mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5471
mod_vvisit_counterHôm Qua8518
mod_vvisit_counterTuần Này47776
mod_vvisit_counterTuần Trước66241
mod_vvisit_counterTháng Này169509
mod_vvisit_counterTháng Trước342558
mod_vvisit_counterTất cả21338389

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Thu, Mar 25 at 2:56 AM

Lời "xin vâng" của người tín hữu hôm nay

Mẹ Maria đã cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Sau lời "xin vâng", Mẹ Maria đã phó thác tất cả đời mình trong bàn tay từ ái của Thiên Chúa, để Người toàn quyền định đoạt số phận của mình. Mẹ Maria chỉ còn biết vâng theo ý Chúa hoàn toàn.

Mẹ Maria cũng là người như chúng ta. Mẹ cũng có những ước vọng riêng mong đạt tới. Mẹ cũng có những chương trình cá nhân cần hoàn thành. Nhưng đứng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, Mẹ đã từ bỏ chính mình để đáp lại bằng lời "xin vâng". Mẹ đã sẵn sàng từ bỏ con đường riêng của mình để đi vào con đường Thiên Chúa sắp đặt. Đó chính là nét đẹp tuyệt vời của hai chữ "xin vâng".

Hôm nay, Chúa vẫn đang cần những lời "xin vâng" của chúng ta, đang cần sự cộng tác của chúng ta để tiếp tục những gì Ngài làm còn dang dở. Ngài muốn dùng chúng ta như những khí cụ trong bàn tay Ngài. Chúa vẫn muốn nhìn bằng đôi mắt của ta, yêu thương bằng trái tim của ta, làm việc bằng đôi tay của ta và bước đi bằng đôi chân của ta.

Trong ngày lễ Truyền Tin, hơn bao giờ hết, chúng ta hãy nhìn lên Thánh Giá Chúa Giêsu để chiêm ngưỡng lời "xin vâng" tuyệt hảo của Ngài. Là một vị Thiên Chúa cao cả, nhưng Ngài đã không đòi cho được ngang hàng với Thiên Chúa. Trái lại, Ngài đã hủy bỏ mình ra không, đã hạ mình vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá (Phil 2, 6-8).

Bài đọc II, trích thư gửi tín hữu Do Thái, cũng nhắc đến sự vâng phục của Chúa Giêsu trước thánh ý Chúa Cha. Cũng thế, cả cuộc đời Chúa Giêsu chính là một lời "xin vâng" kéo dài : từ hang đá Bêlem đến đỉnh Núi Sọ, Chúa Giêsu luôn thi hành thánh ý Cha trong mọi giây phút của cuộc đời. Ngài chấp nhận uống chén đắng hơn là khước từ ý Cha.

Chớ gì lời "xin vâng" của Mẹ Maria sẽ dẫn đưa chúng ta đến lời "xin vâng" của Chúa Giêsu, và từ đó giúp ta cũng bắt chước các Ngài để luôn thưa lời "xin vâng" trong cuộc sống hằng ngày, thay cho những lần chúng ta "nói không" trước Thiên Chúa và anh em mình.

Ngày 08/7/1903, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII từ trần. Đức Hồng Y Sartô phải đi vay tiền mua vé xe lửa về Rôma họp mật nghị bầu Giáo Hoàng. Kết quả cuộc bầu cử : Đức Hồng Y Sartô đắc cử Giáo Hoàng. Đức Hồng Y niên trưởng đến trước mặt Hồng Y Sartô hỏi :

– Nhân danh Thiên Chúa, chúng tôi tiến cử ngài làm Giáo Hoàng, ngài có chấp nhận không ?

Sau giây phút yên lặng với giòng nước mắt tuôn trào, Đức Hồng Y Sartô nghẹn ngào trả lời :

– Ước gì con không phải uống chén này, nhưng mong sao ý Chúa được nên trọn.

Thấy câu trả lời chưa rõ, Đức Hồng Y niên trưởng hỏi lại lần nữa. Lúc bấy giờ ngài đã trả lời :

– Con xin nhận như một thánh giá Chúa trao phó.

