mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5584
mod_vvisit_counterHôm Qua8689
mod_vvisit_counterTuần Này22853
mod_vvisit_counterTuần Trước75465
mod_vvisit_counterTháng Này210460
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9710026

We have: 156 guests online
Your IP: 54.198.108.19
 , 
Today: Nov 21, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Tìm Gặp Chúa Thật Nhanh
TIM GẶP CHUA THAT NHANH # 17 = THA THU PDF Print E-mail

Today Feb. 5-14 at 1:20 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

- 21 -

Tha Thứ

Có hai thứ mùa xuân, mùa xuân của đất trời và mùa xuân của tâm hồn. Mùa xuân nào thì cũng cần đổi mới. Mới của mùa xuân đất trời là mầm non nẩy lộc. Mới của mùa xuân tâm hồn là sự tha thứ. Tha thứ làm cho mối giây liên hệ đã khô héo hồi sinh, nẩy mầm. Từ đó, cuộc sống thành tươi mát.

Trong khi đi tìm mùa xuân, tôi nghe chung quanh tôi có nhiều tiếng than. Khổ cực của nghèo túng. Dằn vặt của hận thù. Có nhiều loại cay đắng. Ðắng cay vì thất bại làm ăn, vì chuyện gia đình, vì chuyện tình duyên. Ai cũng muốn tránh né nghịch cảnh. Muốn có cuộc sống êm đềm, muốn có một mùa xuân.

Trong các thứ khổ hạnh, giữa những thứ đắng cay, có một thứ rất cay đắng đó là thiếu vắng niềm thông cảm, là một trái tim phải mang hận thù, hận thù người và lo âu người thù hận lại. Khi tôi ghét ai, tâm hồn tôi không còn phẳng lặng nữa. Khi tôi bị người khác ghét, tôi sống trong đề phòng sợ hãi. Cả hai đều là ngục tối. Cả hai đều đánh mất bình an. Người ta đã chẳng thường nói: Thà nghèo nhưng yêu thương nhau thì vẫn hạnh phúc. Vì thế, yêu thương là con đường duy nhất tạo nên bình an và làm cho cuộc sống tươi mát. "Này đây Ta ban cho các con một giới răn mới: các con hãy thương mến nhau" (Yn 13,33).

Có nhiều yếu tố để duy trì một mối liên hệ nhưng yếu tố căn bản vẫn là tha thứ. Người ta chẳng thể yêu nếu không tha thứ, vì tha thứ là ngưỡng cửa mời gọi và tái sinh tình yêu khi mối liên hệ giữa hai người bị sứt mẻ.

Ðã nhiều lần tôi đoan hứa với Chúa, nhưng mỗi lần tôi đoan hứa thì lại như một lời báo trước một sự vấp ngã. Tôi đoan hứa hoài, tôi lỗi lời thề mãi. Nhưng cái lạ lùng trong mối liên hệ giữa tôi và Chúa là Chúa chẳng bao giờ nói rằng Ngài quá mệt mỏi vì tha thứ cho tôi. Nếu Chúa không tha thứ cho tôi được thì tôi cũng chẳng thể yêu Ngài được, bởi tha thứ là lời mời gọi dẫn vào khung trời yêu mến.

Nhìn vào cách đối xử của Chúa, tôi có phải tha thứ cho ai xúc phạm đến tôi không? Câu trả lời có thể là không. Tôi lý luận rằng bởi Chúa là tình yêu vô biên nên Ngài mới tha thứ được. Tôi là con người làm sao có thể tha thứ như Chúa. Xem ra câu nói có vẻ lý luận. Nhưng nếu lắng nghe cõi lòng thì câu trả lời chẳng có vẻ lý luận chút nào cả.

Lý do đơn giản mà tôi phải tha thứ là vì tôi cần được thứ tha.

Chính trong tôi cũng có hai con người: một con người lỗi phạm và một con người công chính. Tôi là một người có nhiều khuyết điểm. Tôi không thể chối từ được điều đó. Tôi được cưu mang trong ảnh hưởng của bao khiếm khuyết. Cuộc đời là nối tiếp những những ý nghĩ bất chính, những hành động sai lạc. Tôi phải chấp nhận thực tại tôi là thế. Chối từ thực tại này là từ chối chính tôi. Chẳng ai có thể từ chối được chính mình, vì sống là nhìn nhận sự hiện hữu của họ. Sự hiện hữu của tôi là tất cả những gì tôi là: sự yếu đuối cũng như con tim biết yêu mến điều thiện hảo. Nếu tôi oán ghét tôi tức là tôi hủy diệt mình. Vì thế, tôi phải tha thứ cho tôi, phải rộng lượng và khoan nhân với mình. Tôi phải cho tôi có cơ hội để làm lại cuộc đời sau khi đã lầm lỗi, chứ không tạo nên trong tôi một bãi chiến trường.

Từ chính tôi, tôi đã hiểu rằng tôi cần được tha thứ. Tôi thương tôi mà tôi vẫn xử dụng tự do cách sai lạc để xúc phạm đến chính tôi, để làm tàn úa mùa xuân bình an trong hồn mình. Như vậy, đối với tha nhân, kẻ mà tôi thường không thông cảm đủ, không hiểu rõ họ thì làm sao tránh xúc phạm đến họ được?

Tôi xúc phạm đến họ thì tôi cần được tha thứ. Có khi tôi cần được tha thứ hơn là họ cần sự tha thứ của tôi.

