mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5586
mod_vvisit_counterHôm Qua6358
mod_vvisit_counterTuần Này11944
mod_vvisit_counterTuần Trước58891
mod_vvisit_counterTháng Này156855
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10661111

We have: 102 guests online
Your IP: 54.80.103.120
 , 
Today: Apr 23, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Tìm Gặp Chúa Thật Nhanh
TIM GAP CHUA THAT NHANH -CHA AN DO UZHUNNALIJ PDF Print E-mail

Đức Thánh cha Phanxicô gặp mặt cha Tom Uzhunnalil
Cha Tom Uzhunnalil nói ngài cầu nguyện cho Đức Thánh cha mỗi ngày trong thời gian bị giam giữ

September 15, 2017

Tin từ Vatican

Cha Tom Uzhunnalil thuộc dòng Salesian được gặp Đức Thánh cha Phanxicô một ngày sau khi được trả tự do.

Theo tờ báo Vatican L'Osservatore Romano, Đức Thánh cha tiếp đón cha Uzhunnalil tại Domus Sanctae Marthae, nơi ở của ngài hôm 13-9.

Vị linh mục dòng Salesian đến trước mặt Đức Thánh cha Phanxicô quỳ gối và hôn chân ngài. Cảm động trước cử chỉ đó, Đức Thánh cha đỡ ngài lên và hôn tay ngài, tờ báo Vatican kể lại.

Trước khi ban phép lành cho cha Uzhunnalil, Đức Thánh cha ôm ngài và nói sẽ tiếp tục cầu nguyện cho ngài như ngài đã làm trong lúc cha Uzhunnalil bị giam giữ.

Cha Uzhunnalil bị bắt cóc ngày 4-3-2016, tại một mái ấm dành cho người già và người khuyết tật do dòng Thừa sai Bác ái quản lý ở Aden, Yemen. 4 nữ tu dòng Thừa sai Bác ái và 12 người khác bị giết hại trong vụ tấn công tại đó.

Theo hãng thông tấn nhà nước Oman ONA, cha Uzhunnalil được nhà chức trách Oman "phối hợp với bên phía Yemen giải cứu" hôm 12-9.

Cha Uzhunnalil cám ơn Đức Thánh cha và nói với Đức Thánh cha rằng "ngài cầu nguyện cho Đức Thánh cha mỗi ngày, dâng đau khổ cho sứ mệnh của mình và lợi ích của Giáo hội".

Kể lại thời gian bị bắt giữ, vị linh mục dòng Salesian nói với Đức Thánh cha rằng mặc dù ngài không thể dâng Thánh lễ, "ngày nào con cũng tự lặp lại, trong tâm con, tất cả những lời kinh dâng lễ".

Cha Uzhunnalil nói ngài tiếp tục cầu nguyện cho tất cả những người gần gũi với ngài về tinh thần, đặc biệt là cho 4 nữ tu và 12 người bị giết hại khi ngài bị bắt cóc.

UCAN VN

-----------------------------

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH --MON AN TAM HON 106 PDF Print E-mail

Số 106: Thức Ăn Nhanh cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul)

by Fr. Quảng Trần, C.Ss.R., on Tueday, Sept 5, 2017

"Ông Phêrô liền kéo riêng Chúa Giêsu và bắt đầu trạch người: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy! " (Mt 16: 22)

NHỮNG CƠN CÁM DỖ DIỆU ÊM/NHẸ NHÀNG

Thương ai, quý ai, chúng ta muốn cho người ấy được sung sướng hạnh phúc. Là những người bình thường, có lẽ, hiếm ai trên cõi đời này muốn người thân, hay những người mình thương mến phải đau khổ. Chắc chắn khi chúng ta thấy những người ấy có ý nghĩ làm điều dại đột thì chúng ta tìm mọi cách giúp đỡ, hoặc ngăn cản để người ấy không bị vào cảnh huống đau khổ. Phêrô cũng nằm trong quy luật bình thường ấy: Thương thầy Giêsu, nên khi nghe Thầy nói "Ngài PHẢI đi Giêsusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết..." thì Phêrô đã kéo riêng Đức Giêsu ra và nặng lời về những lời phát ra dại dột của Chúa Giêsu: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy" (x. Mt 16: 21-22).