Qua lời "xin vâng" đầy nước mắt ấy, Đức Giáo Hoàng Piô X chính thức nhận sứ vụ Thánh Phêrô và đã trở thành một vị thánh Giáo Hoàng, đem đến cho Giáo Hội biết bao sự đổi mới, canh tân.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG:

Mỗi ngày, khi đọc kinh Truyền Tin, chúng ta lặp lại lời "xin vâng" của Mẹ Maria. Chính lời kinh ấy luôn nhắc nhở BẠN VÀ TÔI  hãy noi theo Mẹ Maria để luôn vâng theo ý Chúa trong mọi trạng huống cuộc đời. Con đường "xin vâng" là con đường ngắn nhất giúp ta đạt tới sự trọn lành và nhờ vậy, đạt được hạnh phúc Nước Trời NGAY BÂY GIỜ VÀ mai sau.

thanhgiachuatrao

----------------------------------

 
NGƯỜI TIN HỮU TRƯỞNG THÁNH - SUY NIỆM TUẦN THÁNH PDF Print E-mail

CHÚA CỠI LỪA VÀO THÀNH

Suy Niệm Tuần Thánh - Chúa Nhật Lễ Lá

Trần Mỹ Duyệt

Truyền thống Công Giáo bắt đầu một tuần lễ cực thánh, chấm dứt 40 ngày chay tịnh bằng việc cử hành tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem, để rồi sau đó Ngài bị bắt, bị đánh đòn, tra tấn, bị kết tội vác thập giá lên núi Sọ, bị đóng đinh và chết trên thập tự giá, nhưng ngày thứ ba Ngài đã Phục Sinh.

Qua Thánh Kinh, Chúa Giêsu vinh quang khải hoàn vào thành thánh. Ngài không ngồi trên một con chiến mã, nhưng là trên lưng một con lừa. Những người tham dự vào cuộc khải hoàn ấy không phải là những đoàn quân anh dũng, với đầy đủ khí giới theo hầu, bảo vệ, nhưng lại là những thường dân, những em nhỏ, những con người đơn sơ và chất phát. Và điều này gợi lên trong ta ý nghĩa gì? Riêng đối với những tâm hồn yêu mến và muốn theo bước chân Ngài, chúng ta suy nghĩ gì qua biến cố rất đặc biệt này?

Suốt 3 năm miệt mài, vất vả rao truyền chân lý, chữa lành nhiều kẻ tật nguyền, thực hiện bao phép lạ vỹ đại, hôm nay là ngày Chúa Giêsu được vinh hiển nhất, được tôn kính trọng vọng nhất.

Dân chúng đứng chật hai bên đường, người người vui mừng reo hò. Họ tung hô vạn tuế và không ngừng ca tụng: "Hoan hô con Vua Ðavít. Chúc tụng Ðấng nhân danh Thiên Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời" (Mt 21:9). Lòng sùng mộ và yêu kính của dân chúng bấy giờ đã khiến họ hành động một cách hết sức đặc biệt. Họ cởi áo ngoài trải đường như một tấm thảm kéo dài trên đường Ngài đi qua. Và họ cầm trên tay ngành vạn tuế để vẫy chào khi Ngài đi qua chỗ họ. Thánh Kinh kể lại, số người theo tung hô Ngài mỗi lúc một thêm đông, đến độ khiến các Pharisiêu phải ghen tị.

Nhưng nếu bạn là người đang đứng hai bên đường và quan sát đám rước hôm đó, bạn sẽ thấy một chi tiết có thể khiến bạn phải dừng lại để suy nghĩ. Ðó là Chúa Giêsu không cỡi trên voi, trên ngựa, hay không ngồi trên kiệu mà tham dự cuộc khải hoàn này, nhưng Ngài lại ngồi trên lưng một con lừa con. Mátthêu ghi: "Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: "Các anh hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các anh hãy mở dây và dẫn về đây cho thầy" (Mt 21:2). Ngài làm thế còn để ứng nghiệm lời Thánh Kinh: "Hãy nói với thiếu nữ Sion rằng, này vua các ngươi đang ngự đến, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa con, là con lừa mẹ" (Mt 21:5).

Chúa cỡi lừa con để khải hoàn vào Giêrusalem. Ngài không cỡi voi hay cỡi ngựa, ngồi trên kiệu, hoặc như phương tiện thời nay là dùng limousine, vì Ngài không muốn làm các thiếu nữ Sion phải hoảng sợ. Ngài không muốn bất cứ ai nhìn Ngài bằng cặp mắt đầy kinh ngạc, hoảng hốt và thán phục. Ngài không muốn bất cứ ai phải bắt buộc theo và miễn cưỡng mến Ngài. Ngài cũng không dùng sức mạnh, quyền lực của kẻ chiến thắng để khống chế và thu phục nhân tâm. Chính vì thế những hình ảnh liên quan đến sức mạnh quyền lực đều bị Ngài loại bỏ. Ngài chỉ muốn một mình đơn sơ ngồi trên lưng một con lừa nhỏ bé để tiến vào thành. Một hình ảnh nói lên vẻ thanh bình, đơn sơ, nhẹ nhàng, và tự nhiên. Và đó chính là Ngài, con chiên Thiên Chúa, vua các vua và Chúa các chúa.

