mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay793
mod_vvisit_counterHôm Qua5693
mod_vvisit_counterTuần Này21514
mod_vvisit_counterTuần Trước36123
mod_vvisit_counterTháng Này85629
mod_vvisit_counterTháng Trước189436
mod_vvisit_counterTất cả8980709

We have: 121 guests online
Your IP: 54.225.16.58
 , 
Today: Aug 18, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI -CHAN DUNG THUONG XOT PDF Print E-mail

Bản Án Giêsu - Chân Dung Thương Xót

Cái tên "Philatô" lịch sử này quan trọng và nổi tiếng đến độ, ngay cả vị tiền hô Gioan Tẩy Giả là con người cao trọng nhất được nữ giới sinh ra (xem Mathêu 11:11), các tông đồ là thành phần chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô, là nền tảng của Giáo Hội (xem Epheso 2:20), cũng không được nhắc đến tên trong Kinh Tin Kính của Kitô giáo nói chung và của Giáo Hội Công Giáo nói riêng.

Chính trong trình thuật của Thánh Ký Gioan được Giáo Hội chọn đọc cho chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta mới thấy được rõ ràng những chi tiết quan trọng và cần thiết ở bên trong Dinh Tổng Trấn Philatô liên quan đến việc truy xét của vị tổng trấn này với Chúa Giêsu và về Chúa Giêsu, cũng như liên quan đến lý do chính yếu Người bị lên án tử.

Căn cứ vào trình thuật của Thánh ký Gioan thì Tổng Trấn Philatô chất vấn Chúa Giêsu 3 lần, hay ba điều, thứ tự như sau: 1- "Ngươi có phải là Vua Dân Do Thái hay chăng?" (Gioan 18:33), 2- Chân lý nghĩa là gì?" (Gioan 18:38), 3- "Ngươi từ đâu tới vậy?" (Gioan 19:9).

1- "Ngươi có phải là Vua Dân Do Thái hay chăng?" (Gioan 18:33). Chúa Giêsu đã không bao giờ tự xưng mình một cách tự động hay khi được hỏi đến minh nhiên, công khai và chính thức rằng: "Ta là Đức Kitô" hay "Ta là Vua". Lý do, chỉ vì đó là 2 tước hiệu, một liên quan đến giáo quyền Do Thái (Kitô) và một đụng chạm đến chính quyền Đế quốc Rôma (Vua). Cho dù Người quả thực là Đức Kitô và là Vua, như trong 3 năm công khải tỏ mình ra Người vẫn luôn tìm cách chứng thực rằng Người là Đức Kitô và là Vua: là Đức Kitô đối với chung Dân Do Thái và riêng giáo quyền Do Thái là Hội Đồng Đầu Mục, và là Vua đối với chung loài người và với riêng thẩm quyền Đế Quốc Rôma bấy giờ là quyền lực đang đô hộ dân Do Thái và dân Do Thái đang mong được giải thót bởi một Vị Thiên Sai (Kitô) như đã từng xẩy ra trong Lịch Sử Cứu Độ của họ.

Vì tránh đụng chạm, Người đã trả lời câu chất vấn đầu tiên này của Tổng Trấn Philatô một cách gián tiếp khẳng định như sau: "Chính ngài nói tôi là vua – It is you who say I am a king" (Gioan 18:37). Kiểu trả lời khẳng định một cách gián tiếp này, Chúa Giêsu cũng đã áp dụng với Hội Đồng Đầu Mục Do Thái khi được hội đồng này cùng nhau đồng thanh hỏi một cách trực tiếp, dứt khoát và chính thức, như Thánh ký Luca thuật lại rằng: "Như thế thì ngươi có phải là Con Thiên Chúa chứ gì?" và câu trả lời của Người là: "Chính các ngài nói Tôi như thế đó - It is you who say I am" (Luca 22:69).

Còn Thánh ký Mathêu cho biết chỉ có Thượng Tế Caipha (26:57) là người đã thay hội đồng chất vấn Chúa Giêsu: "Ta truyền cho ngươi phải thề trước Thiên Chúa hằng sống mà nói cho chúng ta biết ngươi có phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hay chăng?" (26:63), và vị có thẩm quyền này cùng với cả hội đồng của ông bấy giờ đã nhận được câu trả lời khẳng định một cách gián tiếp như sau: "Chính ngài là người đã nói thế - It is you who say it..." (26:64). Chỉ có ở trình thuật của Thánh ký Marco mới có câu trả lời "Tôi đúng là thế - I am" trực tiếp khẳng định của Chúa Giêsu với vị thượng tế này thôi (xem 14:62), nghĩa là trực tiếp thừa nhận điều vị thượng tế hỏi là đúng; nhưng dầu sao, ở câu Phúc Âm của Thánh ký Marcô này Người vẫn không thẳng thừng và mãnh liệt lập lại một cách rõ ràng những gì được hỏi "Ngươi có phải là Đức Kitô, Con của Đấng Thánh hay chăng" rằng "Phải, tôi chính là Đức Kitô, Con của Đấng Thánh đây".

2- "Chân lý nghĩa là gì?" (Gioan 18:38): Ở trong câu khẳng định một cách gián tiếp mình là Vua Dân Do Thái, là Đấng đến giải thoát dân Do Thái, không phải bằng quyền lực chính trị và tình trạng bị đô hộ về thể lý, mà là bằng quyền lực thần linh và tình trạng nô lệ tội lỗi "ngồi trong tăm tối và bóng tử thần" (Luca 1:79). Chân lý ở đây chính là Chúa Kitô, một Chúa Kitô tỏ mình ra là Chân Lý qua các việc Ngài làm, trước hết và trên hết, ở chỗ Người "đến không phải để làm theo ý của mình mà là ý của Đấng đã sai" (Gioan 6:38), nhờ đó, Người mới có thể hoàn thành công cuộc cứu độ trần gian của Người với tư cách là Đức Kitô Thiên Sai của dân Do Thái.

