mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3111
mod_vvisit_counterHôm Qua7046
mod_vvisit_counterTuần Này10157
mod_vvisit_counterTuần Trước49761
mod_vvisit_counterTháng Này167353
mod_vvisit_counterTháng Trước157742
mod_vvisit_counterTất cả9225660

We have: 85 guests online
Your IP: 54.224.202.184
 , 
Today: Sep 25, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Tìm Gặp Chúa Thật Nhanh
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 14 = LEN DUONG PDF Print E-mail

Nước Mắt và Hạnh Phúc (Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện của Linh Mục
Hong Nguyen
Jan 27 at 1:57 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

- 13 -

Lên Ðường

Ðường là để đi. Ðường là để đi nghĩa là đường sẽ dẫn đến nơi nào đó. Bản tính của đường là để đi, nên đường không bao giờ là nơi cư trú, mà là để dẫn đến nơi cư trú. Như vậy, kẻ dùng đường làm nơi cư trú thì chẳng bao giờ đến nơi cư trú của mình. Tôi phải xác định với lòng tôi: cuộc sống hôm nay là đường đến một quê hương khác? Nếu cuộc sống hôm nay không phải là cùng đích, mà tôi lại chọn làm nơi cư trú, tức là tôi chẳng lên đường để đến nơi tôi phải đến. Lối đi hôm nay của tôi có là đáp trả tiếng gọi của Chúa? Nếu không, mà tôi chẳng lên đường theo tiếng gọi là tôi đang làm ngơ, đang cố quên đường về.

Phải rẽ lối khai quang mới thành đường đi. Sở dĩ có người rẽ lối khai quang để làm đường đi vì họ muốn đến một nơi nào đó. Nghĩa là họ muốn tìm kiếm. Như thế, trước hết, trái tim họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải mở rộng cho một chân trời bước tới. Sẽ không có đường đối với kẻ không muốn tìm kiếm. Và ước mơ lên đường mà không lên đường thì cũng không thành đường đi.

- Có ai không cần tìm kiếm vì đã dư thừa?

- Có ai không cần lên đường vì đã gặp gỡ?

Ước mơ hạnh phúc là dấu hiệu hạnh phúc đang vắng mặt. Nguyện cầu cho hết phân ly là nói một cách khác họ đang khao khát được xum họp. Khổ tâm khi thấy người thương mến của mình gặp bất hạnh nghĩa là kẻ đó đang thiếu thốn, và mình cũng chẳng đủ quyền năng cho họ hạnh phúc. Khi tôi lo âu là lúc tôi có vấn đề. Ai trong cuộc sống mà lại chẳng có lúc âu lo? Tất cả đấy là những dấu hiệu giới hạn của con người, những thiếu thốn mà con người đang đi tìm.

Và như thế, ai cũng cần phải lên đường, ai cũng phải tiếp tục tìm kiếm. Ðời là cõi rộng mênh mông. Sống là đi. Mục đích là gặp điều tôi mong mỏi.

Nhưng đi về chốn nào? Trong cõi rộng mênh mông ấy, đâu là đường?

Chắc chắn không thể là tôi. Vì tôi có thể ban tặng cho mình được những gì tôi thiếu thốn thì tôi đã chẳng còn bao giờ ước mơ nữa. Nếu tôi không thể đến một nơi nào đó để lấy được những gì tôi mong mỏi, như vậy, cũng có nghĩa là tôi không thể tự làm đường đi cho mình được. Chắc chắn cũng không thể là người chung quanh tôi vì họ cũng thiếu thốn như tôi.

Vậy, ai có thể giúp tôi đạt được những điều thiếu thốn đó?

"Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống" (Yn 14,6). Ðường của cuộc đời tôi đi là Chúa. Những gì tôi thiếu thốn và lo âu đều liên quan đến hạnh phúc của tôi. Khi Chúa nói Chúa là sự sống, có nghĩa Chúa là hạnh phúc tôi đang túng thiếu. Khi Chúa nói Chúa là đường, có nghĩa là để dẫn tôi tới hạnh phúc đó.

Kinh nghiệm cho thấy hạnh phúc có thể thỏa mãn những thao thức sâu kín nhất trong tâm hồn tôi không hệ tại sự giàu có, người yêu, những gì trong phạm vi trần thế. Nếu vậy thì phương cách để đạt được hạnh phúc có thể thỏa mãn tâm hồn tôi cũng không thể đến được từ trần gian. Hạnh phúc ấy thuộc về phạm vi siêu nhiên, vượt tầm sáng tạo của nhân loại. Cho nên, con đường dẫn tới hạnh phúc đó cũng phải là siêu nhiên, không thể là sản phẩm của con người. Trong ý nghĩa này, Chúa là cùng đích và cũng là phương tiện dẫn tới cùng đích. Chúa là hạnh phúc và cũng là đường dẫn tới hạnh phúc.