Muốn người khác hạnh phúc, và không bị đau khổ lẽ thường đây luôn là một điều tốt. Nhưng, tại sao khi Phêrô thương thầy Giêsu và muốn Thầy không bị đau khổ thì lại bị Ngài rủa cho một câu rất nặng nề, mà dường như câu rủa này không nên xuất ra từ miệng một người bình thường phương chi là Chúa Giêsu: "Đồ quỷ sứ (Satan)! Xéo lại đàng sau Thầy!" (x. Mt 16: 23).

Tại sao Chúa Giêsu lại rủa Phêrô là đồ quỷ sứ/ đồ Satan, đang khi ông muốn Ngài không phải đau khổ, ông thương Ngài?

Thưa vì "ý tưởng của Phêrô không phải ý tưởng của Thiên Chúa, mà của loài người" (Mt 16: 23).

Hoá ra những gì đi ngược với đường lối của Thiên Chúa ngay lập tức bị coi như là Satan.

Có những thứ đi ngược lại đường lối của Thiên Chúa nếu đến từ kẻ thù bên ngoài ta dễ nhận biết. Chúng ta vạch mặt, chỉ tên chúng dễ dàng. Tuy nhiên, có những kẻ thù mà chúng nguỵ trang dưới những chiêu bài nhẹ nhàng, dịu êm, và tỏ ra yêu thương, có lợi cho chúng ta thì sẽ rất nguy hiểm. Những cơn cám dỗ nhẹ nhàng dịu êm ấy thường đến từ chính bản thân mỗi người chúng ta, hay những người thương yêu chúng ta như trường hợp thánh Phêrô đối với Chúa Giêsu chẳng hạn.

Ví dụ đến từ chính chúng ta: tôi đi làm cả tuần mệt rồi, Chúa nhật sau khi đi lễ = hoàn thành bổn phận với Thiên Chúa, vợ chồng con cái đi lên sòng bài giải trí tí chắc không sao! Hay các ông bà già... không làm gì, ở nhà thì buồn, lên sòng bài kéo cho vui... Có chết ai! Cám dỗ dịu êm! (Đúng là không sao, vì trong sòng bài dù ban đêm hay ngày, không có đồng hồ để coi giờ, thì làm gì có đêm mà đòi có sao!!! )

Ví dụ đến từ những người thân, người quen: Mày làm hồ sơ giả cho đứa cháu, đứa bạn tạo sang đây theo diện "hôn nhân giả", mày vừa được tiền, mà người thân của tao được sang đây... Đâu có sao!!! (Lên kế hoạch làm một điều không đúng sự thật/fake mà không sao? Vậy, đến khi nào mới có sao? )

Suy nghĩ và hành động: Đâu là những cơn cám dỗ "dịu êm hay nhẹ nhàng" mà chính tôi đang vướng phải mà tôi không ý thức? Tôi có dứt khoát với các cơn cám dỗ này không? Tôi có ý thức các cơn cám dỗ này chỉ là cái bẫy của Satan gây ra, chúng "thả con tép bắt con tôm" không?

--
Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R

Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

----------------------------------

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH - CN22TN -A PDF Print E-mail