Chúa Giêsu là vua. Ngài còn là Chúa tạo thành vũ trụ. Danh Ngài được vang vọng chúc tụng trên các tầng trời. Cả nhân loại phải phủ phục dưới chân Ngài và trước nhan Ngài. Mọi đầu gối, như Thánh Phaolô đã viết, trên trời, dưới đất và trong lòng đất phải quì gối trước mặt Ngài. Do đó, nếu Ngài dùng bất cứ hình thức di chuyển nào khác tối tân và tiện nghi nhất của thời bấy giờ thì vẫn chỉ là những phương tiện tầm thường chưa xứng với Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã không làm thế. Hành động ấy của Ngài như nói trước về những gì mà Ngài sẽ làm kế tiếp như rửa chân cho các môn đệ, cho phép bị bọn lý hình hành hạ và chế diễu, chấp nhận bản án bất công từ Philatô. Và nhất là chấp nhận vác thập giá, và bị đóng đinh chết treo trên đồi Golgotha.

Làm sao tâm trạng của một người mang trong mình hình ảnh chiến thắng hiển hách, ngồi trên lưng một con chiến mã, ngồi trên lưng một con voi, ngồi trong một cái kiệu sang trọng, hay như phương tiện di chuyển thời nay là chuyên cơ, trực thăng, hoặc limousine đầy đủ tiện nghi tiến lên giữa tiếng tung hô, lại có thể chấp nhận quì gối xuống, bưng chậu nước đến trước mặt các môn đệ của mình để rửa chân cho họ.

Làm sao một vị đại tướng, một hoàng đế, một nữ hoàng, một tổng thống, một thủ tướng uy nghi duyệt qua hàng quân danh dự để tiến lên lễ đài giữa tiếng tung hôn vang dội của cả rừng người lại có thể dễ dàng chấp nhận chịu cảnh trao nộp, chịu đánh đòn, chịu khạc nhổ vào mặt, chịu đội mão gai, chịu xét xử bất công, và chịu đóng đinh chết trần truồng trên thập giá mà không một lời than van, trách móc.

Ngồi trên lưng ngựa, lưng voi. Ngồi trong kiệu, trong trực thăng, chuyên cơ hay limousine thì không dễ cúi mình xuống được, nhất là trong tư thế của kẻ có quyền, kẻ chiến thắng. Cũng không dễ chấp nhận thua thiệt, không dễ đón nhận nhục nhã, không dễ vâng phục thiên ý. Cứ nhìn bọn Pharisiêu qua thái độ ghen tức của họ với Chúa Giêsu, hoặc những Pharisiêu thời đại mới để hiểu rõ ý nghĩa và hành động ngồi trên lưng lừa của Ngài.

Làm như vậy là Chúa muốn nói với mọi người rằng, Ngài xứng đáng với tất cả mọi lời chúc tụng. Ngài chính là vua. Ngài là vua chiến thắng. Nhưng trên tất cả, Ngài là một vị vua nhân từ. Vua thái bình. Vua của tâm hồn con người. Và vì thế, Ngài đã cỡi lừa con mà không cỡi chiến mã.

Chúa là vua nhân từ, hiền dịu chứ không phải là vua quyền uy, độc tài, và hà khắc. Ngài thương yêu tất cả. Ngài mong mọi người hãy đến với Ngài, để học cùng Ngài, vì Ngài "hiền lành và khiêm nhường" (Mt 11:29).

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG:

Suy niệm việc Chúa cỡi lừa vào thành, BẠN VÀ TÔI CẦN để lòng mình chìm sâu trong những mầu nhiệm của Thương Khó, Thập Giá và Phục Sinh mà Ngài đã thực hiện vì chúng ta và cho nhân loại.

(Hiệu đính từ bài viết "Ngài Cỡi Lừa Vào Thành". 1 tháng 4 năm 2012 của cùng tác giả)

-------------------------------------------

 
NGƯỜI TÍN HỮU TRƯỞNG THÀNH - IM LĂNG LÀ VÀNG PDF Print E-mail

Anh Le chuyển

Im Lặng là vàng

Im lặng là vàng. Đó là câu châm ngôn mang nhiều ý nghĩa và được coi như là một triết lý sống. Triết lý sống ấy, phần lớn do người ta ngao ngán với "nhân tình, thế thái". Mặt khác, cũng có một số người nghĩ im lặng sẽ đảm bảo cho sự an toàn của bản thân trong mọi lúc, mọi nơi. Rồi từ chỗ ít nói, ngại nói, không dám nói những điều mình đang trăn trở, nghĩ suy, người ta trở nên dửng dưng trước mọi biến động của xã hội. Dần dần dẫn đến tình trạng tôn thờ chủ nghĩa MAKENO, dửng dưng với những bất hạnh của tha nhân, ngay cả những bất công của xã hội. Im lặng là vàng cũng rất cần thiết để mình cân nhắc sự việc, để mình suy tính, không vội vã mà hành động khôn ngoan hơn.