*

* *

Lạy Cha, Cha đã tỏ cho con biết Cha là đường của con. Ðường đã có rồi. Sự thật và sự sống đã có rồi. Nhưng con cần Cha dọn cỏ, mở lối cho con. Cỏ tối tăm và cỏ nguội lạnh là những giây leo rừng chằng chịt che kín lối. Và con đã không thấy đường. Cha là sự thật, nên không có loại cỏ tối tăm nào có thể che kín. Cha là sự sống nên không loại gai nào có thể làm nghẽn lối. Giây gai làm nghẽn lối, cỏ dại che kín đường không mọc ở đường đi, nhưng mọc trong chính trái tim con. "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy" (Mc 10,51). Cha đã mở mắt và người mù đã thấy đường đi. Một lần nữa, hành động của người mù cũng lại khởi đầu bằng ước mơ: ước mơ được sáng mắt. Ðiều ấy cũng hàm nghĩa là anh ta luôn luôn muốn tìm kiếm ánh sáng. Nếu anh ta không muốn lên đường. Nếu anh ta chọn thế giới mù làm quê hương. Nếu anh ta cư trú trong thế giới bóng đêm ấy và chẳng muốn bước tới nữa thì chắc chắn anh sẽ chẳng bao giờ thấy mặt trời. Ðời anh sẽ tẻ nhạt biết bao. Ðời con cũng vậy. Con phải lên đường. Ngày nào con cũng có lầm lỗi. Ngày nào cũng có bóng đen của ghen tương, bóng đen của thèm muốn bất chính, bóng đen của lo âu thiếu tin tưởng. Ngày nào con cũng có mù lòa. Vì thế, con cần Cha mở mắt cho con hàng ngày. Và, con phải lên đường mỗi sớm mai.

*

* *

Mơ ước lên đường thì bao giờ cũng đẹp. Nhưng để thực hiện lên đường lại không dễ. Những hạnh phúc đẹp chỉ dành cho những tâm hồn dám lên đường tìm kiếm. Muốn nhìn vũ trụ mênh mông phải giã từ mặt đất, cất cánh theo chim trời. Nếu con sâu cứ lặng lẽ sống dưới măt đất với loài trùng, thì nó chẳng có lý do để oán trách sao cuộc đời chung quanh chỉ là mùi ẩm của đất, mùi mốc của cỏ. Nó phải hóa thân thành cánh bướm. Và, lúc đó người ta sẽ ngước mắt nhìn theo. Tất cả vũ trụ là của nó. "Trong tà ác tôi đã sinh ra, và đã là tội lỗi từ khi mới là thai nhi trong lòng mẹ" (Tv 51,7). Ðó là hình ảnh tôi sinh ra trong thân phận sâu. Sinh ra trong thân phận sâu, nhưng lại không để làm sâu, mà được kêu gọi hóa thân làm bướm. "Ta đã chọn các ngươi từ giữa thế gian" (Yn 15,19; 17,16).

*

* *

Lên đường nào cũng có giã từ, vì thế mới có ngần ngại. Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ. Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu. Những rung cảm bất chính đã ở trong dòng máu của tôi. Bây giờ tôi phải từ bỏ. Những liên hệ không ngay lành, nhưng cho tôi thú vui trần thế. Bây giờ tôi phải cắt đứt. Lười biếng là một thứ quyến dũ như bếp lửa trong chiều đông, nó giữ chân tôi lại. Bởi, lên đường là mở cửa đi ra, ngoài kia có gió lạnh làm tôi ngại ngùng. Muốn được người ngưỡng mộ, tôi tạo ra khuôn mặt đẹp mà tâm hồn tôi không có. Bây giờ, lên đường, nghĩa là tôi phải sống thật với tôi. Trở về chấp nhận khuôn mặt nghèo nàn của mình là điều tôi không muốn. Ðể người biết khuôn mặt thật của mình là điều tôi không dám. Bước tới để thay đổi tâm hồn là một giá tôi phải trả. Là một lên đường đòi nhiều can đảm.

