mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2322
mod_vvisit_counterHôm Qua4203
mod_vvisit_counterTuần Này35940
mod_vvisit_counterTuần Trước33548
mod_vvisit_counterTháng Này100206
mod_vvisit_counterTháng Trước173870
mod_vvisit_counterTất cả10060577

We have: 145 guests online
Your IP: 23.22.240.119
 , 
Today: Jan 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # CHUA YEU THUONG NGUOI TOI LOI PDF Print E-mail



From: Hong Nguyen

Người tôi tớ khổ đau là Con Thiên Chúa trong giáo huấn của Thánh Kinh Tân Ước

hay là :  " CHÚA GIÊSU THƯƠNG XÓT NGƯỜI TỘI LỖI "

§ Linh Tiến Khải

Giáo huấn của Thánh Kinh Tân Ước vén mở cho chúng ta thấy Người tôi tớ khổ đau của Giavê Thiên Chúa, mà ngôn sứ Isaia miêu tả trong Thánh Kinh Cựu Ước, là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người.

Khi đọc các Phúc Âm, chúng ta nhận ra ngay một nét đặc thù rất đẹp trong cuộc sống và cung cách hành xử của Đức Giêsu: đó là Người rất thương xót các kẻ tội lỗi. Chính vì thế Chúa Giêsu tiếp xúc với họ, đến gần họ, tìm gặp họ, đi theo họ. Đó là điều không có rabbi do thái nào đã làm. Trái lại các rabbi do thái khinh rẻ, kinh tởm, xa lánh và kết án những người tội lỗi. Kể lại biến cố Chúa Giêsu kêu gọi ông Lêvi người thu thuế tại Capharnaum, tức là thánh sử Mátthêu sau này, thánh sử Marcô viết trong chương 2: "Đức Giêsu lại đi ra bờ biển hồ. Toàn thể dân chúng đến với Người và Người dạy dỗ họ. Đi ngang qua trạm thu thuế Người thấy ông Lêvi là con ông Alphê đang ngồi ở đó. Người bảo ông: "Hãy theo Ta." Ông đứng dậy đi theo Người. Người đến dùng bữa tại nhà ông. Nhiều người thu thuế và người tội lỗi cùng ăn với Đức Giêsu và các môn đệ: con số họ đông và họ đi theo Người. Những kinh sư thuộc nhóm Pharisêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người: "Sao Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!". Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói với họ: "Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" (Mc 2,13-17).

Chính vì đến để cứu vớt người tội lỗi nên Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng là tin mừng kêu mời sám hối và tha tội. Thánh sử Marcô kể lại rằng: "Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilea rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: "Thời kỳ đã mãn, và Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,14-15).

Lời loan báo này nằm trong cùng chiều hướng các giáo huấn và lời rao giảng của các ngôn sứ thời cựu ưởc, vì nó luôn luôn đi kèm lời mời gọi kẻ tội lỗi hoán cải, đổi đời, bỏ đàng tội lỗi và trở về với Thiên Chúa. Nó chuẩn bị cho tâm hồn con người tiếp nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa, để cho Người hành động và tiếp nhận Nước Người (Mc 1,15). Tuy quyền năng nhưng Chúa Giêsu luôn luôn tôn trọng sự tự do của con người. Người đề nghị và mời gọi chứ không bao giờ bắt buộc con người chấp nhận ơn cứu rỗi. Vì thế khi con người cố ý khước từ ánh sáng cứu độ, hay tưởng mình không cần được tha thứ, Chúa Giêsu cũng phải buồn lòng thua chịu. Mọi tội lỗi của loài người đều được tha, nhưng tội nói pham đến Thánh Thần tức khước từ sự thật, sẽ không được tha: "Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời". Đó là vì họ đã nói "Ông ấy bị thần ô uế ám" (Mc 3,28-30).

Dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế cùng vào cầu nguyện trong Đền Thờ cho thấy điều đó. Ông Pharisêu cầu nguyện bằng cách khoe khoang cách sống của mình là không tham lam, bất chính, ngoại tình, hay như tên thu thuế kia. Ông ăn chay tuần hai lần, dâng cho Chúa một phần mười thu nhập. Trong khi người thu thuế đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, mà chỉ đấm ngực thưa rằng: "Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" Ông ra về và được trở nên công chính, còn người Pharisêu thì không (Lc 18,9-14).

