Tìm Gặp Chúa Thật Nhanh
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3495
mod_vvisit_counterHôm Qua8254
mod_vvisit_counterTuần Này26651
mod_vvisit_counterTuần Trước50260
mod_vvisit_counterTháng Này104133
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11556219

We have: 122 guests online
Your IP: 54.196.73.22
 , 
Today: Aug 15, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Tìm Gặp Chúa Thật Nhanh
TIM GAP CHUA THAT NHANH - THINH LANG PDF Print E-mail

Tiếng nói của sự thinh lặng
30/06/2018 Gm. JB. Bùi Tuần


Sự gì phải đến sẽ đến. Sự thinh lặng là điều tất nhiên phải đến với bất cứ ai.

Tôi đón chờ nó. Thánh ý Chúa muốn vậy.

Tôi đón chờ bằng tâm tình tạ ơn.

Tôi tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho tôi. Một trong những ơn tôi phải tạ ơn đặc biệt, đó là ơn sống đức tin.

Đức tin mà tôi đã lãnh nhận cũng giống đức tin Chúa ban cho mọi con cái Chúa. Nhưng tôi sống đức tin ấy trong nhiều tình tiết khó khăn. Những khó khăn ấy xem ra nhiều tín hữu cũng đã trải qua. Nhưng họ không nói ra.

Nếu hôm nay, tôi nói ra đôi chút, thì thiết tưởng đó cũng là tiếng nói chung của sự thinh lặng. Sự thinh lặng như một hiện diện làm chứng và hiệp thông của tôi và của nhiều người.

Nhìn lại con đường sống đức tin trong lòng Quê Hương và Hội Thánh, tôi thấy đức tin của tôi và của nhiều người đã mang mấy điều sau đây.

1. Một đức tin mang dấu ấn sự sợ hãi

Sự sợ hãi trong đời sống đức tin của nhiều người chúng tôi là một sự thật nên nói ra. Bởi vì tin trong sợ hãi là điều xấu.

Ta hãy nhớ lại sự sợ hãi của Tiên tri Êlia. Vì sợ bà hoàng hậu Ideven, Tiên tri Êlia đã đi trốn. Ban đầu ông trốn vào sa mạc, rồi đi suốt 40 ngày đêm cho tới núi Khôrep. Lúc thì ông ngủ dưới gốc cây, lúc thì ông ngủ trong hang (x. 1 V 19,3-9). Êlia là tiên tri, mà còn sợ hãi đến mức đó.

Nếu cần thêm một minh chứng nữa về sự sợ hãi trong đức tin, chúng ta có thể nhìn lại các Tông đồ Chúa Giêsu. Ở vườn cây dầu, khi thấy Thầy mình bị bắt, các ngài quá sợ, đã chạy thoát thân (x. Mc 14,50). Sau khi Chúa phục sinh, các Tông đồ vẫn còn sợ. Họ họp nhau trong phòng đóng kín cửa (x. Ga 20,19).

Còn chúng ta, khi gặp nhiều trường hợp khó khăn, có người như cảm thấy mất hết các điểm tựa quen thuộc. Đức tin bấy giờ như chiếc xuồng nhỏ trôi giữa biển cả sóng cao gió mạnh. Trong sợ hãi đức tin chúng tôi đã chỉ còn biết tìm về một mình Chúa mà thôi. Và Chúa đã đến như Đấng Cứu Độ đầy tình thương xót.

2. Một đức tin mang dấu ấn sự đau khổ

Đức tin của chúng tôi không những đã trải qua nhiều sợ hãi, mà cũng đã nếm nhiều đau khổ. Những đau khổ lớn nhất là do thử thách về sự vâng phục ý Chúa.

Để dễ hiểu khía cạnh này, chúng ta có thể nhắc đến trường hợp ông Abraham. Ngài được Chúa dạy phải sát tế con mình là Isaac (x. St 22,1-19). Một gương vâng lời nữa gây nhiều đau khổ là trường hợp Đức Mẹ Maria. Mẹ vâng lời Chúa, nhưng vâng lời đó sẽ là một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ (x. Lc 2,35).