Khi chối từ tha thứ cho người khác là bảo rằng tôi không cần sự thứ tha. Chỉ có kẻ nào không bao giờ lầm lỗi thì mới không cần được tha thứ. Nếu tôi tự cho mình chẳng bao giờ làm điều sai, khi nào cũng công chính, tôi chẳng cần ai tha thứ, thì tôi đã kiêu ngạo một cách đáng thương hại.

Tha thứ là lời mời gọi duy nhất để tình yêu lớn lên. Tha thứ là cửa ngõ để cho tôi, cho người tôi ghét có cơ hội làm lại mối giây liên hệ đã dập gẫy.

Không tha thứ là tôi đóng chặt cửa ngõ đó để kẻ tôi giận không còn có cơ hội nói rằng họ cũng cùng thân phận yếu đuối, họ cũng cần sự nâng đỡ của tôi. Cái gian nan của con người là sự bất toàn của họ. Tôi bất toàn. Cha mẹ tôi có khuyết điểm. Người yêu tôi không hoàn hảo. Cha xứ bất toàn. Người trong họ đạo bất toàn. Thầy dạy của tôi bất toàn. Bởi bất toàn nên mới có lầm lỗi. Nếu tôi khẳng định chối từ tha thứ cho họ. Tôi đóng chặt tâm hồn mình thì tôi thiệt thòi bởi vì tôi chối từ một tình mến kẻ khác trao tặng, và tôi lại gây thêm một sứt mẻ vì kẻ muốn làm hòa với tôi phải đau khổ vì bị tôi chối từ. Lúc đó, tôi chối từ sự kiên kết trong cùng một thân thể Ðức Kitô. Khi tôi đóng chặt cõi lòng, không chấp nhận tha nhân để họ không đến với tôi được, là tôi tự xây nên một bức tường cao. Ánh nắng thông cảm chẳng thể lọt qua. Tôi sẽ chẳng bao giờ có mùa xuân ấm và hồn tôi sẽ lên rêu ẩm mốc.

Tình thương và mọi mối giây liên hệ trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, giữa cha xứ và giáo dân, giữa những phần tử trong một nhóm, được phong phú hóa bởi tha thứ. Những tình yêu, những mối giây liên hệ tái sinh sau khi được tha thứ thì thường bao giờ cũng rất khác biệt, cũng rực rỡ vô cùng. Nếu Chúa Yêsu không tha thứ cho Phêrô thì họ đã chẳng gắn bó với nhau và Phêrô chắc cũng chẳng sống chết với sứ mạng của Chúa. Sau khi lỗi phạm và được tha thứ, tình yêu của Phêrô đã bừng cháy. Phaolô cũng thế, bởi vì hận thù tôn giáo của Ðức Kitô quá nhiều nên khi được ơn gọi, được tha thứ, Phaolô đã trở nên điên dại trong sứ vụ rao truyền danh Ðức Kitô cho thế giới. Mai Ðệ Liên đã là người tình muôn thuở của Yêsu vì nàng đã cảm nghiệm được yêu thương trong khoan dung.

*

* *

Tôi gặp X một cô bé 15 tuổi học lớp 8 trong lớp giáo lý của tôi. X qua Mỹ với mẹ cách đây mấy năm về trước. Ba của X kẹt lại, nhưng bây giờ đã tới trại tỵ nạn Thailand, tuy nhiên ông lại sống với một người đàn ba khác. Ðiều đó làm X vô cùng đau khổ. Em nói với tôi là em thấy xấu hổ nếu bạn bè của em biết được. Trong buổi nói chuyện đó, X đã khóc. Khi nói với X rằng mùa này là mùa Giáng Sinh, mùa của yêu thương, của biết ơn và tha thứ. Tôi tiếp tục tâm sự với X. Tôi càng nói về yêu thương thì X càng khóc. Chủ nhật sau, X đưa cho tôi một lá thư nhờ tôi xem. Em hỏi tôi nên viết như thế nào. Tôi đọc lá thư và tôi không cầm được nước mắt. Và X cũng khóc theo. Ðây là một đoạn trong lá thư của em.

... con thương Ba. Con mong muốn Ba về với con. Dù Ba đi đâu, nếu Ba bỏ con, thì con cũng vẫn thương Ba. Xin Ba đừng nghĩ rằng con không thích Ba. Nếu Ba chẳng bao giờ gặp con nữa thì con cũng vẫn là con của Ba. Ba đã vất vả để nuôi con từ khi con còn bé. Nên con muốn biết ơn Ba. Con đau khổ vì con chưa bao giờ express cho ba biết là how much con care cho Ba...

Trong lá thư đó, X không viết, nhưng X nói với tôi là có thể Ba của X cũng không hạnh phúc gì ở bên trại, có thể Ba của X cũng có những đau khổ dày vò khác, nên nghĩ tới đó X lại càng thương Ba chứ không oán trách Ba. Ðọc thư, tôi bùi ngùi khôn tả. Tôi không thể góp ý kiến gì với X được nữa, vì đó là tình yêu tuyệt vời rồi.

Ban tối, khi ngồi trong nhà nguyện một mình với Chúa, tôi thấy Chúa đã cho tôi gặp X, để X chỉ cho tôi con đường về yêu thương. Tình loài người bát ngát quá. Tôi thấy mình gần gũi với mọi người chung quanh hơn sau khi tôi gặp X. Bé X đã gặp gỡ Ba của bé trong yêu thương tha thứ, trong nhận thức được sự yếu đuối của con người.