Chúa Nhật XXII Thường Niên A
ĐƯỜNG THÁNH GIÁ
Gr 20,7-9; Rm 12,1-2; Mt 16,21-27

Trong Sổ Tử của thành phố Paris - thủ đô nước Pháp, người ta đọc thấy: Ông Gustave Busset, qua đời ngày 18 tháng 4 năm 1834. Người quá cố không có con cái nhưng để lại một số gia sản đáng giá. Đám tang ông, chỉ có vài bà con xa đến tham dự. Ngay tại nghĩa trang, họ bắt đầu tranh dành gia tài. Sau cùng, họ quyết định đem bán đấu giá tất cả đồ đạc, lấy tiền chia đều nhau. Ngày bán đấu giá, nhiều người cùng khu phố với ông Gustave Busset kéo nhau đến mua đồ, trong đó có chàng họa sĩ trẻ tên Pierre Piront. Anh rất nghèo, chỉ có tấm nệm rơm để ngủ. Từ lâu anh mơ ước chiếc giường êm nên để dành được 100 quan. Hôm nay dịp may đến. Anh mua cái giường của ông Gustave với giá 75 quan. Anh vẫn còn 25 quan. Khi anh lên nhận chiếc giường thì cùng lúc ấy, ủy viên bán đấu giá cúi xuống đất, nhặt lên Cây Thánh Giá nặng, bám đầy bùn đất dơ bẩn. Với giọng khàn khàn ông cất tiếng la to: "Ai trả bao nhiêu để mua vật này?"
Trong phòng im lặng như tờ. Bỗng vang lên tiếng nói chế nhạo: "Không trả xu nào hết!". Mọi người cười rộ, như ngầm đồng ý. Chàng họa sĩ trẻ cảm thấy kinh ngạc trước thái độ vô thần hỗn xược của người đồng hương. Bằng một giọng run run vì cảm động, anh nói: Tôi xin trả 25 quan. Rất tiếc tôi chỉ có thế. Nếu có nhiều tiền, hẳn tôi sẽ trả với giá cao hơn!"... Đám đông lại ào ào chế nhạo. Một người đàn bà cao tuổi, chỉ ngón tay vào anh Pierre và nói: "Nó là tên ngu đần nhất trong tất cả các tên ngu đần!".Tức khắc, mọi người trong phòng cùng nói lớn: Hoan hô bà già nói đúng!
Cuối cùng, cây Thánh Giá thuộc về anh Pierre Piront với giá 25 quan. Anh cảm động tiến lên nhận Cây Thánh Giá với trọn lòng kính cẩn yêu mến. Xong, anh ôm Thánh Giá rời phòng, trước các cặp mắt và lời nói chế diễu của mọi người hiện diện.
Về đến nhà, việc làm đầu tiên là vội vàng chùi rửa Cây Thánh Giá. Vừa lau, anh vừa âu yếm nói chuyện với Đức Chúa Giêsu Kitô - Đấng bị xúc phạm. Nhưng anh Pierre ngạc nhiên biết bao, khi vừa lau chùi xong, anh khám phá tên khắc bên dưới chân Thánh Giá. Với kính lúp, anh đọc: Benvenuto Cellini. Đây là tên của một thợ kim hoàn nổi tiếng người Ý. Lòng tràn đầy niềm vui, anh tiếp tục lau chùi thật kỹ lưỡng. Càng lau, càng chùi, anh càng khám phá ra Cây Thánh Giá và tượng Đức Chúa Giêsu Kitô bằng vàng ròng.
Anh Pierre Piront không còn bình tĩnh nữa. Anh lấy khăn bọc kỹ Cây Thánh Giá rồi chạy như bay tới tiệm kim hoàn gần đó. Anh nhờ chủ tiệm đánh giá cho phẩm vật của anh. Sau khi xem xét cẩn thận, chủ tiệm đánh giá toàn Cây Thánh Giá là 60.000 đồng vàng...
Câu chuyện đến tai vua Louis-Philippe I (1830-1848). Nhà vua cho gọi anh Pierre Piront đến và ca ngợi lòng dũng cảm, dám tuyên xưng Đức Tin Công Giáo của anh. Nhà vua cũng cho mở cuộc điều tra, để biết tại sao Cây Thánh Giá quý báu lại lọt vào tay cụ già Gustave Busset. Qua cuộc điều tra, người ta biết: "Vào năm 1531, vua Francois I nhờ nhà kim hoàn Benvenuto Cellini làm Cây Thánh Giá bằng vàng ròng. Sau đó, tác phẩm nghệ thuật tôn giáo được trưng bày tại điện Versailles. Khi cuộc cách mạng Pháp 1789 xảy ra, dân chúng tràn vào đập phá và ăn cắp của cải vật dụng trong điện Versailles. Có lẽ Cây Thánh Giá bị ăn cắp và bị bán đi với giá thật rẻ..." Vua Louis-Philippe I đã mua lại Cây Thánh Giá với giá 60.000 đồng vàng và truyền gọi anh Pierre Piront vào làm việc trong hoàng cung. Nhờ cơ may, anh trau dồi, phát triển và tận dụng khả năng nghệ thuật của mình.
