mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5506
mod_vvisit_counterHôm Qua8283
mod_vvisit_counterTuần Này59531
mod_vvisit_counterTuần Trước63979
mod_vvisit_counterTháng Này39989
mod_vvisit_counterTháng Trước249791
mod_vvisit_counterTất cả18424476

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - KHÚC HÁT TẠ ƠN PDF Print E-mail

KHÚC HÁT TẠ ƠN 2020

 

"ĐỜI CON LÀ KHÚC HÁT TẠ ƠN

CHÚA THÊU DỆT NÊN THÀNH KHÚC CA TUYỆT VỜI!

ĐỜI CON LÀ KHÚC HAT TRI ÂN,

CON DÂNG LÊN NGÀI LỜI TẠ ƠN THIÊN CHÚA......."

 

Hướng Về Chúa

-----------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - CN34TN-A PDF Print E-mail


 Chúa Nhật XXXIV Thường Niên A

- Lễ Kitô Vua

Tin mừng Mt 25: 31-46

Đức Giáo Hòang Piô XI đã thiết lập lễ Chúa Kitô Vua vào ngày 11/12/925 trong bầu khí tạ ơn và hân hoan của Năm Thánh 1925. Ngài thiết lập lễ này vì vào những thập niên đầu thế kỷ 20, thế giới phải đối diện với trào lưu tục hóa và các chủ thuyết khác.

Về phía Giáo Hội, qua việc mừng kính tước hiệu là Vua của Chúa Kitô, Giáo Hội khẳng định niềm tin trước sau như một của mình là tuyên xưng vương quyền của Chúa Kitô trên mọi con người, mọi gia đình, mọi xã hội và trật tự nhân loại, đồng thời Giáo Hội cũng nhắc nhở mỗi người chúng ta chuẩn bị tâm hồn chờ đợi Chúa đến trong ngày tận thế với tư cách là vị Vua Thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.

Chính vì vậy, bài Tin Mừng cho thấy một viễn cảnh sẽ xảy ra vào ngày cánh chung, nghĩa là vào thời điểm tận cùng của thời gian, cũng là của trần thế này. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ phân chia mọi người trên trần gian thành hai loại: một bên là những kẻ thật sự tin theo Ngài, bên kia là những kẻ không tin, hay những kẻ tự xưng là tin Ngài bằng lời nói, nhưng qua hành động lại tỏ ra không tin.

Để ám chỉ hai loại người này, bài Tin Mừng dùng hình ảnh chiên và dê, là hình ảnh mà ngôn sứ Êdêkien đã dùng (x. Ed 34,17-24). Vì chiên và dê là hai loài thú cùng được chăn nuôi chung trong một đồng cỏ, ở chung với nhau trong một ràn. Chỉ đến thời kỳ xén lông thì người ta mới phân rẽ chúng theo loại.

Dụ ngôn lúa và cỏ lùng (x. Mt 13,24-30) cũng cho thấy hai loại cây cùng sống chung với nhau - không phân biệt được - trên cùng một thửa ruộng. Cả hai cùng lớn lên bên cạnh nhau cho tời mùa gặt, chỉ tới lúc đó chúng mới được phân rẽ: «cỏ lùng thì bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì thu vào kho lẫm» (13,30).

Tương tự, chỉ tới ngày cánh chung, kẻ tin và không tin, kẻ thật sự tin và kẻ có vẻ tin mới được phân chia và tách biệt.

Chúng ta hãy thử tự xét xem, vào ngày đó, mình thuộc loại nào? Và đâu là tiêu chuẩn để Thiên Chúa phân loại?

Tin Mừng cho ta thấy:

- ngày ấy, toàn nhân loại được phân ra thành hai loại: chiên và dê, tượng trưng cho người hiền và người dữ, kẻ tin và không tin Thiên Chúa.

