mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1324
mod_vvisit_counterHôm Qua11016
mod_vvisit_counterTuần Này12340
mod_vvisit_counterTuần Trước62493
mod_vvisit_counterTháng Này191935
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13562112

We have: 482 guests online
Your IP: 54.234.227.202
 , 
Today: May 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Người Tín Hữu Trưởng Thành
NGUOI TIN HUU TRUONG T. - CAM HAN DEN THA THU PDF Print E-mail

Thứ sáu Ngày 28 thang 09, 2018

Danh Ngôn Các Thánh

Chuyển ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC

CĂM HẬN đến THỨ THA
Cách đây không lâu, toàn thế giới đã ngỡ ngàng trước sự kiện Đức Gioan Phaolô II đến xà lim nhà tù để thăm gặp và tha thứ cho Agca, kẻ đã giết hụt ngài. Nếu là người khác, có lẽ họ đã tỏ thái độ căm hận đối với tên sát nhân muốn sát hại mình vì những ý đồ chính trị, còn Đức Gioan Phaolô II, ngài đã vào tận Thánh Tâm Chúa Kitô để tìm được lòng cảm thương đối với kẻ sát nhân. Ngài không hề nuôi lòng cay đắng hoặc căm hờn.
Chúa Giêsu đã phán dạy: "Các con hãy tha thứ bảy mươi lần bảy lần" (Mt 18:22). Đối với một số tín hữu, đây là điều khó thực hiện nhất trong tất cả những giáo huấn của Chúa Giêsu, bởi vì họ tích giữ sự căm hờn như một kho báu bằng vàng! Nhiều nhà tâm lý tôn giáo học hiện đại xác nhận tình trạng thiếu khoan dung là nguyên nhân chính sinh ra rất nhiều bệnh tật thể lý và thần kinh. Các thánh cũng như Đức Gioan Phaolô II đã không nuôi lòng căm hận, nhưng luôn mau mắn tha thứ.
* Sự lăng mạ bị giữ lại hoặc được bỏ qua không phải bởi tâm hồn của những kẻ lăng mạ, nhưng là tâm hồn của các nạn nhân. (Thánh Gioan Kim khẩu)
* Không ai có thể tự chữa lành cho bản thân bằng cách đả thương người khác. (Thánh Ambrose)
* Anh em hãy gớm ghét tội lỗi, nhưng hãy yêu thương tội nhân. (Thánh Augustine)
* Những gì anh em làm để báo thù kẻ đã gây bất công với anh em sẽ làm khốn khổ anh em trong giờ cầu nguyện. (Thánh Nilus Sinai)
* Anh em ôn lại các lỗi phạm của người khác trong khi lại quên mất những lỗi phạm của chính mình.
Khi có người xúc phạm đến anh em:
Anh em đừng chiều theo lòng căm hận kẻo nông nổi gây hại điều gì, nhất là cho người đã bị rối trí vì những ý tưởng do quỉ hờn ghen xui xiểm.... Họ đáng được thương hại và cảm thông hơn là đáng bị tức giận và báo thù.... Vậy chúng ta hãy khoan dung với người chung quanh trong cơn suy sụp thể lý và tinh thần của họ.... Với trọn vẹn tâm hồn, anh em hãy cầu nguyện và yêu thương họ trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. (Thánh Barsanuphius)
* Trong tình yêu Chúa Kitô, anh em hãy cầu nguyện cho kẻ thù; hãy làm hòa với đối thủ trước khi mặt trời lặn. (Thánh Benedict)
* Về một phụ nữ căm ghét thánh nữ:
Lạy Chúa, phải chăng vì mục đích này mà cái tôi khốn cùng của con đã được hiện hữu trong thế gian: để rồi vì con mà những linh hồn đã được tạo dựng theo hình ảnh Chúa phải bị đọa phạt trong lửa muôn đời? Lẽ nào thánh ý Chúa lại để con, một người có trách nhiệm phải giúp đỡ người chị em của con được cứu rỗi đời đời, thì lại trở nên căn cớ khiến chị ấy bị đọa phạt muôn kiếp?... Con sẽ không bao giờ ngơi nghỉ kêu van lòng nhân lành vô biên của Chúa cho đến khi... người chị em ấy của con được cứu thoát khỏi lửa muôn đời. (Thánh Catherine Siena)
* Người nào biết mở lòng để yêu thương và cầu nguyện cho những ai xúc phạm, xỉ nhục và làm hại mình, người ấy sẽ đạt được những thành tựu rất to lớn chỉ trong một thời gian ngắn ngủi. (Thánh Simeon thần học gia mới)
* Bạn hữu của chúng ta là tất cả những ai làm cho chúng ta phải khốn khổ vì những gian truân, thử thách, nhục nhã, oan ức, buồn phiền, cay cực, tử đạo và chết một cách bất công; chúng ta phải hết lòng yêu thương họ, bởi vì nhờ họ mà tất cả chúng ta đạt được cuộc sống muôn đời. (Thánh Francis Assisi)
* Tình yêu Chúa Kitô dành cho chúng ta không bị chấm dứt vì tội lỗi của chúng ta thế nào, thì Chúa Kitô muốn tình yêu chúng ta dành cho bản thân và dành cho anh chị em đồng đạo của chúng ta cũng không bị chấm dứt như vậy. Đúng hơn, Chúa muốn chúng ta gớm ghét tội lỗi và không ngừng yêu thương linh hồn như Thiên Chúa đã yêu thương vậy. (Chân phúc Julian Norwich)
...................