Những biến cố thay đổi cuộc sống của một tâm hồn trong Phúc Âm đều là những biến cố lên đường. Chúa đã dùng những hình ảnh lên đường cụ thể, lên đường bằng đôi chân bước trên cát bụi để diễn tả cuộc lên đường nội tâm. "Ði dọc theo bờ biển Galilêa, Ngài thấy Simon và Anrê dang quăng chài dưới biển. Ðức Yêsu nói với họ: Hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi là ngư phủ bắt người. Tức khắc, họ đã bỏ chài lưới mà theo Ngài. Ði xa một ít, Ngài thấy Yacôbê và Yoan em ông, cả hai đang vá lưới dưới đò. Ngài gọi họ. Và họ đã bỏ cha họ và những người làm công mà theo Ngài" (Mc 1,16-20). Phúc Âm thuật lại, sau khi theo Chúa rồi, nhiều lần Phêrô vẫn còn thả lưới. Như vậy, đáng lẽ Chúa phải bảo Phêrô mang lươí theo kẻo mai mốt lại tốn tiền mua lưới khác. Nhiều lần Chúa phải dùng thuyền mà đi. Sao Chúa không dặn Phêrô giữ lấy thuyền vì mai mốt cả Thầy trò vẫn còn cần tới.

Họ đã bỏ lại tất cả.

Họ đã bỏ lại tất cả, phải chăng lưới mà Yacôbê đang vá lưới của những toan tính thiếu niềm tin vào Chúa, là mạng nhện đam mê gắn liền với tâm hồn tôi như áo tôi mặc. Tôi chẳng muốn bỏ. Mỗi mũi kim vá là một lần tôi níu kéo, bám theo. Phải chăng thuyền của Phêrô là những nét xấu như một thứ quê hương tôi đang sống ở trong. Tôi đang an phận với quê hương ấy?

Lạy Cha, Simon và Anrê, Yacôbê và Yoan đã lên đường. Khi nghe Cha gọi, họ đã tức khắc bỏ chài lưới mà lên đường. Không lưỡng lự. Dứt khoát. Hình ảnh của những cuộc lên đường đẹp quá. Lên đường của những kẻ muốn tung cánh trong tự do bát ngát như thập giá không chịu khuất phục sự chết. Lên đường của những bàn chân không biết mỏi khắp cánh đồng Galilêa. Lên đường không phân vân như mặt trời bình thản đẩy bóng tối lại đàng sau.

*

* *

Lạy Cha, nếu không lên đường, chắc hẳn Phêrô chẳng gặp Cha, đã không được Cha huấn luyện và tâm hồn Phêrô đã nghèo nàn lắm. Trong cuộc sống của con, Cha đã gọi. Con cũng đã lên đường, nhưng con không can đảm như Anrê, như Yacôbê. Lưới đời của con dầy mắt, những mắt lưới mà con nghĩ là sẽ bắt được nhiều cá: cá bằng cấp, cá danh vọng, cá sắc đẹp, cá giàu có, cá tình yêu. Mỗi lần bắt hụt vì lưới bị rách là con lại cặm cụi ngồi vá. Có bao giờ con đã quá chú ý cúi mặt vá lưới đến nỗi Cha đi qua, Cha gọi mà con chẳng nghe gì?

Kính chuyển

Hồng

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 13 = GHEN GHET-DO KY PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] GHEN GHÉT & ĐỐ KY PHÁ HOẠI CÁC CỘNG ĐỒNG
Anthony Quang Dinh

CHẤT ĐỘC GHEN GHÉT & ĐỐ KY PHÁ HOẠI CÁC CỘNG ĐỒNG
ĐỨC THÁNH CHA SUY NỊÊM
By Elise Harris
Vatican City, ngày 22-01-2014/ 10:41am (EWTN News/CN A)

Trong bài giàng của Người, Đức Thánh Cha đả cảnh giác chống lại những hỉêm nguy của tính ganh (ghen) tỵ, đố kỵ, cái đó chính là một tội nó nụôi dưỡng mối thù hận chống lại những anh chị em, nó dập tắt nìêm vui và kềm hãm chúng ta khỏi sư thành tâm ca ngợi Thiên Chúa.

Khi nào có một ai trong một cộng đồng Kitô giáo trải qua khỏi sự ghen tương, đố kỵ, cộng đồng "chấm dứt chia rẽ: người này chống lại người kia" Đức Thánh Cha đã giảng nghĩa trong Thánh Lễ ngày 23 tháng giêng, nhấn mạnh rằng "đây là một chất độc cực mạnh" – một chất độc mà chúng ta tìm thầy ở trang đầu của Kinh thánh nói về CA-IN."