Để ghi nhớ biến cố ấy, anh Pierre Piront vẽ bức họa "Cây Thánh Giá bán đấu giá". Bức họa trở nên một tuyệt tác, tháp tùng anh suốt cuộc đời và an ủi anh ở giây phút cuối đời.
Chọn lựa Thập giá, Chúa Giêsu đi vào cuộc khổ nạn, Ngài tiên báo về sự đau khổ mà Ngài phải đi, Ngài mời gọi các môn đệ của Ngài cùng đối diện với khổ đau qua lời mời gọi: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy".
Đức Giêsu tiên báo về cuộc khổ nạn và lời mời gọi vác thập giá, trong bối cảnh: Ngài và các môn đệ cùng dân Do Thái tiến về Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Lên Giêrusalem là lên Đền thánh Thiên Chúa, luôn mang trong lòng sự hớn hở vui tươi được biểu lộ bằng những Ca khúc Lên đền gồm 15 Thánh vịnh ngắn từ 120 đến 134 (nhưng có lẽ Tv 132 không thuộc nhóm này), mang tâm tình tươi vui, được hát khi người Do Thái tiến lên đền thờ Giêrusalem vào 3 dịp lễ hành hương: Lễ Vượt Qua (Lễ bánh không men nhắc lại biến cố Xuất hành), Lễ Ngũ tuần (Lễ Mùa gặt để dâng của đầu mùa cho Giavê) và Lễ Lều (Lễ Thu hoạch cuối năm để tạ ơn Giavê) (x. Xh 23,14-17; 34,22-23; Dnl 16,16)
"Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi:
"Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!" (Tv 121,1)
Tân ước kể lại cuộc hành hương hàng năm của Ðức Maria, thánh Giuse và trẻ Giêsu lên Giêrusalem (Lc 2,41). Tân ước cũng cho thấy Giêrusalem đã thu hút khách hành hương vào các dịp đại lễ (x. Lc 2,41-45; Ga 12,20; Cv 2,1-10). Các Tin Mừng đều tường thuật những lần hành hương của Ðức Giêsu lên Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua (x. Ga 2,13), lễ Ngũ tuần (Ga 5,1), lễ Lều (Ga 7,2-10). Tuy nhiên Phúc âm Nhất lãm tường thuật chuyến hành hương duy nhất của Ðức Giêsu lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt qua và trong dịp này, Ngài đã bị kết án vác và chết trên thập giá. Chuẩn bị bước hành trình về thành Thánh theo thánh ý của Chúa Cha, Đức Giêsu loan báo ba lần cuộc khổ nạn của Người (x. Mt 16,21; 17,22-23; 20,18-19). Hình ảnh đó đã được nói tiên tri trước bằng hình ảnh Người Tôi Tớ đau khổ mà Ngôn sứ Isaia đã phác họa: "Đức Chúa đã muốn Người phải bị nghiền nát vì đau khổ .... Nhờ nỗi thống khổ của mình, Người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện" (Is 53,10-11). Chúa Giêsu cho các môn đệ biết về bước đường đau khổ này qua cuộc tử nạn, Ngài nói về đường thập giá và mời gọi các môn đệ tiến bước theo.
Đứng trước lời tuyên báo về cuộc tử nạn, thái độ Phêrô: liền kéo riêng... bắt đầu trách ... (Mt 16,22): Phản ứng của Phêrô là phản ứng khôn ngoan của con người khi đối diện đau khổ, đứng trước thập giá: sự lẩn tránh. Phêrô muốn thoả hiệp, thích nghi, chấp nhận buông xuôi theo những áp lực của sợ hãi, hoặc khuất phục trước quyền lực. Mới đây ông là gương mẫu của người tin (x. Mt 16,17), nay ông thành người tiếp tay cho Satan, bởi vì ông đã đề nghị cho Đức Giêsu một con đường như tên Cám Dỗ đã đề nghị thỏa hiệp khi Chúa bị cám dỗ ở trong hoang địa (x. Mt 4,1-11).