Kinh chuyen,
QP

God bless you!
www.tonghoimancoi.org

--------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH- DUC TIN RAT QUY PDF Print E-mail

Chi Tran
Sep 25 at 6:31 AM

Đức tin của con quý hơn mạng sống của con nhiều!

Kỳ Giáo Hội Mễ Tây Cơ bị bách hại trong thế kỷ thứ 20 vừa rồi, người ta thấy quân nghịch đạo cột sau xe ôtô một thanh niên Công giáo. Chàng này chỉ có một tội: không chịu bỏ Đạo, không chịu từ chối đức tin của mình.
Xe ôtô lăn bánh mạnh và nhanh trên con đường gồ ghề. Chàng thanh niên Công giáo này cắn răng lại. Thịt chàng nát bầm. Máu tuôn ra lai láng. Bùn và đất lấp phủ cả mặt mũi.
Bỗng tiếng phanh rít lên và xe ôtô dừng phắt lại trước một cửa nhà.
Quân nghịch đạo nhảy xuống xe, lấy gươm dí vào đầu chàng thanh niên này và la lên một cách tức tối:
- "Mày hãy nói đí: đả đảo Giêsu Kitô! Nếu không, mày sẽ chết!"
Nghe tiếng rộn ràng trước cửa nhà của mình, một người đàn bà vội chạy ra.
Bà như điên lên khi thấy con trai yêu quý của mình phải bị hành hạ quá sức dã man. Nhưng để bảo vệ đức tin của con mình, bà mẹ anh hùng này liền liều mình xông vào giữa đám lính, đến quỳ bên cạnh con đang hấp hối. Bà vừa khóc, vừa ôm đầu con, vừa nói rõ từng tiếng bên tai con:
- "Con ơi, con đừng bỏ Chúa nhé! Con đừng bỏ đức tin của con nhé! Đức tin của con quý hơn mạng sống của con nhiều!"
Người con liền gật đầu và chết trong tay mẹ mình, trước mặt đám quân lính độc ác, nghịch đạo, đang ngơ ngác, không hiểu vì sao hai mẹ con này lại anh dũng đến thế!

gpvinhlong

Virus-free. www.avast.com

------------------------------

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH - NGAY 24-9-2018 PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Sep 23 at 11:37 PM

ĐỨC TIN VÀ PHÉP LẠ

Mặc dù Thiên Chúa đầy quyền năng và tình thương có thể cho các phép lạ xảy ra bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu, nhưng thực sự Người không bao giờ muốn thực hiện các phép lạ một cách tràn lan.