Cống híên sự nhận xét của người cho những ai tập trung ở trong nhà khách Thánh Marta của Vatican, người đã tập trung bài giảng vào bài đọc thứ nhất theo ngày, trích trong Quỷên Thứ nhất Samuen, đìêu mà Vua Saul (sô) tìm giết Davit bắt nguồn từ tính ghen tỵ đối với Davit chíên thắng Goliat

Sau khi nghe thấy những phụ nữ ca tụng Davit, sự vui vẻ của vua Saul đổi thành bùôn sầu và ghen tỵ, và "chíên thắng vẻ vang đó bắt đầu bị đánh bại trong tâm hồn nhà vua," DTC đã dĩên tả.

Tương tự như "một con giun ghen tương và đố kỵ" đã chui vào lòng của CAIN khi nó giết người em rụôt ABEL, ĐTC nhấn mạnh rằng "Dây là chuỵên ghen tương đố kỵ xẩy ra trong tâm hồn chúng ta.."

Chính là mối lo sợ tàn phá nên không thể có lòng khoan dung mà anh hay chị em có một cái gì đó mà tôi không.

VàThay vì ngợi ca Thiên Chúa vì chíên thắng này như những phụ nữ It-ra-en đã thực hịên," Đức Thánh Cha nhận xét, Vua Saul múôn tự lôi kéo về cho chính minh', tự cảm thấy bùôn cho chính minh'" và hầm âm ỷ những cảm xúc của ông trong nước canh súp hận thù."

"Ghen tương, đố kỵ đưa đến mưu sát, giết người. ghen ghét dẫn đến giết người,"DTC tíêp, và chính là cái cửa này, cái cửa ghen ghét, qua cái cửa ấy tội lỗi đã vào thế gian."

Sự vịêc nổi bật vì sao " sự ghen ghét và đố kỵ mở những cánh cửa" cho "tất cả mọi vấn đề," DTC ghi nhận rằng "Những thứ ấy cũng làm phân rẽ cộng đồng."

DTC tíêp tục mô tả có hai vấn đề rất "rõ ràng" hịên dịên ở trong tâm hồn của ai đó bị mắc bởi tính ghen ghét, đố kỵ(jealousy). người thứ nhất trong họ là "một người thèm múôn (envious), người ghen, rất thèm múôn, là một người cay đắng, khó chịu người này không bíêt ca nhạc là như thế nào, ca tụng như thế nào, (hay la) nhận ra sự vui vẻ như thế nào."

Để ý đến một ai theo cách này, nhận ra chỉ có đìêu người ta có mà chúng ta không có, "dẫn đến mối thù óan, sự thù óan lan rộng ra khắp cả cộng đồng," DTC nêu lên nhắm vào con người với tâm trạng này như "những người đi gieo sự thù óan."

Người thứ hai đến là người "mang sự ghen ghét đố kỵ và them múôn, là người những tin đồn," DTC đã tíêt lộ, làm cho mọi người chú ý rằng khi nào một người trông thấy một ai đó,có một cái gì mà họ múôn (có), sự giải quýêt là thường dìm người ta xúông" cho đến nỗi "tôi có thái độ phấn chấn hơn lên."

""Ngồi lê đôi mách là một dụng cụ thường xuyên được dung trong tình húông này, DTC nhận thấy rằng sau mỗi một tin đồn, "có sự ghen ghét, đố kỵ và them múôn."

"Ngồi lê đôi mách phân rẽ cộng đồng, tàn phá cộng đồng, những tin đồn là những khí cụ của sư dữ, sự ác."

Có bao nhiêu công đồng Công giáo tốt đẹp đang đạt được khá tốt" nhưng mà bị chia rẽ bởi có một thành viên đã cho phép một "con trùn (giun) ghen ghét đố kỵ và thèm múôn" xâm nhập tâm hồn họ. Đức giáo hòang đã than thở.

Khi tính ghen ghét, đố kỵ đến "sự bùôn phìên, óan giận, và ngồi lê đôi mách," DTC giải thích, nêu rõ rằng : một người dưới sự ảnh hưởng của tính thèm múôn "tiêu dịêt"

Đức Thánh Cha kết thúc những suy nịêm, người kêu gọi hãy cầu nguỵên cho "những cộng đồng Công giáo của chúng ta" cho đến nỗi hạt giống ghen ghét, đố kỵ này sẽ không bị gieo vào giữa chúng ta, và sự them múôn không đâm rễ vào tâm hồn ta" hay là" vào giữa những cộng đồng của ta, như thế chúng ta có thế họat động bằng sự ngơi ca Chúa, ngợi ca Chúa với tâm hồn hoan hỉ."

