mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay865
mod_vvisit_counterHôm Qua9925
mod_vvisit_counterTuần Này38882
mod_vvisit_counterTuần Trước47282
mod_vvisit_counterTháng Này185881
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8223025

We have: 43 guests online
Your IP: 54.162.4.139
 , 
Today: Apr 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 214= HAY RA DI PDF Print E-mail

Chúa Nhật XIV Thường Niên C
Người Tín Hữu Trưởng Thành : HÃY RA ĐI
Is 66, 10-14c; Gl 6, 14-18; Lc 10, 1-12.17-20
Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và tin tưởng của người dân trong làng
vừa mới đuợc giải phóng khỏi tay quân Đức Quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng minh cố
gắng lượm lại từng mảnh vỡ của bức tượng Chúa Giêsu đã được dựng lên ở quảng trường trước
ngôi nhà thờ nhỏ, trung tâm sinh hoạt của làng quê miền cực nam nước Italia.
Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn lại được gần như toàn bức tượng của Chúa.
Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng là không thể nào hàn gắn lại được. Vì các mảnh vụn lớp thì bị bể
quá nhỏ, lớp thì đã bị nát thành như bụi.
Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp quyết định bỏ dở công việc, thì một người trong
toán lính có sáng kiến tìm lấy hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức tượng, rồi
viết vào đó một hàng chữ bất hủ, không những đánh động được tâm hồn những người dân trong
làng, mà còn thu hút được nhiều khách du lịch đến vùng này để đọc tận mắt hàng chữ đầy ý
nghĩa. Các bạn có thể đoán được hàng chữ này không ? Đó là: "Chính bạn là đôi tay của Chúa".
Con người trở nên cánh tay của Thiên Chúa trong các chương trình của Ngài.
Tin mừng Luca cho thấy, Chúa Giêsu đang đứng trước thực tế của cánh đồng lúa chín
vàng là Giáo Hội, Ngài thao thức về nhu cầu thợ gặt cho cánh đồng bát ngát của niềm tin: "Lúa
chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về" (Lc 10,2).
Nếu không có thợ gặt cho kịp, lúa niềm tin sẽ rơi rụng và cơn lũ của thế gian sẽ cuốn trôi vụ
mùa. Người thợ gặt là hình ảnh của người mục tử trong Giáo Hội ở khắp mọi chân trời, các ngài
chính là những cánh tay của Thiên Chúa. Nhưng có lẽ, cấp thời và mong đợi nhất là những cánh
đồng tái truyền giáo tại Châu Âu và Bắc Mỹ. Mỗi châu lục là một cánh đồng lúa chín theo những
phong thổ khác nhau và nhu cầu thợ gặt lành nghề khác nhau. Nếu như ở Châu Âu và Bắc Mỹ là
những lục địa được mệnh danh là chiếc nôi của Kitô giáo thì ngày nay, với trào lưu tục hóa,
hưởng thụ vật chất làm cho người tín hữu xa rời đức tin, như lúa đang chín vàng gặp phải nạn
sâu rầy hoành hành nên người thợ gặt phải biết chữa trị đúng phương pháp để cứu lúa. Thợ lành
nghề đã ít, lại thiếu những tâm hồn quảng đại đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Những đồng
lúa chín vàng trĩu hạt đang bị bỏ hoang, thợ gặt lại quá ít ỏi không thể lo toan hết. Các đồng lúa
chín vàng tại Châu Âu - Bắc Mỹ nhìn về khía cạnh chăm sóc tâm linh cho anh em tín hữu quả là
thiếu thốn trầm trọng. Trong lúc tại lục địa Á Châu, một lục địa rộng lớn chiếm 2/3 dân số thế
giới của hơn 6 tỉ người nhưng chưa tới 3% mang niềm tin Kitô giáo.
Cho nên, Lời Thầy không chỉ nói với các môn đệ năm xưa, nhưng luôn vang mãi mọi thời
đại vì nhu cầu của cánh đồng truyền giáo thế giới luôn mang tính cấp bách: "Thầy sai anh em...
ra đi"
Tuy nhiên, dù rất khẩn cấp nhưng người thợ gặt phải như lòng Chúa mong ước, đó là
những thợ gặt chuyên cần luôn biết quan tâm tha thiết cho mùa gặt. Nếu chậm trễ, lúa chín vàng
sẽ là mồi ngon cho chuột đồng, cho các loài gặm nhấm và có nguy cơ là "nạn nhân" của lũ tràn