Suốt chiều dài lịch sử của Hội thánh, các Ki-tô hữu không ngừng được nghe nói đến hoặc chứng kiến và cảm nghiệm khá nhiều phép lạ xảy ra đó đây trên khắp thế giới. Sở dĩ các phép lạ được phép xảy ra là vì Thiên Chúa muốn bày tỏ cho con người về ý định cứu rỗi, quyền năng và tình thương quan phòng của Người. Phép lạ là một thứ ngôn ngữ và dấu chỉ cho thấy rằng "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1, 37).

Tuy nhiên Hội thánh cũng lưu ý rằng có nhiều trường hợp xảy ra những sự kiện tôn giáo được xem là "lạ" nhưng không được công nhận là phép lạ. Bởi vì xưa nay Hội thánh rất thận trọng trong việc khẳng định một sự kiện nào đó là phép lạ. Hội thánh luôn cân nhắc cũng như căn cứ trên một số tiêu chuẩn và điều kiện nhất định. Chúng ta nên lưu ý là, "Trong ngôn ngữ của Giáo hội, tiếng 'phép lạ' dùng để dịch danh từ 'Miraculum' tiếng La-tinh. Theo nguyên ngữ, nó ám chỉ một hiện tượng khác thường, gây ra ngạc nhiên, thán phục... Trong ngôn ngữ thần học thì để một sự kiện có thể gọi là phép lạ, cần hội đủ hai điều kiện: 1- thứ nhất, việc đó mang tính cách khác thường; 2- thứ hai, nó do Chúa làm ra. Hai điều kiện đi đôi với nhau thì mới được nhận là phép lạ" (Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P, bài "Phép lạ là gì?", nguồn daminhvn.net).

Để trả lời câu hỏi "Phép lạ là gì?", ĐGM José Luis Gutierrez thuộc Bộ Phong Thánh, tháng 10-2003 đã giải thích rằng "Đối với những nhà thần học, phép lạ 'thông truyền một thông điệp cứu độ, đó là một điều phi thường đặc biệt làm mọi người khâm phục, một biến cố vượt trên những luật vật chất. Mục đích của phép lạ không nhằm gây thán phục nhưng là thông truyền một thông điệp cứu độ'. Dưới khía cạnh học thuyết, ĐGM Gutierrez nói rõ rằng 'chỉ có Thiên Chúa mới làm phép lạ, Mẹ Maria và các thánh can thiệp vào'. Theo thánh Tô-ma, 'phép lạ vượt trên thiên nhiên được tạo dựng và chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm được,' ngài cũng nói: 'những phép lạ thật chỉ có thể xảy ra do nhờ Thiên Chúa' " (LM An-tôn Nguyễn Trường Thăng, bài "Phong thánh: Chỉ cần một phép lạ thôi", nguồn tgpsaigon.net).

* PHÉP LẠ CỦNG CỐ ĐỨC TIN

Phép lạ có một vai trò đặc biệt trong đời sống Ki-tô hữu chúng ta. Nó giúp củng cố niềm tin và loan báo một sứ điệp nào đó cho con người. Mặc dù Thiên Chúa đầy quyền năng và tình thương có thể cho các phép lạ xảy ra bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu, nhưng thực sự Người không bao giờ muốn thực hiện các phép lạ một cách tràn lan. Phép lạ chỉ thực sự xảy ra khi cần thiết và luôn có chủ đích. Mục đích của phép lạ luôn là thông truyền một thông điệp nào đó mà Thiên Chúa muốn gửi đến cho con người. Chẳng hạn năm 1917 từ Fatima, Đức Ma-ri-a đã truyền đi thông điệp cho cả thế giới, như một điều kiện khẩn thiết để thế giới được hòa bình: "Hãy siêng năng lần hạt; hãy cải thiện đời sống; hãy tôn sùng Trái Tim Mẹ".

Do đó, có thể suốt cuộc đời mình, Ki-tô hữu chúng ta không có dịp "nhìn" thấy phép lạ tỏ tường hay được hưởng những ơn đặc biệt do các phép lạ, nhưng chúng ta vẫn xác tín phép lạ là có thật vì chúng ta tin vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Mặt khác, chính đức tin soi sáng cho chúng ta biết ý nghĩa đích thực của các phép lạ Chúa làm.