Chúa Giêsu rất thương xót các tội nhân, nhưng Người mạnh mẽ tố cáo thái độ sống giả hình của các kinh sư và các Pharisêu. Họ là những người giảng dạy nhưng không thực thi những điều giảng dạy, thích được trọng vọng, tâng bốc, bái chào, ăn trên ngồi trốc. Họ không muốn vào Nước Trời, nhưng cũng ngăn cản không để cho ai vào. Họ nuốt hết tài sản của các bà góa, nhưng làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Họ rảo khắp mặt đất để rủ một người theo đạo, nhưng lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi. Họ nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, nhưng lại bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Họ rửa sạch chén đĩa bên ngoài, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ. Họ giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết hôi thối và đủ mọi thứ ô uế. Họ xây mồ mả cho các ngôn sứ mà cha ông ông họ đã sát hại. Và Chúa Giêsu gọi họ là "đồ mãng xà, loài rắn độc" (Mt 23,8-33). Người môn đệ Chúa Giêsu thì phải ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì mới được vào Nước Trời (Mt 5,20). Nhưng nhất là phải biết suy tư và hành xử theo gương sống của chính Chúa Giêsu, để hiểu yêu thương có nghĩa là gì, và tội lỗi là gì khi nó là sự khước từ tình yêu thương.

Tuy nhiên, mạc khải gây ngạc nhiên nhất là lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi, mà chính Chúa Giêsu đã diễn tả qua các tâm tình, các lời giảng dậy và hành động của Người. Điển hình như biến cố một phụ nữ tội lỗi trong thành khi nghe biết Chúa Giêsu đến dùng bữa ở nhà ông Simon người Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm, khóc trên chân Người, rồi lấy tóc mà lau và xức dầu thơm trên chân Chúa. Biết ông khó chịu vì cảnh chướng tai gai mắt này, Chúa Giêsu nói với ông: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã ông cũng không đổ lên chân Tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn Tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân Tôi. Dầu ô liu ông cũng không đổ trên đầu Tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân Tôi. Vì thế Tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cứ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít, thì yêu mến ít". Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi. Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an" (Lc 7, 36-50).

Chúa Giêsu không bỏ lỡ dịp nào mà không cống hiến cho người tội lỗi cơ may gặp Người và đón tiếp Người để được ơn cứu rỗi. Đó đã là điều xảy ra

với ông Dakêu, quan thuế vụ thành Giêricô. Ông rất muốn trông thấy Chúa Giêsu, nhưng đám đông theo Người vòng trong vòng ngoài, mà ông lại là người thấp bé. Vì thế ông nghĩ ra một cách tuyệt vời là chạy đi trước, trèo lên cây sung để có thể nhìn thấy Người. Khi đi ngang qua đấy, Chúa Giêsu mhìn lên và nói với ông: "Này ông Dakêu xuống mau đi, vì hôm nay Tôi phải ở lại nhà ông." Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón tiếp Người. Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà Ông Ấy cũng vào trọ!" Ông Dakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa gia tài của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tội đã chiếm đoạt của ai cài gì, tội xin đền gấp bốn." Đức Giêsu nói với ông rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất" (Lc 19,1-10).

Để minh giải lòng xót thương của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi, đối với những gì đã lạc mất, chương 15 Phúc Âm thánh Luca kể lại ba dụ ngôn: con chiên lạc, đồng bạc bị mất và nhất là dụ ngôn người con hoang đàng. Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành bỏ 99 con chiên để lặn lội đi tìm con chiên lạc. Người giống như người đàn bà đánh mất một đồng bạc, đốt đèn quét dọn nhà cửa và mọi ngõ ngách cho tới khi tìm thấy đồng bạc, rồi gọi hàng xóm tới chung vui. Ngài như người cha già yêu thương, tôn trọng cả hai đứa con, dù thấy không đứa nào có được các suy tư, tâm tình và con tim yêu thương của mình. Khi thấy đứa con thứ đi hoang trở về, ông chạy ra đón con, ngã vào lòng nó, ôm lấy cổ con mà hôn lấy hôn để, rồi vui mừng sai gia nhân lấy giầy mới ra xỏ cho cậu, lấy áo đẹp ra mặc cho cậu và đeo nhẫn vào tay cho cậu. Không một lời than trách, mắng chửi, đã thế ông lại còn sai đầy tớ bắt bê béo mở tiệc ăn mừng nữa, vì con ông đã mất nay lại tìm thấy, đã chết nay đã sống lại. Khi biết chuyện, người anh cả ghen tức với em, giận hờn kể công, trách móc cha già và không muốn vào nhà dự tiệc vui mừng em trở về. Người cha già chạy ra năn nỉ anh vào chung vui với gia đình, vì người em đã trở về bằng an. Và không ai biết câu chuyện đã kết thúc ra sao. Thiên Chúa cũng là người cha phung phí tình yêu đối với loài người tội lỗi bất toàn như vậy.