về. Cho nên, tiêu chuẩn của người thợ gặt mà Chúa thao thức trước hết là lòng can đảm, dấn
thân, vượt khó với mùa gặt. Vì thế, Đức Kitô đã dùng hình ảnh sai người mục tử đến với mùa gặt
Giáo Hội: "như chiên con vào giữa bầy sói" (Lc 10,3) vì họ phải đương đầu với thiên tai, với các
hoàn cảnh khó khăn chung quanh để bảo vệ thành quả đức tin. Tiêu chuẩn kế tiếp, người thợ gặt
phải hết lòng thao thức với việc gặt lúa, không được sao nhãng với sứ vụ, không bị phân tâm bởi
những ý nghĩ khác, không bám víu vào vật chất, không nỗ lực tìm và coi vật chất là mục đích,
mà phải sống phó thác, đơn sơ, khó nghèo mà Chúa Giêsu đã ví bằng những hình ảnh "túi tiền,
bao bị giày dép..." Thợ gặt cũng không chia trí bởi những hào nhoáng phù vân qua hình ảnh
"chào hỏi dọc đường" và Chúa nhấn mạnh một cách cương quyết cho người mục tử trên bước
đường rao giảng Tin Mừng "Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai
dọc đường" (Lc 10,4).
Gia tài mà người thợ gặt mang là nguồn bình an của Thiên Chúa, nguồn bình an thánh
thiện từ Trời ban tặng và chia sẻ cho anh em: "Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an
cho nhà này!" (Lc 10,5), bình an bất tận như Thiên Chúa đã nói qua ngôn sứ Isaia "Ta sẽ làm cho
sự bình an chảy đến nó như con sông" (Is 66,12). Có bình an trong tâm, người thợ chỉ chú ý đến
mùa gặt, được biểu tượng bằng thập giá, thập giá là lẽ sống và là vinh dự, hãnh diện cho thợ gặt
như thánh Phaolô chia sẻ "Ước gì tôi đừng khoe mình về một điều gì khác, ngoại trừ về thập giá
Đức Giêsu Kitô" (Gl 6,14). Người thợ gặt chân thành với anh em và cùng họ chia sẻ mà Chúa
Giêsu nói đến bữa ăn huynh đệ và chăm sóc anh em ốm đau (x. Lc 10,8-9).
Chúa Giêsu đã chọn và sai Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng như Tin Mừng ghi nhận
(x. Mt 10, 1-6; Mc 3, 13-19; 6, 7-13; Lc 6, 12 -16; 9, 1-6), kế vị các tông đồ, các thừa tác viên
bởi bí tích truyền chức là các Giám mục sau này, được nối dài cộng tác là các linh mục, phó tế.
Nhưng cách đồng lúa truyền giáo bao la, thợ gặt không đủ nên cánh đồng truyền giáo nước trời
mênh mông thiếu người chăm sóc, bị bỏ hoang. Chúa Giêsu gọi thêm 72 môn đệ không có tên
tuổi rõ ràng, đó là những con người môn đệ theo Chúa với lòng thành, và sau này là các tín hữu
Chúa tham dự bởi Bí Tích Rửa Tội, mang sứ mạng truyền giáo.
Cho nên, Lời mời gọi tha thiết về nhu cầu thợ gặt cho cánh đồng lúa truyền giáo bất tận
của Chúa Giêsu, sẽ được đáp ứng do chính sự đóng góp từ đôi tay và tâm hồn của tôi của bạn
cho cánh đồng lúa chín của Giáo Hội: Dấn thân vào các việc chung của cộng đoàn, đóng góp vào
công việc truyền giáo theo khả năng của mỗi người, nâng đỡ và nuôi dưỡng các mầm non ơn gọi
- thợ chuyên môn cho cánh đồng lúa chín bao la bát ngát ngay trong chính gia đình mình và nơi
các cộng đoàn tín hữu.
Trong ý thức đó, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qủa quyết: "Không một ai trong những
người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả
này: Đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc". Công đồng Vaticanô II khẳng định: "Tự bản
tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo". Cho nên, Lời gọi ra đi làm việc trên cánh đồng truyền
giáo cho mỗi người chúng ta trong cộng đoàn tín hữu, và nếu tôi, bạn là người môn đệ đích thực
của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả như Phaolô đã cảm nghiệm và sống sứ mạng:
"Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1Cr 9,16).
Kìa lúa chín vàng cần thợ gặt
Nhanh tay thu hoạch tránh lũ về
Hạt gạo thơm ngon đời vui nhận
Cảm ơn công khó người gieo trồng.
Lm. Vinhsơn SCJ, Sài gòn, 02/07/2016.

