nhất về ơn này là trường hợp Thánh Nữ Monica. Bà đã cầu nguyện ròng rã 18 năm xin cho con bà biết từ bỏ đường tội lỗi, và Thiên Chúa đã hoán cải đứa con trai hoang đàng của bà cho được trở nên thánh thiện là Thánh Augustine.

Qua ý Chúa, Thiên Chúa ban nhiều ơn lạ (Charisms) cho những người Chúa chọn cách riêng, cho họ được tham dự mà làm cho nên trọn chương trình cứu chuộc chúng ta của Thiên Chúa như trường hợp Thánh Gioan Tẩy Giả, các tông đồ, Thánh Phaolô, các thánh tổ phụ, các tiên tri, và nhiều người khác.

Qua ba cách mà Chúa ban ơn ở trên, ta thấy, được nhận ơn qua ý Chúa là những người không hề xin ơn, nhưng họ sẵn sàng vâng theo ý Chúa, và những ơn Chúa ban cho họ là những ơn mà Chúa ban hoàn toàn theo ý Chúa. Ðiều lạ là những vị này, tất cả đều phải chịu nhiều đau khổ, nhiều khốn khó, nhưng có như thế ta mới thấy được là những người này sẵn sàng đón nhận và vâng phục thánh ý Chúa; và có như thế thì ơn Chúa mới là siêu nhiên. Nếu ơn Chúa là để chúng ta được giàu sang phú qúy thì chắc là ai cũng theo Chúa, và như thế thì đi theo Chúa chỉ là dua nịnh kiếm ăn; đâu có chi là khác thường.

Ðược nhận ơn qua các phép bí tích là những người tin và sẵn sàng đón nhận những ơn này. Ngay cả các trẻ em sơ sinh cũng thế. Tuy chính các em chưa biết tin là gì, cũng chưa sẵn sàng, mà cũng không hề xin được rửa tội, nhưng cha mẹ của các em xin, và Thiên Chúa ban ơn cho các em y như Người đã ban ơn cho người giúp việc của vị quan bách quản ở Capernaum vì vị quan này xin, chứ người giúp việc của ông ta không xin, Mat 8:5-10. Ðiều này thuộc về Mầu Nhiệm Các Thánh Thông Công, và tôi sẽ chia xẻ sau nếu Chúa muốn.

Ðược nhận ơn qua những việc làm theo ý Chúa là những người tin và cả những người chưa biết Chúa. Sự khác biệt là những anh chị em chưa biết Chúa thì không được ơn thánh hoá qua các phép bí tích nhưng họ được ơn phù trì, vì mọi việc lành đều đẹp lòng Chúa, và Chúa ban ơn cho họ theo ý Chúa, và qua lời cầu nguyện của chúng ta và của toàn thể Hội Thánh Chúa. Nhờ thế, họ có thể tìm đến Chúa hay đến ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa thương ban qua Phép Rửa Tội.

Tóm lại, theo giáo lý Công Giáo thì ơn Chúa gồm có ơn thánh hoá và ơn phù trì. Thiên Chúa ban những ơn này cho chúng ta qua ba cách, nhưng tựu trung thì ơn nào Chúa ban cũng hoàn toàn là do ý Chúa. Thế nhưng, qua các phép bí tích, và qua những việc làm theo ý thánh ý Chúa, Chúa cho chúng ta cơ hội tìm kiếm và xin, nhiều hay ít, những ơn này; và nhất là cho chúng ta được cộng tác với Chúa trong việc trao ban ơn Chúa bằng cách cầu nguyện xin ơn cho người khác; để tất cả đều được ơn cứu chuộc. Ngay cả những ơn lạ cũng thế; tất cả là để đưa ta đến ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa thương ban qua Bí Tích Rửa Tội. Dù sao, phép rửa tội chỉ tha hết mọi tội, và mọi hậu quả của tội lỗi mà ta phải gánh chịu từ lúc sinh ra cho đến khi nhận phép rửa, và để ta được trở nên con cái Chúa; chứ không xóa được sự chết, bệnh tật, đau khổ, và nhất là không xóa được những dục vọng yếu đuối. Vì thế, sau khi chịu phép rửa, ta vẫn có thể phạm tội đánh mất ơn cứu chuộc. Thiên Chúa biết như vậy nên Người ban các ơn thánh hoá và các ơn phù trì như đã kể ra ở trên để chúng ta có thể tiếp tục và hoàn tất cuộc hành trình về quê trời.

Ðối với các anh em Tin Lành thì khác. Tín lý 'Chỉ có ơn Chúa mà thôi' nghĩa là chỉ có ơn cứu chuộc, và ơn này là một món quà. Ai tin và nhận món quà này thì người đó được công chính hoá vì tin. Món quà này khi đã nhận thì không mất được nên ta không cần những ơn thánh hoá khác, mà cũng không cần ơn phù trì. Thêm vào đó, vì ơn cứu chuộc không thể mất được nên cầu nguyện cho mình hay cho người khác đều không cần thiết. Ta cũng không ai có thể làm gì để giúp cho sự cứu chuộc của người khác, bởi vì 'Chỉ có ơn Chúa mà thôi'. Những người được những ơn lạ cũng không giúp gì được ai vì ơn cứu chuộc là do Chúa ban, tức là 'chỉ có ơn Chúa mà thôi'.

Các anh em Tin Lành đặt niềm tin 'Chỉ có ơn Chúa mà thôi' trên nền tảng câu Kinh Thánh trong thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Êphêsô này. Eph 2:8-9, (8) "Vì nhờ vào ơn Chúa mà anh em được cứu qua đức tin, và anh em được cứu không phải do anh em; mà do ân huệ (ơn) Chúa ban; (9) chứ không do công nghiệp nào, để như thế không ai có thể khoe khoang việc mình làm."