Chính vì thế Chúa Giêsu đã tóm tắt tất cả Lề Luật và giáo huấn của các ngôn sứ thời cựu ước vào một giới răn duy nhất là "Mến Chúa yêu người". Và Người dậy các môn đệ: "Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con hãy làm cho người ta, vì Luật Môshê và lời các ngôn sứ là thế đó" (Mt 7,12). Trong Bữa Tiệc Ly Chúa Giêsu còn căn dặn các môn đệ ở lại trong tình thương của Người và giữ các điều răn của Người, và nói: "Đây là điều răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 15,12).

Chính tình yêu thương đó khiến cho con tim Chúa Giêsu phải quặn thắt, khi trông thấy những người ốm yếu tật nguyền già cả, khi chứng kiến cảnh dân chúng đói phần xác và đói phần hồn lang thang theo Người để nghe Người giảng dậy. Và Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho họ, làm phép lạ chữa lành tật bệnh trên thân xác cũng như trong tâm hồn và hóa bánh ra nhiều để nuôi họ.

Nhưng cũng chính tình yêu và lòng thương xót đó của Chúa Giêsu đối với những người bệnh tật và những kẻ tội lỗi sẽ trở thành cớ cho những kẻ chống đối Người, cho các thượng tế, ký lục và người Pharisêu ghen ghét bắt bẻ, lên án và tìm cách giết Người.

(Thần Học Kinh Thánh bài số 1152)

Linh Tiến Khải

Kính chuyển,

Hồng

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # TA ON CHUA PDF Print E-mail

Hồng Nguyễn chuyển

Tạ ơn Chúa

>

> Thi sĩ Lamartine của Pháp có kể lại một giai thoại như sau: Một hôm, tình cờ đi qua một khu rừng, ông nghe một âm thanh kỳ lạ. Cứ sau mỗi tiếng búa gõ vào đá lại vang lên một tiếng "Cám ơn". Ðến gần nơi phát ra âm thanh, thi sĩ mới nhận thấy một người thợ đang miệt mài làm việc. Cứ mỗi lần gõ vào phiến đá, ông lại thốt lên "Cám ơn'.

>

> Thi sĩ Lamartine mới nấn ná đến trò chuuyện, người thợ đập đá giải thích: "Tôi cảm ơn Chúa". Ngạc nhiên về lòng tin của một con người mà cuộc sống hẳn phải lầm than lam lũ, thi sĩ mới nói: "Giả như bác được giàu có, thì tôi hiểu tại sao bác không ngừng thốt lên hai tiếng cám ơn. Ðằng này, Thiên Chúa chỉ nghĩ tới bác có mỗi một lần duy nhất đó là lúc Ngài tạo nên bác. Sau đó, Ngài ban cho bác có mỗi cái búa này để rồi không còn ngó ngàng gì đến bác nữa. Thế thì tại sao bác lại mỏi miệng để cám ơn Ngài?".

>

> Nghe thế, người đập đá mới hỏi vặn lại thi sĩ: "Ngài cho rằng Chúa chỉ nghĩ đến tôi có một lần thôi sao". Thi sĩ Lamartine bèn thách thức: "Dĩ nhiên, Chúa chỉ nghĩ đến bác có mỗi một lần mà thôi".

>

> Người thợ đá nghèo, nhưng đầy lòng tin, mới mếu máo thốt lên: "Tôi nghĩ rằng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả. Ngài nghĩ rằng Thiên Chúa đã đoái thương đến một người thợ đá thấp hèn như tôi, dù chỉ một lần thôi. Vậy không đủ cho tôi cám ơn Ngài sao? Vâng, cám ơn Chúa, cám ơn Chúa". Nói xong, ông bỏ mặc cho thi sĩ đứng đó và tiếp tục điệp khúc quen thuộc của ông, vừa đục đá vừa tạ ơn Chúa.