Chính là một ân hụê cao trọng, một ân hụê là không bị lâm vào sự bùôn chán, bị xúc phạm, ghen tỵ, them múôn."

QQ. gõ xong 01232014/03:40pm

__._,_.___

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 12 = NHUNG RANG BUOC PDF Print E-mail

Jan 9 at 5:49 PM
Chúa Giêsu và Phêrô
SIMON PETER
Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

XXIII.
Những ràng buộc giải thoát

Thật, Thầy bảo thật cho con biết, lúc còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, con sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn con đến nơi con chẳng muốn (Gn 21,18).

Hôm nay, chúng ta suy niệm phần kết của cuộc đối thoại cuối cùng giữa Chúa Giêsu và thánh tông đồ Phêrô, như được ghi lại nơi Phúc âm theo thánh Gioan, chương 21 câu 1 đến câu 22. Sau khi đã công khai trao trách vụ chăm sóc đoàn chiên cho Phêrô, Chúa Giêsu tiếp tục cuộc đối thoại như sau:

Thật, Thầy bảo thật cho con biết, lúc còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, con sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng, và dẫn con đến nơi con chẳng muốn.
Chúa nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi Chúa bảo Phêrô: Hãy theo Thầy.
Ông Phêrô quay lại, thì thấy người môn đệ Chúa Giêsu thương mến đi theo sau; ông nầy là người đã nghiêng mình vào ngực Chúa Giêsu trong bửa ăn tối và hỏi: thưa thầy, ai là kẻ nộp Thầy?. Vậy khi thấy người đó, ông Phêrô nói với Chúa Giêsu: thưa Thầy, còn người nầy thì sao? Chúa Giêsu đáp: Giả như Thầy muốn cho người đó còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến con? Phần con, hãy theo Thầy.

Một điểm đáng chúng ta chú ý là Chúa Giêsu Phục Sinh đã hướng nội dung cuộc đối thoại giữa Ngài và Phêrô về tương lai. Xem ra như Chúa đã quên quá khứ lỗi lầm của các tông đồ, và nhất là của Phêrô. Mệnh lệnh căn bản Chúa nhắc lại cho tương lai của Phêrô là: "Phần con, con hãy theo Thầy". So sánh với lời mời gọi lần thứ nhất: "Hãy theo thầy" cũng tại địa điểm nầy, nơi bờ biển hồ Tibêrias, và sau cùng một dấu lạ là mẻ lưới bắt được đầy cá theo lệnh Chúa truyền, thì lời gọi lần nầy: "Phần con, con hãy theo Thầy", mang một dư âm thân tình hơn, vừa đồng thời đậm đà ý nghĩa hơn, sau tất cả những gì đã xảy ra trong thời gian qua, nhất là trong biến cố Thương Khó và Phục Sinh của Chúa. Hơn ai hết, Phêrô hiểu rõ thế nào là Theo Chúa với tất cả những ràng buộc của nó. Nhưng đây là những ràng buộc làm cho con người được tự do, những ràng buộc để giải phóng con người khỏi làm nô lệ cho những tật xấu của mình. Tác vụ "lưới cá nguời ta" ( Hãy theo Thầy, từ nay con sẽ nên kẻ lưới cá người ta), hay trong một ngôn ngữ khác, tác vụ "chăn dẫn các con chiên của Chúa" là một tác vụ phục vụ cho sự cứu rỗi, cho sự giải phóng con người khỏi làm nô lệ cho sự dữ và tội lỗi, là một tác vụ phục vụ cho tình thương, sự thật, sự sống, sự bình an mà Chúa Giêsu Phục Sinh đã thực hiện và muốn dùng các ngài để trao ban cho mọi người: Bình an cho chúng con. Ðể thực hiện tác vụ nầy trọn vẹn, như Chúa Giêsu Thầy mình, thì Phêrô sẽ phải đi cùng một con đường, chia sẻ cùng một vận mệnh của Chúa. Ðó là con đường thập giá. Trong một ngôn ngữ tượng hình dành riêng cho người trong cuộc mới hiểu, Chúa Giêsu Phục Sinh nhắc lại cho Phêrô, điều mà Chúa đã nói trước: Ai muốn Theo Ta, thì hãy từ bỏ mình, vác lấy thập giá hằng ngày mà theo Ta. Giờ đây trong ngôn ngữ khác, nhưng cùng một nội dung, Chúa Giêsu nhắc cho Phêrô: Khi về già, con sẽ dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn con đến nơi con không muốn. Phêrô hiểu Chúa muốn nói gì. Có nguời đồ đệ gần đó, như người trong cuộc, cũng hiểu Chúa muốn nói gì với Phêrô; và như là một chứng nhân của biến cố, người đồ đệ đó đã ghi thêm lời giải thích cho những kẻ đến sau: Chúa nói vậy có ý ám chỉ Ông Phêrô sẽ phải chết cách nào, để tôn vinh Thiên Chúa.