Vâng lời của nhiều người chúng tôi cũng đã gây nên những mất mát. Chúng tôi vâng lời, mà không biết sự gì sẽ xảy ra, và mình sẽ được lợi gì. Phép lành của Chúa không được hứa hẹn. Cái hợp lý không xuất hiện với những lý luận tự nhiên. Sự vâng lời như dồn mình tới tận cùng giới hạn sự am hiểu, mà mình cho là sáng suốt.

Nhưng khi đức tin chịu vâng phục ý Chúa với sự chấp nhận hy sinh, thì con người chúng tôi đã khám phá ra rằng: Đời sống đức tin không thể tách rời khỏi sự vâng phục ý Chúa. Đó là một mầu nhiệm. Chính ở điểm đó mà nhiều người chúng tôi mới trở thành chứng nhân âm thầm của đức tin.

3. Một đức tin mang dấu ấn sự cô đơn

Ngoài đau khổ và sợ hãi, đức tin của chúng tôi còn mang dấu ấn của sự cô đơn.

Hình ảnh sống động nhất về sự cô đơn là hình ảnh Chúa Giêsu trên Thánh giá. Lời Người kêu thảm thiết: "Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con" (Mc 15,34) diễn tả một sự cô đơn khủng khiếp.

Trong các người tin theo Chúa, không thiếu người đã trải qua những trường hợp cô đơn ghê sợ. Hoài nghi tiếp nối hoài nghi. Nhưng hoài nghi lại nuôi đức tin. Rồi đức tin lại nở sinh những hoài nghi mới. Con người sống đức tin như bị rơi vào con đường hầm tăm tối. Họ cầu nguyện, nhưng cảm thấy quá khô khan. Họ tìm Chúa, nhưng cảm thấy như Chúa vắng mặt. Họ nhìn xung quanh xem có ai tin được, nhưng hình như mọi người đều dửng dưng xa tránh.

Nếu ai hỏi họ tại sao đức tin họ lại cô đơn, thì họ không cắt nghĩa được. Và đó là cảnh cô đơn mênh mông rùng rợn. Nếu hỏi họ cô đơn nào nguy hiểm nhất? Thì đôi khi họ chỉ nói trống là: Từ nội bộ. Và đó là sự nghịch lý chua chát, mà Thánh Gioan đã nói ngay ở đầu Phúc âm của Ngài (x. Ga 1,11).

Xã hội và Giáo hội là chiến trường giữa thiện và ác. Khi não trạng coi trọng của cải danh vọng hơn đức tin đức ái phát triển mạnh ở đó, thì những ai đi ngược lại sẽ bị cô đơn. Sự cô đơn của đức tin thường hay bén nhạy. Nó cũng dễ đưa con người tới những suy tư về ý nghĩa cuộc đời và các biến cố. Những suy tư như thế là cửa mở ra về cõi đời đời.

Với "Tiếng nói của sự thinh lặng" trên đây, tôi muốn nói lên cảm tưởng này của tôi là: Đức tin ví được như một viên ngọc quý Chúa ban. Viên ngọc quý này sẽ phải được giữ gìn, và sẽ được sáng lên nhờ những thử thách. Có nhiều thử thách, nhưng nên để ý nhiều hơn đến sợ hãi đau khổ và cơ đơn. Vì thế, việc mà Chúa muốn chúng ta thực hiện không phải là tránh được những thử thách đó. Hành trình sống đức tin như thế sẽ phác hoạ lại lời Thánh Tông đồ Phaolô xưa:

"Kho tàng ấy, chúng ta lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang trong thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống cũng biểu lộ nơi thân mình chúng tôi" (2 Cr 4,7-10).

Với nhận thức trên đây, tôi xin tạ ơn Chúa vì hành trình đức tin. Dù trong thing lặng, hành trình ấy chính là những vượt qua, nhờ cuộc thương khó của Chúa Giêsu là mục tử nhân lành. Người luôn ở trong đời sống chúng ta.

Xin âm thầm tạ ơn Chúa trong cõi thinh lặng.

Xin âm thầm tạ ơn Chúa với những người thinh lặng.

Gm. G.B. Bùi Tuần

---------------------------

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH - QUA CUA HEP PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Jun 26 at 1:17 AM

Thi hành điều muốn người khác làm cho mình.
26/06 – Thứ Ba tuần 12 thường niên.
"Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì hãy làm cho người ta".

