mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay374
mod_vvisit_counterHôm Qua5412
mod_vvisit_counterTuần Này11679
mod_vvisit_counterTuần Trước42988
mod_vvisit_counterTháng Này72607
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9852366

We have: 128 guests online
Your IP: 54.234.247.118
 , 
Today: Dec 13, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Ngày Trở Về Nhà Cha
NGAY TRO VE NHA CHA # 101 = NUOC TROI - SONG CHET PDF Print E-mail

Chuyện Nước Trời
Ai muốn vào Nước Trời? Nếu bạn là Kitô hữu mà "bị" hỏi như vậy, hẳn là bạn sẽ thấy "ngứa tai" hoặc "xốn bụng". Có thể bạn sẽ "hỏi ngược" lại: "Có ai lại không muốn vào Nước Trời chứ?". Thế nhưng có thể cũng chẳng oan đâu!
Ví dụ: Người ta cảnh báo "hút mỗi điếu thuốc lá sẽ tổn thọ 4 phút". Thử làm toán nhân thì "ớn" thật. Hoặc lấy chất nicotine có trong một điếu thuốc mà chích vào cơ thể thì người ta chết ngay lập tức. Thế mà người ta vẫn hút, cứ "điếu này vừa hạ rộng, điếu kia đã động quan". Vì người ta không chết ngay nên vẫn "phớt tỉnh Ăng-lê".
Cũng vậy, người ta biết nghiện ma túy là chết chắc, thế mà người ta vẫn "chơi", hít chưa "đã" nên chích thẳng vào máu mới "phê". Tử Thần đối với họ chẳng là cái quái gì cả!
Về ý nghĩa tâm linh cũng tương tự. Rõ ràng là dù Nước Trời vô cùng quý giá, đáng mơ ước, đáng khao khát, không gì sánh bằng, thế mà vẫn có những người thẳng thừng từ chối bước vào Nước Trời!
Vào một ngày Sabát, Đức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa. Khi đề cập việc tổ chức tiệc tùng, Chúa Giêsu nói: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù" (Lc 14:12-13).
Nghe kỳ quá! Rất sốc! Chắc hẳn lúc đó ông ta rất "ngứa óc" và khó chịu lắm, nhưng lại không nói được gì! Và rồi Đức Giêsu nói luôn lý do: "Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại" (Lc 14:14). Lúc này không còn là "kỳ cục" mà "kỳ lạ". Đúng là quá kỳ lạ, dù có vẻ rất ngược đời!
Thường thì khi tổ chức các loại đám tiệc, người ta muốn mời những người "tai to, mặt lớn" để hãnh diện, mời những "đại gia" để có lời, thậm chí mời ai cũng "nhắm chừng" trước, chứ chuyện "tình nghĩa" có đáng gì! Thế nên người ta vẫn thích "đùa dai" với câu: "Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười". Quả thật, nếu đãi tiệc gì mà đi mời mấy người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù thì có nước mà... ăn mày!
Chúng ta không hiểu hay cố tình không hiểu ý Chúa? Sao chỉ thấy ít người làm như Chúa dạy? Cũng có thể chúng ta cho rằng Chúa "nói bóng" hoặc "nói cho vui" thôi. Tuy nhiên, thiết tưởng Chúa Giêsu hoàn toàn nói theo nghĩa đen chứ chẳng bóng gió gì cả. Trong lịch sử Giáo hội, đã có nhiều vị thánh sống đúng nghĩa đen của tinh thần khó nghèo theo Phúc Âm đủ chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Thánh Phanxicô Assisi (mệnh danh là Phanxicô khó nghèo), Thánh Gioan Maria Vianney, Chân phước Têrêsa Calcutta,...
Khi nghe Chúa Giêsu nói về cách đãi tiệc "kỳ cục" như vậy, một trong những kẻ đồng bàn nói với Đức Giêsu: "Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa!" (Lc 14:15). Nói được như vậy chứng tỏ ông này biết Chúa Giêsu muốn nói đến Tiệc Nước Trời, Thiên Đàng, Vương Quốc Thiên Chúa. Thế nhưng cũng có thể ông này nói mỉa mai chứ chưa hẳn thật lòng!
Chúa Giêsu trả lời ông ta bằng một dụ ngôn: Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. Đến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng: "Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn" (Lc 14:17). Được mời đích danh, nhưng mọi người đồng loạt bắt đầu xin kiếu với đủ lý do, ai cũng có "cớ"... chính đáng!
Người thứ nhất thản nhiên nói: "Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu" (Lc 14:18). Người khác phân bua: "Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu" (Lc 14:19). Người khác lại viện cớ: "Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được" (Lc 14:20). Ai cũng có lý do chính đáng riêng để từ chối đi dự tiệc. Rõ ràng HỌ KHÔNG MUỐN VÀO NƯỚC TRỜI.
Đầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Chủ nhà liền nổi cơn thịnh nộ và bảo người đầy tớ: "Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây" (Lc 14:21). Đầy tớ chân thật trình bày: "Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ" (Lc 14:22). Ông chủ ôn tồn bảo người đầy tớ: "Ra các đường làng, đường xóm, ép người ta vào đầy nhà cho ta" (Lc 14:23). Cuối cùng, Ông Chủ Giêsu quyết định: "Tôi nói cho các anh biết: Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi" (Lc 14:24).
Những lý do họ đưa ra để từ chối dự tiệc đều là những lý do rất "quen thuộc", liên quan vật chất và thực tế, chẳng khác ngày nay, có điều là ngày nay chúng ta từ chối "khéo" hơn nhiều. Quả thật, chính chúng ta cũng đã và đang có những lúc là Pharisêu nhưng lại khoác chiếc-áo-nhân-nghĩa, rất khó có thể phát hiện. Miệng nói muốn vào Nước Trời nhưng cách sống lại trái ngược!
Các lối dẫn vào những nơi ăn chơi hoặc các khu nhà cao cấp đều rộng thênh thang, bóng láng, trơn tru, mượt mà và sang trọng, ai thấy cũng ham; còn những con hẻm nhỏ vào những khu dân cư nghèo thì nhỏ bé, gồ ghề, lầy lội, hôi tanh, chẳng ai thèm nhìn chứ đừng nói bước chân vào.
Đường vào Nước Trời cũng tương tự. Nếu thật lòng muốn vào Nước Trời thì phải làm sao? Hẳn là ai cũng biết!
Chúa Giêsu đã từng sống trong ngôi làng nhỏ bé, lao động cực khổ, nên Ngài khuyên thực tế lắm: "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy" (Mt 7:13-14). Đáng lưu ý cách Chúa nói về tỷ lệ chênh lệch nhau: "Nhiều người" đối với "cửa rộng" và "đường thênh thang", còn "ít người" đối với "cửa hẹp" và "đường chật".
Muốn vào Nước Trời thì phải tuân phục Thánh Ý Chúa. Chắc chắn không còn cách khác. Điều đó thể hiện qua dụ ngôn hai người con, đứa nhận lời thì không làm, đứa cãi lời thì lại làm (x. Mt 21:28-30), nhưng vấn đề là tuân phục hay bất tuân: Chính đứa đi làm mới là đứa hiếu thảo và biết vâng lời cha, vì biết cãi lệnh là sai nên nó hối hận.
Chúa Giêsu đã cảnh báo nhóm Pharisêu nhưng cũng chính là cảnh báo mỗi chúng ta: "Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước quý vị" (Mt 21:31). Một sự thật trắng trợn, quá phũ phàng, nhưng sự thật luôn là sự thật. Nước Trời không có chỗ cho những người giả hình hoặc ảo tưởng!
Như vậy, vào Nước Trời dễ hay khó?
Dễ, vì ai cũng có thể vào; nhưng cũng khó, vì phải nghiêm túc thực hiện Thánh Ý Chúa. Vả lại, phàm điều gì dễ thì ít giá trị, điều gì khó mới thực sự giá trị cao: "Phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được Nước Thiên Chúa" (Cv 14:22), thậm chí còn phải từ bỏ chính mình (x. Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23).
Muốn vào Nước Trời còn phải có động thái dứt khoát, không được chần chừ hoặc lần lữa: "Vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta" (Kh 3:16). Động thái dứt khoát rất quan trọng đối với việc "vào Nước Trời". Dứt khoát còn đòi hỏi phải thực sự can đảm. Một là "vào Nước Trời qua cửa hẹp", hai là "vào Hỏa ngục qua đại lộ". Chỉ có hai con đường, nhưng phải chọn một trong hai. Không thể sống hai mặt, lơ lửng con cá vàng, bắt cá hai tay, hoặc "chân trong, chân ngoài".
Chúa Giêsu nói rõ ràng: "Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa" (Lc 9:62). Không ai có thể tự biện hộ, và cũng chẳng ai có thể biện hộ giúp, bằng bất cứ lý do gì nữa!
Người Pháp nói: "Vouloir, c'est pouvoir! – Muốn là được". Vấn đề là có thực sự muốn và quyết tâm thực hiện để biến ước mơ thành hiện thực hay không mà thôi. Điều đó tùy vào mỗi người, vì Chúa không hề ép buộc, Ngài hoàn toàn cho mọi người tự do!
Thánh tiến sĩ Augustinô nói: "Chúa dựng nên con, Chúa không cần con; nhưng Chúa cứu độ con, Chúa cần con". Nghĩa là phải có sự hợp tác của chúng ta, và Chúa coi sự hợp tác nhỏ bé đó là công trạng đáng giá riêng của mỗi chúng ta.
Lạy Thiên Chúa chí minh, chí công và chí thiện, xin thương tha thứ chúng con về những ước muốn chủ quan hoặc ích kỷ, những ý tưởng không đẹp lòng Chúa. Nhờ Cha ban Thánh Thần, chúng con luôn mau mắn tuân phục Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU


Chuyện sống, chết
ß Chiếc quan tài giản dị của con người vĩ đại Gioan-Phaolô II.

******
Tháng Mười Một là khoảng thời gian cuối năm, vào mùa Đông, hơi sương phả trắng mờ ngọn cây, không khí lạnh làm lòng con người lắng xuống. Với người Công giáo, Tháng Mười Một là Mùa Cầu Hồn, mùa nhắc nhở mỗi người nhớ đến người đã "đi trước", và cũng nhắc nhở mỗi người: "Mai cũng sẽ đến lượt mình".
Nói đến sự chết, người ta cho là "xui", nghĩa là người ta sợ. Nhưng có ai trường sinh bất tử? Có chăng chỉ là trong truyện cổ tích thần thoại. Cũng có người cho là bi quan hoặc yếm thế khi nói đến sự chết. Thực ra nó có chiều kích tích cực giúp chúng ta sống tốt hơn, như Chúa Giêsu truyền: "Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng toàn thiện" (Mt 5:48).
Thường thì khi con người biết suy tư nhiều về cuộc đời là lúc người ta không còn trẻ, nghĩa là đã bắt đầu bước sang bên kia con-dốc-cuộc-đời: Có người 1 giờ chiều, có người 3 giờ chiều, có người 5 giờ chiều,... Nhưng có những người lại biết nghĩ đến cái chết từ rất sớm, có thể từ 7 hoặc 8 giờ sáng. Tôi nghĩ người đó có một đặc ân để hướng thiện!
Khoa học tiến bộ, hầu như người ta khả dĩ làm được mọi thứ, nhưng người ta vẫn không thể nào tạo được sự sống và ngăn chặn được lưỡi hái tử thần. Người ta không "bó tay" mà cũng như "bó tay", vì cứ phát hiện thuốc chữa bệnh này thì lại phát sinh bệnh khác, có chữa được bệnh nan y cũng chỉ là kéo dài sự sống thêm một thời gian, rồi cũng... chết. Các khoa học gia mới khám phá được vệ tinh này thì lại chợt phát hiện còn những "lỗ đen" xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng. Chắc chắn con người phải "bó tay". Và cứ câu hỏi này chồng chất lên câu hỏi khác... Dự báo có bão tố sắp tới mà không làm gì được, chạy trước cũng không kịp. Vậy mà người ta vẫn muốn khoe mẽ, muốn làm ngơ Thượng Đế, muốn loại bỏ Tạo Hóa, thậm chí là không muốn tin có Thiên Chúa!
Mỗi người có một nhãn quan riêng. Mỗi người có một lối suy tư riêng. Mỗi người có cách cảm nhận riêng. Muôn người muôn vẻ, nhưng tất cả vẫn là suy tư về thân phận con người, nhất là cái chết, tại sao không ai tránh khỏi?