Đức Giê-su, khi đi rao giảng về Tin Mừng Nước Thiên Chúa, ngoài việc trừ quỷ, ngài cũng đã làm nhiều phép lạ như hóa bánh ra nhiều, biến nước lã thành rượu ngon, chữa lành các bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, truyền khiến sóng gió im lặng vv... Một mặt các phép lạ Chúa làm đã giúp củng cố lòng tin của các môn đệ về những mạc khải của Ngài, mặt khác cũng giúp chứng minh hùng hồn về nguồn gốc thiên tử và sứ mệnh thiên sai của Ngài. Thực vậy, "Qua các phép lạ, Đức Giê-su chứng tỏ rằng Vương Quốc Đấng Massia được các sứ ngôn loan báo, đã hiện diện nơi chính bản thân Người (Mt 11,4 tt). Người làm cho người ta phải lưu ý đến Người và đến Tin Mừng của Vương Quốc mà Người là hiện thân. Người khơi dậy sự ngưỡng mộ và lòng kính sợ tôn giáo khiến con người phải tự hỏi xem Người là ai (Mt 8,27; 9,8; Lc 5,8 tt)" (x. Mục từ "Phép lạ", Điển ngữ Thần học Thánh Kinh GHHV Pi-ô X Đà-lạt).

Ngày nay, trong nhiều trường hợp, phép lạ đã khơi dậy niềm tin nơi nhiều người, kể cả các Ki-tô hữu cũng như những người lương dân. Nhiều người Công giáo đã bỏ đạo hay đang sống khô khan nguội lạnh, sau khi chứng kiến các phép lạ, họ thành tâm ăn năn thống hối, cầu nguyện và đã được nhiều ơn lành Chúa ban, đã trở lại với Chúa và có một đức tin mãnh liệt. Chúng ta đã nghe nói nhiều đến các ơn lạ từ phép lạ Đức Mẹ hiện ra tại Fa-ti-ma, tại Lộ-Đức, hay tại La-Vang vv... Tại đây có nhiều người đến cầu nguyện, đã được khỏi các bệnh-tật, đã được những ơn lành cầu xin, họ trở thành các chứng nhân sống động về quyền năng và tình thương của Thiên Chúa cũng như về sự cầu bầu hiệu nghiệm của Đức Ma-ri-a. Trong khi đức tin giúp soi sáng ý nghĩa và mục đích của phép lạ, thì các phép lạ giúp phát sinh lòng tin và sự hoán cải.

* PHÉP LẠ TRONG ĐỜI SỐNG KI-TÔ HỮU

Chúng ta phải khẳng định một điều là đức tin cần thiết cho đời sống Ki-tô hữu hơn là phép lạ. Có thể nói đức tin là yếu tố tiên quyết để phép lạ xảy ra. Nhất là nếu chỉ dựa vào phép lạ mới tin thì đó là dấu chứng tỏ đức tin chưa hoàn hảo (x. Ga 10, 38 ; 14,11). Chính Chúa Giê-su cũng thường xuyên nhấn mạnh đến vai trò của đức tin đối với các môn đệ và những người đi theo Ngài. Chẳng hạn Ngài nói về sức mạnh của lòng tin, "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: 'Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mọc', nó cũng sẽ vâng lời anh em " (Lc 17, 6). Và câu chuyện sau đây cũng cho thấy chính lòng tin vào Đức Giê-su đã chữa lành bệnh, "Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người, vì bà nghĩ bụng: 'Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu!'. Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói: 'Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.' Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa." (Mt 9, 20-22).

Có thể nói phần đông các tín hữu chúng ta rất nhiệt tình đối với các sự lạ xảy ra nơi này nơi kia. Ngay cả đối với những sự kiện có thể là "lạ" nhưng chưa được giáo quyền công nhận, cũng vẫn gây sự quan tâm của nhiều người và thu hút họ đến các địa chỉ "thánh địa" để hành hương, chiêm ngưỡng và cầu nguyện. Chẳng hạn, tại Việt-Nam, thường xuyên vẫn có nhiều đoàn hành hương đi đến các địa điểm được truyền tụng là đã xảy ra các phép lạ của Đức Mẹ, như La-Vang, Tà-Pao, La-Mã (Bến Tre), Măng Đen (Kon-tum) vv...