Sự giải phóng thật làm cho con người được tự do thật, sự giải phóng đó đã được thực hiện qua Cái Chết Trên Thập Giá. Chúa Phục Sinh đang đối thoại với Phêrô là bằng chứng hiển nhiên trước mắt cho sự thật nầy. Phêrô được mời gọi sống sự thật nầy, như Chúa đã sống: Phần con, hãy theo Thầy.

Và như chúng ta đã biết, Phêrô đã không lo sợ trốn chạy nữa.

Lạy Chúa, Chúa biết rõ mọi sự, Chúa biết con yêu mến Chúa. Xin cho con được trọn đời theo Chúa, và không sợ sự ràng buộc với Chúa. Xin giúp con hiểu rằng được trói chặt vào Chúa, con sẽ được tự do thật, được sống dồi dào, để phục vụ Chúa và anh chị em một cách hữu hiệu, như Chúa đã nêu gương. Thầy đến để họ được sống, và sống dồi dào, sung mãn. Amen

Msgr Nguyễn văn Tài

Kính chuyển
Hồng

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 11 = DE LAM TONG DO PDF Print E-mail

Jan 8 at 11:43 AM
Chúa Giêsu và Phêrô
SIMON PETER
Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

XXII.
Ðiều kiện thiết yếu
để làm tông đồ Chúa

Simon, con Gioan, Con có yêu mến Thầy hơn những người nầy không? (Gn 21,15).

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh và Phêrô nơi bờ biển hồ Tibêria mang một ý nghĩa thật quan trọng trong cuộc đời của Phêrô cũng như trong lịch sử Giáo Hội Chúa trên trần gian nầy. Chúng ta cần đọc lại trang phúc âm theo thánh Gioan, chương 21, câu 1 cho đến câu 17, như sau:

Sau đó, Chúa Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở biển hồ Tibêria. Chúa tỏ mình ra như thế nầy. Ông Simon Phêrô, ông Toma gọi là Ðiđymô, ông Nathanael nguời Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê, và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simon Phêrô nói với các ông: Tôi đi đánh cá đây. Các ông đáp: Chúng tôi cùng đi với anh. Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy, họ không bắt được gì cả.

Khi trời đã sáng, Chúa Giêsư đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó là Chúa Giêsu. Nguời nói với các ông: Nầy, các người có gì ăn không? Các ông trả lời: Thưa không. Nguời bảo các ông: Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá. Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với Phêrô: Chúa đó. Vừa nghe nói: Chúa đó, Ông Simon Phêrô liền vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ, kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách khoảng gần một trăm thước.

Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Chúa Giêsu bảo các ông: hãy đem ít cá mới bắt được tới đây. Ông Simon Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Chúa Giêsu nói: anh em đến mà ăn. Không ai trong các môn đệ dám hỏi: Ông là ai?, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Chúa Giêsu đến, cầm lấy bánh và trao cho các ông; rồi cá, Nguời cũng làm như vậy. Ðó là lần thứ ba Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi sống lại từ cỏi chết.

Khi các môn đệ đã ăn xong, Chúa Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: Nầy Simon, con ông Gioan, con có mến Thầy hơn các anh em nầy không? Ông đáp: Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. Chúa Giêsu nói với ông: Hãy chăm sóc chiên con của Thầy. Nguời lại hỏi: Nầy Simon, con ông Gioan, con có mến Thầy không? Ông đáp: Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. Chúa nói: Hãy chăn dắt chiên của Thầy. Chúa hỏi lần thứ ba: Nầy Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không? Ông Phêrô buồn, vì Chúa hỏi tới ba lần: Con có yêu mến Thầy không? Ông đáp: Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự. Thầy biết con yêu mến Thầy. Chúa Giêsu lại bảo: Hãy chăm sóc chiên của Thầy.

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô theo tường thuật của Gioan, còn một phần nữa, là phần nói đến vận mạng tương lai của Phêrô trên con đường theo Chúa. Chúng ta sẽ suy niệm trong bài kế tiếp.

Trong giây phút nầy, chúng ta hãy chú ý đến ba câu hỏi của Chúa cho Phêrô và ba câu trả lời của Phêrô: Thưa Thầy có. Thưa Thầy có. Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự. Trong lần đáp thứ ba, Phêrô không đáp một cách quả quyết như tự sức và tự ý ông nữa, nhưng Phêrô nhắc đến chính sự hiểu biết của Chúa về con người mình mà nói: Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự. Thầy biết con mến Thầy.