Đời người dài, ngắn, sang, hèn

Trăm năm gom đủ một lần đưa tang!
Với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: "Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi? Ôi cát bụi mệt nhoài! Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi! Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi. Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày" (Cát Bụi). Con người luôn trăn trở về thân phận – dù là người có niềm tin tôn giáo, người không có niềm tin tôn giáo, hoặc người vô thần.
Và lúc khác, NS họ Trịnh lại suy tư: "Im lặng của đêm, tôi đã lắng nghe, im lặng của ngày, tôi đã lắng nghe, im lặng của đời, tôi đã lắng nghe. Tôi đã lắng nghe trái tim lạc loài, bao đêm đã qua, im lặng mặt người, tôi đã lắng nghe im lặng của tôi" (Im Lặng Thở Dài). Chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần gục đầu ăn năn, suy tư, và muốn tìm ra ẩn số cuộc đời mình.
Suy đi nghĩ lại, tính tới tính lui, phân tích đủ kiểu, áp dụng mọi khoa học, nhưng vẫn không thể có đáp án thỏa mãn. Có những điều tưởng đơn giản mà lại nhiêu khê, và có những điều tưởng phức tạp mà lại đơn giản. Chuyện kể thế này:
Một chiếc xe tải chở hàng, tài xế không để ý nên bị kẹt dưới gầm cầu. Xe chạy tới không được mà lùi cũng không xong. Rất nhiều người đứng chung quanh trố mắt nhìn, bàn tán, chỉ trỏ, các xe phía sau phải dừng lại vì kẹt. Kỹ sư, cảnh sát và chủ hãng xe đều đến. Người thì bàn là đào đường cho thấp xuống, người khác lại tính cắt bớt mui xe,... Cách nào cũng không ổn, mà tình trạng kẹt xe càng lúc càng tăng, xe nối đuôi nhau như rồng rắn vậy.
Lúc ấy, có một cậu bé chen vào, nói lớn với tài xế: "Bác tài, cháu chỉ cho bác một cách, bác xì bớt hơi mấy bánh xe đi, xe sẽ thấp xuống và có thể qua được". Ðám đông cười ồ lên. Còn những chuyên viên thì khó chịu, vì trẻ con mà tài lanh, dám dạy khôn người lớn. Bác tài cũng thế, nhưng cũng đành phải thử xem sao, và kết quả hơn cả tuyệt vời!
Cuộc đời chúng ta cũng vậy. Đừng để sự đời chi phối mình thái quá. Hãy tìm cách "xì" bớt hơi bon chen, đua đòi, kiêu ngạo, ghen ghét, đố kỵ, thù hận, tranh giành, ích kỷ, tham lam, phe cánh, xét đoán, bất mãn, chống đối, chua ngoa, nóng giận,... để có thể thoát ra khỏi "đường hầm cuộc đời". Cậu bé kia có cách giải quyết đơn giản, hợp lý và hiệu quả vì em đơn sơ và thật thà, không nghĩ cong queo hoặc cao xa như người lớn. Biết "xì hơi" cuộc sống là chúng ta đang hoàn thiện từng ngày, biết "chết" dần mỗi ngày vậy.
Cụ thi hào danh nhân văn hóa Nguyễn Du có cách kết luận: "Trăm năm một nấm cỏ khâu xanh rì" (Truyện Kiều). Nhắm mắt xuôi tay rồi thì ai cũng như ai: Trắng tay. Vậy mà người ta vẫn tranh giành nhau chi li. Khó hiểu quá! Có làm đám tang lớn, dùng áo quan đắt tiền, vòng hoa để chật nhà, dàn kèn tây hoành tráng,... chẳng qua là đẹp mặt người sống chứ người chết chẳng được lợi gì: Sống thì chẳng cho ăn, chết làm văn tế ruồi!
Còn nhạc sĩ Vũ Thành An (nay là phó tế vĩnh viễn) lại băn khoăn trong một ca khúc Bài Không Tên: "Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa". Nghĩa tử là nghĩa tận. Thế nhưng trong đám tang thiên tài âm nhạc Wolfgang Mozart (27/1/1756 – 4/12/1791) chỉ có vài người và một con chó đi tiễn đưa!
Chó chết là hết chuyện. Con người chết thì không thể hết chuyện: "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Chữ "tiếng" ở đây có hai nghĩa: Tiếng tốt hay tiếng xấu. Khi ta sinh ra, người cười mà ta khóc, vậy hãy sống sao để khi ta chết, người khóc mà ta cười. Đáng quan ngại là Thiên Chúa cho chúng ta hoàn toàn tự do. Vì thế, việc chọn lựa cách sống rất quan trọng: "Ai làm điều lành thì sẽ sống lại để được sống, ai làm điều dữ sẽ sống lại để bị kết án" (Ga 5:29). Tuy nhiên, chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta (x. Ga 8:32).
Mình chết có được người khác nhớ đến hay không là do cách sống của mình. Người ta nhớ mình hay không là "quyền" của người ta. Nhưng chính chúng ta có bổn phẩn phải nhớ đến người đã khuất, vì "quên người đã chết là làm cho họ chết thêm một lần nữa". Nhớ đến họ để cầu nguyện cho họ, vì họ là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn bè, thầy cô, ân nhân, người quen,... Mà dù họ là ai, dù mình không quen biết, chúng ta vẫn có bổn phận với họ trong tình liên đới và hiệp thông Kitô giáo trong Chúa. Muốn người khác nhớ đến mình thì mình đừng quên người khác: "Những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta" (Mt 7:12). Vả lại, với đức tin Công giáo thì "chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời" (Thánh Phanxicô Assisi), và giáo lý Công giáo đã dạy: "Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau" (Kinh Tin Kính).
Tác giả Anon viết: "Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn. Tôi tin rằng được sinh ra để chết, chết mỗi ngày một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi". Một lối suy tư tuyệt vời! Quả thật, chúng ta đang sống nghĩa là chúng ta đang chết, khi chúng ta chết là lúc chúng ta bắt đầu sống. Một nghịch-lý-thuận. Đó là loại triết lý "hiện sinh" mà chỉ người có niềm tin Kitô giáo mới khả dĩ hiểu.
Hạ tuần tháng 10-2011, cư dân mạng xôn xao về vụ một em bé 2 tuổi ở Trung quốc bị xe cán nát 2 chân, người đi đường thấy mà làm ngơ, một chiếc xe tải khác chạy tới không tránh và lại tiếp tục cán lên chân em bé tội nghiệp kia, người qua kẻ lại vẫn hoàn toàn vô cảm. Mãi sau mới có một phụ nữ bế em vào lề đường. Thế nhưng em bé này cũng không "qua mắt" Tử Thần, và em đã qua đời ngày 21-10-2011. Có thể Chúa cho em từ giã cõi đời này quá sớm cũng là kết thúc tốt đẹp đối với em, nhưng sự vô tình nhẫn tâm của những người lớn sẽ là "vết chàm" của xã hội loài người ngày nay, coi con người không bằng con thú!
Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi (Lc 5:8), nhưng đừng bỏ mặc con trong cơn khốn khó. Con muốn thân thưa: "Lạy Chúa, này con đây, con xin đến để thực thi ý Ngài" (Dt 10:7 và 9). Nguyện xin Thiên Chúa nhân từ ân xá cho các linh hồn nơi luyện hình được sớm hưởng Tôn Nhan Chúa muôn đời. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