Chúa Giêsu trả lời Phêrô: Anh cản lối Thầy (Mt 16,23), nếu dịch sát nghĩa: "Anh đang trở thành tảng đá làm cho Thầy vấp". Mới vừa tuyên xưng đức tin, Phêrô trở nên "tảng đá trên đó Thầy sẽ xây Hội Thánh", bây giờ Phêrô, mang ý nghĩ suy luận của con người nên thành tảng đá "cản lối Thầy [làm cho Thầy vấp]". Tảng đá xây Hội Thánh là niềm tin của Phêrô đặt nơi Đức Giêsu. Thiếu niềm tin, tảng đá này trở nên cản trở công trình của Thiên Chúa.
Kinh nghiệm của Phêrô mang hình ảnh thân phận con người của chúng ta. Thật thế, chúng ta rất mong manh, dễ thay đổi, dễ chủ quan ảo tưởng là mình "trước sau như một". Cho nên, chủ quan trong một tư tưởng thánh thiện có trước, phù hợp với tư tưởng của Thiên Chúa. Điều đó không bảo đảm là tư tưởng tiếp theo cũng thánh thiện, nếu chúng ta không quan tâm tìm biết ý muốn của Thiên Chúa.
Đức Giêsu quả quyết rằng đối với môn đệ của Ngài không có con đường nào khác con đường thập giá: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình". "Từ bỏ chính mình (Mt 16,24), nghĩa là bỏ cả khát vọng, những đòi hỏi chính đáng của mình mà nhận lấy khát vọng và đòi hỏi của người khác, ở đây chính là đòi hỏi của Thiên Chúa. Cho nên, không chỉ chiến thắng trên cám dỗ, mà còn bỏ ra sau những quyền lợi chính đáng của riêng mình. Để "đi (bước) theo" Đức Kitô (Mt 16,24): đồng nghĩa với "học với; làm môn đệ" (x. Mt 11,29), là bắt chước các phong thái của thầy, lặp lại những chọn lựa của thầy, tức là nối tiếp công trình mà thầy đã bắt đầu với biết bao hy sinh đau khổ...
Khi nghiền ngẫm lời tiên báo đau khổ, tử nạn và lời mời gọi vác thập giá vượt qua đau khổ và sự chết, chúng ta cảm thấy được an ủi và thêm sức mạnh giữa những lúc đương đầu với thử thách, gian nan, khủng hoảng và đau khổ. Vì vậy, chúng ta vẫn tiến bước trong cuộc sống và đối diện với đau thương mà mỗi người chúng ta luôn đối diện trong những nỗi đau của thể xác, hay nỗi đau về tâm hồn, có khi cả hai nỗi đau về thể xác và tâm hồn...
Chúa Giêsu không chỉ loan báo cuộc khổ nạn mà còn loan báo cuộc phục sinh: "Ngày thứ ba sẽ sống lại". Thật thế, Đức Giêsu đến Giêrusalem chịu nhiều đau khổ và bị giết chết, nhưng Ngài sống lại ngày thứ ba như lời tiên báo, Ngài đã vượt qua bằng chiến thắng ở cuối con đường đau khổ. Khi chúng ta vác thánh giá theo Đức Giêsu, sự chiến thắng huy hoàng cũng dành cho người môn đệ trung kiên vác thập giá Chúa, Thánh Phaolô khẳng định: Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người (Rm 6,8). Đức Kitô đã chiến thắng sự dữ, chiến thắng đau khổ, chiến thắng sự chết và cho phép chúng ta cùng Ngài vượt qua đau khổ, vượt qua sự chết như Ngài: "Ngày thứ ba Người sẽ sống lại".
Cho nên, chúng ta vác thập giá theo Chúa Kitô, không phải giữ mãi đau khổ, đi vào con đường chết, nhưng với Ngài xuyên qua đau khổ, vượt qua sự chết mà đến vinh quang, vì thế thánh Phaolô xác tín: "Vinh dự của tôi là thập giá Chúa Kitô" (Gl 6,14).