 
NGUOI TIN HUU TRUONGTHANH # 170=THANH PHRO VA PHAOLO PDF Print E-mail

XIN CHÚC MỪNG CHO NHỮNG QUÝ VỊ NHẬN 2 VỊ
THÁNH PHÊRO & PHAOLÔ LÀM QUAN THÀY !

LỄ KÍNH THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ
"Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời."

Bạn thân mến,
Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng kính hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, không nói thì bạn cũng biết các ngài là người như thế nào trong Giáo H���i của Chúa Giê-su, thánh Phê-rô được Chúa Giê-su Ki-tô chọn làm thủ lãnh của Giáo Hội và trao quyền đóng và mở cửa Nước Trời cho ngài; thánh Phao-lô là người nhiệt thành vì tôn giáo và niềm tin của mình, và vì ưu điểm ấy mà Chúa Giê-su đã chọn ngài làm tông đồ và sai đi loan báo tin mừng Nước Trời cho dân ngoại.

Tinh thần của thánh Phê-rô là chân thành, thẳng thắn, bộc trực dám nói dám làm, đó chính là mẫu gương của người làm tông đồ rao truyền Lời Chúa cho mọi người. Bạn và tôi chắc chắn cũng có những đức tính như thánh Phê-rô vậy, nhưng chúng ta chưa có tinh thần khiêm tốn như ngài, bởi vì có những lúc bạn và tôi rất chân thành nói lời yêu thương nhưng vẫn còn tính toán lợi hại; có những lần bạn và tôi thẳng thắn nói lên khuyết điểm và việc làm sai trái của người khác, nhưng lời thẳng thắn bộc trực ấy đầy sự là kiêu ngạo dạy đời thiên hạ, và làm cho người khác cảm thấy bực tức hơn là sửa đổi lỗi lầm.

Tinh thần của thánh Phao-lô là can đảm, nhiệt thành và xác tín vào niềm tin của mình, nếu không có những ưu điểm như thế, thì Chúa Giê-su –có lẽ- không chọn ngài làm tông đồ, và cũng không sai ngài đến với dân ngoại là chúng ta.
Lòng nhiệt thành và xác tín vào niềm tin của mình, đã làm cho thánh Phao-lô nhiệt thành bắt đạo, và cũng lòng nhiệt thành ấy mà sau khi nhận biết Chúa Giê-su là Đấng đã vì mình mà chịu chết trên thập giá, thì ngài đã không ngần ngại chuyển lòng nhiệt thành, xác tín này qua cho việc rao giảng Phúc Âm cho những người không phải là Do Thái, là dân ngoại chưa nhận biết Thiên Chúa là Cha của mọi loài.

Bạn thân mến,
Cả hai thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ đều có một điểm giống nhau, đó là rất yêu mến Chúa Giê-su và hăng say làm chứng cho Ngài, các ngài đã đem chính mạng sống của mình ra để làm chứng.