"Im lặng là vàng" cũng có nghĩa là học chữ nhịn. Ở đời người ta chỉ cần học được chữ nhẫn, chữ nhịn sẽ mang lại biết bao niềm vui của chiến thắng hân hoan.

Hôm nay, chúng ta chiêm ngắm một con người đã làm lên chuyện phi thường trong im lặng. Trước mọi vấn đề Ngài đều im lặng để tìm hiểu, để suy xét và đón nhận. Sự im lặng của Ngài không phải là của kẻ khiếp nhược trước sự dữ thế gian. Sự im lặng của ngài thể hiện lòng phó thác tin yêu trong sự quan phòng của Thiên Chúa.

Ngài im lặng để tìm kiếm ý Chúa. Ngài im lặng để lắng nghe tiếng nói của con tim luôn rung nhịp yêu thương. Ngài im lặng để cho tiếng Chúa vang lên trong tâm hồn của mình mà nhờ đó Ngài đã hết lòng phụng sự theo thánh ý Chúa.

Đó chính là thánh cả Giuse. Một vị đại thánh không để lại một lời huấn dụ nào nhưng lại được cả Giáo hội qua bao thế hệ yêu mến, tôn kính. Ngài không để lại di ngôn nhưng để lại một đời sống nội tâm thật phong phú.

Phúc âm ghi lại trước mỗi biến cố xảy đến ngài thường chọn im lặng để lắng nghe tiếng Chúa. Ngài đã im lặng khi biết tin Maria đã mang thai, nhờ đó mà ngài nghe được tiếng Chúa bảo ngài đón nhận Maria về nhà làm bạn mình. Ngài im lặng trước biết bao phong ba bão tố trong cuộc đời hài nhi, nhờ đó mà ngài đã dìu dắt, bảo vệ hài nhi Giê-su đi qua giông tố cuộc đời. Ngài đã im lặng khi tìm kiếm con bôn ba suốt ba ngày, để rồi thấy con trong đền thờ đang nói chuyện Kinh Thánh với các Thầy tư tế, nhờ đó mà ngài đã vâng theo thánh ý Chúa dù rằng ngài chưa hiểu hết những gì đang xảy ra.

Lý do cho sự im lặng của ngài không phải là do sợ hãi hay nhu nhược mà là ngài tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thử hỏi, nếu ngài không tin vào Thiên Chúa có lẽ ngài đã ngã lòng trước biết bao biến cố xảy ra trong cuộc đời hài nhi Giê-su ? Từ khi nhập thể cho đến khi chào đời, khôn lớn phải trải qua biết bao sóng gió? Nhờ đức tin ấy mà ngài đã dìu dắt gia đình luôn bình an ngay khi sóng gió. Nhờ đức tin ấy mà ngài đã chu toàn mọi sự theo thánh ý Thiên Chúa.

Cuộc đời luôn có biết bao điều xảy ra ngoài dự định của chúng ta, và đôi khi còn vượt lên trên trí hiểu của chúng ta. Xin cho chúng ta biết im lặng để tìm ra ý Chúa trong từng biến cố cuộc đời. Xin cho chúng ta biết noi gương thánh Giu-se luôn tận tụy với bổn phận của mình trong niềm phó thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Ước gì chúng ta cũng học bài học im lặng để khôn ngoan cân nhắc trước mọi biến cố xảy ra. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

---------------------------------

 
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ - CN4MC-B PDF Print E-mail

GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA

Chúa Nhật 4 Mùa Chay năm B

Lời Chúa : Ga 3, 14-21

Đây là những lời tâm sự trong đêm của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô, một bậc vị vọng trong nhóm Pharisêu. Ông đến ban đêm vì sợ người Do thái. Chúng ta có sợ không ? Sợ người ta biết mình là người công giáo, sợ người ta chế nhạo, sợ bị loại trừ và bao nhiêu lý do khác... Trong cuộc trò chuyện nầy, hai người trao đổi với nhau về nhiều vấn đề.