Vâng, đúng như vậy! Giáo lý Công Giáo về ơn cứu chuộc hoàn toàn nằn trong câu Kinh Thánh này. Sự khác biệt là:
1. Ðức tin theo giáo lý Công Giáo là đức tin phải có việc làm. Làm để chứng tỏ đức tin của mình chứ không phải làm để lập công như một cái giá ta trả để được vào nước trời. Làm để bày tỏ đức cậy, và thực thi đức ái. Về điểm này, theo các anh em Tin Lành thì chỉ có đức tin mà thôi. Ai tuyên xưng đức tin của mình thì được công chính hoá; không còn gì phải làm nữa.
2. Ơn Chúa ban là một ân huệ chứ không do công nghiệp, và Giáo Hội Công Giáo dạy đúng như lời Thánh Phaolô. Ngoại trừ Mẹ Maria, chúng ta không ai có thể tạo được công nghiệp nào. Tất cả những việc chúng ta làm, chúng ta phải làm vì mình là tôi tớ, chúng ta phải làm vì chúng ta là con cái trong nhà, vì thế, chúng ta không có gì để khoe khoang hết. Các anh em Tin Lành thì khác. Ơn Chúa là ơn huệ; khi ta đã đón nhận ơn huệ này là xong, và không có gì phải làm hết. Nói như thế thì không khác nào một người vô gia cư kia, được ân huệ vào ở trong nhà của một người tốt bụng nào đó; khi đã được vào rồi là xong, không phải làm gì hết.
3. Chúa nói với Tiên Tri Ezekiel, 3:20, nếu kẻ công chính từ bỏ đường công chính mà phạm tội thì nó sẽ phải chết, và những việc công chính nó đã làm trước đó cũng tiêu tan. Như vậy, thật rõ ràng là, một người được cứu, được công chính hoá vì tin, nhưng sau đó lại tiếp tục hay bắt đầu phạm tội thì người này làm mất ơn cứu chuộc mà mình đã lãnh nhận. Thiên Chúa biết như vậy nên Người ban nhiều ơn thánh hoá khác cũng như những ơn phù trì để ta có thể giữ vững hoặc tìm lại ơn cứu chuộc mà mình đánh mất. Các anh em Tin Lành cũng không tin như vậy. Ðối với họ thì khi đã được cứu là được cứu mãi mãi (Once saved always saved!). Tức là, người vô gia cư ở trên, đã được mời vô nhà rồi thì dù người này có lên bàn mà bĩnh ra ở đó thì cũng không ai đuổi y ra được.

Xin Chúa chúc lành cho bạn và mọi người trong gia đình bạn.

Thân ái kính chào trong Chúa và Mẹ Maria,
Giuse Phạm Văn Tuyến

--------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 210= HAI DIEU RAN PDF Print E-mail

Nguồn Gốc Của Sa Mạc

Người Ả Rập giải thích nguồn gốc của sa mạc bằng câu chuyện ngụ ngôn như sau:

"Thiên Chúa đang sáng tạo vũ trụ. Sau khi đã hoàn tất tinh tú, trái đất, biển khơi, sông ngòi, Thiên Chúa bắt tay vào việc tạo dựng con người. Ngài nặn được những thân hình thật đẹp, nhưng đó chỉ là những pho tượng, vì chưa có linh hồn".

Lúc bấy giờ, một tổng lãnh thiên thần mới đề nghị với Thiên Chúa là cần phải tạo dựng linh hồn cho con người. Thế là Thiên Chúa miệt mài giam mình trong phòng thí nghiệm để tác tạo linh hồn cho con người. Các linh hồn vừa mới ra lò còn rất mảnh khảnh và yếu ớt.

Ngài mang các linh hồn tươi tắn ấy xuống trần gian và phân phát cho loài người. Nhưng rủi thay, hôm đó trời đổ mưa, cho nên một số linh hồn chưa đủ cứng cáp đã biến dạng.

Một ngày nọ, một trong những người đã lãnh nhận được linh hồn méo mó, đã buột miệng nói ra một lời dối trá. Tuy chỉ là một lời dối trá không đáng kể, nhưng đó là một lời dối trá đầu tiên xuất hiện trong lịch sử loài người.

Thiên Chúa vô cùng hối hận vì đã không ngăn ngừa được sự dối trá ấy. ngài bèn tập trung loài người lại và tuyên bố: "Từ nay, đừng có một người nào phạm thêm một điều dối trá nữa. Nếu không, cứ mỗi lần có một lời dối trá, ta sẽ cho rơi xuống mặt đất một hạt cát".

Nhiều người nghe lời đe dọa của Thiên Chúa, cười thầm trong lòng. Một hạt cát có đáng kể là bao sánh với màu xanh trùng trùng điệp điệp của cây cỏ. Thành ra, loài người đã không đếm xỉa đến lời cảnh cáo của Thiên Chúa. Người thứ hai thêm một lời nói láo mà vẫn đinh nih đó chỉ là một lời không đáng kể, cũng như thêm một hạt cát trên trái đất cũng không thay đổi được bộ mặt của nó. Cứ thế, người thứ ba, rồi người thứ tư... Người ta nói dối đến độ Thiên Chúa không còn đủ sức để cho cát rơi xuống trên mặt đất nữa... Ngài đành phải dùng đến bàn tay của các thiên thần để cho mưa cát xuống... Không mấy chốc, những đồng cỏ xanh tươi, những vườn cây um tùm biến thành sa mạc khô cằn. Thỉnh thoảng một vài ốc đảo xanh tươi mọc lên, đó là dấu hiệu sự hiện diện của một vài người còn biết tôn trọng sự thật. Nhưng dần dà, ôn dịch dối trá lan tràn khắp nơi, trái đất chỉ còn là một bãi sa mạc.