Sở dĩ Tổng Trấn Philatô không nhận được câu trả lời của Chúa Giêsu, vì ngay bấy giờ ông đã thấy Chân Lý, đã đối diện với chính Chân Lý, và cho dù chưa nhận biết Chân Lý là chính Chúa Kitô, qua những việc Người làm, nhất là việc Người chấp nhận khổ nạn và tử giá theo ý Đấng đã sai «để làm chứng cho chân lý» (Gioan 18 :37) tức là để chứng tỏ Người là ai (xem Gioan 8:28), ông cũng cảm nhận được Chân Lý một cách nào đó, qua những gì ông đã khẳng định được treo trên đầu của cây thập tự giá đóng đanh Chúa Giêsu: "Giêsu Nazarét, Vua Dân Do Thái" (Gioan 19:19).

3- "Ngươi từ đâu tới?" (Gioan 19:9). Sở dĩ có câu hỏi thứ ba này là vì Tổng Trấn Philatô sau khi đã cố gắng điều tra và cảm thấy rằng Chúa Giêsu 2 lần: "Ta chẳng thấy hắn có tội gì cả - I find no case against thia man / him" (xem Gioan 18:38;19:6), đã nghe thấy dân Do Thái lên án tử cho Chúa Giêsu rằng: "Chúng tôi có luật và theo luật thì hắn phải chết vì hắn xưng mình là Con Thiên Chúa" (Gioan 19:7). Đúng thế, cái tội đáng chết của Chúa Giêsu ở đây, đối với chung Dân Do Thái và riêng Hội Đồng Đầu Mục Do Thái, đó là tội "lộng ngôn. Ông chỉ là một con người mà dám xưng mình là Thiên Chúa" (Gioan 10:33).

Ở câu hỏi thứ ba này, chính Philatô là một con người hữu thần, chứ không phải hoàn toàn vô thần, chứng tỏ cũng muốn tìm về Chân Lý là những gì ông muốn biết, đã đặt vấn đề nhưng chưa có câu trả lời, một câu trả lời sẽ được giải đáp thỏa đáng liên quan đến nguồn gốc của một nạn nhân kỳ lạ mà ông đang đối diện và chất vấn. Đó là lý do ông không trực tiếp hỏi "Ngươi có phải là Con Thiên Chúa hay chăng?" như câu hỏi thứ nhất "Ngươi có phải là Vua dân Do Thái hay chăng?", mà là hỏi: "Ngươi từ đâu đến?", một vấn nạn cũng đã gây nhức nhối trong dân do Thái về Chúa Giêsu trước đó (xem Gioan 7:27-28), đến độ họ đã không chịu được nữa mà hỏi thẳng với Người rằng: "Ông còn để cho chúng tôi phải nghi nan cho đến bao giờ nữa chứ? Nếu ông thực sự là Đức Kitô thì hãy nói thẳng ra cho chúng tôi biết đi" (Gioan 10:24).

Ở đây cũng thế, Chúa Giêsu vẫn nhất định dứt khoát không chính thức và công khai xưng mình: "Tôi là Đức Kitô", vì Người biết họ bấy giờ không thể nào chấp nhận được Chân Lý ấy, đến độ, như Người đã khẳng định với cả dân Do Thái cũng như với các tông đồ rằng: "Các người sẽ tìm kiếm Tôi, nhưng nơi tôi đi quí vị không thể tới được"(Gioan 13:33; 7:33), chẳng những thế, trong chính lúc họ tìm kiếm Người, muốn biết Người là ai và từ đâu đến thì họ đã được Chúa Kitô cảnh báo cho họ biết trước rằng: "các người sẽ chết trong tội lỗi của mình" (Gioan 8:21).

Điển hình là Tông Đồ Phêrô, như đã được phân tích, trong khi cố gắng theo sát Thày bắt đầu cuộc khổ nạn của Người thì lại chối bỏ Thày 3 lần, nhất là trường hợp Hội Đồng Đầu Mục Do Thái, như đã phân tích, trong khi muốn biết Người là ai thì lại lên án tử cho Người sau khi nghe Người chấp nhận những gì họ đang ngờ vực về Người liên quan đến nguồn gốc thần linh của Người.

Vì Mầu Nhiệm Tử Giá thuộc về Mạc Khải Thần Linh, một mạc khải thần linh lên đến tột đỉnh khi Chúa Kitô tự nguyện hiến mạng sống mình trên Thập Tự Giá mà chỉ ở nơi Thánh Giá con người mới thấy được "tất cả sự thật" (Gioan 16:13) về Chúa Kitô và nơi Chúa Kitô, như chính Người đã khẳng định: "Khi nào các người treo Con Người lên, các người sẽ biết Tôi là Ai?" (Gioan 8:28), hay mới biết Người từ đâu đến và sẽ đi đâu, vì chỉ ở nơi Thánh Giá mà mọi người mới được cứu chuộc: "Khi nào Tôi bị treo lên khỏi đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên cùng Tôi" (Gioan 12:32).