- ngày ấy, Thiên Chúa phán xét theo hành động chứ không theo lời nói của con người. Vấn đề là có làm hay không và làm như thế nào, chứ không phải là có nói hay không, có tuyên xưng hay không, hay nói và tuyên xưng thế nào.

- ngày ấy, Thiên Chúa chỉ phán xét và phân loại dựa theo một tiêu chuẩn duy nhất: đó là cách mỗi người đối xử với tha nhân chung quanh mình.
Thiên Chúa không cần phân biệt ai là giáo hoàng, ai là giám mục, ai là linh mục, ai là giáo dân;

không cần biết ai giàu ai nghèo, ai có địa vị ai là thường dân; thậm chí không cần biết ai đi lễ nhiều, ai đọc kinh nhiều, ai lần chuỗi nhiều, ai hành hương nhiều, ai cúng vào nhà thờ nhiều...

Ngài chỉ xét có một điều: mỗi người đã làm gì và không làm gì cho tha nhân. Như thế, chính hành động của chúng ta - chứ không phải lời nói hay cái gì khác - quyết định chúng ta thuộc loại này hay loại kia

Truyện thánh Martinô thành Tours.

Martinô là một quân nhân Rôma và một Kitô hữu. Một ngày mùa đông lạnh lẽo, khi ông đi vào một thành phố, có người hành khất chặn ông lại xin bố thí , Martinô không có tiền, nhưng ông thấy người hành khất xanh xao và run rẩy vì lạnh, ông cởi chiếc áo khoác đã sờn rách và xé một nửa cho người hành khất.

Tối hôm ấy ông nằm mơ thấy thiên đàng có các thiên sứ đang bao quanh Chúa Giêsu và Ngài đang mặc nửa chiếc áo lạnh của ông.

Một thiên sứ hỏi Chúa Giêsu: "tại sao Ngài mặc chiếc áo sờn rách đó? Ai đã cho Ngài áo đó"? Chúa Giêsu trả lời: "Martinô, tôi tớ của Ta đã cho Ta".
Quả thật như bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã xác quyết: Ta bảo các ngươi: "những gì các ngươi đã làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta" (Mt 25,40) và Chúa nói tiếp: "hãy đến, hỡi những kẻ cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo thành vũ trụ, vì khi ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm, Ta bị tù đầy, các ngươi đã đến với ta"(Mt 25, 34-36).

Thật là hạnh phúc cho chúng ta, nếu được Chúa nói với chúng ta như vậy trong ngày tận thế với tư cách là vị Vua Thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Amen.

Lm. Giuse Đỗ Văn Thuỵ
Kính chuyển:
Hồng

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI -LM TRẦN NGÀ - CN34TN-A PDF Print E-mail

Điều kiện thiết yếu để được hưởng phúc thiên đàng
(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (Mt 25, 31-46) trích đọc vào Chúa nhật 34 thường niên)

Trong lớp giáo lý nọ, giáo lý viên hỏi các học sinh:
- Ta phạm tội nào thì phải sa hỏa ngục?
Đây là một câu hỏi dễ nên có nhiều học sinh giơ tay xin đáp. Các câu đáp quy về những thứ tội sau đây:
- Tội cố ý giết người, cố tình gây thiệt hại cho người khác như trộm cắp, chiếm đoạt; cố tình phạm tội tà dâm, ngoại tình; cố ý lăng mạ làm mất danh dự người khác, vân vân...
Giáo lý viên nói:
- Tất cả các câu đáp của các em đều đúng. Bây giờ thầy hỏi tiếp:
- Có khi nào ta không phạm những thứ tội như thế, cũng không cố tình làm hại ai, không đụng chạm gì đến tài sản hay thân thể người khác... mà phải sa hỏa ngục không?
Sau một hồi cau mày suy nghĩ, các học sinh đều trả lời là không. Thế nhưng thầy lại bảo là có, khiến cả lớp ngạc nhiên pha lẫn nghi ngờ.
Thầy nói tiếp: Có những khi ta không làm tổn thương ai, không chiếm đoạt tài sản người khác, không xúc phạm đến ai... thế mà vẫn có thể bị sa hỏa ngục vì không ra tay cứu giúp những người lâm cảnh gian nan khốn khó.
Nghe thế, học sinh lại thêm nghi ngờ.
Để thuyết phục học sinh tin chắc điều này, thầy trích dẫn lời dạy của Chúa Giê-su qua hai dụ ngôn sau đây:

Thứ nhất là dụ ngôn người giàu có với La-da-rô khốn khổ trong Tin mừng Luca.
Người giàu "mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy mà ăn cho đỡ đói, nhưng cũng chẳng ai cho."
Thế rồi, cả hai người đều chết. La-da-rô thì được vào thiên đàng vinh hiển; còn lão phú hộ thì phải sa hỏa ngục" (Lc 16, 19-21).
Người giàu đã làm gì đến nỗi phải sa hỏa ngục? Ông ta không mắng chửi, không đánh đập, không xua đuổi La-da-rô... Thế thì tại sao lão lại phải sa hỏa ngục?
Lão phải sa hỏa ngục vì lão không ra tay cứu giúp La-da-rô đang đói khát trong khi lão thừa mứa thức ăn.

Thứ hai là qua dụ ngôn cuộc "Phán xét cuối cùng" được trích đọc hôm nay, Chúa Giê-su lên án những người không ra tay cứu giúp người cùng khổ bằng những lời lẽ hết sức nặng nề:
"Hỡi phường bị chúc dữ kia! Hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng..."
Thế là những người này hết sức bàng hoảng, sửng sốt, khiếp sợ và tự hỏi: "Mình đã làm gì nên tội mà Chúa bắt mình phải chịu hình phạt khủng khiếp đến thế? Mình không giết người, không đốt nhà, không chiếm đoạt tài sản của ai, không gian dâm, không ngoại tình, không mắng chửi hay làm mất thanh danh phẩm giá bất cứ ai... Thế thì tại sao lại phải chịu hình phạt nặng nề kinh khủng như thế?
Chúa Giê-su đáp: Các ngươi phải sa hỏa ngục "vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!"
"Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: 'Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?' Khi ấy Chúa đáp lại: "Ta bảo thật cho các ngươi biết: Những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta" (Mt 25, 46).

Lạy Chúa Giê-su,
Lâu nay chúng con không ngờ có một thứ tội rất nặng nề mà ai vi phạm thì phải sa hỏa ngục đau khổ muôn đời, đó là tội không biết ra tay cứu giúp những người lâm cảnh gian nan khốn khổ.
Xin cho chúng con luôn quan tâm giúp đỡ người khốn khó, biết giảm bớt những chi tiêu không cần thiết để chia sẻ cho những anh chị em nghèo thiếu chung quanh; nhờ đó, mai đây Chúa sẽ tuyên bố với chúng con rằng:

"Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ" vì các ngươi đã ra tay cứu giúp những anh chị em đang lâm cảnh gian nan.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Mát-thêu 25, 31- 46
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái.

"Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: 'Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta'.

"Khi ấy người lành đáp lại rằng: 'Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?' Vua đáp lại: 'Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta'.

"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: 'Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!'

"Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: 'Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?' Khi ấy Người đáp lại: "Ta bảo thật cho các ngươi biết: những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta'. Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".

--------------------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI -DÀNH CHI NGƯỜI ĐAU KHỔ PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Tue, Nov 17 at 1:11 AM

NHỮNG XÓT THƯƠNG DÀNH CHO CÁC NGƯỜI ĐAU KHỔ - GB. Bùi Tuần

1.

Đã từ rất lâu, nhưng nhất là thời gian gần đây, tôi hay gặp gỡ Chúa Giêsu bằng nhiều cách, để hỏi Chúa điều này:

Sống đạo thời nay và tại đây, Chúa muốn các môn đệ Chúa nhấn mạnh đến điều nào hơn cả?