-----------------

 
NGAY TRO VE NHA CHA # 100 = LE CAC LINH HON PDF Print E-mail

LỄ CÁC LINH HỒN
Sunday (Chúa Nhật-Ngày 2 tháng 11 -2014)
Theo truyền thống của người dân Hoa Kỳ, hằng năm, vào tối ngày 31 tháng 10 dương lịch, trẻ nhỏ rủ nhau chơi "Đêm Halloween" cũng gọi là trò "Trick or Treat". Các em từng tốp mang mặt nạ, đến gõ cửa mỗi nhà và nói "Trick or Treat" (cho chúng tôi quà bằng không chúng tôi sẽ phá phách)... Trò chơi này làm cho chúng ta có cảm tưởng như là các linh hồn của những người ở thế giới bên kia hiện về xin bố thí hoặc nhắn nhủ điều gì đó cho những người còn sống trên trần gian.

Tục lệ tối Halloween nầy là dấu vết thời xa xưa còn sót lại của người La-mã dùng để tưởng nhớ người quá cố. Thuở ấy người La-mã có thói quen đúc mặt nạ của người thân mới qua đời để cất làm kỷ niệm. Mỗi khi trong gia đình có người chết thì người nhà phải mang tất cả các mặt nạ hiện có trong gia đình, sắp hàng dài đi trước quan tài, để dẫn đưa người vừa quá cố tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Nguyên tiếng Halloween, theo truyền thống Công giáo, bởi 3 tiếng ALL HALOWS' EVE hoặc EVE OF ALL HALLOWS ghép lại, có nghĩa là "buổi tối áp lễ các thánh"... tuồng như các Thánh trên trời đi diễn hành trước mặt chúng ta để nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến các ngài, nhớ đến công ơn các ngài và thúc giục chúng ta noi gương các ngài trong việc làm con cái Chúa, và một mặt khác nữa là kêu xin chúng ta dâng lời cầu nguyện cho ông bà tổ tiên.
10Thật vậy, hằng năm Hội thánh Công giáo Hoàn vũ dâng ngày 01 tháng 11 dương lịch để kính mừng Các Thánh Nam Nữ trên trời và dành riêng trọn tháng 11 dương lịch, bắt đầu từ ngày mồng 02, để cầu nguyện cho Các Linh Hồn trong Luyện ngục.

Công Đồng Trentô dạy rằng các linh hồn ở Luyện ngục là thành phần của Hội Thánh cần nhờ đến lời cầu nguyện và hy sinh của chúng ta, những người còn sống. Giáo lý của Hội Thánh về Luyện ngục là điều có sức yên ủi lòng ta và tỏ bày lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa đối với chúng ta. Việc cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện ngục là một việc làm do tình thương thúc đẩy để bù đắp phần nào mối tình và bổn phận phải có đối với các kẻ đã qua đời mà có lẽ khi các ngài còn sống chúng ta đã không chu toàn.

Chứng Tích Về Luyện Ngục:
Những chứng tích về việc các Linh hồn ở Luyện ngục hiện về được Tòa Thánh công nhận thì nhiều lắm. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đơn cử một ít chứng tích, trong nhiều chứng tích, đang được trưng bày tại Thánh đường Đức Mẹ Mân Côi, Nữ Vương Luyện Hình tại Rôma. Khi có dịp hành hương về Rôma, kính mời quí vị đến kính viếng Vương cung Thánh đường này và ghé thăm phòng triển lãm.

Chứng tích 1: Bạn bè hiện về với nhau
Chúa nhật ngày 05 tháng 3 năm 1871, bà Palmira Rastelli, chị ruột của linh mục Santelli, chánh xứ Thánh Anrê tại Rimini, qua đời ngày 20-11-1870 đã hiện về với bà bạn là Maria Zelanti cũng thuộc giáo xứ Thánh Anrê để xin cầu nguyện và xin nhắn với ông anh linh mục dâng lễ cho mình. Để cho người còn sống vững tin thì linh hồn hiện về đã in dấu 3 ngón tay của mình trên cuốn sách nguyện của bà Zelanti. Dấu lửa in 3 ngón tay trên trang sách đã không thiêu hủy tờ giấy và cũng không làm mất các hàng chữ trên trang giấy.