Tất cả những ai sống trong một xã hội xây dựng trên dối trá, lừa đảo, đố kỵ lẫn nhau đều biểu hiện được thế nào là sa mạc của tình người. Sa mạc nào cũng là biểu hiện của sự chết: chết của tình người, chết của lòng tin tưởng lẫn nhau, chết của hy sinh phục vụ, chết của lòng quảng đại. Tựu trung, dối trá cũng là tên gọi của ích kỷ. Người dối trá là người chỉ biết sống cho mình. Nếu ơn gọi của con người, nếu sự thật của con người là sống yêu thương, sống cho người, thì kẻ dối trá là người chối bỏ chính mình.

Chúa Giêsu đã lên án gắt gao thái độ dối trá. Ngài nói: "Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra". Kẻ dối trá, do đó, tự đặt mình dưới quyền thống trị và điều khiển của ma quỷ.

Mỗi một thái độ dối trá là một hạt cát rơi xuống trên sa mạc của tình người. Nhưng mỗi một hành động của quảng đại, của yêu thương, của phục vụ là một ốc đảo xanh tươi của Chân lý, đó là Chân lý của tình yêu.

Trích sách Lẽ Sống.

---------------------

Hai điều răn
Lời Chúa: Mc 12, 28b-34
Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?" Đức Giêsu trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó". Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ". Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.
Suy niệm:
Trong những ngày cuối tại Giêrusalem,
Đức Giêsu bị kéo vào những cuộc tranh luận với nhiều nhóm
về quyền, về chuyện nộp thuế, về sự sống lại (Mc 11, 27- 12, 27).
Ít có một cuộc đối thoại đúng nghĩa khi người ta chỉ muốn giăng bẫy,
và không thực sự muốn kiếm tìm chân lý.
Chính vì thế bài Tin Mừng hôm nay là một bất ngờ thú vị.
Một kinh sư nghe Đức Giêsu trả lời các đối thủ của mình
thì ông có cảm tình và muốn hỏi Ngài câu hỏi mà ông bận tâm.
"Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu ?" (c. 28).
Đức Giêsu thấy thiện tâm của ông, và Ngài đã trả lời nghiêm túc.
Ông kinh sư như reo lên khi nghe câu trả lời của Ngài.
"Thưa Thầy hay lắm, Thầy nói rất đúng."
Câu trả lời của Đức Giêsu chạm đến điều dường như đã có nơi ông.
Ông thích thú lặp lại những lời Ngài đã nói (cc. 32-33).
Theo ông, những điều răn đó còn quý hơn hy lễ và lễ toàn thiêu (c. 33).
Đức Giêsu vui sướng khi đứng trước một vị kinh sư khôn ngoan và cởi mở.
Ngài nói với ông một câu mà chúng ta thèm muốn:
"Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" (c. 34).
Vị kinh sư hỏi Đức Giêsu về một điều răn đứng đầu.
Ngài đã trả lời tới hai điều răn (c. 31).
Hai điều răn này gắn kết với nhau chặt chẽ, nhưng vẫn là hai.
Cả hai đều đòi hỏi một thái độ, một chọn lựa diễn tả qua động từ "yêu".
Yêu Thiên Chúa bằng tất cả con người mình
bằng trọn cả trái tim, linh hồn, trí khôn và sức lực,
và yêu tha nhân như yêu chính mình (cc. 29-31).
Tình yêu đối với tha nhân không thay thế được tình yêu đối với Thiên Chúa.
Tình yêu đối với Thiên Chúa như thanh dọc của thập giá
đỡ lấy thanh ngang là tình yêu tha nhân.
Sống trọn tình yêu là chấp nhận cả hai thanh gỗ làm nên cây thập giá.
Nếu lễ toàn thiêu đòi đốt hoàn toàn lễ vật, và hy lễ đòi giết chết con vật,
thì tình yêu đối với Chúa và tha nhân
cũng đòi thiêu rụi và giết chết cái tôi kiêu ngạo, ích kỷ của mình.
Chẳng thể nào yêu mà đòi giữ nguyên cái tôi khép kín.
Người Kitô hữu hôm nay cũng có thể hỏi Chúa câu hỏi tương tự:
Điều răn nào quan trọng hơn cả chi phối mọi lề luật trong Giáo Hội?
Chúa cũng sẽ giữ nguyên câu trả lời như ngày xưa.
Ngài vẫn tóm mọi điều răn và giới răn trong một động từ đơn giản: yêu.
Xin để tình yêu chiếm lấy trái tim của tôi, chi phối mọi chọn lựa,
và biến đời tôi thành tình yêu.


Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con,
ơn gọi của con chính là tình yêu.
Con đã tìm thấy
chỗ đứng của con trong Hội Thánh:
nơi Trái tim Hội Thánh, con sẽ là tình yêu,
và như thế con sẽ là tất cả,
vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội Thánh.
Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con,
mọi ước mơ của con được thực hiện.
(dựa theo lời của thánh Têrêxa)

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.

-----------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 209= PDF Print E-mail

Chỉ Có Ðức Tin Mà Thôi

Thư Gởi Bạn Hiền 31

Atlanta ngày 17 tháng 5, năm 2016

Bạn thân mến,

Một tín điều nữa của các anh em Tin Lành là 'Chỉ có đức tin mà thôi'. Vậy chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem đức tin quan trọng đến như thế nào.