Bạn và tôi đều là những hoa quả được sinh ra bởi lời rao giảng của các ngài, và như thế, chúng ta cũng đều có bổn phận đem Lời Chúa đến cho mọi người bằng chính cuộc sống của chúng ta. Muốn được như thế, bạn và tôi hãy đem tinh thần bảo tồn chân lý Ki-tô giáo của thánh Phê-rô, và tinh thần truyền giáo của thánh Phao-lô đặt vào trong tim trong óc của mình, để khi rao giảng Lời Chúa cho tha nhân, thì chúng ta không làm mất đi tính truyền thống tông truyền của Giáo Hội.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

----------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH #213 =SONG THANH THOAT PDF Print E-mail

Sống Thanh Thoát Để Hạnh Phúc
22-06-2016 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Nước Pháp người ta vẫn tự hào về chị nữ tu Emmanuelle. Nữ Tu này, đã từng được biết đến như là "Nữ Tu lượm giẻ rách" tại Cairô, Ai Cập.

Năm 1971, Nữ Tu Emmanuelle đến sống giữa những anh chị em nghèo cùng tại khu nhà ổ chuột ở thủ đô Cairô, Ai Cập, và đi lượm rác kiếm sống như họ. Năm 1980, Nữ Tu đã thiết lập hội "Trợ Giúp Xã Hội và Y Tế cho Trẻ Em", hiện có mặt hoạt động tại 9 quốc gia trên thế giới, và giúp cho khoảng hơn nửa triệu trẻ em.

Trong lần sinh nhật 87 của bà, người ta đã nêu câu hỏi dành cho bà: "làm sao Sour có thể chấp nhận sự mất tự do ấy khi sống cho người nghèo và hoàn toàn lệ thuộc vào người nghèo?"

Vị nữ tu trả lời : "tôi lại nghĩ rằng nữ tu là người tự do nhất !" Trước sự ngạc nhiên của cử tọa, chị giải thích :

Với ba lời khấn hứa của đời nữ tu, tôi hoàn toàn tự do. Ba lời khấn đó là :

- Thứ nhất : nghèo khó, không giữ của riêng. Nhờ đó tôi không bị ràng buộc bởi những ham muốn tiền bạc, tài sản, không phải bon chen tìm kiếm chúng, không phải loay hoay để bám lấy chúng. Sống có nhà dòng lo, chết cũng nhà dòng lo nên tôi chẳng phải bận tâm đến nó.

- Thứ nhì : thanh tịnh, không dính vào tình yêu nam nữ. Nhờ đó tôi được giải thoát khỏi sự kềm tỏa của quý ông (mọi người cười) ! Không phải sợ chồng con hỏi đi đâu, bao giờ về, tôi hoàn toàn tự do sống cho người nghèo.

- Thứ ba : vâng lời, tuân phục bề trên. Nhờ đó, tôi được giải thoát khỏi chính tôi, tức là khỏi những ham muốn, khi thì thích đi đây, khi thì thèm đi đó, khi đòi làm chuyện này, lúc muốn làm chuyện nọ, của riêng tôi. Tôi để bề trên quyết định

Bà kết luận : với ba sự giải thoát ấy, tôi hoàn toàn tự do.

Và tôi có cảm tưởng những người nghèo đói sống trong những khu nhà ổ chuột ở Cairô, Ai Cập lại có vẻ hạnh phúc hơn những người giàu vì họ ít ham muốn... Và điều quan trọng là họ thỏa mãn với những gì mình có.

Cuộc sống con người quan yếu là hạnh phúc. Hạnh phúc không dựa vào tiền bạc, quyền lực mà hạnh phúc là sống thanh thoát khỏi những bon chen của tiền – tình – quyền. Có tiền mà không hạnh phúc thì cũng không bằng không tiền mà hạnh phúc. Có quyền lực mà không có tự do cũng không bằng thường dân mà thanh thản.

Cuộc sống sẽ đẹp biết bao khi con người biết sống thanh thoát khởi những ham muốn danh lợi thú trần gian. Đôi chân sẽ nhẹ nhàng để đến với mọi người. Đôi tay sẽ thanh thoát để trao ban. Tâm hồn sẽ lạc quan dẫu cuộc đời vẫn còn đó những khó khăn.