Lời Chúa: Mt. 7, 6. 12-14
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Đừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con.
"Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế! Đấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy.
"Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy".

SUY NIỆM / TÌM GẶP CHÚA: Cửa hẹp
"Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng là đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua cửa đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy." (Mt. 7, 13-14)
Những cánh cửa khép kín


Ta nghĩ đến cái gì khi nghe Phúc âm nói về cửa hẹp? Có lẽ ta cho đó là chuyện chẳng có gì đáng "tếu", đáng phấn khởi cả. Trong đầu óc ta, đó là những tiếng gợi nên cảnh nhiệm nhặt, khổ chế, những điều răn, thập giá và đau khổ. Trong tất cả những điều này, chẳng có gì làm cho ta ham sống cả. Một phần nào đó cũng giống như muốn qua cửa hẹp, thì trước tiên là phải lo đóng chặt các cửa chung quanh, phải bận tâm nhiều đến những điều cấm đoán, phải thường xuyên ở thế phòng thủ, phải luôn luôn canh chừng để khỏi rơi xuống hố sâu vực thẳm.
Như vậy thiết tưởng cửa hẹp là một cái vòng xiềng cổ, là cái áo bó chặt vào người, là con đường khúc khuỷu gập ghềnh chẳng có nhiều ánh sáng, niềm vui sống và tự do.
Những cánh cửa mở rộng
Nghĩ tưởng như vậy đúng là không biết đánh giá cao điều Chúa Giêsu đề nghị cho ta. Để tỏ ra công bằng đối với Chúa, khĩ nghĩ đến cửa hẹp, thiết tưởng ta phải nghĩ nhiều đến những cánh cửa rộng mở hơn là những cánh cửa khép kín. Chúa Giêsu chẳng phải là con người dập tắt niềm vui, sự sống và tự do. Và chính cửa hẹp Chúa nói đến ở đây, sẽ đưa ta tới đó.
Nếu Chúa Giêsu có mời gọi ta sống nhiệm nhặt khắc khổ, chính là để nếp sống ấy đưa ta tới nguồn vui. Chúng ta sẽ phải đau khổ, nếu Chúa không giấu ta điều đó, chính là để nói với ta rằng hạnh phúc đang chờ ta ở cuối đoạn đường. Nếu Người thúc ép ta vác thập giá mình, chính la để dẫn ta đến sự sống.


Thế nên cửa hẹp được gọi là tình yêu thương, sự hiến thân, đức công bình, sự tha thứ lỗi lầm, lòng quảng đại, nhân từ, dịu hiền. Cửa hẹp này mở rất rộng rãi hướng về một thế giới tuyệt vời; thế giới chan hòa tự do và hoan lạc này chỉ mình Thiên Chúa mới có thể vun trồng ở thâm sâu của lòng ta.

----------------------------------

 

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH - NGAY 25-6-2018 PDF Print E-mail

Số 125: Thức Ăn Nhanh cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul) - June 25, 2018

"Cả hai ông bà: Dacaria và Elizabeth đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì." (Lk 1:6)

TIẾNG LƯƠNG TÂM

Theo Kinh Thánh, ông Dacaria và bà Elizabeth đã già cả rồi mới sinh được Gioan Tẩy Giả. Việc hạ sinh Gioan này nhờ sự can thiệp, quan phòng cách đặc biệt nhiệm mầu của Thiên Chúa. Cuộc đời của ông Gioan là một chuỗi những sự lạ lùng.

Ngài được khỏi tội nguyên tổ khi còn trong lòng mẹ. Sống một cuộc đời khác thường: ăn châu chấu và mật oong rừng, sống trong sa mạc. Chết trong phi thường. Ngài dám lên tiếng bênh vực luân thường đạo lý, dám nói sự thật. Khi vua Hêrôđê có lối sống bất chính trong đàng luân lý [với chị dâu]. Gioan mạnh dạn lên tiếng. Vì sự lên tiếng này, Ngài đã phài chết, bị chặt đầu.

Vì sự thật, vì lên tiếng chống lại những sai trái về luân thường đạo lý, Gioan đã gặp nguy hiểm và mất mạng. Do vậy, Đức giáo hoàng Benedicto 16 đã gọi Gioan Tẩy Giả là tiếng nói lương của thế giới qua các thời đại.