Hôm nay chúng ta chỉ chú ý đến một đoạn ngắn mà thôi : Con Người được giương cao lên. Câu nầy ám chỉ đến việc Chúa Giêsu sẽ bị đóng đinh trên thập giá. Đó là sứ mệnh quan trọng nhất của Ngài. Chúa Giêsu cũng nhắc lại một biến cố thời Xuất hành khi dân Do thái than phiền trách móc Thiên Chúa và Chúa đã cho rắn lửa cắn chết nhiều người. Dân Do thái hoảng sợ cầu cứu với Môsê. Ông nầy đã cầu xin Chúa và Chúa bảo ông dức một con rắn bằng đồng và treo nó lên một cây nạng. Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì sẽ được chữa lành. Con rắn đồng xưa đã cứu dân Do thái thoát khỏi rắn cắn thì hôm nay, Chúa Giêsu được giương cao trên thập giá sẽ cứu thoát những ai tin vào Ngài và nhìn lên Ngài.

Chúng ta là những bệnh nhân đang hấp hối trên đường đời. tâm hồn chúng ta mang đầy thương tích, chúng ta có nhìn lên Đấng chịu treo vì chúng ta để được chữa lành và được sống muôn đời không ? Chúng ta có cảm thấy cần đến con người chịu giương cao trên thập giá đó không ? Nhiều người chỉ tin vào đồng tiền vạn năng có thể thống trị cả thế giới, và hiện nay thế giới của chúng ta được điều khiển bởi một số những người giàu có. Họ dùng đồng tiến thống trị hoàn cầu. Nhưng họ đã nhận được gì khi họ nằm xuống ? Họ không thoát khỏi cái chết, họ vẫn là tro bụi. Khi còn sống, họ làm mưa làm gió, nhưng họ không thể tồn tại mãi. Đồng tiền vạn năng kia không thể cứu họ khỏi chết.

Chúng ta, những con người nhỏ bé, nhưng chúng ta tin vào Đấng đã yêu chúng ta và đã chết cho chúng ta, tin vào Đấng đã chịu treo trên thập giá vì chúng ta, chúng ta sẽ vượt qua cái chết và được sống đời đời. Chúng ta nhớ lời Chúa nói : "Dù lời lãi cả thế giqn mà phải thiệt thân thì lợi ích gi?" Đồng tiến không mang lại hạnh phúc. Hạnh phúc của chúng ta không ở trần gian nầy mà ở trong tình yêu của Thiên Chúa là Cha chúng ta. Cha chúng ta đã yêu chúng ta đến nỗi ban Con Một Người cho chúng ta, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết và được sống muôn đời. Nói câu nầy, Chúa Giêsu đã nói tất cả. Tất cả tình yêu của Chúa Cha ở nơi Người Con nầy. Người Con nầy là quá tặng tình yêu của Chúa Cha cho chúng ta. Đó là Đấng đầy ân sủng và chân lý, là nguồn cội mọi ơn lành. Trong Người chúng ta được ơn tha thứ và ơn cứu chuộc.Nhờ Người, chúng ta lãnh nhận ơn nầy đến ơn khác.

Chỉ cần tin vào Ngài, chúng ta sẽ được mọi sự. được sống muôn đời. Nhưng chúng ta có tin không ? Hay chúng ta tin vào những con người quyền thế trần gian, tin vào tiền bạc ? Tin hay không tin là vấn đề sống chết của chúng ta.

Tin vào Con Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bị lên án, vì Thiên Chúa sai Con của Người đến trong thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.

Tin vào Con Thiên Chúa, mọi hành động của chúng ta sẽ được thực hiện trong ánh sáng của Ngài, và chúng ta sẽ bước đi trong ánh sáng đó. Chính Chúa cũng đã nói : " Anh em là ánh sáng thế gian". Chúng ta thể hiện đức tin bằng hành động, vì đức tin không hành động là đức tin chết.

Trong mùa chay thánh nầy, chúng ta sẽ hành động như thế nào ? Hành động như Chúa đã nói qua miệng tiên tri Isaia : " Đó là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người không nơi cư ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục". Đó là chương trình hành động của chúng ta, không những trong mùa chay mà cả trong cuộc sống trần gian nầy. Hãy nhớ rằng chúng ta là con của Đấng là Tình Yêu, chúng ta phải sống cho tình yêu, và như thế ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.