Hôm nay Chúa Giê-su cũng nhắc nhở người theo Chúa hãy sống thanh thoát với ảo ảnh trần gian. Chính Chúa cũng sống vượt ra ngoài những tiện nghi. Chúa không có nơi gối đầu để có thể thanh thoát ra đi đến với muôn nơi. Đôi chân Chúa không bị níu kéo bởi những tình cảm mau qua. Chúa đã chọn sống vì mọi người và cho mọi người. Cuộc sống của Ngài không tìm niềm vui riêng cho mình. Ngài không giữ lại cho mình một mái nhà, một người thân mà sẵn lòng bỏ lại đi đến tận cùng của hiến dâng cho đồng loại.

Xin cho chúng ta biết sống cao đẹp như Chúa khi biết sống mình vì mọi người. Xin Chúa giúp chúng ta biết sống thanh thoát trước những mời gọi của danh lợi thú để tâm hồn luôn dành trọn vẹn cho Chúa và cho tha nhân. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

ĐẠO BINH ĐỨC MẸ CHUYỂN

------------------------

---------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH #212=HON DA NEM DI PDF Print E-mail

Suy Niệm Chén Cơm Trong Ngày - Hòn Đá Ném Đi

Hòn Ðá Ném Ði
Văn hào Nga Leon Tonstoi (1828-1910) có kể câu chuyện ngụ ngôn như sau:


Có một người hành khất nọ đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí. Một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi nơi người giàu có. Nhưng, mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Ðến một lúc không còn chịu nổi những lời van xin của người hành khất, thay vì bố thí, người giàu đã lấy đá ném vào con người khốn khổ.
Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: "Ta mang hòn đá này cho đến ngày nhà người sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi".
Ði đâu, người hành khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.
Năm tháng qua đi. Lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật.
Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu vào tù ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng ông. Ông đi theo đoàn người áp tải. Tay ông không rời bỏ hòn đá mà người giàu đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sach mối nhục hằng đeo đẳng bên ông. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: "Tại sao ta lại phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người này, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ như ta".
Tha thứ là điều khó khăn nhất nhưng cũng là điều cao cả nhất mà Kitô Giáo đã cống hiến cho con người.
Trao ban tiền của, trao ban thì giờ, trao ban chính mạng sống mình là điều xem ra dễ làm hơn trao ban lòng tha thứ.

Tha thứ là tuyệt đỉnh của yêu thương bởi vì tha thứ là yêu thương chính kẻ thù của mình. Của lễ hy sinh trên thập giá của Chúa Giêsu đã nên trọn khi Ngài thưa với Chúa Cha: "Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm".
Tha thứ là của lễ đẹp lòng Chúa nhất, bởi vì qua đó, con người được nên giống Thiên Chúa hơn cả. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta là Thiên Chúa tha thứ và tha thứ không ngừng. Và chỉ có một Thiên Chúa tha thứ không ngừng ấy mới có thể đòi hỏi con người phải tha thứ không ngừng...
Tha thứ là nét cao đẹp nhất của lòng người, bởi vì càng tha thứ, con người càng nên giống Thiên Chúa.


Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

-------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH # 212=DAO XUAT THE PDF Print E-mail

Đạo Công Giáo, Đạo Xuất Thế
12-06-2016 Phùng Văn Hóa

Trong khoảng vài chục năm nay cụ thlà sau CĐ Vatican II Giáo hội hầu như không còn nhắc nhở gì đến bốn sự sau hết tức là Tứ Chung ( Novissimus )= Chết, Phán Xét, Thiên Đàng, Hoả Ngục. Không nhắc nhở có nghĩa đã không coi những sự ấy là quan thiết với đời sống đạo của người tín hữu. Đang khi đó mục đích cốt lõi của tôn giáo là để giải quyết vấn đề cái chết của con người. Nói một cách khác giải quyết cái chết có nghĩa là chỉ cho biết sự thật này là sau cái chết không phải là hết mà còn có sự sống đời đời và sự sống đời đời ấy tuỳ thuộc vào những việc lành việc dữ để chịu phán xét.