Tôi nghĩ chính trong những yếu đuối, những lầm lỗi của nhau mà tôi gặp gỡ và gần tha nhân hơn là trong sức mạnh, tài năng và ngay cả trong lý tưởng.

Tối hôm đó, trong buổi cầu kinh, tôi nghe như Chúa nói với tôi giống như lời của X viết cho Ba: Cha thương con. Cha mong muốn con về với Cha. Cha không cần biết là bao nhiêu tội con đã phạm. Cha không cần biết con đã làm gì. Dù con bỏ Cha đơn côi một mình trên thập giá, Cha cũng vẫn yêu con. Dù con đẩy Cha vào góc tường và muốn giết Cha thì Cha cũng đành để con giết, chứ Cha sẽ không chiến đấu chống lại con vì Cha thương con.

Tôi thấy mình hạnh phúc quá vì có một Thiên Chúa nhân từ, luôn tha thứ. Trong tha thứ, tình yêu giữa tôi và Chúa rực rỡ hơn. Tôi băn khoăn tự hỏi mình: Làm sao tôi có thể chối từ một tình yêu bao la như thế? Ðây là động lực thúc đẩy tôi đi tới, tôi muốn bước lên cao hơn, muốn thuộc về Ngài nhiều hơn.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Kính chuyển

Hồng

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 16 = DUNG NHO AI GO TOI PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] Noi gương vua Thánh Davit
Anthony Quang Dinh
Feb 3 at 11:08 PM

ĐỪNG NHỜ NGƯỜI KHÁC ĐỂ GỠ TỘI – ĐỨC THÁNH CHA LƯU Ý
By Elise Harris
Vatican City, ngày 03-02-2014/09:29 (EWTN News/CN A)

Trong bài giảng hàng ngày của Người, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói chuỵên về những thái độ riêng tư cá bịêt ta có khi ta đối dịên với những tình húông khó khăn, nói rõ ra rằng đìêu ấy quan trọng không phải để gỡ tội của ta, nhưng để than vãn, ăn năn và tín thác vào Chúa.

"Trong những trương hợp đời sống khó khăn xúât hịên có lẽ trong tuỵêt vọng người ta cố gắng tự bịên minh cho chính nó như nó có thể cũng dùng cả Chúa và dùng dân chúng nữa," Đức Thánh Cha đã giải nghĩa trong bài giảng Thánh lễ ngày 03-02-2014.

Tập trung nội dung bài giảng vào bài đọc thứ nhất, trích từ trong Quỷên thứ 2 Sách Samuen, Đức Thánh Cha thuýêt trình cho những người có mặt tại nhà khách Thanh Martha, ở Vatican, làm nổi bật thái độ của vua Davit trong ánh sáng của "sự phản bội nặng nề" của người con trai ông.

Hồi tưởng lại rằng Vua Davit chọn phương cách bỏ chạy khi nghe tin dân của ông đã hủy bỏ lòng trung trung thành với ông và chuỷên sang người con trai ông là Áp-sa-lom, Đức Thánh Cha đã kéo sự chú ý đến nỗi bùôn phìên của ông Davit khi có cảm nghĩ "giả như đứa con này" của ông "đã chết rồi."

Tuy nhiên, giữa sự bùôn sầu của ông, DTC đã hỏi, ông Davit phản ứng thế nào "trước sự phản bội này của con trai ông?" ghi nhận rằng ông ta có ba thái độ khác nhau trong hòan cảnh.

Theo như "một người cầm quỳên" nhà vua đã hỉêu rõ rằng giả như ông phát động cụôc chíên chống lại con ông thì nhìêu người sẽ chết, vì vậy ông "quýêt định chọn lựa không giết hại dân của ông," DTC nhận xét.

"Đây là thái độ thứ nhất của ông Davit, để tự bịên minh cho chính ông không nhờ đến Thiên Chúa và cũng không dùng đến thần dân, và đìêu này tỏ ra tình yêu của nhà vua với Chúa và với thần dân.

"Một ông vua tội lỗi – ta bíêt sự tích," Đức Thánh Cha nói rõ ra, nhưng chúng ta cũng thấy trong đọan văn này kể ông Davit là "một ông vua có một tình yêu thương cao cả: ông đã gắn bó với Chúa của ông như thế và đã gắn bó với thần dân như thế, nên ông đã không lấy hoặc Chúa hoặc thần dân để bào chữa cho ông."

Thường khi chúng ta bị cám dỗ để nhờ đến hoặc Thiên Chía hoặc người lân cận để bênh dỡ cho chính minh' trong lúc khó khăn, Đức Thánh Cha tíêp tục, nhưng với ông Davit thì không," người nói thêm rằng "thái độ thứ nhất là đây, không nhờ đến Chúa cũng như thần dân của ông."

Nhớ lại trong tâm trí rằng Ong Davit đã leo lên núi cùng với quần thần của ông, DTC ghi nhận rằng ông vừa đi vừa khóc" trên đầu che kín và chân đi không giầy vớ,(chân trần)." đó là dấu hịêu "ăn năn thống hối."

Vịêc leo lên núi này khíên cho ta nghĩ đến cụôc leo lên núi khác của Đức Chúa Giêsu," người "cũng đã đau bùôn, đi chân không," và "với cây thập giá Người đi lên núi," DTC suy nịêm.

Sự nổi bật với thái độ ăn năn, sám hối....ông Davit đã chấp nhận sự phìên mụôn và khóc lóc." Đức Thánh Cha đã làm cho người ta chú ý rằng "chúng ta, một khi có một cái gì xẩy ra trong cụôc đời luôn luôn hãy cố gắng...để tự minh oan cho chính minh."