Muốn sống yêu thương, chúng ta hãy đến học hỏi với Chúa Giêsu như ông Nicôđêmô, phải vào trường dạy của Ngài, ăn lấy Ngài để sống với Ngài, gắn bó tha thiết với Ngài. Chỉ khi nào chúng ta khắng khít với Ngài, chúng ta mới có thể là ánh sáng, chúng ta mới hạnh phúc và hạnh phúc của chúng ta chính là cho đi tất cả như Chúa Giêsu đã cho đi.

Lm Trầm Phúc

Kính chuyển:

Hồng

 
ĐỜI SỐNG MỚI TRONG THẦN KHÍ- ĐTC - KINH MÂN CÔI PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Mon, Jan 18 at 1:44 AM

CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG NÓI VỀ KINH MÂN CÔI

Rất nhiều Đức giáo hoàng nói về Kinh Mân Côi dưới hình thức tông huấn, thông điệp, tông thư, tông sắc... bằng các thứ tiếng như Latin, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, T y Ban Nha, Italia... Để tìm hiểu rõ hơn những tài liệu này, chúng ta có thể vào trang web của Toà Thánh (www.vatican.va).

Dưới đây, chúng ta thử điểm qua một số văn kiện của các Đức giáo hoàng:
1/ Tông sắc "Consueverunt Romani Pontifices" (17/09/1569) của Đức giáo hoàng Piô V xác định hình thức và nội dung của Kinh Mân Côi như hiện nay.
2/ Tông hiến "Salvatoris Domini" (05/03/1572) của Đức giáo hoàng Piô V ban ơn đại xá cho những ai gia nhập Hội Mân Côi và năng lần hạt Mân Côi.
3/ Trong Tông thư "Ad Augendam" (18/01/1785), Đức giáo hoàng Clemente Xlll đã ban một ơn đại xá cho những ai sốt sắng đọc Kinh Mân Côi. Ơn xá này có thể chỉ cho các linh hồn.
4/ Tông thư "Benedicentes" (27/01/1832) của Đức giáo hoàng Grêgôriô XVl tuyên bố rằng khi đọc chung Kinh Mân Côi thì có hiệu lực hơn đọc riêng. Ngài khuyến khích các giáo hữu hãy cùng nhau đọc Kinh Mân Côi, để đem lại sự an bình cho gia đình và cho xã hội.
5/ Thông điệp "Supremi Apostolatus Officio" (01/09/1883) của Đức giáo hoàng Lêô XIII mời gọi các thành phần Dân Chúa siêng năng lần hạt Mân Côi và gia nhập Hội Mân Côi. Thông điệp cũng lược qua một số công hiệu của Kinh Mân Côi qua dòng lịch sử với những nhận định của nhiều vị giáo hoàng.
6/ Trong Tông thư "Salutaris Ille" (24/12/1883), Đức giáo hoàng Lêô XIII kêu gọi các giáo xứ, giáo phận đọc Kinh Mân Côi hằng ngày. Ngài đã thêm câu "Nữ Vƣơng Truyền Phép Rất Thánh Mân Côi" vào Kinh Cầu Đức Bà.
7/ Thông điệp "Superiore Anno" (30/08/1884) của Đức giáo hoàng Lêô XIII trình bày về cách đọc Kinh Mân Côi.
8/ Thông điệp "Quod Auctoritate" (22/12/1885) của Đức giáo hoàng Lêô XIII công bố Năm Thánh đặc biệt ban ơn toàn xá cho những ai đọc Kinh Mân Côi.
9/ Thông điệp "Vi È Ben Noto" (20/09/1887) của ĐGH Lêô XIII nói về Kinh Mân Côi và đời sống công cộng.
10/ Thông điệp "Quamquam Pluries" (15/08/1889) của Đức giáo hoàng Lêô XIII nói về việc dâng hiến cho thánh Giuse, nhƣng Thông điệp cũng mời gọi dân Kitô giáo tận hiến cho Đức Mẹ Mân Côi, đặc biệt là trong suốt tháng 10, tháng dâng kính Đức Mẹ Mân Côi.
11/ Thông điệp "Octobri Mense" (22/09/1891) của Đức giáo hoàng Lêô XIII kêu gọi ngƣời tín hữu hãy năng chạy đến với Đức Mẹ Mân Côi bằng việc năng đọc Kinh Mân Côi.
12/ Thông điệp "Magnae Dei Matris" (08/09/1892) của Đức giáo hoàng Lêô XIII cho chúng ta biết về sức mạnh của Kinh Mân Côi đối với lạc giáo Albigensê phá hoại Giáo Hội. Qua Thông điệp, Đức giáo hoàng ban rất nhiều ơn xá, đại xá cho những người siêng năng đọc Kinh Mân Côi.