Chúa biết Phêrô đã chối Chúa, nhưng Chúa cũng biết rõ Phêrô yêu mến Chúa như thế nào. Như một người lỗi phạm đến Chúa và đã được Chúa tha thứ, Phêrô giờ đây tỏ ra khiêm tốn hơn: thưa thầy có, thưa thầy, thầy biết mọi sự, thầy biết rõ con yêu mến Thầy. Ðây là lời Phêrô tuyên xưng công khai trước mặt các môn đệ khác cùng theo Ông đi đánh cá hôm đó -- cả nhóm lúc đó có 7 người -- Phêrô khiêm tốn tuyên xưng công khai tình yêu và lòng trung thành của ông đối với Chúa. Phêrô không quên mình đã lỗi phạm, đã chối Chúa ba lần. Nhưng Phêrô cũng đã cảm nghiệm sự tha thứ của Chúa từ lâu trước rồi, từ cái nhìn của Chúa trong đêm Chúa bị điệu ra xử nơi nhà thượng tế Caipha, và nhất là từ biến cố Chúa Phục Sinh đã hiện ra cho Phêrô trước tiên. Chúng ta không biết chi tiết và nội dung của lần hiện ra nầy, nhưng chắc chắn là có tầm quan trọng đặc biệt, bởi vì biến cố đã được cộng đoàn môn đệ nhắc đến, như là một điểm quy chiếu, một bảo đảm quan trọng cho đức tin vào Chúa Phục Sinh. Phải, Phêrô đã cảm nghiệm được Chúa tha thứ rồi, nên Ông không còn mặc cảm gì với Chúa nữa, mặc dù việc Chúa hỏi ba lần câu: Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không? đã làm Phêrô buồn, vì làm cho Phêrô nhớ đến việc ông đã chối Chúa ba lần. Nhưng việc Chúa hỏi ba lần còn có ý nghĩa khác: theo thói quen của những người thời Chúa Giêsu, lời cam kết quan trọng và chính thức là lời cam kết được lặp lại ba lần. Chúa biết rõ Phêrô yêu mến Chúa như thế nào rồi. Chúa không muốn làm Phêrô mắc cở, hay có mặc cảm trước anh em. Chúa không hỏi Phêrô ba lần về tình yêu của Ông, như thể Chúa nghi ngờ ông, hoặc muốn "trả thù", làm cho Phêrô xấu hổ trước các tông đồ khác. Ðây là giây phút quan trọng và công khai, Chúa trao quyền chăn dắt đoàn chiên Chúa, chiên con, chiên Mẹ, tất cả mọi thành phần của đoàn chiên, trước sự chứng kiến của các môn đệ khác: Hãy chăn dắt các chiên của Thầy. Ðể chu toàn trọn vẹn tác vụ nầy, chỉ có một điều kiện duy nhất cần thiết mà thôi là yêu mến Chúa và trung thành với tình yêu nầy. Chúa muốn một cam kết trọn vẹn, công khai của Phêrô, trước khi lãnh lấy một trách vụ quan trọng, công khai, trước mặt cộng đoàn chứng nhân.

Lạy Chúa, xin dạy con yêu mến Chúa. Xin thương tha thứ những lỗi lầm và gìn giữ con sống trong tình yêu Chúa luôn mãi. Amen.

Msgr Nguyễn văn Tài

Kính chuyển

Hồng

 
TM GAP CHUA THAT NHANH # 8= CUNG VOI GIAO HOI PDF Print E-mail

Jan 7 at 9:14 PM
Chúa Giêsu và Phêrô
SIMON PETER
Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

XXI.
Cùng với Giáo Hội

Quả Thật Chúa Ðã sống lại thật và đã hiện ra cho Phêrô (Luca 24,34).

Biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống biến đổi hoàn toàn các tông đồ nói chung và đặc biệt là Phêrô. Từ đó, chúng ta sẽ thấy Phêrô đứng ra chu toàn vai trò làm "Ðá Tảng", làm thủ lãnh, nhận lấy trách nhiệm Chúa đã trao phó cho. Nhưng sự biến đổi của ngày lễ Ngũ Tuần nầy không phải là một đột xuất. Kể từ giây phút Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta thấy Phêrô đã được các tông đồ nhìn nhận như là một uy tín, một điểm đối chiếu. Những giọt nước mắt sau giây phút lầm lỗi chối Chúa đã thanh luyện con người Phêrô, đã biến đổi tình thương tự phụ, bồng bột nhất thời, trở thành "đầm ấm hơn", sâu xa hơn, có suy nghĩ nhiều hơn, trưởng thành hơn. Chúa Giêsu đã bảo đảm là Ngài luôn cầu nguyện cho Phêrô, để đức tin của Phêrô, sau lúc sa ngã, được củng cố, được trưởng thành và trở thành như là điểm tựa cho đức tin của các tông đồ, của toàn thể giáo hội Chúa. "Trên Ðá Tảng Phêrô, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy."