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý đến điều này là, "Thật đáng buồn là có không ít các Ki-tô hữu giữ đạo chỉ vì phép lạ. Họ xem Chúa như một người làm phép lạ để phục vụ cho những nhu cầu của mình. Nơi nào xảy ra nhiều phép lạ, họ càng kéo đến đông, càng tỏ vẻ cung kính và quảng đại dâng hoa, dâng tiền bạc. Điều này chẳng những không giúp nhiều cho đời sống thiêng liêng mà còn biến tôn giáo của chúng ta thành một kiểu buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan và hạ thấp những chân lý đức tin. Dĩ nhiên, chúng ta có quyền xin Chúa thực thi những phép lạ, giúp dàn xếp những bất ổn trong gia đình, giúp chữa lành bệnh, giúp vượt qua khó khăn hoạn nạn...

Nhưng chúng ta không nên xem phép lạ là điều kiện tối cần thiết phải có để tin vào Chúa. Cầu xin là việc ta cần làm, còn việc có ban cho ta theo lòng ta sở nguyện hay không là chuyện của Đấng Toàn Tri và Toàn Năng là Thiên Chúa. Ngài thừa biết điều gì tốt cho ta và khi nào ban cho ta thì có lợi cho ơn cứu độ của ta hơn" (Pr. Lê Hoàng Nam SJ, bài "Phép lạ, liệu có thật?", nguồn dongten.net)./.

Aug. Trần Cao Khải

---------------------------------

 
NGOI TIN HUU TRUONG THANH -THANH MAT TONG DO PDF Print E-mail

Kristie Phan

THÁNH MATTHÊU, TÔNG ĐỒ, THÁNH SỬ
Ít có ai chuộng người thu thuế. Vào thế kỷ I tại Palestine điều này còn rõ hơn nữa, khi mà họ thủ lợi được nhờ dọa dẫm và gian dối. Nhưng dù có lương thiện đi nữa nhân viên thu thuế cũng không được cấp lãnh đạo Do Thái chấp nhận vì họ làm việc cho lương dân. Họ là người nhơ uế theo luật pháp và bị loại khỏi xã hội. Khi nhận một người thu thuế vào môn đồ của Người, Chúa Giêsu quả đã khinh thường tiên kiến của dân chúng.

Điều cần ghi nhận là Matthêu không phải đi từ cửa nhà này tới cửa nhà khác để thu thuế. Ông có một văn phòng tại Capharnaum, thành phố quê hương của Phêrô và đại bản doanh của Chúa Giêsu khi thi hành sứ vụ tại Galilê.

Đi ngang qua, Chúa Giêsu thấy Lêvi con của Alphê ngồi nơi s��� thu thuế và Người nói: "Hãy theo Ta" và ông đứng dậy đi theo Người" (Mc 2,14).

Đó là lời mời gọi làm tông đồ, rất giống lời gọi dành cho Simon và Anrê (x. Mc 1,16t). Dầu vậy, Lêvi không có tên trong danh sách nhóm mười hai (x. Mc 3,16; Mt 10,3; Lc 6,14t; Cv 113). Ơn gọi người thu thuế được ghi lại trong Tin Mừng thứ nhất, trong đó ông được gọi là Matthêu (x. Mt 9,9tt). Như vậy, tông đồ đồng hoá mình với Mathêu có trong danh sách các tông đồ. Lời giải thích tự nhiên được tiếp nhận rộng rãi là Matthêu với Lêvi chỉ là một người với hai tên gọi khác nhau. (Chẳng hạn anh em Macabê, 1 Mcb 2,2-5). Cũng có thể chính Chúa Giêsu đã đặt tên cho Matthêu như đã đặt tên Phêrô cho Simon (Mattai theo tiếng Aramêô có nghĩa là ấn bản của Thiên Chúa).