Tiếng lương tâm là gì?

Tiếng lương tâm, nói một cách đơn giản, là tiếng nói đã được Thiên Chúa cài sẵn trong tâm hồn chúng ta, mời gọi chúng ta làm điều lành, lánh điều dữ, đòi ta dấn thân đi tìm chân thiện mỹ.

Còn theo Aristotle,triết gia Hylạp cổ đại, sở dĩ chúng ta có lương tâm, vì linh hồn chúng ta được cấu tạo bởi ba phần chính (tripartite soul, xem hình bên.) Thứ nhất phần lý trí, giúp ta phân biệt đúng sai. Thứ đến phần cảm xúc giúp chúng ta cảm thấy tội lỗi, xấu hổ khi chúng ta hành động, nói, và suy nghĩ điều sai trái, và vui sướng, bình an, hạnh phúc khi ta làm điều đúng. Ta tức giận và căm tức trước bất công. Điều này lý giải tại sao trong các hoàn cảnh, đất nước bị độc tài, bất công... sẽ âm ỷ và rồi bùng phát những cuộc nổi dậy... để chống lại bất công. Đó là lý do của các cuộc cách mạng. Và phần cuối cùng, lý do chúng ta có những hành động trên là vì bị thúc đẩy bởi những dục vọng thể lý.

Nói một cách đơn giản như ai đã từng nói: LƯƠNG TẤM: là một khối ba góc ở trong tim. Khi ta làm GÌ TỐT thì nó NẰM YÊN. Khi ta làm GÌ XẤU thì nó QUẬY LÊN, và ĐÂM CÁC GỌC NHỌN VÀO TA. Nếu ta cứ làm các ĐIỀU XẤU thì các góc nhọn của nó cứ MÒN DẦN, không làm ta cảm thấy đau nữa.

Làm sao để ta có thể nghe được tiếng lương tâm?

Cuộc sống của chúng ta đôi khi qua bận tộn, ta tập trung qua nhiều vào những thứ cơm áo gạo tiền, mà hầu như không dừng lại để nghe tiếng lương tâm. Nói như Henri Frédéric Amiel "Nếu chúng ta không chú tâm vào đời sống nội tâm, thì chúng ta trở thành nô lệ của những thứ vây quanh chúng ta" (The man who pays no attention to his inner life is the slave of his surroundings). Thế nên, để nghe được tiếng lương tâm mời gọi chúng ta dừng bước đi vào trong căn nhà của tâm hồn mình, tĩnh lặng để nghe tiếng lương tâm mời gọi ta sống.

Nghe được tiếng lương tâm đã khó, và hành động theo tiếng mời gọi của lương tâm lại càng khó hơn. Nó luôn là một thách đố. Chính thánh Phaolô đã hiểu được sự căng thẳng này nên đã phải thốt lên: "điều thiện tôi muốn làm thì tôi lại không làm, điều ác tôi không muốn làm thì tôi lại làm" (Rm 7:19).

Để có thể hành động theo tiếng lương tâm, lời mời gọi mỗi người chúng ta có thể bắt chước ông Dacaria, và bà Elizabeth: "Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì" (Lk 1:6). Nói tóm lại để sống đúng lương tâm, trong thế giới ngày nay coi mọi sự đều tương đối nên việc tuân giữ các giới răn của Chúa là MỆNH LỆNH để sống theo lương tâm. Các giới răn của Chúa như là kim chỉ nam cho lương tâm của ta để hành động theo.

Cùng suy nghĩ và hành động: Tôi đang sống trong một thế giới có nhiều bất công, khi lương tâm tôi nhắc rằng ai đó đang làm sai, tôi có can đam lên tiếng cản ngăn không? Dù có thể mình tôi đi ngược với trao lưu sai lạc của những người đang sống cùng thời, cùng nơi với tôi, tôi có xin ơn can đảm để chống lại cái sai trái không? "Stand up for what is right even if you stand alone."

Tôi có ý thức về giá trị công bằng (justice) trong xã hội nơi tôi đang sống không? Chúng ta chỉ có một đời để sống ở trần gian này, và chết một lần. Vậy, hãy sống như như một người công chính, hãy chết như một anh hùng.