"Dó là một bản năng ta có," người nói, nhận xét rằng "Ông Davit không tự bào chữa cho chính ông, ông là một người có óc thực tế, cố gắng bảo vệ Hòm Bia Thiên Chúa, thần dân của người và thực hịên ăn năn cho con đường ấy."

"Ông thật là vĩ đại, một tội nhân trầm trọng và là một vị thánh cao cả. Hai sự vịêc ấy nối kết với nhau làm thế nào... Thiên Chúa nhận bíêt!"

Nhớ lại rằng trên con đường của họ leo lên núi,, có một người tên là Simei bắt đầu nguỳên rủa và lấy đá ném vào ông Davit cùng các quần thần, gọi ông Davit một kẻ giết người, DTC kéo sự chú ý đến Ông Davit từ chối để cho bầy tôi giết người đàn ông.

Thay vì "chọn hành động trả thù chống lại bíêt bao đìêu sỉ nhục, lăng nhục" Ông Davit chọn: "tự phó thác chính ông cho Chúa," nói rằng "Chúa đã bảo anh ta" chửi mắng, và rằng "Có lẽ Chúa sẽ nhìn đến sự ưu sầu của tôi và làm cho tôi nên tốt lành thay cho sự sự lăng mạ của nó hôm nay."

Vì vậy, thái độ thứ ba ông Davit đối dịên vớisự phản bội, ông phải tín thác vào Chúa, Đức Thánh Cha đã tíêt lộ, giải thích rằng những thái độ này cũng có thể giúp cho chúng ta trong những tình húông khó khăn và cố gắng.

Thật là tốt đẹp để cảm nghịêm đìêu này và hãy xem ba thái độ này," DTC dĩên tả, "Một người yêu mến Thiên Chúa, yêu mến thần dân của minh' và không dàm phán, đìêu đình, một người nhận bíêt minh' là một tội nhân và thực hành ăn năn, sám hối, một người tin cậy Thiên Chúa và tín thác nơi Thiên Chúa."

"Ông Davit là người thánh thịên và chúng ta tôn kính người là một vị Thánh," DTC kết lụân, vì vậy "chúng ta xin người dậy bảo chúng ta những thái độ này khi gặp những tình trạng khó khăn trong cụôc đời của chúng ta." Amen!

QQ gõ xong 01032014/08:50pm

__._,_.___

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # !5 = PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] sỐNG ĐẠO TIÊU CỰC VÀ TÍCH CỰC
Anthony Quang Dinh
Feb 1 at 8:22 AM

SỰ CÁM DỖ LÀM TA MẤT CẢNH GIÁC THỊÊT HAI BỞI TỘI
ĐỨC THÁNH CHA KHUYÊN RĂN
By Elise Harris
Vatican City, ngày 31-01-2014 /03:09pm (EWTN News/CN A)

Trong Thánh Lễ hàng ngày của Người, Đức Thánh Cha đã cảnh cáo chống lại sự nguy hại vì thường xuyên sa ngã cám dỗ, nói rằng nó làm lu mờ khả năng của ta để ý thức sự tội và ảnh hưởng đến người lân cận một cách tiêu cực.

Đìêu này có thể xẩy đến cho mọi người chúng ta. Tất cả chúng ta là những người tội lỗi, và tất cả bị cám dỗ và cơn cám dỗ là lương thực hàng ngày," DTC, giảng nghĩa trong bài giảng ngày 31 tháng 01-2014.

Bắt đầu bài giảng của Người, đã dĩên giảng cho những người có mặt tại nhà khách Thanh Martha ở Vatican, DGH suy nịêm về tội lỗi của ông Davit trong bài đọc thứ nhất trong ngày, trích ra từ Sách Samuen Quỷên thứ nhất.

Nhớ lại rằng vua Davit phải lòng bà Bat-se-va, là vợ của một trong những tướng lãnh của vua, ông U-ri-a – và rồi ông U-ri-a được đìêu động ra tìên tuýên nên ông bị giết chết, DTC đã làm nổi bật thái độ của Davit trong tình húông không là một tội để hối hận, nhưng về "vịêc làm sáng tỏ vấn đề."

"Davit đang đối mặt với một trọng tội, nhưng ông không nhận thức đó là một tội. Tội ấy không thức tỉnh sự hỉêu bíêt của ông để xin sự tha thứ," ĐGH đã nhận xét, ghi nhận rằng đìêu thức tỉnh sự hỉêu bíêt của ông thay vì là "Tôi giải quýêt vấn đề này thế nào?"

Tuy nhiên, mặc dù những hành động trầm trọng của Davit, DTC Phanxicô giải nghĩa rằng những tội giết người và ngọai tình vẫn chưa nguy hỉêm bằng tâm trạng ban đầu.

"Tất cả chúng ta là những tội nhân và tất cả đều bị cám dỗ," người nói, xác định rằng "Nếu có một ai trong chúng ta nói rằng : 'Nhưng mà tôi chưa từng bị cám dỗ bao giờ' hoặc anh là một thiên thần hay anh hơi trẻ con một chút. Không chút nào? Đìêu đó có thể lý giải được."