Thật vậy, ngay sau khi Chúa Giêsu tắt thở trên Thánh Giá, và qua các hiện tượng thiên nhiên bất thường biến động bấy giờ, Chúa Giêsu đã được nhận biết bởi cả dân Do Thái lẫn dân Ngoại, như Thánh ký Luca thuật lại thì: "Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa: 'Người này quả thật là công chính!' Và khi thấy những việc xảy ra như thế, tất cả những đám người đã tụ tập đông đảo để xem cảnh tượng ấy đều đấm ngực trở về nhà ».

Như thế, biến cố Tử Giá của Chúa Kitô, trước hết và trên hết, nguyên nhân chính không phải là do loài người, nhất là thành phần thẩm quyền liên hệ trực tiếp bấy giờ, bao gồm cả Tổng Trấn Philatô hay Hội Đồng Đầu Mục Do Thái, mà là chính Thiên Chúa, Đấng muốn lợi dụng những bất toàn của con người, lầm lạc (nơi Hội Đồng Đầu Mục Do Thái) và hèn yếu (nơi Tổng Trấn Philatô), để hoàn thành Dự Án Cứu Độ của Ngài nơi Con Ngài là Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế, Đấng đã tuyên bố: "Không ai có thể lấy mạng sống của Tôi được. Tôi tự nguyện bỏ nó đi. Tôi có quyền bỏ nó đi và có quyền lấy nó lại" (Gioan 10:18).

Nếu thế thì quả thực đúng như Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã cảm nhận, xác tín và tuyên bố rằng: «Thiên Chúa đã dồn con người vào tình trạng bất tuân để tỏ lòng xót thương với tất cả mọi người – God has imprisioned all in disobedience that he might have mercy on all» (Roma 11 :32)

Vậy, Chúa Kitô Tử Giá là việc chính Người muốn thực hiện để chứng thực Người quả là Đức Kitô Thiên Sai của Dân Do Thái và từ đó Người cũng là Vua của loài người, Đấng Cứu Tinh Nhân Trần - Redemptor Hominis (Nhan đề của Thông Điệp đầu tay của ĐTC GPII ban hành Chúa Nhật I Mùa Chay ngày 4/3/1979), Đấng đã giải phóng con người khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết là những gì thuộc vương quốc của ma quỉ ngay từ ban đầu nơi nguyên tội!

Ôi cao cả thay Mầu Nhiệm Cứu Chuộc! Ôi, vĩ đại thay Tình Yêu Thiên Chúa!! Ôi diễm phúc thay Loài Người Tội Lỗi!!!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHÚA YÊU TÔI - THU NAM TUAN THANH PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

CHỦ TẾ VÀ GIẢNG LỄ TRUYỀN DẦU SÁNG THỨ NĂM 13/4/2017

Ở ĐỀN THỜ THÁNH PHÊRÔ

"Tin mừng tràn đầy của Phúc Âm - niềm vui của những ai được xức dầu, về mặt tội lỗi của mình, bằng thứ dầu tha thứ, và được xức dầu, về mặt đặc sủng của mình, bằng thứ dầu sứ vụ, để nhờ đó xức dầu lại cho người khác".

"Tin mừng / Good news... Phúc Âm / Gospel... trở thành sự thật, tràn đầy niềm vui và lòng thương xót. Chúng ta không bao giờ được gắng tách rời ba thứ ân sủng của Phúc Âm này: sự thật của phúc âm là những gì bất khả thương lượng; lòng thương xót của phúc âm là những gì vô điều kiện và được cống hiến cho tất cả mọi tội nhân; và niềm vui của phúc âm là những gì riêng tư và hướng về tất cả mọi người. Sự thật, lòng thương xót và niềm vui: ba điều này đi với nhau"

"Thần Linh của Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu cho tôi để tôi đi rao giảng tin mừng cho người nghèo khó. Ngài đã sai tôi đi công bố việc giải thoát cho những kẻ bị giam cầm và phục quang cho những ai bị mù lòa, trả lại tự do cho thành phần bị áp bức" (Luca 4:18). Chúa Giêsu, được Thần Linh xức dầu, mang tin mừng cho người nghèo khó. Hết tất cả những gì Người công bố, và hết những gì linh mục chúng ta cũng loan báo, đó là tin mừng. Tin mừng tràn đầy của Phúc Âm - niềm vui của những ai được xức dầu, về mặt tội lỗi của mình, bằng thứ dầu tha thứ, và được xức dầu, về mặt đặc sủng của mình, bằng thứ dầu sứ vụ, để nhờ đó xức dầu lại cho người khác.

Như Chúa Giêsu, vị linh mục thực hiện sứ điệp hân hoan này bằng cả con người của mình. Khi ngài giảng - nếu có thể thì ngăn ngắn thôi! - thì ngài làm như thế bằng thứ niềm vui đánh động tâm can con người cũng bằng cùng những lời mà tâm can của ngài khi cầu nguyện được Chúa tác động. Như tất cả mọi vị môn đệ thừa sai khác, vị linh mục thực hiện sứ điệp hân hoan này bằng cả những gì ngài là. Vì như tất cả chúng ta đều biết, chính ở nơi những điều bé nhỏ mà niềm vui được nhìn thấy rõ nhất và chia sẻ hay nhất, ở chỗ, bằng việc thực hiện một bước nho nhỏ, vào những lúc chúng ta làm cho lòng thương xót Chúa tràn ngập nơi những trường hợp lẻ loi cô độc; vào những lúc chúng ta quyết định nhắc điện thoại lên để sắp xếp gặp gỡ một người nào đó; vào những lúc chúng ta nhẫn nại để cho người khác làm mất giờ của chúng ta...