Chứng tích 2: Vợ hiện về với chồng
Bà Louise Sénéchal, qua đời ngày 7 tháng 5 năm 1878, đã hiện về với chồng là Louis Sénéchal xin cầu nguyện và xin dâng cho bà 5 thánh lễ. Bà đã in 5 ngón tay lửa của mình lên chiếc mũ trùm đầu của chồng bà như là một dấu hữu hình để chồng và các con tin.
Chứng tích 3: Nữ tu hiện về với chị em trong tu viện
Nữ tu Clara Schoelers, Dòng Bênêđitô ở Vinnemberg, Westphalie, qua dời năm 1637 đã hiện về với nữ tu Maria Herendorps ngày 30 tháng 10 năm 1696 (59 năm sau). Để làm bằng chứng, linh hồn hiện về đã in dấu cháy hai bàn tay của mình trên áo khoác làm việc của nữ tu Maria Herendorps và trên một tấm vải trắng.

Chứng tích 4: Mẹ hiện về với con trai
Bà Leleux, trong đêm 21-6-1789, đã hiện về với người con trai là Joseph Leleux ở Wodecq (Bỉ). Bà hiện về 11 đêm liên tiếp để nhắc nhở con bà phải xin lễ cho bà, đồng thời bảo con bà phải sửa mình lại vì anh ta đang sống bừa bãi, khô khan nguội lạnh. Bà cầm tay con và in dấu cháy cả bàn tay bà vào ống tay áo của con. Kết quả là anh đã trở lại sống thánh thiện, lập một hội đạo đức dành cho giáo dân; các hội viên trong hội này đã thi đua nên thánh. Anh đã qua đời cách thánh thiện ngày 19-4-1825.

Chứng tích 5: Mẹ chồng hiện về với con dâu
Nhạc mẫu của bà Magarita Demmerlé thuộc giáo xứ Ellinghen, giáo phận Metz, qua đời năm 1785, và 30 năm sau, năm 1815 đã hiện về với con dâu. Bà buồn bã nhìn con dâu như có ý xin điều gì. Bà Magarita Demmerlé lên tiếng hỏi thì được mẹ chồng cho biết là mình về để xin con (dâu) cầu nguyện cho, bằng cách đi hành hương lên Đền Đức Mẹ ở Mariental. Người con dâu đã làm y như lời mẹ chồng xin. Sau cuộc hành hương ấy bà mẹ chồng hiện về với con dâu một lần nữa và báo cho biết là mình đã được ra khỏi Luyện ngục mà lên Thiên đàng. Bà Magarita xin một bằng chứng thì bà mẹ chồng liền in cả bàn tay mình lên trang sách Gương Phước đang để mở trên bàn. Và từ đó bà không còn hiện về nữa.

Hôm nay là dịp để chúng ta nhớ đến linh hồn những người thân yêu mà Chúa đã gởi đến trong cuộc đời như: ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái, cháu chắt, bằng hữu... Ta cũng nhớ đến những linh hồn bị quên lãng không có ai nhớ đến để cầu nguyện cho.
Bà Thánh Monica khi còn sống đã căn dặn con mình là Thánh giám mục Augustinô rằng: "Con ơi, khi mẹ chết rồi, con có thể chôn cất mẹ ở đâu cũng đươc. Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ mà cầu nguyện cho mẹ mỗi ngày khi con bước lên bàn thờ tế lễ Chúa". Bà Monica khi còn sống đã đạt tới sự thánh thiện trọn hảo mà còn lo lắng cho thân phận mình sau khi chết như vậy.

Nơi một nghĩa trang ở Rôma, bên nước Ý-đại-lợi, ta đọc thấy hàng chữ này bằng tiếng La-tinh: "Hodie Tibi, Cras Mihi" có nghĩa là HÔM NAY BẠN (Hodie Tibi), NGÀY MAI TÔI (Cras Mihi)... nhắc chúng ta nhớ đến Sự Chết. Sự Chết không tha cho một ai cả. Có nhớ đến sự chết, có suy gẫm về sự chết mới biết phải sống thế nào cho đẹp để được chết lành.

Hôm nay chúng ta cầu nguyện cho người, ngày mai người khác sẽ lại cầu nguyện cho ta: Một sự vay trả, trả vay rất hữu lý. Hôm nay ta cầu nguyện cho các Linh hồn trong Luyện ngục, ngày mai khi được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời, các Linh hồn người lành sẽ đền đáp lại cho chúng ta bằng lời chuyển cầu thần thế của các ngài trước mặt Chúa.

Lm Giuse Châu Xuân Báu, CSsR

---------------------

 
NGAY TRO VE NHA CHA # - CONG DAN THIEN QUOC PDF Print E-mail

Công dân Thiên quốc
(Lễ các Thánh)

Kính mừng chư thánh hiển vinh

Dẫu đau khổ vẫn chung tình Giêsu

Công dân Thiên quốc thiên thu

Ca vang Tình Chúa bao la muôn đời

Sống trên đời tạm này, ai cũng là công dân của một quốc gia nào đó – nước có thể lớn hoặc nhỏ, mạnh hoặc yếu, giàu hoặc nghèo. Thế giới gian trần này có nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, thậm chí nhiều hạng công dân, nhưng thế giới đời sau chỉ có một quốc gia và một hạng công dân: Công dân Nước Trời. Các thánh là những người đã được vĩnh viễn nhập quốc tịch của quốc gia này – Thiên Quốc. Đây cũng là niềm khát vọng cháy bỏng của mỗi Kitô hữu.