Từ đó Matthêu bỏ sổ sách và học theo hoa đồng và chim trời, những thứ không thể tính toán cho đời sống mình (x. Mt 6,25tt). Chủ nhân của ông không còn là Antipas, con cáo gian xảo (x. Lc 13,32) mà là một Đấng khác hẳn loài cáo, lại chẳng có lấy một căn nhà (x. Mt 8,20). Sự thay đổi đã hủy diệt trọn tương lai trần gian của Matthêu. Simon và Andrê còn có thể trở lại với nghề chài lưới, còn Matthêu bị tống khứ khỏi nghề cũ và không thể trở lại được nữa. Trong cộng đoàn tông đồ không phải ông mà là Giuda giữ quỹ của nhóm (x. Ga 13,29).

Sau khi được gọi, Matthêu biến dạng khỏi Tân ước và chỉ còn để lại tên trong danh sách các vị Tông đồ. Ngài đã ra thế nào? Chúng ta có được một câu văn của Giám mục Papias trong cuốn giải thích Lời Chúa (khoảng năm 125): "Matthêu viết một tường thuật có thứ tự về Lời Chúa, theo năng khiếu của ngài" (Eusebiô, Lịch sử Giáo Hội III, 39). Cuốn Tin Mừng Matthêu viết bằng tiếng Aramêô cho người Do Thái trở lại. Khi thời thế đòi hỏi, con người Matthêu bị xã hội loại bỏ ấy đã cầm lấy viết để trước tác cuốn "Tin Mừng theo Thánh Matthêu."

Theo bản văn tiếng Hy Lạp còn lại, chúng ta thấy tính khí theo toán học với những con số rõ rệt: 7 dụ ngôn về nước trời, 7 lời nguyền rủa bọn biệt phái, 7 lời cầu trong kinh Lạy Cha, và có lẽ 7 mối phúc thật. Cả con số 5 nữa: 5 cuộc tranh luận với biệt phái, 5 chiếc bánh, 5 lượng vàng, nhất là 5 phần của cuốn sách. Sau cùng như chúng ta mong đợi có dấu chỉ về sự hiểu biết tinh tường về phương diện tài chính như đồng bạc nộp thuế thay vì đồng "denarius" trong Mác-cô và Luca hay như thuế đền thờ, với những loại thuế gián thu, thuế phân...

Như vậy, Matthêu đã chuyển nghề nghiệp cũ vào một việc phụng sự mới, từ người kế toán thành người viết Tin Mừng. Thật không ngạc nhiên gì khi một mình ngài ghi lại lời này của Chúa: "Phàm ký lục nào đã được thụ giáo về Nước Trời thì cũng giống như gia chủ biết rút từ trong kho của ông ra điều mới và điều cũ" (Mt 13,52).

Không có khí cụ hèn hạ nào của chúng ta mà lại không được dùng một cách hoàn hảo và xứng đáng vào việc phụng sự Chúa.

Cuốn Tin Mừng thứ nhất là một kỷ vật của Thánh Matthêô được Giáo Hội ưa chuộng. Nhưng công cuộc tông đồ sau này của ngài lại bị mai một. Ngài đã rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái tại Palestina có lẽ trong 15 năm (Eusebiô, Lịch sử Giáo Hội III, 24,265) nhưng sự lầm lẫn giữa tên ngài với thánh Matthias (x. Cv 1,26) làm chúng ta lưỡng lự giữa những truyền thống khác nhau. Ethiopia, Parthia, Macedonia và cả những xứ của những kẻ ăn thịt người đều được ghi nhận là nơi thánh nhân đã làm việc tông đồ.

Thường người ta cho rằng: ngài chịu tử đạo, nhưng ý kiến cũng không được đồng nhất. Điều chắc chắn là ngài đã sống đời của một vị tử đạo và thế là đủ. Đối với chúng ta, ngài luôn luôn là một người đã biết được tiền của là gì, lẫn việc không có tiền của là gì.

Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

-------------------------------

 

 
NGUOI TIN HUU TRUONG THANH - MEN THANH GIA PDF Print E-mail

nguyenthi leyen  - 14/09 – Thứ sáu tuần 23 thường niên – Suy Tôn Thánh Giá. Lễ kính.