13/ Thông điệp "Laetitiae Sanctae" (08/09/1893) của Đức giáo hoàng Lêô XIII nói về sự tận hiến cho Đức Mẹ Mân Côi. Nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ Mân Côi, nhiều bệnh tật được chữa lành.
14/ Tông thư "Iucunda Semper Expectatione" (08/09/1894) của Đức giáo hoàng Lêô XIII xoay quanh hai yếu tố nền tảng của Kinh Mân Côi, đó là: khẩu nguyện và tâm nguyện. Hai yếu tố này gợi ý cho người tín hữu vừa đọc vừa suy niệm về cuộc đời của Chúa Giêsu cũng nhƣ Mẹ Maria.
15/ Thông điệp "Adiutricem" (05/09/1895) của Đức giáo hoàng Lêô XIII đề cao việc suy niệm về cuộc đời của Chúa Cứu Thế trong khi đọc Kinh Mân Côi.
16/ Thông điệp "Fidentem Piumque Animum" (20/09/1896) của Đức giáo hoàng Lêô XIII đề cập đến hình thức của kinh nguyện mang tên "Mân Côi" để diễn tả mùi thơm của Hoa Hồng, tượng trưng cho Đức Nữ Đồng Trinh Maria, Đấng được chào kính như Hoa Hồng mầu nhiệm.
17/ Thông điệp "Augustissimae Virginis Mariae" (12/09/1897) của Đức giáo hoàng Lêô XIII nói về Hội Mân Côi. Đức giáo hoàng cho rằng người tín hữu đọc Kinh Mân Côi mang tính công cộng và hoàn vũ, giống như các linh mục đọc Kinh Thần Vụ. Khi đọc chung, Kinh Mân Côi mang lại hiệu năng lớn lao nhất.
18/ Thông điệp "Diuturni Temporis" (05/09/1898) của Đức giáo hoàng Lêô XIII nói đến hai kinh nguyện căn bản của Kinh Mân Côi: Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng. Đức giáo hoàng cho rằng Kinh Mân Côi mang tính thần linh hơn là con người, do đó Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện vững chắc nhất và hiệu quả nhất. Qua Thông điệp, Đức giáo hoàng cũng bày tỏ lòng tri ân về những hồng ân mà Đức Mẹ đã ban cho ngài suốt những năm dài trên vai trò dẫn dắt Giáo Hội.
19/ Trong Tông thư mang tựa đề "In Caetu soladium" (29/10/1916) gửi cho Tổng Quyền Dòng Đa Minh, Đức giáo hoàng Benedictô XV nói nhờ Kinh Mân Côi, Giáo Hội đã đẩy lui các bè rối phá hoại Giáo Hội.
20/ Thông điệp "Appetente Die Fausto" (29/06/1921) của Đức giáo hoàng Benedictô XV nói về thánh Đa Minh. Đức giáo hoàng đánh giá cao những đóng góp của thánh Đa Minh và con cái của ngài qua Kinh Mân Côi cho Giáo Hội. Thông điệp cũng nói đến những đặc ân được ban một cách phong phú cho những người siêng năng lần hạt và cho những hội viên của Hội Mân Côi.
21/ Thông điệp "Rerum Ecclesiae" (28/02/1926) của Đức giáo hoàng Piô XI nói về các sứ vụ trong Giáo Hội, đặc biệt sứ vụ truyền giáo. Kinh Mân Côi là một lời cầu nguyện thường được đọc tại các giáo xứ và trong các nhà thờ để cầu nguyện cho sứ vụ truyền giáo, được dâng lên Thiên Chúa qua sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa.
22/ Tông thư "Inclytam Ac Perillustrem" (06/03/1934), Đức giáo hoàng Piô Xl cho rằng Kinh Mân Côi là "vũ khí mạnh nhất, để đập tan những bè rối đang phá hoại Giáo Hội, và đem bao nhiêu linh hồn lầm lạc trở về với Chúa, với Đức Mẹ".
23/ Thông điệp "Ingravescentibus Malis" (29/09/1937) của Đức giáo hoàng Piô XI nói đến tầm quan trọng của Kinh Mân Côi trong đời sống đức tin, đó là một hình thức đạo đức bình dân nhưng lại rất ích lợi, nhất là trong việc đẩy lui những sự dữ, tội ác. Ngài khuyên nhủ người tín hữu siêng năng lần hạt Mân Côi.
24/ Thông điệp "Mediator Dei" (20/11/1947) của Đức giáo hoàng Piô XII nói về Phụng Vụ Thánh. Bí tích Thánh Thể là đỉnh cao và trung tâm của Phụng Vụ trong việc thờ phượng Thiên Chúa. Thông điệp có đề cập tới những hình thức đạo đức bình dân khác nhắm tới việc thờ phượng Thiên Chúa, trong số đó, Kinh Mân Côi giữ một vị trí trổi vượt.