Tôn giáo cũng gọi là đạo mà đạo tức là con đường thực hiện tâm linh. Để đi trên con đường tâm linh ấy thì trước hết cần phải biết đường ấy sẽ dẫn mình đi đâu. Đi trên đường mà không được chỉ cho biết con đường ấy sẽ dẫn tới đâu về đâu thì làm sao để đi ? Không nhắc nhở về Bốn Sự Sau Hết ấy có nghĩa Giáo Hội đã không thực thi sứ mạng dẫn đường cùng với quyền bính tối thượng mà Đức Ki Tô đã trao cho. Chúa nói với Phê Rô vị thủ lãnh tương lai " Ta sẽ giao chìa khoá Nước Trời cho ngươi. Điều gì ngươi cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc. Điều gì ngươi cởi mở dưới đất thì trên trời cũng cởi mở" ( Mt 16, 19 ).

Chúa trao trọn quyền bính mục đích là để bảo đảm cho việc chỉ đường dẫn lối. Thế nhưng nay Giáo Hội lại không thực hiện để rồi đã đưa đến cuộc khủng hoảng vô tiền khoáng hậu là sự tục hoá, chủ trương hoà nhập với thế gian " Ngày nay nhất là sau CĐ Vatican II người ta không còn trốn chạy thế gian nữa nhưng mở ra với thế gian và muốn góp phần vào việc xây dựng thế gian. Do đó hướng đi của tu hành cũng không nhất thiết là bỏ đời mà là tu vào đời. Như các Tiểu muội và tiểu đệ Chúa Giê Su đến ở từng dăm ba người một ở những khu ổ chuột giữa những gia đình nghèo khổ. Ngay cả những đan sĩ Huynh đệ ( muội ) Giê rusalem cũng làm nhà giữa thành phố và ra ngoài làm việc bên cạnh các công, nhân viên khác của những xí nghiệp...." ( Hoành Sơn – NS CG&DT số 256 tháng 4/2016 ).

Với mục đích TU vào đời để xây dựng thế gian cho thấy nó chẳng có chi quan hệ đến Đạo Công giáo là Đạo Cứu Rỗi " Hỡi anh em là con cái thuộc dòng giống Apraham và kẻ kính sợ ĐCT trong anh em. Đạo về sự cứu rỗi nay đã truyền đến cho chúng ta rồi" ( Cv 13, 26 ). Trải qua bao đời, người Công giáo là những người theo Chúa mà đã theo Chúa thì phải bỏ mình vác thập giá " Ai muốn theo Ta thì hãy từ bỏ mình mà theo. Vì hễ ai muốn cứu mạng sống mình thì phải mất. Còn hễ ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được. Vì được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì ?" ( Mt 16. 24 -26).

Những ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất ngược lại bỏ mạng sống mình vì Chúa thì lại được. Với việc Tu vào đời để góp phần xây dựng thế gian tức muốn cứu mạng sống mình thì như lời Chúa nói họ sẽ bị mất và cái mất ở đây chính là mất linh hồn. Bởi nguyên nhân tại sao mà việc Tu hôm nay đã không đi vào con đường bỏ mình mà lại chủ trương vào đời ( nhập thế ) để xây dựng thế gian ? Xin thưa tất cả là vì họ đã không còn là con cháu tổ phụ Apraham và là những kẻ kính sợ Thiên Chúa ( Cv 13, 26 )

Không là con cháu tổ phụ bởi thế họ cũng chẳng phải là con cái của Lời Hứa " Cũng không phải vì họ là dòng giống Apraham ( mang danh Công giáo ) mà hết thảy đều là con cái đâu,bởi duy kẻ ra từ Isaac mới gọi là dòng giống ngươi. Nghĩa là chẳng phải con cái thuộc xác thịt là con cái của ĐCT. Duy con cái thuộc Lời Hứa mới được kể là dòng giống vậy" ( Rm 9, 7 -8). Chỉ có con cái thuộc dòng giống mới nhận được Lời Hứa và Lời hứa ấy trước hết là để dành cho tổ phụ Apraham " Đức Giêhova có phán cùng Apram rằng = Ngươi hãy ra khỏi quê hương vòng bà con và nhà cha ngươi mà đi đến XỨ Ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc lớn. Ta sẽ ban phước cho ngươi cùng làm nổi danh ngươi và ngươi sẽ thành một nguồn phước đức" ( St 12, 1-2).