Khi đi rao giảng về nước trời, về Thiên Chúa, tức là rao giảng về chính mình, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh rất nhiều đến đức tin. Mat 8:5-10, Chúa Giêsu chữa lành cho người giúp việc của một vị quan bách quản ở Capernaum; rồi Người khen đức tin của ông mạnh mẽ đến độ Người chưa thấy có ai trong Israel có được đức tin mạnh mẽ đến như vậy. Mat 9:1-7, Chúa Giêsu chữa lành cho người bất toại chỉ vì đức tin mạnh mẽ của những người khiêng ông ta đến cho Người. Mac 5:25-34, Khi người đàn bà bị loạn huyết đụng vào áo của Chúa Giêsu, bà liền được lành bệnh, và Chúa Giêsu bảo bà, (34)"Hỡi con, đức tin của con chữa con lành. Con hãy đi trong bình an và được lành bịnh." Matthew 15:28, Chúa Giêsu chữa lành cho đứa con gái bị quỷ ám của một bà Canaanite gần Tyre và Sidon vì bà có đức tin mãnh liệt. Như vậy ta thấy, trong đời sống thiêng liêng của chúng ta, đức tin quả là quan trọng. Có thể nói, đức tin là bước chân đầu tiên trong cuộc hành trình về thiên quốc. Không có bước chân đầu tiên này thì không có cuộc hành trình, nhưng như thế có phải là chỉ có đức tin mà thôi không? Thánh Phaolô dạy, 1-Côrintô 13:13, "Vì vậy mà còn lại là tin, cậy, mến; nhưng trong ba nhân đức tin, cậy, và mến này thì đức mến là cao trọng hơn cả."

Tại sao đức mến lại là cao trọng hơn cả? Thưa vì khi tin là chúng ta tin vào những gì mình không hiểu, không thấy, không giải thích được. Nhưng khi được diện kiến Thiên Chúa thì ta hiểu được những gì mình không hiểu, thấy được những gì mình không thấy, và được giải thích cho những gì mình không giải thích được; lúc ấy đức tin tự nó biến đi vì không còn là cần thiết nữa. Ðức cậy cũng vậy. Khi còn ở đời này thì chúng ta trông cậy vào sự quan phòng của Thiên Chúa; chúng ta trông cậy vào lòng xót thương, sự tha thứ, và ơn cứu chuộc của Người. Khi đã chết thì lòng cậy trông không còn vì ta đạt được những gì mình cậy trông, mình đợi mong đợi; vì thế mà đức cậy cũng sẽ không còn là cần thiết. Thế nhưng đức ái thì khác. Khi còn ở đời này là lúc chúng ta thực thi đức ái; sau khi chết, những ai thuộc về Thiên Chúa là những người được sống trong đức ái; sống trong sự yêu thương của Thiên Chúa, nên đức ái là nhân đức tồn tại đến muôn đời. Vậy nếu chúng ta tin, chỉ có đức tin mà thôi, thì chẳng phải là chúng ta đặt niềm tin của mình trên một nền tảng không bền vững muôn đời hay sao?

Ðó là những gì Thánh Phaolô dạy về tín lý, chỉ có đức tin mà thôi. Còn Chúa Giêsu thì sao? Thưa Người phán, Mat 7:21, "Không phải những ai nói lạy Chúa, lạy Chúa là những người được vào nước trời; mà là những ai làm theo ý Cha Ta trên trời." Ai là những người nói lạy Chúa, lạy Chúa? Các Phật Tử có van vái lạy Chúa..., lạy Chúa... không? Thưa không, vì họ không tin vào Thiên Chúa. Các tín đồ Ấn Giáo có cầu xin lạy Chúa..., lạy Chúa... không? Thưa không, vì họ không tin vào Thiên Chúa. Một cách ngắn gọn, ai không tin vào Thiên Chúa thì người ấy cũng không kêu cầu danh Chúa. Chỉ có người tin vào Thiên Chúa mới van xin lạy Chúa..., lạy Chúa... Thành ra "Không phải những ai nói lạy Chúa, lạy Chúa là những người được vào nước trời" nghĩa là, không phải những ai nói mình tin vào Thiên Chúa là người đó được vào nước trời. Tại sao vậy? Tại sao khi chữa lành những người kể ra ở trên, thì Chúa Giêsu nhấn mạnh đến đức tin, mà ở đây, Mat 7:21, thì Chúa Giêsu lại nói, không phải những ai nói mình tin vào Thiên Chúa là người đó được vào nước trời?

Thưa vì khi vị quan bách quản ở Capernaum tìm đến xin Chúa Giêsu chữa lành cho người đầy tớ của ông, tức là ông đã bày tỏ đức tin của mình qua việc làm chứ không phải ông chỉ tin bằng môi miệng. Những người khiêng người bất toại đến cho Chúa Giêsu cũng vậy. Dù không đến gần Chúa Giêsu được vì đám đông chắn cửa, họ liền dở mái nhà mà thòng người bất toại xuống. Như vậy là đức tin của họ cũng được thể hiện qua việc làm. Trường hợp người đàn bà bị loạn huyết cũng không khác. Bà tin là chỉ cần đụng vào áo Chúa Giêsu là được khỏi, và bà đã làm như vậy; cho nên đức tin của bà là đức tin có việc làm. Còn trong Mat 7:21 thì, Không phải những ai nói... Nói chứ không làm thì không thể vào nước trời được; mà chỉ những ai làm theo ý Cha Ta trên trời thì người đó mới vào được nước trời. Chính vì vậy mà Thánh Giacôbê dạy, James 2:17, "Ðức tin không có việc làm là đức tin chết." Trong thư gởi tín hữu Galatians Thánh Phaolô cũng nói, Gal 5:6, "Vì trong Ðức Giêsu Kitô, thì chịu phép cắt bì hay không chịu phép cắt bì đều không đáng kể, nhưng chỉ có đức tin được thực thi qua đức ái mới là quan trọng."