Lm. Vinh Sơn, Sài Gòn.

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH-LONG TIN CUA DAN NGOAI PDF Print E-mail

Chúa Nhật XX Thường Niên A

SỨC MẠNH LÒNG TIN CỦA DÂN NGỌAI
Is 56,1.6-7; Rm 11,13-15.29-32; Mt 15,21-28

Một em bé vâng lời mẹ xách giỏ ra tiệm tạp hóa. Em cẩn thận đọc cho người bán hàng tên của từng món đồ mà mẹ em đã ghi trên mảnh giấy. Người bán hàng nhìn em và để ý theo dõi từng cử chỉ cẩn thận của em một cách thích thú.
Sau khi đã xếp gọn các món vào giỏ cho em, ông dẫn em đến trước cái hộp đầy kẹo. Vừa mở nắp hộp ông vừa bảo em thò tay vào lấy kẹo. Em bé vui mừng rút ra một viên kẹo. Người bán hàng bèn khích lệ em và nói:
- Cháu hãy bốc cho đầy lòng bàn tay của cháu đi.
Em bé mỉm cười đáp:
- Vậy ông hãy bốc kẹo giùm con.
Người bán hàng ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao vậy?
Em bé dí dỏm trả lời:
- Tại vì bàn tay của ông lớn hơn bàn tay của con rất nhiều.
Em bé nhìn nhận cái bé nhỏ của mình trước sự lớn lao của người khác, nên đã được ban cho dư đầy. Người đàn bà ngoại giáo xứ Canaan khiêm tốn nhận mình là dân ngọai, so sánh với Dân Chúa Israen? bà nhỏ bé như "chó con" chỉ đáng được ăn "những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống", chính vì bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa, nên được rộng ban theo lòng thương xót của Ngài còn hơn cả lòng bà mong ước...
Đức Giêsu lui về miền Tia và Xiđon. Cụm từ "Tia và Xiđôn" thường được dùng để gọi vùng Dân ngoại cư ngụ ở về phía biên giới tây bắc Palestina; nơi này cũng còn được gọi là Phênikia. Dân Phênikia tự gọi mình là "dân Canaan". Địa danh cổ kính này dùng để chỉ miền đất mà dân Do thái đã đánh chiếm làm lãnh thổ của mình. Người phụ nữ xứ Canaan thuộc về "kẻ ngoại". Đối với người Do Thái, dân ngoại là xấu, là những kẻ "dơ", mà dân Do Thái coi khinh như những "con chó". Còn tệ hơn nữa, bà thuộc một dân tộc mà người Do thái chính thống tránh xa hơn các dân khác, ngay từ thời cha ông giữa họ đã thề nguyền giữ mối thù truyền kiếp.
Người phụ nữ ngọai giao thành Canaan có con bị quỷ ám, đến xin Đức Giêsu chữa lành, bà thưa : "Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin rủ lòng thương tôi" (Mt 15,22). Khi nói" Xin rủ lòng thương tôi", bà đã dùng ngôn ngữ Kinh Thánh trong các Thánh vịnh (x.Tv 6,3; 9,14; 26,7; 30,10; 40,56; 85,.3; 122,3...), sau này trở nên ngôn ngữ quen thuộc với Hội Thánh: "Ngài/Chúa, kyrie – xin thương xót con", là danh hiệu các môn đệ và những người cầu xin thường dùng để thưa với Đức Giêsu. Bà tuyên xưng Đức Kitô và gọi Người là "Con vua Đavít", Con Vua Đavít là tước hiệu người Do Thái dùng để chỉ Đấng Mêsia. Cho nên, dù đức tin của bà chưa rõ ràng, bà cho thấy bà đang quay về với Đấng Mêsia của Israel, Đấng đã chữa lành nhiều người đau ốm trong dân.
Ban đầu, Chúa Giêsu im lặng, sau đó đáp trả khi sử dụng phong tục và lối nói quen thuộc của người Do Thái để so sánh những người dân ngoại giống như chó. Gọi ai bằng chó là một điều sỉ nhục. Vì chó liếm những vết ghẻ chốc, và mang bệnh truyền nhiễm như trong dụ ngôn người phú hộ và ông Ladarô (x. Lc 16,19-31).