Khi hai môn đệ bỏ về làng Eâmaus vào sáng Phục Sinh, quay trở lại Giêrusalem, trở về nơi các tông đồ đang tụ họp lúc đó để đưa tin là Chúa đã hiện ra cho họ, thì họ được nghe lời xác nhận: quả thật, Chúa đã sống lại thật và đã hiện ra cho Phêrô. Apparuit Simoni. Những lời ngắn ngủi nầy có ý nghĩa sâu xa hơn chúng ta nghĩ. Tại sao các tông đồ nhắc đến chi tiết: Chúa đã hiện ra cho Phêrô, như là một đáp trả cho lời chứng của hai môn đệ đã nhìn ra Chúa trên đường về làng Eâmaus? Chúng ta có thể nói: chứng tá của Phêrô được mặc lấy tầm quan trọng duy nhất, được dùng làm như là điểm tựa bảo đảm cho đức tin của Giáo Hội Chúa. Chi tiết "Chúa Phục Sinh hiện ra cho Phêrô" được cộng đoàn giáo hội sơ khai quý trọng. Bản văn nơi thơ I Côrintô chương 15, câu 1-7, là một trong những bản tường thuật cổ nhất về lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Phục sinh của cộng đoàn đầu tiên các môn đệ Chúa Giêsu. Lời tuyên xưng đó là: "Chúa Kitô, theo như lời Kinh Thánh loan báo trước, đã chết cho tội lỗi của chúng ta; Ngài được an táng trong mộ, và đã phục sinh vào ngày thứ ba." Rồi sau đó, bản văn nhắc đến những lần Chúa Phục sinh hiện ra, đặc biệt là lần Chúa phục sinh hiện ra cho cộng đoàn 500 người. Và cộng đoàn đầu tiên các môn đệ đó đã nhắc đến chi tiết: Chúa đã được Phêrô nhìn thấy trước, nghĩa là đã hiện ra cho Phêrô trước, rồi mới đến các tông đồ khác. Visus est Cephas. Chứng Tá của Phêrô là uy tín bảo đảm cho đức tin của toàn thể cộng đồng giáo hội Chúa.

Ðây cũng là điểm mà thiên thần Chúa ra lệnh cho hai người nữ đến mộ Chúa Giêsu vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần: Hãy về nói với Phêrô và các môn đệ khác biết... Vai trò của Phêrô luôn được lưu ý đến trước tiên, trước những tông đồ và môn đệ khác.

"Chúa đã hiện ra cho Simon". Chúng ta không biết những chi tiết liên quan đến việc Chúa hiện ra cho Phêrô như thế nào. Nhưng sự kiện và cách thức mà sự kiện nầy được nhắc đến trong cộng đoàn đầu tiên những môn đệ của Chúa Giêsu, là một khích lệ, một bảo đảm cho cả chúng ta ngày nay nữa.

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta được sống trong sự hiệp thông giáo hội, một giáo hội đã được Chúa xây trên Ðá Tảng Phêrô, và trao cho Phêrô chăm sóc. Tác vụ của Phêrô luôn tiếp tục trong lịch sử ngàn năm của Giáo Hội, trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để tác vụ của Phêrô không bao giờ bị lung lai hay sai lầm. Ðó là điều kỳ diệu Chúa thực hiện. Chúng ta hãy hân hoan vui mừng và tin tưởng phó thác vào Chúa.

Lạy Chúa, xin thương củng cố đức tin chúng con, và đừng để chúng con bị tách rời khỏi Chúa, bi lạc xa khỏi những sự thật Chúa đã mạc khải, những sự thật ban sự sống và ơn cứu rỗi, những sự thật mà Chúa đã trao cho tác vụ của Phêrô gìn giữ, mặc dù Phêrô có những khuyết điểm lỗi lầm: Khi con chỗi dậy, thì con hãy củng cố đức tin của anh em con. Amen

Msgr Nguyễn văn Tài

Kính chuyển
Hồng

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 Next > End >>

Page 22 of 24