Tóm lại, đức tin là quan trọng, nhưng tin thì phải bày tỏ lòng tin của mình bằng việc làm chứ không thể chỉ nói, chỉ tuyên xưng là mình tin mà thôi được. Vì thế mà bên cạnh đức tin thì phải có đức cậy, và đức mến; mà đức mến là quan trọng hơn cả. Nhờ vào đức mến, chứ không phải đức tin, mà thiên hạ nhận ra ai là môn đệ của Chúa Giêsu. Gioan 13:35, "Cứ dấu này mà thiên hạ nhận biết các con là môn đệ của Thầy, đó là các con yêu thương nhau." Sau cùng, trong ngày phán xét chung như được ghi chép trong Matthew 25:32-46, Thiên Chúa sẽ xét xử chúng ta dựa trên đức ái chứ không dựa trên đức tin. (34) Rồi đức vua nói với những người ở bên phải của người, "Hãy đến với ta, hỡi các con là những người được Cha Ta chúc phúc! Hãy đến mà đón nhận nước trời là phần thưởng đã được dọn sẵn cho các con từ thuở tạo thiên lập địa. (35) Vì khi ta đói các con đã cho ta ăn, khi ta khát các con đã cho ta uống; ta là khách lạ các con đã tiếp rước, trần truồng các con cho áo mặc; ta bị ốm đau và tù tội các con đã thăm viếng ủi an." (41) Rồi ngài lại nói với những kẻ ở bên trái của Người, 'Hãy cút khỏi mắt ta mà đi vào chốn thiêu đốt đời đời là nơi được dành cho quỷ dữ và bè thần của nó! (42) Vì ta đói mà các ngươi đã không cho ta ăn, khát nhưng các ngươi không cho ta uống; ta là khách lạ nhưng các ngươi không tiếp rước, trần truồng mà các ngươi không cho áo mặc; ta bị ốm đau và tù tội nhưng các ngươi không giúp đỡ.' Và như vậy thì đ7úc tin là quan trọng, nhưng không thể chỉ có đức tin mà thôi được.

Xin Chúa chúc lành cho bạn và mọi người trong gia đình bạn.

Thân ái kính chào trong Chúa và Mẹ Maria,

Giuse Phạm Văn Tuyến

-------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 208 = SAO SANH PDF Print E-mail

SO SÁNH

Tracy Nguyễn chuyển

Người giầu có được cung phụng. Kẻ tài giỏi được quý mến. Người có chức quyền được kính trọng. Người thông minh được ưu đãi. Người đã có, lại có thêm. Người nghèo khó bị coi thường. Kẻ ít học bị khinh khi. Não trạng con người bị đóng khung. Ý thức hệ bị thiên kiến. Khuôn mẫu xã hội tạo phân biệt đẳng cấp đã gây nên sự tranh đấu không ngừng.

Một trong những điều gây nhức nhối và phiền hà trong đời sống chính là sự so sánh đua đòi. So sánh để học hỏi và thi đua là điều tích cực, nhưng so sánh để chỉ trích chê bai lại là một điều hết sức tiêu cực. Đôi khi điều tiêu cực này sẽ gây nên sự thù ghét, tẩy chay và phân rẽ. Chúng ta biết sự hình thành của mỗi người hiện hữu trên trần đời thì có muôn hình vạn trạng. Mỗi người khác nhau về kết cấu, khuôn mặt, dấu chỉ tay, khả năng hiểu biết, chuyên môn, số phận và số mệnh. Bước vào cuộc sống chung, chúng ta chấp nhận những khác biệt bổ túc cho nhau để tạo nên một xã hội đa chiều phong phú.

• Về cá nhân, không một ai giống ai trong hoàn cảnh sống. Ngay từ khi lọt lòng mẹ, mỗi người bước vào đời với một số mệnh riêng. Chúng ta có thể ngồi gẫm lại từ những ngày thơ ấu, khi mới chập chững cắp sách đến trường cho tới khi thành đạt lập thân. Cuộc sống của mỗi người trải qua bao năm tháng thăng trầm, mỗi cá nhân đã có biết bao sự đổi thay theo dòng đời. Chúng ta nên chấp nhận hoàn cảnh thực tế của cuộc sống nơi mỗi cá nhân. Mỗi người hãy vui với niềm vui riêng của mình. Chúng ta không thể so sánh hơn thua về cuộc sống và về định mệnh riêng tư của mỗi người.

• Về con cái, cha mẹ không nên so sánh sự thành công của bạn bè đồng lứa tuổi với con cái của mình. Đứa con sẽ chạm tự ái và khó chịu. Có lần tôi nghe một đứa con trả lời thẳng thắn với bố mẹ rằng con là con và nó là nó. Là phụ huynh, chúng ta nên hết sức tế nhị dạy bảo con cái. Chịu khó tìm hiểu và nhận biết khả năng, sở thích và nhu cầu mà con cái đang khao khát để hướng dẫn.

• Về vợ chồng, một điều tối kỵ là đừng bao giờ so sánh vợ/chồng của mình với vợ/chồng của người khác. Đừng 'đứng núi này mà trông núi nọ'. Người ta nói: 'Ở trong chăn, mới biết chăn có rận'. 'Nhìn vậy mà không phải vậy' đâu. Thực tế, có nhiều cặp vợ chồng ở với nhau cả đời mà vẫn chưa hiểu và biết nhau tỏ tường. Làm sao chúng ta có thể đem vợ/chồng của mình ra so sánh với một nhân vật nào đó tình cờ gặp gỡ. Chúng ta có nguy cơ lầm lẫn lớn. Vì sự so sánh như cơm với phở đã làm cho biết bao cặp vợ chồng phải rơi vào sự nghi ngờ và thất trung bất tín. Đường đời còn dài và cuộc sống có nhiều niềm vui và thử thách. Mỗi người hãy tự xét mình trước khi xét người. Muốn so sánh để đòi hỏi vợ/chồng phải trở nên giống hoặc bằng người khác là điều xuẩn trí.

• Về gia đình, chúng ta không thể so sánh đời sống gia đình này với gia đình khác. Trong cuộc sống đời thường, chúng ta nhận thấy có gia đình giầu sang phú quý sống trên nhung lụa. Có gia đình bần cùng, màn trời chiếu đất. Có những gia đình may mắn, làm ăn thành đạt và của cải đầy dư. Có những gia đình phải lao động vất vả mà cơm không đủ ăn và áo không đủ mặc. Có những gia đình sang trọng giầu có, nhưng chưa chắc vợ chồng con cái hạnh phúc ấm êm. Có gia đình tuy nghèo nhưng vợ chồng yên vui đầm ấm và con cái ngoan hiền... Mỗi gia đình một hoàn cảnh sống khác nhau cả về tinh thần lẫn vật chất. Có biết bao nhiêu tình tiết tế nhị trong đời sống, chúng ta không thể so sánh cuộc sống gia đình này với gia đình kia.