--
Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R

Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

--
Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.
-----------------------------------

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH- MON AN NHANH 124 PDF Print E-mail

Số 124: Thức Ăn Nhanh cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul)

"Lay Cha chúng con ở trên trời..." (Mt 6:9)

THIÊN CHÚA LÀ CHA HAY LÀ MẸ?

Chúa Nhật thứ III của tháng sáu là ngày đặc biết dành để nhớ tới những người cha, những người hiền phụ trong gia đình. Những người nói theo ngôn ngữ bình thường là người đã cùng với mẹ của chúng ta cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh thành ra chúng ta. Nói tới người cha, hay người mẹ là nói tới người sinh thành, dưỡng dục ta.

Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, hình như có nhiều người, vì nhiều lý do nào đó, đã có một cái nhìn tiêu cực về bố, về cha của họ hoặc có lẽ do thiếu tình cha. Điều này như một hệ quả tồi tệ dẫn đến những khó khăn để hiểu đúng đắn về Thiên Chúa như một người Cha nhân từ. Vậy theo Kinh Thánh, chúng ta gọi Thiên Chúa trong vai trò như một người cha hay người mẹ?

Thời gian gần đây ở Việt Nam, chúng ta nghe, xem đài báo của nhà cầm quyền Việt Nam đăng, đưa tin nhiều về một nhóm người tin vào Hội Thánh của Đức Chúa Trời Mẹ (God's Mother). Ở đây ta không bàn luận đến vấn đề chính trị chính em ở đằng sau những tin tức (news) về nhóm người thuộc Hội Thánh Chúa Trời Mẹ. Nhưng xin đưa ra một giả thiết nếu một người nào trong nhóm Hội Thánh của Đức Chúa Trời Mẹ đến, thắc mắc với chúng ta rằng phải tôn thờ, và gọi Thiên Chúa là mẹ mới đúng. Chúng ta sẽ trả lời thế nào?

Nói tới cha là chúng ta nói tới sự trao ban mầm sống, nhờ đó chúng ta hiện hữu, có mặt trên đời. Cha là người tra ban mầm sống. Mẹ là người đón nhận. Trong quan hệ vợ chồng, người cha trao ban, người mẹ đón nhân sự trao ban của người cha trong tình yêu, nhờ đó mầm sống mới xuất hiện là người con. Cũng thế, Thiên Chúa là người đã trao ban sự sống cho vũ trụ này, thế giới này, và mọi hiện hữu trên thế gian này. Chúng ta thường nghe nói ông mặt trời, mẹ trái đất. Vì quan niệm cho rằng mặt trời trao ban sự sống và trái đất đón nhận sự sống. Thiên Chúa được ví như mặt trời, vì lẽ mọi vật đều đón nhận sự sống từ nơi Thiên Chúa. Ngài đã cho vào vũ trụ một năng lực để chúng hoạt động. Ngài đã gieo vào lòng con người trong mọi thời đại khao khát chân-thiện-mỹ, nên mọi bất công trong xã hội, trong tập thể luôn bị phản đối công khai hay âm thầm. Thiên Chúa là Đấng trao ban mầm sống cho mọi loài, nên nhìn theo khía cạnh trao ban ta gọi Thiên Chúa là Cha. Thiên Chúa trong tình yêu của Ba Ngôi đã trao ban sự sống, cứu độ nhân loại và kết quả của tình yêu ấy là Chúa Con. Thế nên, Thiên Chúa phải là Cha.

Hơn nữa, trong Kinh Thánh, chính Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha, và chúng ta phải cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha chúng ta cho mọi nhu cầu của chúng ta ngang qua lời kinh duy nhất: Kinh Lạy Cha. "Lay Cha chúng con ở trên trời..." (Mt 6:9).

Cha chính là người trao ban mầm sống để nhờ đó chúng ta mới có thể hiện hữu trên cõi đời. Thiên Chúa là cha, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa người cha là người không phải là người nữ.Vì Thiên Chúa là vô thuỷ vô chúng, ngài không phải là nam hay là nữ, nhưng ta hiểu ngài như một cha vì Ngài là người trao ban sự sông, chứ không phải người đón nhận.

Cha là người trao ban sự sống. Thế nên, dù người cha sinh ra chúng ta có thế nào, chúng ta vẫn phải mang ơn, hiếu thảo với người cha của mình. Nếu không có sự trao ban mầm sống thì ta không có mặt trên đời.