Giáo hội của Thiên Chúa chỉ có MỘT mà thôi: "Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người" (Ep 4:5-6). Giáo hội duy nhất nhưng được nối kết từ ba thành phần: Giáo hội Khải hoàn (các thánh trên Thiên Đàng), Giáo hội Đau khổ (các thánh nơi Luyện Ngục), và Giáo hội Chiến đấu (các thánh lữ hành trần gian). Ba thành phần của Giáo hội như MỘT Tam Giác, các góc và các cạnh mang tính bất khả phân ly, được gọi là "các thánh cùng thông công". Khi còn làm người trên trần gian, Chúa Giêsu đã mong muốn và cầu xin cho mọi người "nên một" (Ga 17:20-23). Tháng Cầu Hồn là dịp thể hiện tính thông công đó: Phàm nhân kính mừng chư thánh và cầu cho các linh hồn.

Trong sách Khải Huyền, Thánh Gioan Tông đồ kể lại thị kiến: "Tôi thấy một thiên thần mang ấn của Thiên Chúa hằng sống từ phía mặt trời mọc đi lên. Thiên thần ấy lớn tiếng bảo bốn thiên thần khác, những vị được quyền phá hại đất liền và biển cả, rằng: 'Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta'. Rồi tôi nghe nói đến con số những người được đóng ấn: một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en" (Kh 7:2-4). Sách Khải Huyền là sách có lối hành văn mặc khải (khải mạc), viết khoảng năm 95-96, có nhiều từ ngữ bí ẩn. Con số 144.000 nghĩa là rất nhiều, vô số kể, chứ không mang nghĩa "số đếm" như cách tính của loài người chúng ta.

Thật vậy, Thánh Gioan cho biết thêm: "Sau đó, tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: 'Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta'. Tất cả các thiên thần đều đứng chung quanh ngai, chung quanh các Kỳ Mục và bốn Con Vật. Họ đều sấp mặt xuống, phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô rằng: "Amen! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời. Amen" (Kh 7:9-12).

Trong bốn con vật, mỗi con đều có sáu cánh và đầy các mắt. Con Vật thứ nhất giống như sư tử, Con Vật thứ hai như con bò tơ, Con Vật thứ ba như con người, và Con Vật cuối cùng như đại bàng. Bốn con vật này được dùng làm biểu tượng của bốn Thánh Sử.

Khi Thánh Gioan được thị kiến, một trong các Kỳ Mục hỏi xem những người mặc áo trắng đó là ai và từ đâu đến (Kh 7:9-13), Thánh Gioan trả lời: "Thưa Ngài, Ngài biết đó". Vị ấy liền bảo: "Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên" (Kh 7:13-14). Áo bẩn mà lại giặt sạch trong máu. Kỳ diệu thật. Vâng, mọi vết-bẩn-tội-lỗi đều được tẩy sạch bằng Máu Thánh Đức Giêsu Kitô.

Các thánh đã giặt áo mình như vậy, nghĩa là dù chịu trăm cay ngàn đắng lúc sinh thời nhưng các ngài vẫn kiên tâm bền chí, một niềm tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót, cậy nhờ Công Nghiệp Cứu Độ của Đức Kitô. Thật hạnh phúc biết bao!

Thánh Vịnh chân nhận: "Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư. Nền trái đất, Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông' (Tv 24:1-2). Thiên Chúa là Đấng tác sinh muôn loài, toàn năng và chí thánh, chỉ những ai tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối" (Tv 24:4) tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối" (Tv 24:4) mới có thể lên núi Chúa và ai được ở trong đền thánh của Người mãi mãi. Những người đó sẽ "được Chúa ban phúc lành, được Ngài cứu độ và thưởng công xứng đáng" (Tv 24:5). Họ chính là những người thuộc "dòng dõi những kẻ kiếm tìm Thánh Nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp" (Tv 24:6).

Các thánh cũng đã từng là phàm nhân với bản chất yếu đuối như chúng ta, nhưng các ngài đã quyết tâm tuân giữ Thánh Luật của Thiên Chúa, thực hiện tới hơi thở cuối cùng, bất chấp dạng đau khổ nào. Các ngài sống được như vậy hẳn là các ngài đã cảm nghiệm được sự mầu nhiệm của Lòng Chúa Thương Xót. Trong số các thánh đó có các thánh tử đạo Việt Nam, những người cũng có hoàn cảnh sống giống như chúng ta, thậm chí còn khó khăn hơn chúng ta hiện nay, vậy mà các ngài vẫn một niềm tín trung với Thiên Chúa.

Chúng ta chỉ là "dân ngoại" nhưng rất hạnh phúc vì đã biết Chúa, được tái sinh qua Bí tích Thánh Tẩy. Chúng ta đều là những "người trở về từ cõi chết", được tắm gội trong suối Máu và Nước tuôn trào ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta phải cố gắng nên thánh để không phụ tình Chúa. Thánh Gioan nói: "Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người" (1 Ga 3:1). Chuyện khó tin mà có thật, thật 100%, cứ ngỡ chỉ có trong giấc chiêm bao mà thôi!

Chúng ta chỉ phận tôi đòi, nô tì kiếp, là tội nhân khốn nạn đáng án tử, thế mà lại được sống lại và được làm con cái Chúa. Những người không có niềm tin Kitô giáo thì không thể nào tin được, chắc chắn họ bảo chúng ta bị chích ma túy hoặc bị bùa mê thuốc lú!

Có lẽ vì biết chúng ta chưa dám tin nên Thánh Gioan tái xác định: "Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy. Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Kitô thì làm cho mình nên thanh sạch như Người là Đấng thanh sạch" (1 Ga 3:2-3). Sự thật này không thể bị bóp méo, nhưng trí tuệ phàm nhân của chúng ta lúc này không thể hiểu hết, óc tưởng tượng "tí ti" của chúng ta cũng không thể nào hình dung thêm được gì. Vâng, chỉ có thể "hai năm rõ mười" khi nào chúng ta bước vào cuộc sống vĩnh hằng!

Thiên Đàng là cõi tuyệt phúc, mệnh danh là Nước Trời, là Vương Quốc vĩnh hằng Thiên Chúa, nơi mọi người được trường sinh bất tử – như các thánh hiện đang tận hưởng. Muốn được là Công Dân Nước Trời, chúng ta phải cố gắng sống như các thánh, tức là thực hành Bát Phúc (Mt 5:1-12). Đây là Đệ Nhất Tuyên Ngôn Độc Lập của Thiên Quốc do chính Chúa Giêsu soạn thảo. Bản Tuyên Ngôn này ngắn nhất, ít điều khoản nhất, nhưng lại chính xác nhất và "độc đáo" nhất.