"Sự chíên đấu là bình thường trong đời sống hàng ngày, và ma quỷ không ở yên lặng (1Pr 5:8-9a), nó ước múôn chíên thắng ," tuy nhiên "một vấn đề - một vấn đề khá nghiêm trọng trong đọan văn này – chính là có nhìêu sự cám dỗ và tội lỗi nghịch lại với đìêu răn thú chin, nhưng ông Davit đã nghĩ (dĩên ra) thế nào,"

"Ở đây Davit không nói về tội lỗi," DTC làm cho mọi người bíêt, "Ông nói về một vấn đề mà ông phải quýêt định," hơn nửa "Đây là một đìêm báo! Khi nào Nuớc Chúa nhỏ bé đi, khi nào Nước Chúa giảm sút đi, một trong những dấu chỉ là sự ý thức về tội lỗi bị mất đi."

Kéo sự chú ý về những lời trong Kinh Lậy Cha, trong đó ta cầu xin "Nước Cha trị đến," ĐTC nhận thấy rằng chúng ta xin Thiên Chúa "làm phát trỉển vương quốc của Ngưới," nhưng mà khi ta mất khả năng nhận thức tội lỗi, một ảo ảnh siêu quỳên lực của nhân lọai học" trồi lên những tình trạng ấy "Tôi sẽ có thể làm được mọi vấn đề."

Đức Thánh Cha ghi nhận đìêu này là "Thay vì quỳên lực cúa con người là vinh quang của Thiên Chúa! Nhấn mạnh rằng "đây là lương thực hàng ngày"

"Vì lý do này," người nói tíêp, ta phải cầu xin hàng ngày "Nước Cha trị đến, xin cho nước Cha phát trỉên," bởi vì "Sự cứu rỗi linh hồn sẽ không đến từ sự làm bậy của ta, từ sự xảo trá quỷ quỵêt của ta, từ khả năng làm những chuỷên nhượng của ta.

"Ơn cứu rỗi linh hồn sẽ đến từ ân sủng của Chúa và từ sự trao dồi hàng ngày mà ta thực hành từ ân sủng này vào đời sống Kitô giáo."

Suy nịêm về những tội lỗi đã phạm, DTC Phanxicô nhấn mạnh rằng "Tội lỗi nặng nề nhất hôm nay là con người đã đánh mất ý thức về tội lỗi," và ông U-ri-a, như một người đàn ông lương thịên để cho bị chết bởi những hành động của ông Davit , là một bỉêu hịêu của tất cả những nạn nhân của ngạo mạn, kiêu căng.

"Tôi tuyên xưng, khi nào tôi trông thấy những sự bất công này, con người kiêu căng này, ngay cả khi tôi trông thấy sự nguy hỉêm mà nó có thể xẩy đến cho chính tôi, sự nguy hỉêm về mất ý thức tội lỗi," DTC đã nhận xét "nó làm cho tôi suy nghĩ nhìêu đìêu tốt về U-ri-a trong lịch sử."

Người để ý, có rất nhìêu U-ri-a, mà ngày nay cũng đang đau khổ, chịu đựng những người Kitô hữu tầm thường của ta., khi mà ta mất ý thức về tội lỗi, khi mà ta để cho nước Chúa suy tàn," người nói thêm "Đây là những nõi thống khổ bởi những tội lỗi không được nhận ra."

Tóm tắt những suy nịêm của Người DTC Phanxicô xác nhận rằng "ngày hôm nay vịêc chúng ta sẽ làm là cầu nguỵên cho chính chúng ta, như thế Chúa luôn luôn ban cho ta ân hụê không để mất ý thức về tội lỗi," và "như vậy Nước Chúa sẽ không suy giảm trong long ta."

"(Đìêu ấy cũng sẽ làm tốt cho ta)" DTC làm cho người ta chú ý, "hãy mang một bó hoa thiêng liêng đến ngôi mộ của những U-ri-a ngày nay" họ trả một cái giá trị cho những người Kitô hữu múôn (sống) "cảm thấy yên thân"

__._,_.___

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 14 = LEN DUONG PDF Print E-mail

Nước Mắt và Hạnh Phúc (Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện của Linh Mục
Hong Nguyen
Jan 27 at 1:57 PM

Nước Mắt và Hạnh Phúc

(Những bài Suy Niệm Và Cầu Nguyện

của Linh Mục Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

- 13 -

Lên Ðường

Ðường là để đi. Ðường là để đi nghĩa là đường sẽ dẫn đến nơi nào đó. Bản tính của đường là để đi, nên đường không bao giờ là nơi cư trú, mà là để dẫn đến nơi cư trú. Như vậy, kẻ dùng đường làm nơi cư trú thì chẳng bao giờ đến nơi cư trú của mình. Tôi phải xác định với lòng tôi: cuộc sống hôm nay là đường đến một quê hương khác? Nếu cuộc sống hôm nay không phải là cùng đích, mà tôi lại chọn làm nơi cư trú, tức là tôi chẳng lên đường để đến nơi tôi phải đến. Lối đi hôm nay của tôi có là đáp trả tiếng gọi của Chúa? Nếu không, mà tôi chẳng lên đường theo tiếng gọi là tôi đang làm ngơ, đang cố quên đường về.

Phải rẽ lối khai quang mới thành đường đi. Sở dĩ có người rẽ lối khai quang để làm đường đi vì họ muốn đến một nơi nào đó. Nghĩa là họ muốn tìm kiếm. Như thế, trước hết, trái tim họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải là nơi ôm ấp những ước mơ kiếm tìm. Cõi lòng họ phải mở rộng cho một chân trời bước tới. Sẽ không có đường đối với kẻ không muốn tìm kiếm. Và ước mơ lên đường mà không lên đường thì cũng không thành đường đi.