Chúa đã trả lời tôi vắn tắt thế này: "Hãy xót thương các người đau khổ một cách cụ thể và quảng đại".

2.

Để giúp tôi dễ hiểu, Chúa dạy tôi hãy đọc kỹ dụ ngôn người Samari tốt lành.

Tôi mở Phúc âm thánh Luca đoạn 10, thì thấy Chúa Giêsu dạy việc xót thương người đau khổ qua dụ ngôn người Samari tốt lành với những chi tiết rất cụ thể:

"Một người bị cướp đánh, nằm ở vệ đường... Một người Samari đi đường ngay chỗ đó, nhìn thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương người ấy. Rồi đặt người ấy lên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: Nhờ bạn săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại cho bạn (Lc 10, 32-36)".

3.

Đọc những chi tiết cụ thể và quảng đại mà người Samari dành cho kẻ bị nạn nằm bên vệ đường, tôi nhận ra ý Chúa dạy tôi và các môn đệ Chúa điều này:

Sống đạo hiện nay và tại đây là hãy đề cao tính xót thương như người Samari.

4.

Rất may là tôi cũng mới nhận được một số tài liệu về Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Phanxicô cũng nhấn mạnh đến nét sống đạo phải có lúc này, đó là xót thương kẻ đau khổ, biết đau cái đau của người khác. Mà xót thương thì phải cụ thể và quảng đại.

Thế là đã rõ thánh ý Chúa về sống đạo tại Việt Nam hôm nay.

5.

Tôi vui mừng nhận thấy điều Chúa dạy trên đây đang được thực hiện tại Việt Nam lúc này ở nhiều nơi.

Những người tốt như người Samari nói trong Phúc âm được nhận ra ở nhiều loại người khác nhau. Họ là người công giáo và họ là người ngoài công giáo. Họ là người có chức quyền và họ là người thường dân. Họ là người giàu sang và họ là người nghèo túng bần cùng.

6.

Điều quan trọng đối với tôi là, các môn đệ Chúa trong đó có tôi, có biết sống xót thương như Chúa dạy không.

Sẽ rất khốn cho chúng ta, các môn đệ Chúa, nếu chúng ta coi thường việc xót thương mà Chúa dạy.

7.

Mới rồi, trong một cuộc trao đổi thân tình giữa một nhóm người khác đạo về chuẩn mực đạo đức xã hội tại Việt Nam hôm nay, tất cả đều đồng ý là yếu tố quan trọng nhất chính là biết xót thương, mà xót thương đó phải khiêm nhường, bao dung, đơn sơ, chân thành.

Nhận xét đó là rất đúng. Đời cũng như đạo, cần thực hiện điều đó để cứu Đạo, cứu Đời, nhất là để cứu chính mình.

8.

Bởi vì Chúa đã hứa: "Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương (Mt 5, 7)".

"Ai xót thương người đau khổ, thì được kể như là xót thương chính Chúa. Họ sẽ được Chúa thương (Mt 25, 31-46)".

9.

Tới đây, tôi nhớ lại một kỉ niệm không bao giờ quên về lòng xót thương, mà Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dành cho tôi.

Năm đó, tôi đén Vatican, gặp Đức Giáo Hoàng. Sau thánh lễ đồng tế với Đức Thánh Cha, tôi đứng chung với đám đông, để được gặp Đức Thánh Cha.

Đám đông gồm đủ mọi thành phần thuộc nhiều dân tộc. Chúng tôi xếp hàng chữ U trên diện tích lớn. Khi vừa thấy tôi, Đức thánh Cha tỏ vẻ ưu ái cách riêng. Ngài bắt tay và hỏi thăm vắn tắt. Rồi ngài tiếp tục đến với những người khác.