25/ Trong Tông thư "Ingruentium Malorum" (15/09/1951), Đức giáo hoàng Piô Xll cho rằng Kinh Mân Côi là một kinh nguyện tuyệt hảo, là một phương tiện phù hợp nhất và mang lại nhiều hoa quả nhất vì bản chất thần linh của nó. Đức giáo hoàng mời gọi các mục tử làm cho người giáo dân hiểu rõ hơn giá trị, phẩm chất, sức mạnh và sự tuyệt vời của Kinh Mân Côi. Ngài mời gọi đọc Kinh Mân Côi một cách tin tưởng để đẩy lui biết bao sự dữ đang gây ảnh hưởng đến thời đại.
26/ Tông thư "Novimus Libenter" (11/07/1959) của Đức giáo hoàng Piô Xll gửi cho Tổng Quyền Dòng Đa Minh, cho rằng Kinh Mân Côi là một phương tiện tuyệt hảo và rất có hiệu quả để đạt tới sự sống đời đời.
27/ Thông điệp "Grata Recordatio" (26/09/1959) của Đức giáo hoàng Gioan XXlll ca ngợi những giáo huấn của Đức giáo hoàng Lêô XIII về Kinh Mân Côi. Ngài cho rằng Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa và Mẹ Maria nhất.
28/ Trong Tông thư "Il Religioso Convegno" (29/09/1961), Đức giáo hoàng Gioan XXlll công bố rằng Kinh Mân Côi là kinh nguyện thánh mẫu. Đức giáo hoàng mời gọi tất cả mọi người tín hữu siêng năng đọc. Kinh Mân Côi để suy ngắm cuộc đời của Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
29/ Trong Tông thư "Oecumenicum Consilium" (28/04/1962), Đức giáo hoàng Gioan XXlll mời gọi các thành phần Dân Chúa đọc Kinh Mân Côi để cầu nguyện cho Công đồng Vatican II.
30/ Thông điệp "Mense Maio" (29/04/1965) của Đức giáo hoàng Phaolô VI kêu gọi ưtín hữu đọc Kinh Mân Côi để cầu nguyện cho nền hoà bình thế giới, các nhà lãnh đạo..., và đặc biệt cho các nhu cầu của Giáo Hội qua Công đồng Vatican II.
31/ Trong Tông thư "Christi Matri" (15/09/1966), Đức giáo hoàng Phaolô Vl nói rằng Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Ngài khuyến khích tín hữu năng lần hạt Mân Côi. Ngài cho rằng Kinh Mân Côi là một phương thế hữu hiệu nhất để xin ơn trên nuôi dưỡng tâm hồn. Ngài đánh giá cao giá trị của Kinh Mân Côi. Ngài nói rằng Công đồng Vatican II mong muốn tất cả con cái Giáo Hội thường xuyên đọc Kinh Mân Côi.
32/ Tông huấn "Recurrens Mensis October" (07/10/1969) của Đức giáo hoàng Phaolô VI tha thiết khuyên dạy người tín hữu siêng năng đọc Kinh Mân Côi, vì như hơi thở cần cho cuộc sống thể xác thế nào thì Kinh Mân Côi cũng cần cho cuộc sống linh hồn như vậy.
33/ Tông huấn "Marialis Cultus" (02/02/1974) của Đức giáo hoàng Phaolô VI dạy rằng Kinh Mân Côi là một kinh nguyện tuyệt vời. Người tín hữu cần được sức mạnh của lời kinh này lôi kéo tới chỗ đọc kinh này một cách trầm lắng.
34/ Trong Tông thư "Rosarium Virginis Mariae" (16/10/2002), Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II cho rằng Kinh Mân Côi là phương pháp cứu rỗi chắc chắn nhất.
23
Qua tư tưởng của các Đức giáo hoàng về Kinh Mân Côi trong những văn kiện vừa kể trên, chúng ta thấy rằng các Đức giáo hoàng đã dành một mối quan tâm đặc biệt cho Kinh Mân Côi. Còn nhiều văn kiện khác nữa của các Đức giáo hoàng mà chúng ta không thể kể hết ở đây được. Nhưng với chừng ấy, chúng ta cũng thấy được giá trị, sức mạnh, công hiệu và ơn ích của Kinh Mân Côi.

THMC

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 57