- Có ai không cần tìm kiếm vì đã dư thừa?

- Có ai không cần lên đường vì đã gặp gỡ?

Ước mơ hạnh phúc là dấu hiệu hạnh phúc đang vắng mặt. Nguyện cầu cho hết phân ly là nói một cách khác họ đang khao khát được xum họp. Khổ tâm khi thấy người thương mến của mình gặp bất hạnh nghĩa là kẻ đó đang thiếu thốn, và mình cũng chẳng đủ quyền năng cho họ hạnh phúc. Khi tôi lo âu là lúc tôi có vấn đề. Ai trong cuộc sống mà lại chẳng có lúc âu lo? Tất cả đấy là những dấu hiệu giới hạn của con người, những thiếu thốn mà con người đang đi tìm.

Và như thế, ai cũng cần phải lên đường, ai cũng phải tiếp tục tìm kiếm. Ðời là cõi rộng mênh mông. Sống là đi. Mục đích là gặp điều tôi mong mỏi.

Nhưng đi về chốn nào? Trong cõi rộng mênh mông ấy, đâu là đường?

Chắc chắn không thể là tôi. Vì tôi có thể ban tặng cho mình được những gì tôi thiếu thốn thì tôi đã chẳng còn bao giờ ước mơ nữa. Nếu tôi không thể đến một nơi nào đó để lấy được những gì tôi mong mỏi, như vậy, cũng có nghĩa là tôi không thể tự làm đường đi cho mình được. Chắc chắn cũng không thể là người chung quanh tôi vì họ cũng thiếu thốn như tôi.

Vậy, ai có thể giúp tôi đạt được những điều thiếu thốn đó?

"Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống" (Yn 14,6). Ðường của cuộc đời tôi đi là Chúa. Những gì tôi thiếu thốn và lo âu đều liên quan đến hạnh phúc của tôi. Khi Chúa nói Chúa là sự sống, có nghĩa Chúa là hạnh phúc tôi đang túng thiếu. Khi Chúa nói Chúa là đường, có nghĩa là để dẫn tôi tới hạnh phúc đó.

Kinh nghiệm cho thấy hạnh phúc có thể thỏa mãn những thao thức sâu kín nhất trong tâm hồn tôi không hệ tại sự giàu có, người yêu, những gì trong phạm vi trần thế. Nếu vậy thì phương cách để đạt được hạnh phúc có thể thỏa mãn tâm hồn tôi cũng không thể đến được từ trần gian. Hạnh phúc ấy thuộc về phạm vi siêu nhiên, vượt tầm sáng tạo của nhân loại. Cho nên, con đường dẫn tới hạnh phúc đó cũng phải là siêu nhiên, không thể là sản phẩm của con người. Trong ý nghĩa này, Chúa là cùng đích và cũng là phương tiện dẫn tới cùng đích. Chúa là hạnh phúc và cũng là đường dẫn tới hạnh phúc.

*

* *

Lạy Cha, Cha đã tỏ cho con biết Cha là đường của con. Ðường đã có rồi. Sự thật và sự sống đã có rồi. Nhưng con cần Cha dọn cỏ, mở lối cho con. Cỏ tối tăm và cỏ nguội lạnh là những giây leo rừng chằng chịt che kín lối. Và con đã không thấy đường. Cha là sự thật, nên không có loại cỏ tối tăm nào có thể che kín. Cha là sự sống nên không loại gai nào có thể làm nghẽn lối. Giây gai làm nghẽn lối, cỏ dại che kín đường không mọc ở đường đi, nhưng mọc trong chính trái tim con. "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy" (Mc 10,51). Cha đã mở mắt và người mù đã thấy đường đi. Một lần nữa, hành động của người mù cũng lại khởi đầu bằng ước mơ: ước mơ được sáng mắt. Ðiều ấy cũng hàm nghĩa là anh ta luôn luôn muốn tìm kiếm ánh sáng. Nếu anh ta không muốn lên đường. Nếu anh ta chọn thế giới mù làm quê hương. Nếu anh ta cư trú trong thế giới bóng đêm ấy và chẳng muốn bước tới nữa thì chắc chắn anh sẽ chẳng bao giờ thấy mặt trời. Ðời anh sẽ tẻ nhạt biết bao. Ðời con cũng vậy. Con phải lên đường. Ngày nào con cũng có lầm lỗi. Ngày nào cũng có bóng đen của ghen tương, bóng đen của thèm muốn bất chính, bóng đen của lo âu thiếu tin tưởng. Ngày nào con cũng có mù lòa. Vì thế, con cần Cha mở mắt cho con hàng ngày. Và, con phải lên đường mỗi sớm mai.

*

* *

Mơ ước lên đường thì bao giờ cũng đẹp. Nhưng để thực hiện lên đường lại không dễ. Những hạnh phúc đẹp chỉ dành cho những tâm hồn dám lên đường tìm kiếm. Muốn nhìn vũ trụ mênh mông phải giã từ mặt đất, cất cánh theo chim trời. Nếu con sâu cứ lặng lẽ sống dưới măt đất với loài trùng, thì nó chẳng có lý do để oán trách sao cuộc đời chung quanh chỉ là mùi ẩm của đất, mùi mốc của cỏ. Nó phải hóa thân thành cánh bướm. Và, lúc đó người ta sẽ ngước mắt nhìn theo. Tất cả vũ trụ là của nó. "Trong tà ác tôi đã sinh ra, và đã là tội lỗi từ khi mới là thai nhi trong lòng mẹ" (Tv 51,7). Ðó là hình ảnh tôi sinh ra trong thân phận sâu. Sinh ra trong thân phận sâu, nhưng lại không để làm sâu, mà được kêu gọi hóa thân làm bướm. "Ta đã chọn các ngươi từ giữa thế gian" (Yn 15,19; 17,16).