Một lát sau, ngài trở lại chỗ tôi đứngvà thân mật nói: "Cha thấy con không được khỏe. Con đi chữa bệnh trước đã, rồi mọi chuyện sẽ tính sau".

Tôi không ngờ Đức thánh Cha có lòng xót thương tôi một cách cụ thể và quảng đại như thế.

Ngoài ra, ngài còn thực hiện lòng thương xót đối với tôi trong nhiều trường hợp khác nữa.

10.

Nhưng làm thế nào, để có một tấm lòng xót thương những người đau khổ, như Chúa muốn? Tôi xin thưa: Phải nhờ ơn Chúa.

Trả lời của tôi dựa trên một biến cố xảy ra cho tôi, cách đây mấy chục năm, lúc tôi mới thụ phong Giám mục.

Đêm đó, tôi chiêm bao được Chúa Giêsu đến gặp tôi.

Tôi đang đi trên đường lộ rộng rãi, thì tôi thấy Chúa Giêsu từ một đường nhỏ trong cánh đồng đi lên.

Đến chỗ đó, Chúa gặp tôi. Chúa cầm tay tôi, dẫn vào một bệnh viện rộng lớn. Ngài không nói gì. Ngài chỉ đưa tôi đến các bệnh nhân nằm la liệt. Ngài làm cho tôi cảm thấy đau đớn, xót thương họ. Tôi đau cái đau của họ. Đến một lúc, tôi đau quá, bật khóc. Chúa biến đi. Tôi tỉnh dậy, tôi hiểu đó là một sứ điệp.

11.

Tôi hiểu: Xót thương kẻ khác như Chúa muốn, là một ơn Chúa ban cho. Xót thương của tôi là từ trái tim Chúa chia sẻ cho, chứ không phải do mình có được từ các lớp học hỏi, bàn bạc, nghiên cứu.

12.

Xót thương đó phải được thực hiện bằng việc làm. Việc làm tuy nhỏ, nhưng có sức cứu độ, vì có Mẹ ở bên, nhất là vì có Chúa ở bên. Xót thương là một hành trình dài.

Long Xuyên, ngày 26.10.2018

----------------------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - NGUỒN NƯỚC MẮT PDF Print E-mail

Anh Lê chuyển

NGUỒN NƯỚC MẮT - Tôi đã viếng nhiều Nghĩa trang.

Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường gây trong tôi nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Thứ hình ảnh đó là các nghĩa trang.

Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang. Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.
Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm. Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang. Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: "Đau khổ của tình yêu".
Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang. Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.
Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.
Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.
Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.
Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.
Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.
Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.

Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:
Khám phá ra những chân lý nhân sinh.
Khám phá ra những hy vọng ứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Khám phá ra chân lý.

Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết. Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi. Sự chết là một sự thật không cần bàn tới. Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.

Bất cứ ai, rồi cũng phải chết. Cái chết đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ. Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.

Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: "Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó. Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.
Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.
Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.
Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi. Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được" (Lc 16,19-26).

Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng. Ai cũng phải chết. Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ. Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai. Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục. Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương. Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng. Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật. Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.

Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang. Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.

Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.
Khám phá ra hy vọng.

Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về. Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó. Người đó cầu nguyện cho họ. Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.

Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ. Chúa an ủi họ rằng: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ. Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" (Mt 9,12-13).

Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ. Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.

Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương. Họ sám hối. Họ cảm thấy mình được tha thứ. Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ. Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ. Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót. Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.

Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt. Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.
Khám phá ra chính mình.

Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người. Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn. Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.

Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo. Nhìn ảo về mình. Nhìn ảo về những công việc của mình. Nhìn ảo về người khác. Nhìn ảo về cuộc đời.

Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:
Gọi hãy cảm thương.
Gọi hãy chia sẻ.
Gọi hãy trở về.
Gọi hãy hiến dâng.
Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.
Gọi hãy sám hối và tín thác.
Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.

Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương. Như lời Chúa kêu gọi: "Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con" (Ga 15, 4).

GM JB Bùi Tuần

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 56