XỨ mà Thiên Chúa hứa sẽ chỉ cho đó là miền đất Canaan thế nhưng đây chỉ là hình bóng của Nước Trời mà Đức Ki Tô rao giảng. Giống như Lời Hứa cho vào đất Canaan trong Cựu ước. Đức Ki Tô thời Tân Ước cũng có lời hứa " Ta đi để sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đi mà sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi thì Ta sẽ trở lại, tiếp các ngươi về với Ta hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng sẽ ở đó với Ta" ( Ga 14, 2 -3).

Dù là lời hứa thuộc Cựu Ước hay Tân Ước thì điều kiện tiên quyết được đưa ra cũng vẫn là sự từ bỏ và sự từ bỏ ở đây chính là việc xuất thế gian. Sở dĩ nói Đạo Công giáo là Đạo Xuất Thế bởi vì đó là ơn gọi của hết thảy những người theo Chúa " Ví bằng thế gian ghét bỏ các ngươi thì hãy biết rằng họ đã ghét Ta trước các ngươi. Nếu các ngươi thuộc về thế gian thì thế gian chắc yêu mến kẻ thuộc về mình. Nhưng các ngươi không thuộc thế gian. Song Ta đã lựa chọn các ngươi ra khỏi thế gian nên thế gian ghét bỏ các ngươi" ( Ga 15, 18 -19).

Chúa Giê Su đã bị người đời ghét bỏ và giết chết, đây là sự thật không thể phủ nhận. Thế nhưng bởi nguyên nhân nào mà Ngài đã bị ghét bỏ và giết chết thì đây vẫn là một vấn đề bất nhất. Có quan điểm cho rằng Chúa chết là vì lý do ...chính trị. " Cuối cùng con người ấy đã bị bắt và xử tử không phải do toà án tôn giáo Do Thái mà chính toà án Roma đã ra lệnh bắt và kết án Đức Giê Su vì cho Ngài là mối đe doạ nghiêm trọng trong lãnh vực chính trị. Còn vai trò của các nhà lãnh đạo Do Thái chỉ là bắt nộp Ngài cho người Ro Ma" ( Albert Nolan – Đức Giê Su trước khi có Ki Tô giáo ).

Nói rằng Chúa Giê Su đã bị toà án Ro Ma ra lệnh bắt và kết án, đây là sự xuyên tạc trắng trợn. Đọc Kinh Thánh ai mà chẳng biết Chúa Giê Su đã bị người Do Thái bắt và kết án tại nhà thượng phẩm Cai Pha. Sau đó mới giải đến cho tổng trấn Philato . tại đây sau nhiều lần gạn hỏi dân Do Thái và có ý muốn tha cho Chúa Giê Su " Chính các ngươi hãy đem người mà đóng đinh đi vì ta không thấy người này có tội gì cả" ( Ga 19, 6).

Không phải toà án Roma ra lệnh bắt và kết án Chúa Giê Su mà là người Do Thái, điều ấy thật quá rõ. Thế nhưng có một câu hỏi quan trọng cần phải đặt ra . Tại sao người Do Thái lại căm ghét và muốn cố tình giết chết Chúa Giê Su như vậy ? Đó là vì họ cho rằng Ngài đã lộng ngôn phạm thượng " Thầy tế lễ thượng phẩm bèn xé áo mình mà rằng = Chúng ta còn cần chứng cớ gì nữa. Kìa các ngươi mới vừa nghe lời lộng ngôn đó. Các ngươi nghĩ thế nào ? Chúng đồng thanh đáp = Nó đáng tội chết" ( Mt 26, 65 -66).

Đối với người Do Thái giáo thì nói lộng ngôn là tội nặng nhất không thể tha thứ. Cũng chính vì ...tội này mà Chúa Giê Su đã nhiều lần bị ném đá " Người Do Thái lại lấy đá để ném Ngài. Chúa Giê Su hỏi = Ta do Cha Ta mà tỏ nhiều việc lành cho các ngươi. Vậy vì việc nào trong đó mà các ngươi ném đá Ta ? Người Do Thái đáp = Ấy chẳng phải vì một việc lành nào mà chúng ta ném đá ngươi đâu nhưng vì lộng ngôn. Ngươi vốn là người mà lại tự tôn là ĐCT" ( Ga 10, 31 -33).