Chính vì người Do thái khinh thường những người Dân Ngoại, họ không muốn có bất cứ liên hệ gì với Dân Ngoại cả. Người phụ nữ xứ Canaan đến với Chúa vì tình yêu thương của một người mẹ đối với đứa con của mình. Tình yêu vĩ đại của người mẹ làm sự can đảm vượt qua được bức tường kỳ thị chủng tộc.
Dù bị đối xử như là dơ bẩn, Bà còn nhìn nhận mình thấp hèn: "Đúng vậy thưa Ngài, nhưng những con chó nhỏ cũng được ăn những miếng bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của chủ". Nhà chú giải Thánh Kinh Cl. Tassin giải thích: Bà ấy nhìn nhận rằng dân Israel theo lịch sử thánh được ưu tiên, họ là "chủ", còn bà là dân ngoại, bà chỉ cầu được những "miếng bánh vụn" trong sự tuyển chọn mầu nhiệm của Thiên Chúa" (L'evangile de Matthieu Centurion, trang 167).
Đức Giêsu thật đã thi hành sứ vụ cứu thế đối với dân Israel cách trung thành, tuy nhiên Ngài đã mềm lòng trước lòng tin mạnh mẽ của người phụ nữ ngoại đạo... Ngày nay, không lạ gì khi chúng ta chứng kiến nhiều người còn là dân ngọai kêu xin Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh. Họ nhận được những ơn lành vì chân chất tấm lòng tin vào Thiên Chúa. Hay họ cầu xin Đức Maria và các thánh, dù niềm tin đó chưa đầy đủ vào Thiên Chúa, nhưng xét sâu hơn, họ cũng đã tin vào Thiên Chúa, vì Đức Mẹ và các vị thánh Công giáo đến từ Thiên Chúa, và với chúng ta, các Ngài đã làm những sự kiện lạ, chuyển ân sủng từ Thiên Chúa đến cho nhân loại, các Ngài là người cầu bầu để Thiên Chúa thi ân. Chúng ta thấy rất nhiều và rõ nét ở các nơi hành hương trên thế giới: Thánh Địa, Lộ Đức , Fatima, Banneur. Riêng ở Việt Nam như Đức Mẹ La Vang, Bình Triệu, Phần Mộ Các Thánh tử Đạo Việt Nam hay phần mộ của cha Trương Bửu Diệp...
Câu chuyện về lòng tin của người Phụ nữ dân ngọai thành Canaan nhắc cho chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi các cơ cấu tôn giáo. Nếu như xa xưa Chúa Giêsu đã gặp "một lòng tin lớn" ngoài Israel trong khi chính Israel lại cứng lòng tin, vì người Do thái tự mãn đã không chịu khiêm tốn tin vào Chúa Giêsu, viện cớ mình là "con cái Abraham"! (x. Ga 8,31-42). Thì xưa chúng ta thấy niềm tin mạnh mẽ của người phụ nữ ngọai, cũng như hôm ngày chúng ta cũng luôn gặp những lòng tin lớn lao như thế, nghĩa là một lòng đói khát Thiên Chúa thực sự, ở ngoài Giáo Hội và Thiên Chúa vẫn luôn thi ân giáng phúc như chúng ta vẫn thường thấy sự huyền nhiệm là kẻ ngọai đạo cầu xin được nhân lời...
Chúa Giêsu trả lời với bà : "Này bà, đức tin của bà mạnh thật". Ngài khen lòng tin mạnh mẽ của người dân ngọai. Chính một dân tộc Israel mới được xây trên một lòng tin cũng thật lớn lao, dù lòng tin đó xuất phát từ dân ngọai như trường hợp của phụ nữ thành Canaan, và như trường hợp viên sĩ quan dân ngọai trước đó cũng thế ( x. Mt 8,10.13). Chúa Kitô khẳng định với bà : "... Bà muốn sao thì sẽ được vậy." Từ giờ đó, con gái bà được khỏi " (Mt 15, 28). Lời cầu xin được nhận lời. Thật thế, lời cầu xin làm đẹp lòng Thiên Chúa không là lời cầu xin ỷ lại vào một quyền lợi nào. Đó là lời cầu xin hoàn toàn tin và cậy lòng thương xót của Thiên Chúa, dù đó là lời cầu của "chó con" chỉ mong đón nhận được các mảnh vụn rơi từ bàn ăn gia đình.
BẠN VÀ TÔI tin tưởng vào quyền năng cứu chuộc của tình yêu Chúa và cẩu khẩn tha thiết như người phụ nữ Canaan: Lạy Chúa xin dủ lòng thương con, xin cứu giúp con! (x. Mt 15,22. 25)