Cụm từ "tin mừng / good news" hiện lên như là một cách thức khác để nói đến "Phúc Âm". Tuy nhiên, những chữ này nhắm đến một điều gì đó thiết yếu, đó là niềm vui Phúc Âm. Phúc Âm là tin mừng vì thực sự nó là một sứ điệp của niềm vui.

Tin mừng là một viên ngọc quí chúng ta đọc thấy trong Phúc Âm. Nó không phải là một điều mà là một sứ vụ. Điều này là những gì hiển nhiên với bất cứ ai đã cảm nghiệm thấy "niềm vui hoan lạc và ủi an của việc truyền bá phúc âm hóa" (Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm - 10).

Tin mừng được xuất phát từ việc Xức Dầu. "Việc xức dầu tư tế cả thể" đầu tiên của Chúa Giêsu đã xẩy ra, bởi quyền năng của Thánh Linh, trong cung lòng của Đức Maria.Tin mừng của biến cố Truyền Tin đã tác động vị Trinh Mẫu này xướng lên ca vịnh Ngợi Khen của mình. Nó tràn đầy tấm lòng của chàng Giuse là phu quân của Mẹ, bằng việc thinh lặng thánh, và nó đã làm cho Gioan hân hoan nhẩy lên trong bụng dạ của mẹ mình là bà Isave.

Ở bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu trở về Nazarét và niềm vui của Thần Linh đã lập lại việc Xức Dầu ấy ở trong một hội đường nhỏ thuộc tỉnh lỵ ấy: Vị Thần Linh xuống và tuôn đổ trên Người, "xức dầu cho Người bằng thứ dầu hoan lạc" (xem Thánh Vịnh 45:8).

Tin mừng / Good news. Một chữ duy nhất - Gospel / Phúc Âm - cho dù khi nó được nói ra, trở thành sự thật, tràn đầy niềm vui và lòng thương xót. Chúng ta không bao giờ được gắng tách rời ba thứ ân sủng của Phúc Âm này: sự thật của phúc âm là những gì bất khả thương lượng; lòng thương xót của phúc âm là những gì vô điều kiện và được cống hiến cho tất cả mọi tội nhân; và niềm vui của phúc âm là những gì riêng tư và hướng về tất cả mọi người. Sự thật, lòng thương xót và niềm vui: ba điều này đi với nhau.

Sự thật của tin mừng không bao giờ có thể là những gì thuần trừu tượng, bất khả hình thành một cách cụ thể nơi đời sống của dân chúng, vì họ cảm thấy thoải mái hơn khi nhìn sự thật được in ấn trong các sách vở.

Lòng thương xót của tin mừng không bao giờ được là một thứ thương hại giả tạo, một thứ thương hại bỏ mặc cho tội nhân ở trong tình trạng khốn khổ của họ mà không đưa tay ra nâng họ lên và giúp họ bước đi theo chiều hướng thay đổi.

Sứ điệp này không bao giờ có thể là những gì u ám ảm đạm hay lạnh lùng lãnh đạm, vì nó bày tỏ một niềm vui hoàn toàn riêng tư. Nó là "niềm vui của Chúa Cha, Đấng muốn không một con người nhỏ mọn nào bị hư mất" (Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm - 237). Nó là niềm vui của Chúa Giêsu, Đấng thấy người nghèo được rao giảng tin mừng, và các kẻ nhỏ mọn lại quay ra đi rao giảng sứ điệp này (cùng nguồn - 5).

Các niềm vui của Phúc Âm là những niềm vui đặc biệt. Tôi nói là "các niềm vui" ở số nhiều, vì chúng nhiều và khác nhau, tùy theo đường lối Thần Linh muốn truyền đạt chúng, ở hết mọi thời đại, cho hết mọi người và ở hết mọi nền văn hóa. Chúng cần được tuôn đổ vào các thứ bình rượu mới, những bình rượu được Chúa nói tới khi Người diễn tả về tính chất mới mẻ nơi sứ điệp của Người. Tôi muốn chia sẻ với anh em, quí linh mục thân mến, anh em thân mến, ba hình ảnh hay ba hình tượng của những bình rượu này, nơi tin mừng được chứa đựng một cách tươi mới - vì chúng ta cần phải gìn giữ làm sao cho tin mừng được tươi mới - không bao giờ bị chua, trái lại còn dồi dào tuôn tràn nữa.

Hình tượng đầu tiên về tin mừng sẽ là những chum nước bằng đá (the stone water jars) ở tiệc cưới Cana (xem Gioan 2:6). Ở một cách nào đó những chum nước bằng đá này phản ảnh người đàn bà hoàn hảo ("perfect vessel" - riêng thành ngữ "vessel" này chẳng những ám chỉ "đàn bà" nhưng đồng thời theo nghĩa bình thường cũng bao gồm cả bình, chậu, lọ, thùng chứa nữa) tức là chính Đức Mẹ, Trinh Nữ Maria. Phúc Âm nói với chúng ta rằng các người đầy tớ "đổ các chum đầy cho tới miệng" (Gioan 2:7). Tôi tưởng tưởng thấy có một người trong họ nhìn Mẹ Maria xem đã đủ chưa, và Mẹ Maria ra dấu đổ thêm một chum nữa. Mẹ Maria là bình rượu mới tràn đầy niềm vui lây nhiễm. Không có Mẹ, quí linh mục thân mến, chúng ta không thể tiến tới trong thiên chức linh mục của chúng ta! Mẹ là "người nữ tỳ của Chúa Cha vang lời chúc tụng Ngài" (Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm - 286), Đức Bà Mau Cứu Giúp (Our Lady of Prompt Succour), vị mà sau khi thụ thai trong cung lòng trinh nguyên của mình Lời sự sống, đã lên đường để viếng thăm và trợ giúp người chị họ Isave của mình. "Cái tràn đầy lây nhiễm" của Mẹ giúp cho chúng ta thắng vượt khuynh hướng sợ hãi, khuynh hướng giữ mình khỏi bị đầy tới miệng đến tuôn trào ra, khuynh hướng chiều theo một tâm trạng nhút nhát kìm chúng ta lại không để chúng ta ra đi làm cho người khác tràn đầy niềm vui. Không thể như thế được, vì "niềm vui Phúc Âm tràn đầy các con tim và cuộc đời của tất cả mọi ai gặp gỡ Chúa Giêsu" (cùng nguồn - 1).