• Về nhóm hội và cộng đồng, mỗi nơi, mỗi hoàn cảnh và mỗi con người có nhiều điểm khác biệt kết nối với nhau tạo nên một nhịp sống chung. Chúng ta có thể tìm thấy một số những điểm tương đồng trong hình thức sinh họat, nhưng không thể rập khuôn bắt chước bất cứ một nhóm hội nào. Sự khác biệt não trạng và ý thức hệ của các thành viên ảnh hưởng đến sinh hoạt chung. Mỗi nhóm hội hay cộng đồng có bản sắc riêng trong cách thế sinh hoạt và sống đạo. Có nhiều sự việc có thể thực hiện được nơi cộng đoàn này, nhưng nơi khác thì không thể. Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm, nhưng không thể rập khuôn trong sinh hoạt. Sự chắp nối để nên giống nhau, đôi khi sẽ làm mất đi cái bản chất đích thực của mình.

♦♦♦

Sự so sánh nào cũng khập khễnh. Chúng ta chỉ có thể học hỏi và tham khảo lẫn nhau để trau dồi kiến thức. Sống dựa vào nhau để thăng tiến. Điều quan trọng là sự cố gắng phấn đấu không ngừng. Những kinh nghiệm trong đời sống sẽ giúp chúng ta học và học mãi. Người đời khen chê nhau là lẽ thường. Biết lắng nghe và rút tỉa kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta đổi thay nên hoàn thiện mỗi ngày. Ai trong chúng ta cũng cần sự khích lệ tích cực để xây dựng. Bạn của ta là những người dám nói sự thật và nói đúng nơi đúng lúc. Lời nói chân thành có một mãnh lực phi thường khuyến khích nhau trong mọi hoàn cảnh. Người nói sau lưng, mãi mãi là người đứng phía sau.

Tôi thích câu truyện này: Một đàn nhái đang di chuyển qua khu rừng và có hai con bị rơi xuống hố sâu. Những chú nhái tụ nhau bên miệng hố nhìn xuống. Khi thấy hố qúa sâu, chúng nói với hai con nhái kia rằng thôi chịu chết đi. Hai con nhái như giả lờ không nghe và cố gắng hết sức để nhảy ra khỏi cái hố sâu. Các con nhái trên bờ tiếp tục la rằng: Thôi ngừng đi, chúng mày sẽ chết thôi. Cuối cùng, một con nhái chú ý lắng nghe và bỏ cuộc. Nó ngã xuống và chết. Con kia đã tiếp tục cố gắng nhảy lên. Một lần nữa, đám nhái trên bờ lớn tiếng, đừng cố nữa và chờ chết thôi. Con nhái nhảy mạnh hơn nữa và cuối cùng nó đã thoát ra khỏi. Khi nó nhảy ra khỏi hố, những con nhái khác nói: Bạn không nghe chúng tôi nói hả? Con nhái giải thích rằng nó bị điếc. Nó nghĩ rằng các bạn hoàn toàn muốn khuyến khích nó.

Câu truyện dạy chúng ta hai bài học: Thứ nhất, sức mạnh của sự sống và sự chết nằm ngay trong cái lưỡi. Những lời khích lệ với những người đang chán nản sẽ làm họ phấn khích và giúp vượt qua những khó khăn. Thứ hai, những lời tiêu cực xói mòn tâm tư của những người đang thất vọng, có thể dẫn họ tới sự tuyệt vọng và dẫn tới chỗ chết. Hãy cẩn thận dùng lời nói khi chúng ta phát biểu. Sức mạnh của lời nói rất quan trọng giống như chiếc dao sắc có hai lưỡi. Chúng ta biết rằng xây dựng tình thân cần thời gian lâu dài, nhưng phá đổ chỉ trong giây lát.

♦♦♦

Bạn cần nhìn đời với con mắt lạc quan hơn. Xây dựng tình người với những lời khen tích cực. Ca dao: 'Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau'. Ước chi mỗi lời chúng ta bày tỏ sẽ mang lại niềm vui và phấn khích cho lòng người. Chúng ta bớt đi những lời so sánh chì chiết gây thương đau cho nhau, nhất là trong đời sống vợ chồng. Hãy tôn trọng và nâng đỡ nhau mọi nơi mọi lúc. Không ai tốt hơn vợ/chồng của mình đâu.

Xin Thiên Chúa ban ơn lành, để mỗi người hoàn thành sứ mệnh và định mệnh Chúa đã đặt để trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York.

Tác giả: Lm. Trần Việt Hùng

Nguồn : http://www.conggiaovietnam.net

------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 207 =CHI CO KINH THANH PDF Print E-mail

Chỉ Có Kinh Thánh Mà Thôi

Thư Gởi Bạn Hiền 30

Atlanta ngày 5 tháng 5, năm 2016

Bạn thân mến,

Khi nói đến những khác biệt về đức tin giữa Người Công Giáo và các anh em Tin Lành; chúng ta thường kể ra những khác biệt như Phép Thánh Thể, các tín điều về Ðức Mẹ, các phép bí tích, v.v., nhưng chúng ta lại quên đi một khác biệt tín lý căn bản đưa đến những khác biệt về đức tin này, và những khác biệt đức tin khác; đó là tín lý 'Chỉ có Kinh Thánh mà thôi'.