Tôi biết một gia đình nọ. Vì là lính hải quân, biến cố 1975 đến, người cha đi thẳng sang Mỹ. Để lại vợ và 6 đứa con thơ ở lại bên Việt Nam. Mãi 11 năm sau, năm 1986, vợ con ông mới đoàn tụ. Vì khoảng thời gian xa vợ, xa những đứa con lúc chúng thời thơ ấu, nên khi đoàn tụ tình cảm của vợ và những đứa con dành cho người cha không thật đậm đà. Mặc dù người cha bao năm trời cặm cụi làm kiếm tiền gửi về VN... Ông sống chung thuỷ, không lem nhém suốt những năm tháng sống xa vợ xa con. Để giữ mình, ông đi phụ giúp các cha, các công việc nhà thờ mỗi khi rảnh rỗi...

Thời gian thoi đưa, khi gia đình ông sang Mỹ, bà vợ tháo vát hơn, đã mở được tiệm Nail, bà kiếm được tiền nhiều. Bà trở nên bà chủ lớn trong nhà. Khinh ông ra mặt. Sáu đứa con vì sống với mẹ, và cũng không nhìn ra được tình thương của ba, nên đã khinh thường người bố vì không có tài, không làm ra tiền...

Và tệ hơn, khi về già, bố và mẹ sống riêng mỗi người một phòng cho thoải mái, chúng đồng ý với mẹ cho ba xuống ở tầng hầm (basement). Tầng hầm cũng chẳng sao, vì có các tiện nghi khá đầy đủ. Nhưng cách các con phân biệt đối xử không công bằng làm ông buồn. Một nỗi buồn vô tận.

Một lần tôi đến thăm, nhìn ông ngồi cầm điếu thuốc hút nhìn ra trời mùa đông xám xịt tôi thấu được nỗi buồn của ông! Biết làm sao được! Động viên ông và đi về!

*Cùng suy nghĩ và hành động: Nhân ngày của các hiền phụ, tôi đã hiếu kính với cha mẹ tôi đúng mức chưa? Có thể vì thời cuộc, vì hoàn cảnh xã hội, tôi không biết được những khó khăn cha mẹ tôi phải chịu, tôi có cảm thông với những bất toàn của các ngài không? 365 ngày trong một năm, tôi có quan tâm tới cha mẹ tôi như ngày mừng lễ hiền phụ không?

--
Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R

Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
---------------------------------------

 
TIM GAP CHUA THAT NHANH - THUC AN NHANH 123 PDF Print E-mail

Số 123: Thức Ăn Nhanh cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul) by Fr. Quảng Trần, C.Ss.R., on Monday, June 4, 2018

Đức Giêsu nói với người DoThái rằng "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh Ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống." (Ga 6:51)

THÁNH THỂ, TÌNH YÊU TỰ HIẾN CỦA THIÊN CHÚA

Bí tích Thánh Thể là một Bí Tích về Tình Yêu nhiệm mầu đến từ Thiên Chúa, đến từ sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa. Không phải đến từ phía con người. Con người chỉ cần đón nhận tình yêu nhưng không (unconditioned love) đến từ Thiên Chúa.

Về phía con người, chúng ta luôn đặt câu hỏi làm thế nào mà một Thiên Chúa hiện hữu từ đời đời, toàn năng, toàn tri...lại hiện diện thật trong một tấm bánh, trong chút rượu khi được linh mục đọc lời hiến thánh, là thứ bị giới hạn về không gian, bị thời gian tàn phá?

Thưa chỉ vì "Thiên Chúa là tình yêu"(1Ga 4: 16).

Hơn nữa, về phía con người, chúng ta dù có sốt sắng thế nào đi nữa, dù có ý thức rất rõ Chúa vì yêu ta đã hiện diện thật trong bí tích Thánh Thể, thì chúng ta cũng chẳng tài nào hiểu thấu được tại sao Chúa lại làm vậy.