Chúa Giê Su không những nhận mình là Con Thiên Chúa để phải chịu ném đá nhưng còn nói cho những người Do Thái ấy biết rằng chính họ cũng là Con Thiên Chúa như Ngài. " Trong sách luật của các ngươi có chép rằng = Ta đã nói các ngươi là Thần ( Con Thiên Chúa ) hay sao ? Nếu Chúa gọi những kẻ được nghe Đạo ĐCT phán là Thần ( Mà KT không thể bãi bỏ được ) thì Ta đây là Đấng Cha đã biệt ra Thánh và sai xuống thế gian nói rằng Ta là Con ĐCT, cớ sao các ngươi lại cáo buộc Ta là nói lộng ngôn ?" ( Ga 10, 34 -36).

Chúa Giê Su đích thực là Con Thiên Chúa và chúng ta cũng vậy.Tuy nhiên có điều rất khác biệt này là Chúa thì biết rõ điều ấy còn phàm nhân chúng ta thì không " Cha Ta đã giao mọi sự cho Ta. Ngoài Cha không ai biết Con. Ngoài Con và người nào Con muốn mạc khải cũng không ai biết Cha" ( Lc 10, 22).

Về sự...biết Cha ở đây hoàn toàn không phải là cái biết của tri thức phân biệt, chẳng hạn chúng ta biết cái nhà là nhà bởi đã phân biệt nhà với những cái không phải là nhà như cây cối xe cộ người ngợm v.v..Tri thức phân biệt vừa là cái khả năng lý trí của con người trong việc nhận thức sự vật nhưng đồng thời nó cũng là trở ngại không thể vượt qua trong việc nhận biết chân lý. Thật vậy chúng ta biết thần học hiện nay là sản phẩm của duy lý và nó chính là thủ phạm gây ra cái chết của Thiên Chúa. Không thể sử dụng lý trí để nhận biết Thiên Chúa bởi như thế là đã đồng hoá Ngài với các sự vật. Thánh Gioan nói Thiên Chúa là Tình yêu " Ai chẳng thương yêu thì không nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là Tình yêu" ( 1Ga 4, 8 ).

Chỉ những ai có tình yêu thương mới nhận biết Thiên Chúa bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu có nghĩa Ngài là Bản Thể là Yếu Tính của mỗi người. Để nhận biết Thiên Chúa thì phải thể hiện Tình Yêu ấy bằng Tình Yêu vô phân biệt " Các ngươi đã nghe phán rằng Hãy yêu kẻ lân cận và ghét kẻ thù nghịch. Nhưng Ta nói cùng các ngươi hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi. Hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi trên trời bởi vì Ngài khiến mặt trời soi trên kẻ ác cùng người thiện, mưa cho người công chính cùng kẻ bất chính" ( Mt 5, 43 -45).

Để có thể có được Tình Yêu vô phân biệt đó thì cần phải biết bỏ mình đi và sự bỏ mình ấy chính là tính chất xuất thế của Đạo Công giáo. Nếu hiểu bỏ mình là xuất thế gian thì không phải chỉ chỉ những người lìa bỏ thế gian vào rừng sâu núi thẳm hoặc ẩn mình trong dòng kín mới gọi là TU. Trái lại những người sống lăn lộn ngược xuôi giữa đời cũng có thể TU nếu biết bỏ mình. Đang khi đó những người vào rừng lên núi hoặc ở trong dòng kín mà không bỏ được Cai Tôi ( Mình, Ngã ) thì vẫn chẳng phải là TU. Hễ có Tu là có phước, ngược lại chẳng những không TU mà còn sống buông thả trôi lăn trong dục vọng thì sẽ đời đời vô phước trong Hoả Ngục. Đời sống này vắn vỏi lắm chỉ trong chớp mắt là đã bước qua đời khác. Mặc dầu đời sống chóng qua nhưng những việc lành dữ thì tồn tại và sẽ được báo ứng " Ta sẽ tuỳ công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo ứng" ( Kh 2, 23 )./.

Phùng Văn Hoá
Chuyên Mục: Chia Sẻ Tâm Linh Từ khóa: Đạo Công Giáo

----------------------------

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 36