Khi đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập, người ta luôn trịnh trọng công bố, nhưng Chúa Giêsu không tạo vẻ hình thức như vậy, Ngài thản nhiên với vẻ chuyện trò thân mật. Đúng là khác người thật. Thế mới độc đáo, thế mới tự nhiên, thế mới thân thiện. Ngài điềm đạm tuyên bố rất ngắn gọn:

1. Phúc thay ai có tâm hồn NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.

2. Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

3. Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4. Phúc thay ai KHÁT KHAO nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

5. Phúc thay ai XÓT THƯƠNG người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

6. Phúc thay ai có TÂM HỒN TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

7. Phúc thay ai XÂY DỰNG HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

8. Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Tám điều khoản xem chừng rất bình thường, nhưng không dễ thực hiện trọn vẹn – nhất là phải thực hiện mọi nơi và mọi lúc, trong suốt cuộc đời. Phải có cái tâm yêu thương thì mới khả thi. Ngôn từ bình dị, ngắn gọn, ai cũng có thể hiểu, chứ không văn hoa, không bóng bẩy, không cầu kỳ. Cuối cùng, Chúa Giêsu kết luận: "Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế" (Mt 5:11-12).

Các thánh đã chiến đấu ngoan cường, không hề nao núng trong bất cứ hoàn cảnh nào, mỗi người mỗi vẻ, thế nên các ngài đã đạt được Ơn Cứu Độ. Alleluia!

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết từng ngày noi gương các thánh, trung kiên làm chứng về Lòng Thương Xót của Ngài và loan báo Tin Mừng cứu độ cho tới hơi thở cuối cùng, dù chúng con có phải thiệt thòi cách nào đó. Nguyện xin chư thánh cầu thay nguyện giúp chúng con, phù hộ và nâng đỡ chúng con để chúng con luôn can đảm bảo vệ Đức Tin như các ngài vậy, để chúng con cũng được trở nên Công Dân Nước Trời đời đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

---------------

 
NGAY TRO VE NHA CHA # DAU THANG LINH HON PDF Print E-mail

Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Ðã Qua Ðời

Bài Ðọc I: Kn 3, 1-9

"Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu".

Trích sách Khôn Ngoan.

Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Ðối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 5).

Hoặc đọc: Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con (c. 4a).

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. - Ðáp.

2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. - Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. - Ðáp.

3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. - Ðáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Rm 5, 5-11

"Chúng ta đã nên công chính trong Máu của Người, và nhờ Người chúng ta được cứu khỏi cơn thịnh nộ".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, họa chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô. Và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.

Ðó là lời Chúa.

Hoac

Bài Ðọc I: Rm 6, 3-9

"Chúng ta phải sống đời sống mới".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa.

Ðó là lời Chúa.

Phúc Âm: Ga 6, 37-40

Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Ðức Giêsu. Ðức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: "Các anh tìm gì thế?" Họ đáp: "Thưa Rápbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?" Người bảo họ: "Ðến mà xem". Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều.

Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Ðức Giêsu.

Ðó là lời Chúa.

The Commemoration of All the Faithful Departed (All Souls)
Lectionary: 668

The following are a selection of the readings that may be chosen for this day.
Reading 1WIS 3:1-9
The souls of the just are in the hand of God,
and no torment shall touch them.
They seemed, in the view of the foolish, to be dead;
and their passing away was thought an affliction
and their going forth from us, utter destruction.
But they are in peace.
For if before men, indeed, they be punished,
yet is their hope full of immortality;
chastised a little, they shall be greatly blessed,
because God tried them
and found them worthy of himself.
As gold in the furnace, he proved them,
and as sacrificial offerings he took them to himself.
In the time of their visitation they shall shine,
and shall dart about as sparks through stubble;
they shall judge nations and rule over peoples,
and the LORD shall be their King forever.
Those who trust in him shall understand truth,
and the faithful shall abide with him in love:
because grace and mercy are with his holy ones,
and his care is with his elect.
Responsorial Psalm PS 23:1-3A, 3B-4, 5, 6
R. (1) The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Though I walk in the valley of darkness, I fear no evil, for you are with me.
The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Though I walk in the valley of darkness, I fear no evil, for you are with me.
He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
with your rod and your staff
that give me courage.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Though I walk in the valley of darkness, I fear no evil, for you are with me.
You spread the table before me
in the sight of my foes;
You anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Though I walk in the valley of darkness, I fear no evil, for you are with me.
Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. The Lord is my shepherd; there is nothing I shall want.
or:
R. Though I walk in the valley of darkness, I fear no evil, for you are with me.
Reading 2ROM 5:5-11
Brothers and sisters:
Hope does not disappoint,
because the love of God has been poured out into our hearts
through the Holy Spirit that has been given to us.
For Christ, while we were still helpless,
died at the appointed time for the ungodly.
Indeed, only with difficulty does one die for a just person,
though perhaps for a good person
one might even find courage to die.
But God proves his love for us
in that while we were still sinners Christ died for us.
How much more then, since we are now justified by his Blood,
will we be saved through him from the wrath.
Indeed, if, while we were enemies,
we were reconciled to God through the death of his Son,
how much more, once reconciled,
will we be saved by his life.
Not only that,
but we also boast of God through our Lord Jesus Christ,
through whom we have now received reconciliation.
Or ROM 6:3-9
Brothers and sisters:
Are you unaware that we who were baptized into Christ Jesus
were baptized into his death?
We were indeed buried with him through baptism into death,
so that, just as Christ was raised from the dead
by the glory of the Father,
we too might live in newness of life.

For if we have grown into union with him through a death like his,
we shall also be united with him in the resurrection.
We know that our old self was crucified with him,
so that our sinful body might be done away with,
that we might no longer be in slavery to sin.
For a dead person has been absolved from sin.
If, then, we have died with Christ,
we believe that we shall also live with him.
We know that Christ, raised from the dead, dies no more;
death no longer has power over him.