*

* *

Lên đường nào cũng có giã từ, vì thế mới có ngần ngại. Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ. Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu. Những rung cảm bất chính đã ở trong dòng máu của tôi. Bây giờ tôi phải từ bỏ. Những liên hệ không ngay lành, nhưng cho tôi thú vui trần thế. Bây giờ tôi phải cắt đứt. Lười biếng là một thứ quyến dũ như bếp lửa trong chiều đông, nó giữ chân tôi lại. Bởi, lên đường là mở cửa đi ra, ngoài kia có gió lạnh làm tôi ngại ngùng. Muốn được người ngưỡng mộ, tôi tạo ra khuôn mặt đẹp mà tâm hồn tôi không có. Bây giờ, lên đường, nghĩa là tôi phải sống thật với tôi. Trở về chấp nhận khuôn mặt nghèo nàn của mình là điều tôi không muốn. Ðể người biết khuôn mặt thật của mình là điều tôi không dám. Bước tới để thay đổi tâm hồn là một giá tôi phải trả. Là một lên đường đòi nhiều can đảm.

Những biến cố thay đổi cuộc sống của một tâm hồn trong Phúc Âm đều là những biến cố lên đường. Chúa đã dùng những hình ảnh lên đường cụ thể, lên đường bằng đôi chân bước trên cát bụi để diễn tả cuộc lên đường nội tâm. "Ði dọc theo bờ biển Galilêa, Ngài thấy Simon và Anrê dang quăng chài dưới biển. Ðức Yêsu nói với họ: Hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi là ngư phủ bắt người. Tức khắc, họ đã bỏ chài lưới mà theo Ngài. Ði xa một ít, Ngài thấy Yacôbê và Yoan em ông, cả hai đang vá lưới dưới đò. Ngài gọi họ. Và họ đã bỏ cha họ và những người làm công mà theo Ngài" (Mc 1,16-20). Phúc Âm thuật lại, sau khi theo Chúa rồi, nhiều lần Phêrô vẫn còn thả lưới. Như vậy, đáng lẽ Chúa phải bảo Phêrô mang lươí theo kẻo mai mốt lại tốn tiền mua lưới khác. Nhiều lần Chúa phải dùng thuyền mà đi. Sao Chúa không dặn Phêrô giữ lấy thuyền vì mai mốt cả Thầy trò vẫn còn cần tới.

Họ đã bỏ lại tất cả.

Họ đã bỏ lại tất cả, phải chăng lưới mà Yacôbê đang vá lưới của những toan tính thiếu niềm tin vào Chúa, là mạng nhện đam mê gắn liền với tâm hồn tôi như áo tôi mặc. Tôi chẳng muốn bỏ. Mỗi mũi kim vá là một lần tôi níu kéo, bám theo. Phải chăng thuyền của Phêrô là những nét xấu như một thứ quê hương tôi đang sống ở trong. Tôi đang an phận với quê hương ấy?

Lạy Cha, Simon và Anrê, Yacôbê và Yoan đã lên đường. Khi nghe Cha gọi, họ đã tức khắc bỏ chài lưới mà lên đường. Không lưỡng lự. Dứt khoát. Hình ảnh của những cuộc lên đường đẹp quá. Lên đường của những kẻ muốn tung cánh trong tự do bát ngát như thập giá không chịu khuất phục sự chết. Lên đường của những bàn chân không biết mỏi khắp cánh đồng Galilêa. Lên đường không phân vân như mặt trời bình thản đẩy bóng tối lại đàng sau.

*

* *

Lạy Cha, nếu không lên đường, chắc hẳn Phêrô chẳng gặp Cha, đã không được Cha huấn luyện và tâm hồn Phêrô đã nghèo nàn lắm. Trong cuộc sống của con, Cha đã gọi. Con cũng đã lên đường, nhưng con không can đảm như Anrê, như Yacôbê. Lưới đời của con dầy mắt, những mắt lưới mà con nghĩ là sẽ bắt được nhiều cá: cá bằng cấp, cá danh vọng, cá sắc đẹp, cá giàu có, cá tình yêu. Mỗi lần bắt hụt vì lưới bị rách là con lại cặm cụi ngồi vá. Có bao giờ con đã quá chú ý cúi mặt vá lưới đến nỗi Cha đi qua, Cha gọi mà con chẳng nghe gì?

Kính chuyển

Hồng

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH # 13 = GHEN GHET-DO KY PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] GHEN GHÉT & ĐỐ KY PHÁ HOẠI CÁC CỘNG ĐỒNG
Anthony Quang Dinh

CHẤT ĐỘC GHEN GHÉT & ĐỐ KY PHÁ HOẠI CÁC CỘNG ĐỒNG
ĐỨC THÁNH CHA SUY NỊÊM
By Elise Harris
Vatican City, ngày 22-01-2014/ 10:41am (EWTN News/CN A)

Trong bài giàng của Người, Đức Thánh Cha đả cảnh giác chống lại những hỉêm nguy của tính ganh (ghen) tỵ, đố kỵ, cái đó chính là một tội nó nụôi dưỡng mối thù hận chống lại những anh chị em, nó dập tắt nìêm vui và kềm hãm chúng ta khỏi sư thành tâm ca ngợi Thiên Chúa.