TÔI CẦU NGUYỆN VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Tin ở Chúa, con người sẽ được ban những ơn hơn lòng chúng ta mong ước dù bất cứ là ai: kẻ tội lỗi hay dân ngọai, như ngôn sứ Giêrêmia xác nhận:
« Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA,
và có ĐỨC CHÚA làm chỗ nương thân » (Gr 17,7).

Lm. Vinh Sơn scj, Sài gòn

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH - MON AN NHANH # 104 PDF Print E-mail

Số 104: Thức Ăn Nhanh cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul) by Fr. Quảng Trần, C.Ss.R., on Monday, August 14, 2017

"Giải tán đám đông dân chúng xong, Đức Giêsu lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Ngài vẫn ở đó một mình." (Mt 14: 23)

TÔI ĐANG SỐNG NIỀM TIN TÍN NGƯỠNG HAY TÔN GIÁO?

Có người đặt cầu hỏi: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai Thiên Chúa, Ngài có thiếu gì đâu, và cũng chẳng cần gì... vậy tại sao Ngài phải cầu nguyện?

Khi đặt câu hỏi này e rằng người hỏi đã hiểu nhầm, hay hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ ý nghĩa đích thật của cầu nguyện. Cầu nguyện không đồng nghĩa với cầu xin. Không phải Chúa Giêsu thiếu hay cần thứ gì Ngài mới cầu nguyện. Đành rằng cầu nguyện có thể kèm theo với cầu xin, nhưng cầu nguyện không nhất thiết phải cầu xin. Chúa Giêsu cầu nguyện chính là để đi vào TƯƠNG QUAN mật thiết với Thiên Chúa.

Nếu hiểu cầu nguyện là cầu xin thì đó mới chỉ là niềm tin TÍN NGƯỠNG của một người bình thường, tin có đấng thần linh nào đó bên kia thế giới tự nhiên này. Vị thần linh đó nghe tiếng ta cầu xin và ban phước cho ta. Đây là niềm tin phổ quát của hầu hết mọi người trong mọi thời đại khi họ lâm cảnh gian nan khốn khó: Niềm Tin Tín Ngưỡng. Họ chạy đến để cầu xin sự trợ giúp từ siêu nhiên khi khả năng tự nhiên của con người bó tay. Thông thường, niềm tin tín ngưỡng chỉ dừng lại ở mức độ: cầu xin. Khi nào cần ta chạy đến cầu xin, khi được việc rồi thì ta để vị thần linh ở đó ngồi chơi xơi nước. Chờ đến khi nào ta có nhu cầu ta lại chạy đến cầu xin. Niềm tin Tin Ngưỡng coi Thiên Chúa như một vị thần tài để khi ta khó khăn ta gõ cửa.

Nếu chỉ dừng lại ở niềm tin Tín Ngưỡng, coi Thiên Chúa như một vị thần tài thì chuyện gì sẽ xảy ra nếu một người làm nghề bán quan tài xin làm ăn phát đạt. Người ấy xin cho làm ăn phát đạt nghĩa là xin cho có nhiều người chết để người đó bán được quan tài nhiều. Eo ơi, thế có mà...?!! Và chuyện gì xảy ra cho Thiên Chúa nếu hai người xin điều ngược nhau cùng một lúc...!

Niềm tin Tín Ngưỡng không phải là niềm tin TÔN GIÁO. Niềm tin của tôn giáo vượt lên trên niềm tin của tín ngưỡng. Niềm tin TÔN GIÁO là niềm tin của một người muốn đi vào trong tương quan NHÂN VỊ với vị Thiên Chúa, với vị Thần Linh mà họ tôn thờ, họ tin kính. Niềm tin tôn giáo không xin Thiên Chúa ban cho cái này cái nọ, mà họ cầu nguyện để xem xét họ phải hành động thế nào trong mỗi hoàn cảnh cho phù hợp với ý Thiên Chúa: "Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa."

Một người có niềm tin Tôn Giáo khi cầu nguyện là muốn lắng nghe xem trong mọi hoàn cảnh Thiên Chúa muốn gì nơi ta, và ta làm thế nào để làm đúng theo ý Thiên Chúa mời gọi. Họ không xin làm theo ý họ, mà xin nhận ra ý Chúa và làm theo ý Chúa. Họ không xin Thiên Chúa cho thi đậu mà trước đó họ đã không học nghiêm túc. Họ xin Chúa giúp họ biết tận dụng thời gian, và biết bỏ công sức ra học tập sao cho có hiệu quả. (Đành rằng Thiên Chúa vẫn có thể làm những phép lạ mà không cần theo bất cứ một quy luật tự nhiên nào, hay không cần sự cộng tác của chúng ta.)

Suy nghĩ và hành động: Tôi là người Kitô Hữu, tôi đang sống niềm tin Tôn Giáo hay niềm tin Tín Ngưỡng? Tôi có tập lắng nghe ý Thiên Chúa trong thinh lặng trước khi đưa ra quyết định nào đó không? Tôi có hay mê tín chạy theo những người, những nơi, những chỗ mà nói rằng có thể ban cho tôi ơn này ơn nọ mà quên tập đời sống cầu nguyện không?

--
Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R

Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 28