Có thể chúng ta cứ việc tìm hiểu, cứ nghiên cứu để hiểu biết hơn về tình yêu của Thiên Chúa trong bí tích Thánh Thể, nhưng nói như thánh Thomas Aquinas, tiến sỹ các thiên thần, "ta hãy lấy đức tin bù lại nếu giác quan chẳng cảm thấy gì." Thậm chí chúng ta có thể chẳng hiểu, chẳng cảm nếm được tình yêu của Thiên Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể cho đủ, nhưng xin cho chúng ta trung thành đến "ăn, uống" Ngài mỗi khi có thể. Hầu Bí Tích Thánh Thể sẽ "bổ sức" cho cả hồn xác chúng ta. Vì trong tình yêu, lời mời gọi đáp trả là cần thiết, nhưng tình yêu đích thật luôn luôn vô điều kiện. Chỉ biết cho đi mà không cần so đo tính toán đến sự đáp trả của người được yêu thương.

Nhà thờ tôi (Mission Churt in Boston – Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Boston) có cụ ông già lắm rồi, từ khi tôi đến đây đã thấy cụ già rồi, tên cụ là Phillip Furey. Mỗi lần lên rước lễ cụ luôn lãnh nhận thêm một bánh thánh để trao cho một ai đó. Dần dà tôi khám phá ra cụ ông Phillip "làm thưa tác viên Thánh Thể ngoại thương" cho một mình cụ bà, vợ ông đang ở nhà hưu dưỡng Maris Stella.

Mỗi sáng, lễ xong, cụ ông Phillip lên xe bus số 66 ở ngày trước mặt tiền nhà thờ, đến thẳng nhà hưu dưỡng VÀO KHOẢNG 8:30 để trao Mình Thánh Chúa cho cụ bà, rồi ăn sáng với bà.

Một ngày kia, nhà thờ chúng tôi có chương trình đặc biệt mãi đến 9:00 mới lễ xong. Cụ ông Phillip cứ thấp thỏm, bồn chồn như mất sổ gạo thời bao cấp bên Việt Nam. Mấy người giáo dân trong nhà thờ thấy cụ ông Phillip như vậy nên nói: ông già rồi, đâu có làm gì vội vàng đâu mà lo lắng, bồn chồn về việc lễ xong muộn hơn bình thường?

Cụ ông Phillip trả lời: Đã 20 năm nay, cứ đúng 8:30 tôi cho bà nhà tôi rước Mình Thánh Chúa, rồi sau đó chúng tôi điểm tâm sáng với nhau.

Mọi người mới xúm vào nói: bà ấy vừa đãng trí, vừa điếc (hình như bệnh của hầu hết các người già thì phải???). Bà ấy đâu có nhớ ai. Bà ây không nhận ra ông là ai, vậy ông cần gì phải lo lắng. Ông chỉ là một người như bất cứ người nào khác đối với bà ấy mà!

Cụ ông Phillip Furey chậm dãi trả lời: Đúng! Vợ tôi chẳng nhận ra ai, dù là chồng hay những đứa con. NHƯNG ÍT NHẤT LÀ TÔI CÒN NHẬN RA BÁ ẤY, VÀ BIẾT BÀ ẤY LÀ AI. BÀ ẤY LÀ VỢ TÔI. TÔI YÊU BÀ ẤY. TÔI KHÔNG CẦN BÀ ẤY NHẬN RA TÔI, vì TÔI YÊU BÀ ẤY. Tôi đến thăm bà ấy mỗi sáng vì tôi yêu bà ấy.

Tình yêu không cần đòi đền đáp, tình yêu không cần điều kiện mới là tình yêu đích thật. Cha mẹ chúng ta dọn sẵn bữa ăn tối, các ngài chỉ cần con cái về ăn, chỉ cần chúng về ăn là được, là đủ và cảm thấy chúng ta ăn ngon là các ngài mừng rồi. Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể cũng thế. Cần chúng ta "ăn, uống" Ngài là Thiên Chúa vui rồi.

Suy nghĩ và hành động: Lời mời gọi tôi có muốn "ăn, uống" Thánh Thể không? Tôi có dành thời gian cho Chúa Thánh Thể không? Như rước lễ thường xuyên mỗi khi tham dự thánh lễ, hay rước lễ thiêng liêng mỗi khi không có dịp tham dự thánh lễ, hay có hay viếng thánh thể trong các nhà thờ, các nhà tạm khi có dịp không?

--
Fr. Francis Quảng Trần C.Ss.R

Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 31