* Lễ Suy Tôn Thánh Giá được cử hành sau lễ Cung Hiến Thánh Đường Phục Sinh, được xây ở Giê-ru-sa-lem trên mồ thánh (335). Từ cõi chết phục sinh, Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết.

Thánh giá của Người tiêu biểu cho cuộc chiến thắng này. Truyền thống còn thấy ở đây dấu chỉ của Con Người, Đấng sẽ xuất hiện trên trời để loan báo ngày Người trở lại.

Lời Chúa: Ga 3, 13-17: CON ĐƯỜNG VỀ TRỜI

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng Nicôđêmô rằng: "Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời.

"Quả thật, Thiên Chúa đã yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một Người, để tất cả những ai tin vào Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ".

Suy Niệm : Thập Giá, con đường về trời

Chúa ban cho chúng ta mỗi người một khuôn mặt, bất kỳ lúc nào cũng có thể ngước nhìn lên trời. Khi thức cũng như khi ngủ, và ngay cả khi đã bị chôn vùi trong lòng đất, mặt chúng ta cũng vẫn còn hướng lên trời.

Vậy hướng lên trời để làm gì? Tôi xin thưa là để chúng ta nhớ rằng chúng ta còn có một người Cha đang mong chờ chúng ta, cũng như để chúng ta xác tín rằng Nước Trời mới chính là quê hương đích thực của chúng ta. Vậy thì để tìm về với Chúa, để đạt tới quê hương Nước Trời, chúng ta phải làm gì?

Hẳn chúng ta còn nhớ có lần Chúa đã xác quyết: Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Thế nhưng con đường ấy như thế nào? Phải chăng là một con đường ngợp những cánh hoa. Tôi xin thưa không phải là như thế, nhưng là một con đường vừa khúc khuỷ, vừa nhỏ bé mà ít người muốn đặt chân vào. Và cụ thể hơn nữa, đó là con đường đau khổ, con đường thập giá như lời Người đã xác quyết: Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta. Đó là con đường duy nhất, rẽ ngang vào một lối khác, chắc chắn thế nào chúng ta cũng bị lạc.

Thực vậy, muốn được vào Nước Trời, chúng ta phải có công nghiệp, mà muốn có công nghiệp, chúng ta phải vác lấy thập giá mình. Công nghiệp của chúng ta mặc dù là nhỏ bé nhưng lại là một sự cộng tác cần thiết cho chính bản thân chúng ta được cứu rỗi. Bởi đó chúng ta đừng vội lẩm bẩm kêu trách mỗi khi gặp phải những gian nguy thử thách. Trái lại hãy coi đó là một diễm phúc vì được làm chính việc của Chúa, vì được cộng tác với Chúa trong chương trình cứu độ. Hơn nữa những khổ đau chúng ta phải chịu trong cuộc sống hiện tại, sẽ không thể nào sánh ví được với hạnh phúc trường tồn vĩnh cửu mà chúng ta sẽ được đón nhận trên quê hương Nước Trời.

Có một vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng vắng, ngày đêm không lúc nào ra khỏi chiếc lều ẩm thấp và chật hẹp. Ấy là chưa kể đến những hình khổ mà thầy dùng để đánh tội. Ngày kia có mấy người quý phái đến thăm, họ hết sức ngạc nhiên khi thấy thầy hãm mình một cách nghiêm ngặt. Họ hỏi thầy làm sao mà thầy có thể chịu đựng nổi. Thầy bèn chỉ vào một kẽ nứt bằng bàn tay trên vách núi và nói: Chính cái đó đã giúp đỡ tôi. Vì mỗi khi thân xác tôi muốn nổi loạn, thì qua kẽ nứt ấy tôi nhìn thấy bầu trời, và qua bầu trời tôi nhớ tới quê hương vĩnh cửu và đích thật của tôi.

Thực vậy, những giọt nước mắt ngày hôm nay nhỏ xuống, thì ngày mai sẽ kết thành những trái chín của hạnh phúc Nước Trời, bởi vì nhờ những giọt nước mắt khổ đau ấy mà chúng ta trở nên giống Đức Kitô. Hay như lời thánh Phaolô đã nói: Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô thì chúng ta cũng sẽ được sống lại với Người.

---------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 44