Hình tượng thứ hai của tin mừng tôi muốn chia sẻ với anh em hôm đó đó là cái vò (jug) có cái môi múc bằng gỗ được người đàn bà Samaritanô đội trên đầu của mình vào lúc trời nắng giữa ngày (xem Gioan 4:5-30). Nó nói với chúng ta về một điều gì đó quan trọng: tầm quan trọng của những trường hợp cụ thể. Chúa, Nguồn Mạch Nước Hằng Sống, không có phương tiện để kín nước cho giãn cơn khát của Người. Vậy người đàn bà samaritanô này đã kín nước bằng cái vò của mình, và dùng cái môi múc nước của mình để làm giãn cơn khát của Chúa. Chị đã làm giãn cơn khát ấy, thậm chí còn hơn thế nữa bằng việc cụ thể xưng thú tội lỗi của chị. Bằng việc thương xót lay chuyển người đàn bà (the vessel) có tâm hồn của người đàn bà Samaritanô ấy, Thánh Linh đã tuôn đổ xuống trên tất cả mọi người ở tỉnh lẻ ấy, thành phần đã xin Chúa ở với họ.

Chúa đã ban cho chúng ta người đàn bà mới khác (another new vessel) hay một bình rượu đầy những "tính chất cụ thể bao gồm" này ở nơi tâm hồn của người đàn bà Samaritanô đó là Mẹ Têrêsa. Người đã kêu gọi mẹ và đã bảo mẹ rằng: "Cha khát". Người đã nói rằng: "Hỡi con, hãy đưa Cha đến với những túp lều tồi tàn của người nghèo. Hãy đến, hãy là ánh sáng của Cha. Cha không thể làm điều này một mình. Họ không biết Cha, và đó là lý do tại sao họ không kính mến Cha. Hãy mang Cha đến với họ". Mẹ Têrêsa, bằt đầu bằng một con người cụ thể, nhờ những nụ cười của mẹ và cách thức mẹ đụng chạm tới những vết thương của họ, đã mang tin mừng cho tất cả mọi người. Cách thức chúng ta đụng chạm tới những vết thương bằng bàn tay của chúng ta, cách thức của linh mục chúng ta vuốt ve âu yếm bệnh nhân và những ai đã mất hy vọng. Vị linh mục cần phải là một con người của tình yêu êm ái dịu dàng. Tính chất cụ thể và sự êm ái dịu dàng!

Hình tượng thứ ba của tin mừng là cái bình sâu thẳm của Trái Tim Chúa bị đâm vào; thái độ hoàn toàn hiền lành, khiêm hạ và nghèo hèn của Người đã lôi kéo tất cả mọi người đến cùng Người. Chúng ta cần phải học nơi Người rằng việc loan báo một niềm vui cao cả cho người nghèo chỉ có thể thực hiện một cách trân trọng, khiêm tốn, thậm chí chịu nhục nữa. Cụ thể, dịu dàng và khiêm hạ: bằng cách thức ấy thì việc truyền bá phúc âm hóa của chúng ta mới hân hoan vui mừng. Việc truyền bá phúc âm hóa không thể nào là một việc tự phụ tự tin, cũng không thể nào cứng cỏi về tính chất nguyên vẹn của sự thật, vì sự thật đã hóa thành nhục thể, đã trở nên dịu dàng êm ái, đã trở thành một con trẻ, đã trở thành một con người, và trên cây thập tự giá, đã trở thành tội lỗi (xem 2Corintô 5:21). Vị Thần Linh công bố và truyền dạy "tất cả sự thật" (Gioan 16:13), và Ngài không sợ làm điều này từng chút một. Vị Thần Linh nói với chúng ta trong mọi hoàn cảnh những gì chúng ta cần nói với các kẻ thù địch của chúng ta (xem Mathêu 10:19), và vào những lúc ấy Ngài soi sáng hết mọi bước tiến nho nhỏ của chúng ta. Sự hiền lành và nguyên tuyền này là những gì cống hiến niềm vui cho người nghèo, làm hồi sinh tội nhân, và cứu viện những ai bị ma quỉ cầm buộc.

Quí linh mục thân mến, khi chúng ta chiêm ngắm và uống từ ba bình rượu này, chớ gì tin mừng này thấy được trong chúng ta cái "tràn đầy lây nhiễm" được Đức Mẹ tỏa rạng bằng cả con người của Mẹ, "cái cụ thể bao gồm" nơi câu chuyện của người đàn bà Samaritanô, và "thái độ hoàn toàn hiền lành" là những gì Thánh Linh từ đó không ngừng làm vọt lên và tuôn chảy ra từ trái tim bị đâm thâu của Đức Giêsu Chúa chúng ta.

http://www.news.va/en/news/pop e-francis-homily-at-holy-thurs day-chrism-mass-f

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề .

Xin mời xem thêm bài cho Thứ Sáu Tuần Thánh ngày mai:

Chúa Kitô - Diễn Tiến Cuộc Khổ Nạn

----------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - TAM TINH TUAN THANH PDF Print E-mail

TÂM TÌNH TUẦN THÁNH

Hồng chuyển

Có thể nói rằng mẫu tự T liên quan nhiều tới cuộc đời của con người. Ai cũng biết rằng cuộc sống cần có Tiền, nhưng Tiền (bạc) lại có thể sinh ra lòng Tham (tham lam) – loại đứng đầu trong "tam độc" Tham-Sân-Si, bởi vì Tham mà sinh ra Thù (thù hận), và bởi vì Thù mà mất Tình (tình nghĩa). Những chữ T có liên quan lẫn nhau thật kỳ lạ!

Đối với các Kitô hữu, Tuần Thánh khiến người ta chú ý nhiều tới Thập Tự – biểu tượng của Cuộc Khổ Nạn mà Chúa Giêsu phải chịu vì máu Tham-Sân-Si của con người. Đó là điều minh nhiên. Nhưng có một nhân vật "nổi cộm" chính là ông Giuđa Iscariot. Ở đây không dám có ý xét đoán hoặc chê trách ông, mà chỉ muốn nói tới chữ Tiền và chữ Tham.

Là con người thì luôn yếu đuối, và chắc hẳn ai cũng đã từng Tham-Sân-Si. Ông Giuđa đã chết vì "tam độc" đó. Chuyện của ông còn được người ta nhắc lại mãi mãi cho tới tận thế, nhất là mỗi dịp Tuần Thánh, và mỗi khi đề cập chuyện tiền bạc hoặc chuyện phản bội. Tên của ông đã trở nên "điển tích" về những điều xấu xa và khuất tất.

Ông Giuđa thấy tiền thì tham, vì tham như thế mà ông rắp tâm tìm mưu kế nộp Thầy để có tiền. Có tiền trong tay rồi, ông lại không thấy vui vì biết mình đã phạm tội: phản bội Thầy. Lòng không bình an, ông đâm lo sợ, sợ quá hóa hoảng, hoảng quá nên bí thế, bí thế vì cùng đường, cùng đường rồi lại không nhờ người khác hỗ trợ hoặc tư vấn, đó là tính tự kiêu. Vì tự kiêu mà lạc hướng, càng lạc hướng càng hoảng sợ, vì hoảng sợ mà mất niềm tin vào lòng nhân từ của Thầy, thế nên ông đã "tự giải thoát" bằng sợi dây: treo cổ tự tử.

Ông Giuđa đã bước ra khỏi trang Kinh Thánh và bước vào cuộc đời này, thế nên máu của ông đã thấm vào mỗi chúng ta. Bóng dáng của ông vẫn xuất hiện đây đó ngay trên cõi đời tạm này. Vì thế, chúng ta phải cố gắng thoát khỏi máu di truyền đó. Bằng cách nào? Chỉ có diệu kế duy nhất mà Thầy Chí Thánh Giêsu đã mách bảo là "vác thập giá hằng ngày" mà theo Ngài (Mt 10:38; Mt 16:24; Mc 8:34; Lc 9:23; Lc 14:27) – tức là chịu đau khổ, đồng thời vững lòng tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ khi nào chúng ta lên tới đỉnh Can-vê với Ngài thì chúng ta mới khả dĩ thoát "nợ trần" và lúc đó chúng ta mới thực sự được nghỉ ngơi.

Khi rong ruổi trên đường trần, Chúa Giêsu đã dạy "đừng mang theo tiền bạc" (Lc 9:3), đó không phải là Ngài bảo chúng ta cứ "liều mạng", sống bất cần đời, mà Ngài muốn chúng ta đừng để lòng "dính líu" tới tiền bạc kẻo hư thân và có thể mất cả linh hồn, bởi vì "cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc" (1 Tm 6:10a), hậu quả tất yếu là sẽ bị "lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé" (1 Tm 6:10b). Cụ thể là những người Pharisêu, họ là các "chuyên gia" xúi quẩy, có lối sống giả hình, chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng, luôn liếc xéo và dò xét người khác, bày đủ mưu thâm kế độc, ưa rình mò để lọc lừa và tìm cách gài bẫy người khác. Tại sao họ như vậy? Bởi vì họ "vốn ham hố tiền bạc" (Lc 16:14). Rất rõ ràng, rất rạch ròi!

Người Việt nói: "Tham thì thâm". Ba mẫu tự T có thể tóm tắt trình tự Tiền-Tội-Tù-Tử. Vì tham tiền mà thành tội, vì tội mà phải tù, có khi phải chịu án tử – gọi là tử tội, có kẻ sợ quá mà tự tử. Tóm lại, tham tiền thì tiêu tùng. Thế thôi!

*SUY TƯ VÀ QUYẾT HÀNH ĐỘNG: Có những mẫu tự T xấu – như một số đã đề cập trên đây, hoặc Thất tín, Tinh ranh, Thực dụng, Thủ đoạn,... Và tất nhiên cũng có những mẫu tự T tốt: Tha thứ, Thương xót, Thương yêu, Thân thiện, Trao tặng, Tín trung, Tín thác, Thành tâm, Thánh đức,... Quả thật, cuộc đời phàm nhân liên quan nhiều tới những chữ T lắm!

*TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG LỜI TÔI CẦU XIN : Lạy Thiên Chúa Cha, Đấng là tình yêu và giàu lòng thương xót, xin giúp con can đảm chấp nhận sự yếu hèn của con để con có thể tín thác vào lòng thương xót của Ngài, mặc dù con hoàn toàn bất xứng mà thôi. Lạy Thầy Giêsu, Người Tôi Trung Đau Khổ của Thiên Chúa, Ngài bị người ta giương lên cao, xin Ngài cũng kéo con lên theo cùng. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Khởi đầu Tuần Thánh – 2017

-----------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - KHO KHAN NAO ? PDF Print E-mail

KHÓ KHĂN NÀO CẢN BƯỚC CHÂN CON ?

Thùy Như
Một nửa chặng đường Mùa Chay, một nửa con đường thập giá, một nửa cõi lòng biến đổi, một nửa tình yêu cho Ngài... Ôi, sao chỉ mới có "một nửa", con đã muốn dừng chân! Chúa ơi! Một nửa thời gian trong hoang địa của Ngài sẽ không đủ để cho con cảm được hết cái đói mà Ngài phải chịu đựng, và sức mạnh vượt thắng cảm dỗ mà Ngài đã dạy cho con. Một nửa con đường lên đồi Golgotha không thể cho con thấy hết khổ đau của Ngài và càng không thể giúp con hiểu được tình yêu sâu thẳm của Ngài... Thế mà, con lại sẵn sàng dừng lại khi cõi lòng chưa kịp biến đổi và tình yêu chưa kịp trao ban. Chúa ơi! Con muốn đi tiếp với Ngài, nhưng sao nhiều khó khăn quá!

Chẳng khác gì các tông đồ ngày xưa, lúc cuộc sống của con tươi sáng huy hoàng như khung cảnh rực rỡ của thời khắc Ngài biến hình trên núi, con mới thấy đức tin của mình mạnh mẽ làm sao! Con sẵn sàng trong mọi sự để bước theo Ngài, bất chấp mọi gian nguy. Dường như cái sẵn sàng ấy chỉ mạnh mẽ trên môi miệng con, còn trái tim con thì xuôi theo chiều gió. Khó khăn ư? Con phải tìm hết cách để đừng gặp phải khó khăn nữa, kể cả việc biến khó khăn nên sự sung sướng an nhàn. Đau khổ ư? Con luôn đòi hỏi Chúa phải cho con được thoát cái đau khổ ấy, mà đôi khi chẳng nhận ra ý nghĩa đích thực của nó. Không lối thoát ư? Bằng mọi cách, con tìm cho được một lối đi nhẹ nhàng thênh thang, mà chẳng cần sự hiện diện của Ngài hay chung bước với tha nhân. Con đã rất hăng hái khi lên núi với Ngài; nhưng khi xuống núi, con thích tìm cho mình một ngã rẻ khác, dễ đi hơn, thuận lợi hơn, nhiều thú vui hơn và không bị gò bó trong những khuôn khổ của người môn đệ Ngài. Chúa ơi! Con cứ nửa vời như thế đó!

Đã bao nhiêu lần con nhìn lại mình, vẫn còn đó sự giằng co của tâm hồn! Những giờ phút bên Chúa, con như ngụp lặn trong hạnh phúc khi nhận ra tình Ngài yêu con quá đỗi tuyệt vời, con chẳng mong ước gì hơn được làm tất cả cho Ngài, sẵn sàng đánh đổi mọi sự vì Ngài, và cùng sống chết với Ngài. Thế nhưng, những khoản thời gian phải đối diện với cuộc sống thực tại, con mới thấy mình thật yếu đuối! Con chẳng thể làm gì cho Ngài vì con phải vật lộn với việc mưu sinh, lắm khi phải dùng đến kế sách khôn ngoan người đời; làm sao con có thể đánh đổi tất cả những gì con đang có để làm chứng cho Ngài được: một địa vị mà con phải mất một thời gian dài để gầy dựng nó, một sự nghiệp với bao mồ hôi và nước mắt, một gia sản phải tích góp bằng mọi cố gắng... Cuộc sống của con là một sự giằng co không ngừng! Con muốn yêu Chúa hết lòng mà con chẳng thể buông được những giá trị trần gian. Vẫn là một sự "nửa vời" phải không Chúa?

Con không thể chịu đựng được khi biết mình chỉ yêu Chúa có một nửa, còn một nửa thì dành cho biết bao thứ khác. Mặc dù không chịu đựng được, nhưng con vẫn chưa can đảm để giũ bỏ những thứ còn lại mà dành trọn tâm tình cho Chúa. Trong con là một nỗi lo sợ: Nếu một ngày nào đó, con mất tất cả, con sẽ ra sao? Chúa vẫn luôn có câu trả lời cho con về sự đảm bảo của Ngài, nhưng con vẫn cứ sợ! Chúa ơi! Con vẫn chưa tin Ngài đủ, chưa phó thác đủ để Ngài dẫn con đi. Con chẳng thấy khó khăn khi đi với Ngài trong suốt hành trình rao giảng, chứng kiến biết bao phép lạ vĩ đại, được mọi người reo hò tung hô; nhưng con lại quá khó khăn khi bước theo Ngài trên con đường thập giá, vì ở nơi đó, con sẽ bị người ta xem là học trò của Người Điên Vì Tình Yêu, là môn đệ của Người Mất Trí Vì Vâng Phục, là bạn hữu của Người Tự Hủy Ra Không... Nếu Ngài đã yêu con đến thế, tại sao con phải lo sợ? Nếu Ngài đã vâng phục Chúa Cha đến thế, tại sao con không thể bắt chước Ngài? Nếu Ngài đã tự hạ mình đến thế, tại sao con còn do dự, chùn bước?