>

> Thiên Chúa yêu thương con người. Ðó là bài ca mà chúng ta không chỉ hát lên trong mùa Giáng Sinh, mà phải được lập lại trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Nhưng khi chúng ta nói: Thiên Chúa yêu thương con người, điều đó trước hết phải có nghĩa là Ngài yêu thương tôi. Thiên Chúa không yêu thương con người bằng một cách chung. Thiên Chúa yêu thương mỗi người bằng một tình yêu cá biệt, riêng rẽ. Ðiều đó cũng có nghĩa là mỗi người là một chương trình trong trái tim của Thiên Chúa.

>

> Ðối với Thiên Chúa, không có đám đông vô danh, cũng không có những con số. Ngài gọi mỗi người bằng tên gọi riêng... Chúng ta không thể đo lường Tình Yêu của Thiên Chúa bằng thước đo hẹp hòi, thiển cận của chúng ta. Trong Tình Yêu Quan Phòng của Ngài, mỗi một con người là một chương trình và mỗi một chương trình đều cao cả. Thiên Chúa không tạo dựng chúng ta theo một khuôn mẫu, mà theo một chương trình riêng cho mỗi người. Mỗi một biến cố xảy đến đều được Ngài sử dụng để đem lại điều thiện hảo cho chúng ta. Nói như thánh Phaolô, Thiên Chúa quy mọi sự về điều thiện cho những kẻ Ngài yêu thương. Cũng chính vị thánh này nói: "Tất cả nọi sự đều là ân sủng của Chúa".

 

> Trích sách Lẽ Sống

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # CON TA ON CHUA PDF Print E-mail

 

CON TẠ ƠN CHÚA

Con tạ ơn Chúa vì chồng của con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp,

bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải bên ai khác.

Con tạ ơn Chúa vì con của con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con,

bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ,

bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến kéo đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng trở nên hơi chật,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ ở sát bên con, nhìn con làm việc,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì nền nhà cần quét, cửa sổ cần lau, màng xối cần sửa,

bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của tháng này lại tăng cao,

bởi lẽ như thế nghĩa là Con đang được ấm áp.

Con tạ ơn Chúa vì cái bà ngồi phía sau con trong Nhà Thờ

hát sai tông lạc nhịp,

bởi lẽ như thế nghĩa tai con còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ rất lớn phải giặt và ủi,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp trong người con

nó mệt rũ ra vào cuối ngày,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm vào buổi sáng,

bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại, hít thở và cười nói,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang còn sống được thêm một ngày nữa.

Và cuối cùng...

Con tạ ơn Chúa vì đã nhận được quá nhiều E-mails gửi về,

bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con...

Con gửi bài này để bạn bè con hiểu rằng:

"Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương,

cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào !"

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # DUNG QUEN LONG CHUA THUONG XOT PDF Print E-mail

 

ĐỪNG BAO GIỜ MẤT NIỀM TIN VÀO LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

Vài năm trước, trong khi tĩnh tâm, tôi nhận được cú điện thoại khẩn cấp. Một em gái tuổi thiếu niên đã tự tử tại nhà. Tôi phải hỏi lại hai lần: "Có chắc không?". Em gái đó hoạt bát, dễ thương, thân thiện, thông minh, được mọi người yêu mến. Tại đám tang, chúng tôi nghe cha mẹ em nói rằng em đã bị trầm cảm nhiều năm và đã vài lần muốn tự tử. Lần này em chết thật, cha mẹ em không hiểu tại sao. Họ đã thử chữa cho em bằng nhiều liệu pháp, và dù em có vẻ muốn sống, nhưng khi không có bạn bè thì bóng tối lại bao trùm em. Tại sao? Điều gì khiến em tự tử?

Tôi được người ta gọi điện xin cầu nguyện nhiều lần cho người trẻ và gia đình họ khi gặp khủng hoảng như thế này, tim tôi nhói đau vì họ, các câu hỏi không lời giải đáp cứ chồng chất. Có một điều tôi thắc mắc: "Người đó có xuống hỏa ngục không?". Chúng ta hãy tìm sự an ủi của Thánh Bênêđictô trong Tu luật của ngài, chương 4 (73): "Đừng bao giờ mất niềm tin vào Lòng Chúa Thương Xót" (Never despair of God's mercy).

Mở rộng Lòng Chúa Thương Xót là gì? Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta:

– Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng hoạ (Ge 2:13).

Tôi lâm vào cảnh rất ngặt nghèo. Thà chúng ta sa vào tay Đức Chúa còn hơn, vì lòng thương xót của Người bao la, nhưng ước chi tôi đừng sa vào tay người phàm! (2 Sm 24:14).

– Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Ki-tô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ! (Ep 2:4-5).

– Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới (Tt 3:5).

Cựu ước trao niềm hy vọng vào nỗi đau khổ của gánh nặng tội lỗi, nhắc chúng ta nhớ tới Lòng Chúa Thương Xót và mời gọi chúng ta tín thác vào Ngài. Chúa Giêsu tóm gọn Lòng Chúa Thương Xót trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (cũng gọi là "Đứa Con Hoang Đàng"). Chân phước GH Gioan Phaolô II giải thích: "Tình yêu này có thể đến với những người con hoang đàng chi địa nhất, tới mọi nỗi khổ của nhân loại, và vượt trên mọi nỗi khổ, mọi tội lỗi. Khi điều này xảy ra, người nào là đối tượng của Lòng Chúa Thương Xót sẽ không cảm thấy hèn hạ, nhưng tìm thấy cách phục hồi giá trị" (Thông điệp "Dives in Miserdicordia" – Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót, Chân phước GH Gioan Phaolô II, Ch. 4).

Giáo lý Công giáo đã nói về việc tự tử và hậu quả của nó. Chúng ta biết rằng tự tử là sai trái. Tất cả chúng ta đã được Thiên Chúa trao ban sự sống, do đó chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc đời mình trước Tôn Nhan Thiên Chúa. Chúng ta là những người cai quản sự sống chứ không phải chủ nhân của sự sống (số 2280). Khi tự tử, người ta làm trái với tự nhiên là bảo vệ sự sống... Điều đó đối nghịch chính tình yêu, chính lòng thương xót, cũng như tình yêu đối với tha nhân là đoàn kết với mọi người. Điều đó cũng đối nghịch với Thiên Chúa hằng sống (số 2281). Đó còn là tội trọng nếu người ta cố ý tự hủy hoại sự sống của mình và xúi người khác làm vậy (số 2282). Chúng ta hãy tin tưởng điều này: "Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự" (1 Ga 3:20).

Giáo lý Công giáo nói: "...Trong trường hợp rối loạn tâm lý nặng, quá đau khổ, hoặc quá sợ hãi nỗi đau khổ, hoặc sự hành hạ, có thể giảm bớt trách nhiệm của người tự tử" (số 2282). Do đó, chúng ta không nên thất vọng về ơn cứu độ của người tự tử. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng có thể cung cấp cơ hội sám hối. Chúng ta là một Giáo Hội, chúng ta phải cầu nguyện cho những người tự tử (số 2283).

Khi sống trong Mùa Chay, chúng ta bước đi trong bóng tối sa mạc cùng với Chúa Giêsu, đối diện với tội lỗi trong cuộc đời chúng ta. Nếu chúng ta chân thật với lòng mình, chúng ta biết rằng cuộc chiến đấu thật cam go. Nhưng lễ Phục Sinh lại đến, niềm tin và niềm vui khôn tả. Chúng ta nhận thấy nỗi đau khổ trên Thập Giá là niềm hy vọng phục sinh. Đức Kitô vượt qua là "hiện thân cuối cùng của Lòng Chúa Thương Xót"... như câu đầu của Tv 88: "Misericordias Domini in aeternum cantabo" (Lòng Thương Xót của Chúa, đời đời con ca tụng).

Không lạ gì khi Giáo Hội cử hành Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót vào Chúa Nhật II Phục Sinh. Chúng ta có cơ hội phản ánh Lòng Chúa Thương Xót qua lăng kính của Mầu Nhiệm Vượt Qua. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã tự tử, chúng ta hãy phản ánh lời của Chúa Giêsu, như được mặc khải cho Thánh nữ Faustina:

"Ái nữ của Ta, hãy nói cho cả thế giới biết về Lòng Thương Xót bao la cảu Ta. Ta muốn lễ Lòng Chúa Thương Xót là nơi trú ẩn cho các linh hồn, nhất là những linh hồn tội lỗi. Vào ngày này, vực thẳm của Lòng Thương Xót êm ái của Ta được mở ra. Ta đổ tràn đại dương ân sủng trên những linh hồn đến với Lòng Thương Xót của Ta. Linh hồn nào xưng tội và rước lễ sẽ được ơn tha thứ hoàn toàn cả tội và hình phạt. Vào ngày này, mọi nguồn mạch ân sủng sẽ được mở ra. Đừng để linh hồn nào sợ đến gần Ta, dù tội đỏ thắm như vải điều. Lòng Thương Xót của Ta bao la đến nỗi không có trí óc nào, cù của loài người hoặc các thiên thần, có thể dò thấu qua sự vĩnh hằng. Mọi thứ hiện hữu đến từ nơi sâu thẳm nhất nơi Lòng Thương Xót êm ái nhất của Ta. Mọi linh hồn kết hiệp với Ta sẽ chiêm ngắm Tình Yêu và Lòng Thương Xót đến mãi đời đời. Lễ Lòng Thương Xót nảy ra từ sâu thẳm của sự ếm ái. Ta muốn lễ này được cử hành long trọng vào Chúa Nhật II Phục Sinh. Nhân loại sẽ không có bình an nếu không đến với Nguồn mạch Lòng Thương Xót của Ta!" (Nhật Ký Thánh Faustina Kowalska, số 699).

Nữ tu LISA MARIE


Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # THIEN CHUA LA TINH YEU PDF Print E-mail

¬¬¬¬Chúa Là Tình Yêu

Lm: Ngô Văn Chữ, SJ

"Thiên Chúa là Tình Yêu", hồn tôi run lên và trái tim chai đá nguội lạnh từ lâu bị chạm mạnh, nước mắt tôi cứ trào ra như suối khi mấy chữ này được lập đi lập lại trong buổi tĩnh tâm cuối tuần năm 1987. Tôi đã nghe câu này nhiều lần rồi, nhưng cứ như gió thoảng mây bay, lọt qua tai rồi nhanh chóng tan biến đi chẳng để lại hơi tích gì. Lần này, tôi thật sự cảm nhận được Chúa Giêsu yêu thương tôi xiết bao, đến nỗi Ngài đã bằng lòng chịu chết cho tôi (cho chính tôi chứ không phải cho ai khác) dù tôi bất xứng. Tôi thầm thì với Giêsu: "Tại sao Ngài lại chết cho con?" "Con biết Ngài yêu và chết cho nhân loại, nhưng tại sao Ngài lại yêu con và chết cho chính con?" "Con không xứng đáng, Chúa ơi!"Tôi thổn thức trong cái nhìn trìu mến đầy yêu thương của Giêsu. Mỉm cười, Ngài dang rộng hai cánh tay đã bị treo lên vì tội tôi và như đang muốn ôm ấp vỗ về đứa con bé bỏng vào lòng. Chúa Giêsu đã chết để tôi được sống! Ngài chấp nhận chết để chuộc được tôi về từ sự chết! Một tình yêu vô điều kiện và lòng thương xót vô bờ! Giờ đây tôi mới cảm nhận được và muốn đáp trả lại tình yêu đó. Tôi muốn hét to lên cho thế giới biết rằng "Thiên Chúa là Tình Yêu," "Thiên Chúa là Tình Yêu." Đây là kinh nghiệm trở về đầu tiên trong cuộc đời đầy sóng gió của tôi.

Sau lần tĩnh tâm đó, tôi tham gia vào một nhóm cầu nguyện Đồng Hành họp mặt vào mỗi thứ sáu hàng tuần để cầu nguyện, chia sẻ đức tin và cùng nhau đồng hành trong Chúa Giêsu. Tôi nhận ra rằng Thiên Chúa đang dùng nhóm nhỏ bé thân yêu này để dạy tôi cầu nguyện. Với sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong nhóm, lần đầu tiên trong đời, tôi bắt đầu mò mẫm đọc Kinh Thánh và bắt đầu yêu thích nó. Ngày qua ngày, đức tin tôi từ từ lớn lên và được nuôi dưỡng qua những lần bập bẹ đọc Lời Chúa. Trước khi tham gia vào nhóm cầu nguyện, tôi chưa bao giờ dám rờ vào cuốn Thánh Kinh, tôi tự ngụy biện vì đó là sách "thánh" nên tôi cảm thấy không xứng đáng rờ vào "thánh". Một lý do khác là cuốn Kinh Thánh quá dầy, mà tôi thì không hứng thú gì với việc đọc sách. Biết người, biết ta. Biết sách dầy, chẳng bao giờ đọc cho hết thì thôi, thà đừng đọc. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy Thiên Chúa đã ban thần khí Ngài giúp tôi đọc hết cuốn sách và cảm nhận được tình yêu qua Lời Hằng Sống đó.