Ðối với Người Công Giáo thì quy luật đức tin là những gì Hội Thánh Công Giáo dạy; mà những gì Hội Thánh Công Giáo dạy thì phải là những mạc khải thành văn của Thiên Chúa gọi là Thánh Kinh, và những mạc khải bất thành văn của Thiên Chúa gọi là Thánh Truyền. Nhưng đối với các anh em Tin Lành thì quy luật đức tin nằm trong Kinh Thánh, và chỉ có Kinh Thánh mà thôi.

Vì tin là chỉ có Kinh Thánh mà thôi nên anh em Tin Lành bác bỏ Thánh Truyền và tất cả mọi giáo huấn, mọi giáo điều bắt nguồn từ hay liên quan đến Thánh Truyền. Mọi niềm tin có được do những mạc khải công cũng như tư khác cũng bị bác bỏ vì không có ghi trong Kinh Thánh. Không có chuyện Ðức Mẹ hiện ra làm phép lạ hay nhắn nhủ, mà cũng không có thánh nào hiện ra khuyên răn hay giúp đỡ gì ai nếu không có ghi trong Kinh Thánh. Một cách ngắn gọn, hễ không có ghi trong Kinh Thánh cách rõ ràng, hiển nhiên thì các anh em Tin Lành không tin. Cho nên, muốn nói đến những khác biệt về đức tin giữa Người Công Giáo và các anh em Tin Lành, chúng ta phải nói đến những khác biệt tín lý căn bản chứ không thể kể ra từng chi tiết, từng khác biệt được.

Vậy có đúng là chỉ có Kinh Thánh mà thôi không? Ðể có thể trả lời câu hỏi này cách thoả đáng, trước hết, chúng ta phải hiểu Thánh Truyền là gì, và chúng ta hãy bắt đầu bằng định nghĩa của hai chữ truyền thống vì Thánh Truyền là truyền thống từ Thiên Chúa mà ra.

Truyền thống là gì? Truyền thống là tất cả những phong tục, tập quán, niềm tin, v.v. được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng lời nói hay việc làm. Thí dụ truyền thống một mẹ trăm con, truyền thống bánh dày bánh chưng, truyền thống tết, v.v. Truyền thống được chia thành nhiều loại: Truyền thống tôn giáo, truyền thống văn hóa, truyền thống quốc gia, truyền thống địa phương, truyền thống gia đình, v.v.

Giáo Hội Công Giáo có hai loại truyền thống: Truyền thống giáo hội và Truyền Thống Ðức Tin còn gọi là Thánh Truyền. Truyền thống giáo hội có thể thay đổi, nhưng Thánh Truyền thì không thay đổi được.

Truyền thống giáo hội (viết chữ thường) là những phong tục, tập quán, lễ nghi, v. v., của giáo hội hoàn vũ hay giáo hội địa phương, không nghịch với tín lý Công Giáo nhưng phù hợp và giúp ích cho đời sống đức tin Người Công Giáo. Thí dụ, Người Công Giáo Việt Nam có truyền thống tôn vương hay đọc kinh gia đình, Giáo Hội Công Giáo có truyền thống tôn kính các thánh nam nữ theo lịch trình phụng vụ, truyền thống ăn chay kiêng thịt, truyền thống cử hành Thánh Lễ bằng tiếng La Tinh, v.v.