Chúa ơi! Con không hề muốn mình sống nửa vời, nhưng lại không thoát được lưới dây của lối sống nửa vời ấy. Cám ơn Ngài đã cho con kịp nhìn lại, để bắt đầu bước tiếp một nửa còn lại trong tâm tình của Ngài. Xin Ngài đừng để những cơn cám dỗ về nhu cầu vật chất hằng ngày khiến con chẳng thể đi trọn mùa chay, hay những khổ đau làm con quỵ ngã chẳng thể gượng dậy trên con đường thập giá. Con ao ước cõi lòng con được hòa quyện trong Ngài, để con được biến đổi tinh tuyền; nhờ đó, tình yêu con dâng hiến cho Ngài được trọn vẹn xinh đẹp như thuở ban đầu nó đã được dựng nên như thế!
-------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI -THIEN CHUA KHOC THUONG PDF Print E-mail

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO
Thiên Chúa khóc thương
khi chúng ta quay lưng lại tình yêu của Ngài

Chúng ta thử nghĩ mà xem, khi chúng ta theo đuổi những thần tượng giả dối, thì chỉ có Thiên Chúa là Cha yêu thương và chờ đợi chúng ta. Đức Thánh Cha chia sẻ như thế trong thánh lễ ngày 30/03/2017 tại nhà nguyện Marta.

Con người luôn bị cám dỗ sống bất trung

Trong bài đọc trích sách Xuất Hành, khi Môsê lên núi để gặp Thiên Chúa, dân chúng không đủ kiên nhẫn, 40 ngày là quá lâu đối với họ. Khi Môsê xuống núi, dân chúng đã đúc một con bê vàng để thờ. Dân chúng lãng quên Thiên Chúa, Đấng cứu họ. Bởi thế, ngôn sứ Baruc có nói: Chúng đã lãng quên Đấng dẫn đưa chúng.

Quên đi Thiên Chúa, Đấng tạo nên đất trời, Đấng làm cho muôn vật sinh trưởng, Đấng đồng hành trong cuộc sống chúng ta. Khi quên đi như thế, chúng ta rơi vào ảo tưởng. Nhiều lần trong các dụ ngôn, Chúa Giêsu kể về người chủ giao vườn nho cho người làm công chăm sóc, nhưng rồi thất bại, vì các tá điền muốn chiếm đoạt vườn nho. Trong trái tim con người luôn có cám dỗ ấy, luôn có sự bất an ấy. Con người không hài lòng với tình yêu trung thành đặt nơi Thiên Chúa. Trái tim con người luôn có xu hướng bị đưa đẩy tới chỗ không chung thủy.

Thiên Chúa buồn lòng khi con người bất trung

Có ngôn sứ đã trách rằng: đây là một dân không biết kiên trì, không thể chờ đợi, một dân đã ra hư hỏng, vì chúng rời xa Thiên Chúa chân thật mà chạy theo các thần tượng giả dối.

Và như thế, đứng trước sự bất trung của dân, Thiên Chúa buồn lòng và thất vọng... Chúng ta hôm nay cũng là dân của Chúa. Chúng ta biết rất rõ điều gì đang diễn ra trong trái tim mình. Và chúng ta phải lên đường trở về; để không bị trượt dài, không bị lôi cuốn, không chạy theo các thần tượng giả trá của thế gian, không bị lún dần vào con đường bất trung. Hôm nay thật là tốt để nghĩ về sự nỗi buồn của Thiên Chúa. Bản thân mỗi người thử hỏi Chúa rằng: "Lạy Chúa, xin nói cho con biết, Chúa có buồn về con không, có thất vọng về con không?". Trong chừng mừng nào đó, có thể Chúa sẽ nói là có. Nhưng hãy cứ nghĩ và hỏi Chúa câu hỏi ấy.

Con có đang xa cách Chúa không?

Thiên Chúa là người Cha nhân hiền với trái tim nhân hậu. Chúng ta hãy nhớ về cảnh Chúa Giêsu khóc thương thành Giêrusalem. Và chúng ta tự hỏi: Chúa có đang khóc vì tôi không? Chúa có đang buồn vì tôi không? Tôi có đang chạy theo các thần tượng giả mà sống xa cách Chúa không? Nếu chúng ta đang làm nô lệ cho các ngẫu tượng giả dối, thì Thiên Chúa đang khóc thương cho ta.

SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Hôm nay chúng ta nghĩ về nỗi buồn của Thiên Chúa. Ngài buồn, vì dù Ngài yêu mến , dù Ngài kiếm tìm tình yêu, mà TÔI không đáp lại, không yêu mến Ngài. TÔI chạy xa Thiên Chúa, Đấng tác thành TÔI. BẠN nên nghĩ về điều ấy trong Mùa Chay này. Đó là điều chúng ta nên làm hằng ngày khi xét mình hồi tâm. BẠN thưa lên với Chúa: "Lạy Chúa, Chúa đã có rất nhiều ước mơ dành cho con, nhưng con lại rời xa Ngài, xin nói cho con biết ở đâu và cách nào để con bắt đầu con đường trở về..." Điều luôn làm cho ta ngạc nhiên, là Ngài luôn đợi chờ TÔI, như người cha nhân hậu đợi chờ đứa con hoang đàng trở về. Khi đứa con trở về, người cha đã đợi chờ anh từ lâu và nhìn thấy anh ngay từ đàng xa.

Tứ Quyết SJ. - http://vi.radiovaticana.va

Kính chuyển:

Hồng

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 40