Gospel JN 6:37-40
Jesus said to the crowds:
"Everything that the Father gives me will come to me,
and I will not reject anyone who comes to me,
because I came down from heaven not to do my own will
but the will of the one who sent me.
And this is the will of the one who sent me,
that I should not lose anything of what he gave me,
but that I should raise it on the last day.
For this is the will of my Father,
that everyone who sees the Son and believes in him
may have eternal life,
and I shall raise him on the last day."

--

 
NGAY TRO VE NHA CHA # = TRO VE VOI CHA PDF Print E-mail

Trở về với Cha - Lm Giuse Hoàng Kim Toan
Jun 1 at 10:42 PM
Trở về với Cha

Con người sẽ đi về đâu sau sự chết, có nhiều tìm hiểu và trả lời. Trở về, hồi quy hay hoàn nguyên, chỉ ở từ ngữ cũng đã thấy rõ quan niệm, cánh chung là cuộc trở về nguồn, nơi mình đã xuất phát, nơi đầu tiên của con người hình thành. Những thuật ngữ từ bụi tro trở về với tro bụi là toát yếu của cách quan niệm thông thường đó.

Theo Angelus Selesius: "Trong điểm có một vòng tròn và vòng tròn đó quy về một tâm điểm". Con người trở về cũng là con người tìm lại thiên đường đã mất. Vườn địa đàng đánh mất ấy có một tên gọi là vườn Eden, là điểm nối trời và đất, ở nơi đó không có đau khổ không phải chết. Trong nỗi hoài nhớ về thiên đàng đã mất ấy, con người ở giữa thế trần cũng có một lệch lạc khi dùng thuật ngữ: "Tìm lại thiên đường" để chỉ trạng thái ngất ngây, chìm đắm cơn say của bạch phiến, ma túy. Theo ý nghĩa lệch lạc này, người ta quan niệm: Thiên đàng là nơi chốn không cần phải làm gì, không cần phải nỗ lực gì, mà vẫn sống ngất ngây, thoát vòng thực tại để nuối tiếc thiên đàng. Trạng thái ngất ngây nhờ thuốc kích thích, hay dùng Morphin để tạo cảm giác thiên đường trong thực tại trần thế, dẫn đến việc nghiện ngập và ký ức về thiên đường của nàng tiên nâu. Sự lệch lạc của con người nuối tiếc thiên đường là không còn ý chí, không còn đủ nghị lực để vượt thoát.

Trở về có hình thức thường xuyên được nghiệm thấy: Giữa ngày chuyển về đêm và đêm bị xua tan bởi ngày, đó là chu kỳ của thời gian. Chu kỳ của bốn mùa trong thiên nhiên: Xuân Hạ Thu Đông, sự trở về của Mùa Hạ làm tan biến Mùa Đông và sự trở lại của Mùa Đông làm mất đi Mùa Hạ. Đó cũng là sự qua lại giữa Âm và Dương, giữa quẻ Càn và Khôn.

Quay trở về được biểu hiện theo hình xoắn ốc, càng đi càng trở về tâm, cho nên mang từ ngữ là hồi quy. Trong Đạo Đức Kinh, chương 25, nói rằng: "Việc đi ra xa, việc lan rộng ra xa, trong đó có bao hàm sự trở về", chương 16 ghi nhận: "Quay về cội nguồn, đó là được nghỉ ngơi". Trong thuật ngữ dành cho cái chết, người ta thường nói: "an nghỉ ngàn thu" là thế. Hành trình đi về nguồn hay hồi quy này đã bắt đầu từ khi con người thụ thai trong lòng mẹ. Nếu lòng mẹ là nơi cưu mang để sanh vào cõi đời thì lòng đất mẹ cũng cưu mang sinh vào cõi trời. Sự vận hành hồi quy bắt đầu từ khi con người sống, sống là vận hành về cái chết......

Trở về với Cha.

Giữa bóng tối và ánh sáng nhìn về cánh chung con người luôn chịu sự vây bọc của thân phận và mang tính sợ hãi hoặc hoài nghi, Chúa Giêsu mở ra một con đường, con đường ấy là con đường về với Chúa Cha.

Câu trả lời cho tất cả con người ở trần thế này đã được viết trong câu chuyện của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô: "Không ai đã lên trời, trừ phi Ðấng tự trời mà xuống, Con Người, Ðấng ở trên trời." (Ga 3, 13).

Trở về cùng Chúa Cha là Đấng Tác Thành mọi sự qua con đường là chính Chúa Giêsu. Thần học gia người Đức tên là Romano Guardini đã nói: "Trong Thiên Chúa có một Con Người, đó là Chúa Giêsu Phục Sinh, Người Con của Thiên Chúa". Con người đã có một trục đường trở về, một đích điểm, một nơi đến xác định: "Về với Chúa Cha" (Ga 14, 28).

Sự trở về trong toàn vẹn là một ước mơ của cả nhân loại. Nơi Thiên Chúa, con người tìm thấy sự sống sung mãn, từ nay, khi con người làm mọi việc vì lòng yêu mến Thiên Chúa, con người sẽ thấy được giá trị vĩnh cửu của việc mình làm dưới thế. Con người hiểu biết hơn về điều Chúa Giêsu đã nói về những người tin và đón nhận Chúa: "sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian" (xem Ga 17, 14 – 15). Và cũng hiểu hơn về điều Chúa Giêsu nói: "Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha." (Ga 14, 12).

Trở về với Chúa Cha, để tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu từ nay có một đích đến rõ ràng. Không còn hoang mang, sợ hãi, không còn bế tắc và mù lối. "Chúa là đường là sự thật và là sự sống" (Ga 14, 6).

Lạy Chúa, trên con đường trở về của mỗi người chúng con, xin cho chúng con xác tín: Chúa là Đường" để dẫn lối chúng con đi trong niềm vui hạnh phúc, đời này và đời sau.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 Next > End >>

Page 4 of 5