Cũng vào thời gian đó, tôi đang yêu một cô gái và muốn kết hôn với nàng. Tôi cầu nguyện với Chúa Giêsu bằng lời Kinh Thánh của phúc âm thánh Gioan: "Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó." (Ga 14:13-14). Tôi tin tưởng vào điều tôi cầu xin. Sáu tháng sau, tôi ngỏ lời cầu hôn với nàng và bị từ chối phũ phàng. Tôi choáng váng ngỡ ngàng, trời đất như sụp đổ. Tôi thất vọng vào nàng thì ít, nhưng thất vọng nơi Giêsu thì nhiều, thất vọng nơi Người mà tôi đã đặt trọn niềm tin. Tôi cảm thấy như bị phản bội và tôi trút cơn giận lên Giêsu. Tôi đã sống trong điên cuồng và hạch hỏi Chúa Giêsu ba bốn tiếng mỗi ngày để thuyết phục Ngài rằng tôi đúng và tốt hơn hết Chúa nên thay đổi ý định của Ngài đi. "Hãy làm cho nàng đổi ý, Chúa ơi, tại sao Chúa nói bất cứ điều gì con xin thì Chúa sẽ cho, vậy mà thực tế là nàng từ chối lời cầu hôn của con."

Lạ thay, càng "tranh luận hạch tội" với Giêsu, tôi càng hiểu Ngài hơn. Càng hiểu biết Ngài, tôi càng yêu mến Ngài nhiều hơn và muốn dâng hiến trọn đời cho Ngài. Lặng thinh chiêm ngắm tình yêu vô điều kiện của Chúa Giêsu, tôi càng thấm thía sâu xa sự khác biệt giữa tình yêu có điều kiện của con người và tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Sau sáu tháng chìm đắm trong cầu nguyện, tôi bâng khuâng không biết có nên lập gia đình nữa hay không. Tôi thưa với Ngài rằng tôi chỉ muốn sống mãi trong biển tình bao la của Giêsu. Đây là bước ngoặt thứ hai tôi trở về trong vòng tay của Chúa Giêsu để tình yêu và đức tin của tôi ngày càng lớn hơn. Kỳ diệu thay, tôi cứ ngỡ rằng tôi sẽ thuyết phục Ngài làm theo ý muốn tôi, thì chính Ngài lại đang thuyết phục tôi thực thi thánh ý Chúa Cha.

Trong cùng thời gian đó, năm 1988, có rất nhiều người Việt đang sống tại các trại tị nạn tại các nước Đông Nam Á. Tôi quyết định đến một trại tị nạn ở Hồng Kông để làm việc thiện nguyện. Tôi lên đường chỉ vỏn vẹn với một ba lô sau lưng và một trái tim nóng bỏng yêu thương mong muốn được san sẻ. Tôi làm việc ở đó hai năm phục vụ và giúp đỡ những người nghèo tị nạn, tôi yêu họ biết bao và yêu công việc bé nhỏ đơn sơn của tôi. Dầu vậy, sau hai năm làm việc, tôi cảm thấy sức tàn hơi kiệt: đời sống tâm linh khô khan, tinh thần mệt mỏi, thể xác rã rời và tài chánh kiệt quệ. Tôi trở lại Mỹ nghỉ ngơi lấy lại sức và đi làm để dành tiền để chuẩn bị cho chuyến đi tới. Sau khi để dành được chín ngàn mỹ kim, tôi lại lên đường đi Phi Luật Tân để làm việc trong trại tị nạn Palawan năm 1990. Mặc dù tôi rất yêu quý những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống ở trại tị nạn, nhưng cũng như lần trước, sau vài năm làm việc, tôi lại rơi vào tình trạng khô khan khủng hoảng. Từ đó, tôi quyết định phải nhận định lại để tìm thánh ý Chúa cho cuộc sống tương lai của tôi.