Khi nào có một ai trong một cộng đồng Kitô giáo trải qua khỏi sự ghen tương, đố kỵ, cộng đồng "chấm dứt chia rẽ: người này chống lại người kia" Đức Thánh Cha đã giảng nghĩa trong Thánh Lễ ngày 23 tháng giêng, nhấn mạnh rằng "đây là một chất độc cực mạnh" – một chất độc mà chúng ta tìm thầy ở trang đầu của Kinh thánh nói về CA-IN."

Cống híên sự nhận xét của người cho những ai tập trung ở trong nhà khách Thánh Marta của Vatican, người đã tập trung bài giảng vào bài đọc thứ nhất theo ngày, trích trong Quỷên Thứ nhất Samuen, đìêu mà Vua Saul (sô) tìm giết Davit bắt nguồn từ tính ghen tỵ đối với Davit chíên thắng Goliat

Sau khi nghe thấy những phụ nữ ca tụng Davit, sự vui vẻ của vua Saul đổi thành bùôn sầu và ghen tỵ, và "chíên thắng vẻ vang đó bắt đầu bị đánh bại trong tâm hồn nhà vua," DTC đã dĩên tả.

Tương tự như "một con giun ghen tương và đố kỵ" đã chui vào lòng của CAIN khi nó giết người em rụôt ABEL, ĐTC nhấn mạnh rằng "Dây là chuỵên ghen tương đố kỵ xẩy ra trong tâm hồn chúng ta.."

Chính là mối lo sợ tàn phá nên không thể có lòng khoan dung mà anh hay chị em có một cái gì đó mà tôi không.

VàThay vì ngợi ca Thiên Chúa vì chíên thắng này như những phụ nữ It-ra-en đã thực hịên," Đức Thánh Cha nhận xét, Vua Saul múôn tự lôi kéo về cho chính minh', tự cảm thấy bùôn cho chính minh'" và hầm âm ỷ những cảm xúc của ông trong nước canh súp hận thù."

"Ghen tương, đố kỵ đưa đến mưu sát, giết người. ghen ghét dẫn đến giết người,"DTC tíêp, và chính là cái cửa này, cái cửa ghen ghét, qua cái cửa ấy tội lỗi đã vào thế gian."

Sự vịêc nổi bật vì sao " sự ghen ghét và đố kỵ mở những cánh cửa" cho "tất cả mọi vấn đề," DTC ghi nhận rằng "Những thứ ấy cũng làm phân rẽ cộng đồng."

DTC tíêp tục mô tả có hai vấn đề rất "rõ ràng" hịên dịên ở trong tâm hồn của ai đó bị mắc bởi tính ghen ghét, đố kỵ(jealousy). người thứ nhất trong họ là "một người thèm múôn (envious), người ghen, rất thèm múôn, là một người cay đắng, khó chịu người này không bíêt ca nhạc là như thế nào, ca tụng như thế nào, (hay la) nhận ra sự vui vẻ như thế nào."

Để ý đến một ai theo cách này, nhận ra chỉ có đìêu người ta có mà chúng ta không có, "dẫn đến mối thù óan, sự thù óan lan rộng ra khắp cả cộng đồng," DTC nêu lên nhắm vào con người với tâm trạng này như "những người đi gieo sự thù óan."

Người thứ hai đến là người "mang sự ghen ghét đố kỵ và them múôn, là người những tin đồn," DTC đã tíêt lộ, làm cho mọi người chú ý rằng khi nào một người trông thấy một ai đó,có một cái gì mà họ múôn (có), sự giải quýêt là thường dìm người ta xúông" cho đến nỗi "tôi có thái độ phấn chấn hơn lên."

""Ngồi lê đôi mách là một dụng cụ thường xuyên được dung trong tình húông này, DTC nhận thấy rằng sau mỗi một tin đồn, "có sự ghen ghét, đố kỵ và them múôn."

"Ngồi lê đôi mách phân rẽ cộng đồng, tàn phá cộng đồng, những tin đồn là những khí cụ của sư dữ, sự ác."

Có bao nhiêu công đồng Công giáo tốt đẹp đang đạt được khá tốt" nhưng mà bị chia rẽ bởi có một thành viên đã cho phép một "con trùn (giun) ghen ghét đố kỵ và thèm múôn" xâm nhập tâm hồn họ. Đức giáo hòang đã than thở.

Khi tính ghen ghét, đố kỵ đến "sự bùôn phìên, óan giận, và ngồi lê đôi mách," DTC giải thích, nêu rõ rằng : một người dưới sự ảnh hưởng của tính thèm múôn "tiêu dịêt"

Đức Thánh Cha kết thúc những suy nịêm, người kêu gọi hãy cầu nguỵên cho "những cộng đồng Công giáo của chúng ta" cho đến nỗi hạt giống ghen ghét, đố kỵ này sẽ không bị gieo vào giữa chúng ta, và sự them múôn không đâm rễ vào tâm hồn ta" hay là" vào giữa những cộng đồng của ta, như thế chúng ta có thế họat động bằng sự ngơi ca Chúa, ngợi ca Chúa với tâm hồn hoan hỉ."

Chính là một ân hụê cao trọng, một ân hụê là không bị lâm vào sự bùôn chán, bị xúc phạm, ghen tỵ, them múôn."

QQ. gõ xong 01232014/03:40pm

__._,_.___

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 Next > End >>

Page 22 of 24