Thánh Truyền (Viết chữ hoa), là những Truyền Thống do Thiên Chúa mạc khải qua huấn quyền Giáo Hội Công Giáo, và qua Thánh Kinh cách hiển nhiên cũng như không hiển nhiên (gián tiếp). Thí dụ tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, và Ðức Mẹ Trọn Ðời Ðồng Trinh là hai trong nhiều mạc khải mà Thiên Chúa bày tỏ qua huấn quyền Hội Thánh Công Giáo, và qua Kinh Thánh cách gián tiếp. Gián tiếp vì Kinh Thánh không nói cách hiển nhiên về hai tín điều này, nhưng Kinh Thánh lại nói cách hiển nhiên về một trinh nữ đính hôn cùng Giuse, tên trinh nữ là Maria, Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel chúc mừng Mẹ là Ðấng Ðầy Ơn Phước, Thiên Chúa làm cho Mẹ nhiều sự trọng đại, và muôn đời sẽ ngợi khen Mẹ là người có phước. Dựa vào những mạc khải hiển nhiên này trong Kinh Thánh mà Giáo Hội tuyên xưng các tín điều về Ðức Mẹ. Dù sao, cứ theo lý lẽ thông thường, nếu Mẹ chỉ là một trinh nữ như bao trinh nữ khác thì sự thanh sạch của Mẹ đâu có gì là đặc biệt để Kinh Thánh phải ghi chép về Mẹ như thế. Nếu Mẹ cũng mắc tội tổ tông thì làm sao Mẹ có thể 'đầy' ơn phước cho được? Nhiều sự trọng đại là những sự nào? Chẳng phải là những gì Hội Thánh tuyên xưng về Mẹ hay sao? Xin xen các Thư Gởi Bạn Hiền 21, 22, 25, và 28.
Những mạc khải của Thiên Chúa được bày tỏ cách hiển nhiên trong Kinh Thánh là những mạc khải nào? Ðiều hiển nhiên không một Kitô hữu nào có thể chối cãi được là, Chúa Giêsu không hề để lại cho chúng ta một chữ nào. Tất cả những gì Người truyền dạy đều bằng lời nói và việc làm. Vậy theo định nghĩa của hai chữ truyền thống ở trên thì tất cả những gì chúng ta làm theo lời của Chúa Giêsu hay bắt chước việc Người làm, là chúng ta làm theo Thánh Truyền. Sau khi đi rao giảng trên toàn cõi xứ Do Thái, rồi truyền cho chúng ta hãy đi rao giảng như vậy thì Chúa Giêsu bắt đầu một Thánh Truyền. Sau khi lập phép Thánh Thể, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ là hãy làm việc này mà nhớ đến Người là Chúa Giêsu bắt đầu một Thánh Truyền nữa. Nên nhớ là khi Chúa Giêsu đi rao giảng thì chưa có Tân Ước; cho nên, tất cả những gì Chúa Giêsu làm là Người làm theo Thánh Truyền, vì Người nói, Gioan 5:19 "Quả thực, quả thực, ta nói cho các con biết, Con không tự mình mà làm được gì, nhưng chỉ làm những gì Con thấy Cha làm; vì chưng Cha làm gì, thì Con cũng làm như vậy." Tất cả những gì Chúa Thánh Thần làm, Người cũng làm theo Thánh Truyền, Gioan 16:13, "Nhưng khi Thần Khí Sự Thật đến, người sẽ dẫn dắt các con đến với mọi điều chân thật; những gì người nói thì người không nói tự chính người, nhưng là những gì người nghe, và người sẽ công bố cho các con những điều sẽ đến." Hội Thánh Công Giáo cũng thế, cũng theo Thánh Truyền, Thessalonians 2:15, "Ấy vậy, hỡi anh em, anh em hãy giữ vững và dựa vào những truyền thống mà anh em được dạy dỗ, dù là bằng chính ngôn hay bằng thánh thư của chúng tôi."
Vậy thì Chúa Cha là nguồn mạch, là nguyên thuỷ mọi Truyền Thống Thánh Thiện hay Thánh Truyền. Mọi việc Chúa Con làm là làm theo những gì Người thấy từ Chúa Cha, tức là Người làm theo Thánh Truyền. Chúa Thánh Thần cũng vậy, những gì người nói thì người không nói tự chính người, nhưng là những gì người nghe từ Chúa Cha, và như vậy là Người cũng làm theo Thánh Truyền. Sau cùng, Hội Thánh Công Giáo cũng không khác, cũng làm theo Thánh Truyền. Vì vậy mà Thánh Gioan viết, Gioan 1:1, "Từ ban đầu đã có Ngôi Lời (Lời Chúa Phán), và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa." Lời này được Chúa Giêsu phán dạy và là Thánh Truyền. Lời này là những gì Chúa Thánh Thần nói qua Hội Thánh Công Giáo và là Thánh Truyền.
Nhưng nói như vậy thì chỉ có Thánh Truyền thôi hay sao? Thưa không phải như vậy. Vì Chúa Cha là nguồn mạch, là nguyên thuỷ mọi Truyền Thống Thánh Thiện hay Thánh Truyền cho nên Thánh Truyền là Kho Tàng Ðức Tin lớn lao vô tận. Lớn lao và phong phú đến độ nếu đem viết ra tất cả từng điều một, thì cả thế gian này cũng không có chỗ chứa những sách đó. Gioan 21:25, "Còn nhiều điều khác Chúa Giêsu làm nhưng không được ghi chép; vì nếu đem ghi lại tất cả từng điều một, tôi tin chắc là thế gian này cũng không có đủ chỗ để chứa các sách ghi lại những điều đó." Vì thế, những gì được viết ra, được ghi chép trong Kinh Thánh chỉ là để ghi lại một chút Thánh Truyền nhỏ nhoi, và là để làm chứng cho những gì mà Chúa Giêsu còn muốn nói với chúng ta qua Hội Thánh Công Giáo, Gioan 16:12, "Còn rất nhiều điều ta cần nói với các con nữa, nhưng bây giờ thì các con không lãnh hội được.", và nhất là để cho thế gian biết rằng, những chứng tích của Hội Thánh Công Giáo về Thiên Chúa là chứng thật, Gioan 15:26, 27 (26) "Khi Ðấng Bầu Chữa tới, Ðấng mà Ta sẽ gởi đến cho các con từ Chúa Cha, thì Thần Khí Sự Thật bởi Chúa Cha mà ra sẽ làm chứng về Ta. (27) Và các con cũng sẽ làm chứng, vì các con ở với Ta từ ban đầu." Vì chỉ có Hội Thánh Công Giáo là ở với Chúa Giêsu từ ban đầu.
Vậy nếu chúng ta tin 'Chỉ có Kinh Thánh mà thôi' thì, quả thật, ta đãđánh mất gần như hoàn toàn Kho Tàng Ðức Tin vô tận mà Thiên Chúa ban cho. Nếu chỉ có Kinh Thánh mà thôi thì đức tin của giáo đoàn tiên khởi là đức tin vô căn cứ vì họ không có Kinh Thánh như Kinh Thánh mà chúng ta có ngày nay. Nhưng chúng ta biết, tuy không có Kinh Thánh (Tân Ước), các giáo đoàn và giáo dân thuộc giáo hội sơ khai đặt niềm tin của họ vào Chúa Giêsu hoàn toàn dựa trên lời giảng dạy của các tông đồ tức là những mạc khải bất thành văn của Thiên Chúa hay Thánh Truyền. Công Vụ Sứ Ðồ ghi, Cv 2:41, 42, "(41) Vì thế những ai đón nhận lời ngài (Thánh Phêrô) thì được rửa tội, và trong ngày ấy, đã có thêm được khoảng 3000 người. (42) Họ dấn thân cho sự giảng dạy của các tông đồ và cho đời sống hiệp thông, cho nghi thức bẻ bánh và kinh nguyện." Cứ thế cho đến khoảng năm 70-95 thì ta mới có Sách Khải Huyền là quyển chót trong toàn bộ Kinh Thánh, nhưng tất cả các Sách Thánh chưa được gom thành một bộ, mà cũng chưa được in ra cho mọi người vì mãi đến khoảng năm 1440-1450 mới có máy in đầu tiên. Và như vậy, có thể nói, trong khoảng hơn 14 thế kỷ đầu, đức tin vào Thiên Chúa là đức tin đặt trên nền tảng Thánh Truyền.
Xin Chúa chúc lành cho bạn và mọi người trong gia đình bạn.

Thân ái kính chào trong Chúa và Mẹ Maria,

Giuse Phạm Văn Tuyến

-------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 35