Qua cầu nguyện và nhận định, tôi thấy rõ có ba con đường trước mắt. Con đường thứ nhất là tiếp tục công việc thiện nguyện đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui phục vụ nhưng sau đó là tình trạng kiệt quệ về tài chánh cũng như đời sống tâm linh. Con đường thứ hai là lập gia đình để thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi bình thường của một người đàn ông. Khi cân nhắc hai con đường này, tôi thấy niềm vui trong phục vụ thì sâu sắc và mãnh liệt quá đến nỗi tôi không muốn từ bỏ nó. Còn nếu lập gia đình ư? Tôi sẽ bị trói buộc vào những bổn phận của đời sống hôn nhân và sẽ không còn tự do để đi phục vụ những người nghèo tại các quốc gia đang phát triển nữa. Tôi cảm thấy Giêsu đang mời gọi tôi làm một cái gì đó khác hơn, cao cả hơn, vì thế tôi từ bỏ ý định lập gia đình. Con đường cuối cùng đang mở rộng trước mắt là gia nhập vào một dòng tu để có cơ hội tiếp tục làm những công việc thiện nguyện mà tôi yêu thích. Dòng tu đó sẽ giúp đời sống tâm linh tôi ngày càng phát triển hơn, sẽ nâng đỡ tinh thần tôi qua tình đồng môn những khi tinh thần tôi bị suy sụp, và giúp đỡ tôi về mặt tài chánh khi cần thiết. Kết quả là tôi vào Dòng Tên và trở thành tu sĩ của dòng từ năm 1993. Tôi chọn Dòng Tên vì tôi thích phương pháp Linh Thao của thánh I-Nhã thành Loyola. Chính nhờ phương cách thao luyện đời sống tâm linh này giúp tôi trong việc nhận định tìm thánh ý Chúa và giúp tôi trải qua các kinh nghiệm trở về.

Tôi vào Dòng Tên với niềm lo sợ về vấn nạn học hành vì tôi vốn không thích học. Tôi nghĩ mình không có khả năng để tiếp thu vì tôi đã bị rớt khi lấy bằng kỹ thuật trung cấp hai năm (Associate of Arts Degree) vào năm 1987. Thiên Chúa đã làm tôi ngạc nhiên biết bao khi nhà dòng gởi tôi đi học đại học, buộc tôi phải học và tôi đã lấy được bằng Cử nhân (Bachelor's Degree). Sau đó tôi hoàn tất bằng Cao học Thần học (Master's Degree in Divinity). Thành thật mà nói, tôi không ngờ Chúa Giêsu đã dắt tôi đi một quãng đường xa như vậy. Gia đình tôi cũng kinh ngạc như tôi. Khi bước chân vào tập viện, anh trai tôi đã nói với tôi: "Nếu Chữ cảm thấy không thích hợp với đời sống tu trì thì yên tâm, gia đình mình lúc nào cũng sẵn sàng chào đón Chữ về." Chị tôi mới đây thì nói: "Cả gia đình đều nghĩ rằng Chữ không thể học được vì Chữ không thích đọc sách và bị cà lăm từ nhỏ. Đó là lý do tại sao cha mẹ khuyến khích cậu học nghề như nghề nông hay mộc hơn là sách vở vì cậu có khiếu về các nghề đó hơn."

Khi nhìn lại quãng đường đã qua, tôi tự nhủ: "Chắc Chúa điên rồi!" Tôi thường nghi ngờ hỏi Chúa: "Chúa ơi, Ngài có chắc là đầu tư đúng người không?" "Chúa biết con cà lăm và chậm hiểu. Làm sao con có thể nói cho thế gian biết tình Chúa yêu con và yêu thế gian lớn đến thế nào?" Càng biết Giêsu, tôi càng cảm nghiệm rằng tình yêu của Chúa Giêsu cho tôi vượt ngoài sự hiểu biết của tôi. Chỉ có tình yêu mới giải thích được!

Chỉ vì yêu tôi mà Ngài đã cùng đi với tôi một quãng đường xa như thế. Chỉ vì tình yêu "điên rồ" mà Thiên Chúa đã gọi tôi để yêu thương, để loan truyền tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Tôi muốn nói lên cho cả thế giới biết rằng Thiên Chúa đã gọi một người ngu si và bất xứng như tôi để tiếp tục sứ mạng của Ngài. Sứ mạng đó là loan truyền một tình yêu không sợ hãi, một tình yêu không điều kiện. Để nói được như thế, mục đích cuộc đời tôi là đáp trả lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa Tình Yêu, tất cả là cho Tình Yêu và vì Tình Yêu

Anh chị em thân mến, nguyện xin Thiên Chúa của tình yêu vô điều kiện đánh động tâm hồn mỗi người để anh chị em được tràn ngập niềm vui thánh thiêng. Xin hãy cầu nguyện cho tôi để tôi có thể tiếp tục trung thành loan truyền tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa đến tận cùng chân trời góc biển.

 
<< Start < Prev 41 42 43 Next > End >>

Page 41 of 43