mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3988
mod_vvisit_counterHôm Qua6243
mod_vvisit_counterTuần Này21039
mod_vvisit_counterTuần Trước49260
mod_vvisit_counterTháng Này197814
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8686857

We have: 98 guests online
Your IP: 54.198.139.134
 , 
Today: Jun 28, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # 296 =LONG THUONG XOT PDF Print E-mail

Giáo Lý Năm Thánh Thương Xót - Bài 23

"... Người sẽ giải phóng chúng ta và làm cho chúng ta đứng: 'Hãy chỗi dậy, hãy đến, hãy đứng lên!' Vì Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta thẳng đứng, chứ không thấp hèn - thẳng đứng"

Xin chào anh chị em thân mến!

Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe cho chúng ta thấy một nhân vật nổi bật về đức tin và lòng can đảm của mình. Đó là người đàn bà được Chúa Giêsu chữa cho khỏi bị tình trạng mất máu (xem Mathêu 9:20-22). Lọt vào giữa đám đông ở đằng sau Chúa Giêsu để chạm vào gấu áo của Người, "bà nhủ thầm rằng: 'Tôi chỉ cần chạm đến áo của Người thì tôi sẽ được cứu'"(câu 21).

Tin tưởng biết bao! Người đàn bà này đã tỏ ra tin tưởng biết mấy! Bà lập luận như vậy vì bà được tác động bởi lòng tin mạnh mẽ và niềm hy vọng mãnh liệt, để rồi bằng một tác động khôn khéo, bà đã làm theo những gì xuất phát từ cõi lòng của bà. Ước muốn được Chúa Giêsu chữa lành mạnh đến độ khiến bà vượt ra ngoài những qui định của Luật Moisen. Thật vậy, qua nhiều năm tháng, người đàn bà nghèo khổ này không phải chỉ bị bệnh mà còn bị coi như đồ ô uế dơ bẩn, bởi bà bị chứng bệnh loạn huyết (xem Levi 15:19-30). Bởi thế bà bị loại trừ ra khỏi các thứ lễ nghi phụng tự, khỏi đời sống phối ngẫu và khỏi những mối liên hệ bình thường với cận nhân của bà. Thánh ký Marco còn thêm rằng bà đã tìm thày chạy thuốc đủ kiểu, đã tiêu hết tiền bạc mà vẫn tiền mất tật mang, thậm chí bệnh trạng lại càng trở nên tệ hơn nữa. Bà là một người bị xã hội loại trừ. Cần phải lưu ý đến thân phận này - thân phận bị loại trừ - để hiểu được tâm trạng của bà, ở chỗ, bà cảm thấy rằng Chúa Giêsu là vị có thể cứu bà khỏi chứng bệnh ấy cũng như khỏi tình trạng bị loại trừ bà đã trải qua trong nhiều năm trời. Tóm lại bà biết, bà cảm thấy Chúa Giêsu là Đấng có thể cứu bà.

Trường hợp này làm cho người ta suy nghĩ đến vấn đề nữ giới thường được nhận định và biểu hiện như thế nào. Tất cả chúng ta đều cần phải coi chừng, bao gồm cả các cộng đồng Kitô hữu, những quan điểm về nữ tính đang thịnh hành chất chứa những thành kiến và nghi ngại tai hại về phẩm giá bất khả đụng chạm của họ. Bởi thế mà chính các cuốn Phúc Âm đã phục hồi sự thật này và đưa trở về với quan điểm giải phóng. Chúa Giêsu đã khen ngợi đức tin của người đàn bà ấy, người bị mọi người tránh né và đã biến niềm hy vọng của mình thành việc cứu độ. Chúng ta không biết tên của bà, nhưng nhờ mấy giòng diễn tả của Phúc Âm về cuộc gặp gỡ của bà với Chúa Giêsu, cũng đã cho thấy một cuộc hành trình đức tin có thể tái thiết lập sự thật ấy cũng như tính chất cao cả cho phẩm giá của hết mọi người. Chính ở nơi cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu mà con đường giải phóng và cứu độ đã mở ra cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ ở mọi nơi và mọi lúc.

Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu viết rằng khi người đàn bà này chạm đến áo của Chúa Giêsu thì Người "đã quay lại" và "trông thấy bà" (câu 22), rồi Người nói với bà. Như chúng ta đã nói, vì tình trạng bị loại trừ của mình mà người đàn bà này đã tác động một cách kín đáo, ở đằng sau Chúa Giêsu, bà đã hơi sợ bị trông thấy, bởi bà là một kẻ bị loại trừ. Trái lại, Chúa Giêsu nhìn thấy bà và cái nhìn của Người không phải là một cái nhìn khinh bỉ, ở chỗ Người không nói rằng: "Xéo đi, ngươi là đồ bỏ!" như thể Người nói rằng: "Ngươi là một kẻ cùi hủi, cút đi!" Không, Người không khinh bỉ bà nhưng cái nhìn của Chúa Giêsu là một cái nhìn thương xót và dịu hiền. Người đã biết được những gì xẩy ra và tìm cách gặp gỡ riêng bà là những gì thâm tâm bà đã mong ước. Nghĩa là Chúa Giêsu chẳng những tiếp nhận bà Người còn coi bà xứng đáng với cuộc gặp gỡ này, ở chỗ nói với bà và chú ý tới bà.

Ở tâm điểm của trình thuật này có 3 lần lập lại chữ cứu độ. "Tôi chỉ cần chạm đến áo của Người thì tôi sẽ đươc cứu!". Chúa Giêsu đã quay lại thấy bà mà nói: "'Này con, hãy can đảm, đức tin của con đã cứu con!' Và từ giây phút ấy bà đã được cứu" (câu 21-22). Câu "hỡi con hãy can đảm" là những gì bày tỏ tất cả lòng thương xót Chúa đối với con người đó - cũng như cho hết mọi người bị tẩy chay. Bao nhiêu lần chúng ta cảm thấy trong lòng mình là chúng ta bị loại trừ bởi tội lỗi của chúng ta, chúng ta đã phạm tội rất nhiều, chúng ta đã phạm tội rất nhiều... Và Chúa đã nói với chúng ta rằng: "Hãy can đảm! Hãy đến! Cha không coi con là một kẻ bị loại trừ tẩy chay. Hãy can đảm. Con là người con trai, con gái". Đó là những giây phút ân sủng, là giây phút tha thứ, là giây phút bao hàm vào sự sống của Chúa Giêsu, vào sự sống của Giáo Hội. Đó là giây phút thương xót. Hôm nay, với tất cả chúng ta là thành phần tội nhân, cho dù chúng ta là những tội nhân lớn hay nhỏ - dầu sao tất cả chúng ta đều là tội nhân được Chúa bảo: "Hãy can đảm, hãy đến! Các con không còn bị loại trừ: Cha tha thứ cho các con, Cha ôm lấy các con". Lòng thương xót Chúa là thế. Chúng ta cần phải can đảm mà đến với Ngài, mà xin ơn tha thứ cho các tội lỗi của chúng ta và tiến bước - một cách can đảm, như người phụ nữ này đã làm. Vậy "cứu độ" có nhiều ý nghĩa: trước hết là phục hồi sức khỏe cho người phụ nữ; rồi giải thoát chúng ta khỏi những kỳ thị về xã hội và tôn giáo; ngoài ra, nó còn làm trọn niềm hy vọng bà ôm ấp trong lòng, loại trừ khỏi bà những nỗi sợ hãi và khó chịu. Sau hết, nó phục hồi bà với cộng đồng, giải phóng bà khỏi việc cần phải tác hành một cách kín đáo. Điều cuối cùng này là điều quan trọng, ở chỗ, một con người bị loại trừ bao giờ cũng hành động một cách kín đáo, đôi khi hay suốt cả đời của họ: chúng ta hãy nghĩ đến những người phong cùi vào thời ấy, những con người vô gia cư ngày nay...; chúng ta hãy nghĩ đến các tội nhân, đến tất cả tội nhân chúng ta: chúng ta luôn làm một cái gì đó kín đáo; chúng ta cần làm một điều gì đó cách kín đáo, vì chúng ta hổ thẹn về những gì chúng ta là.... Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi điều ấy, Người sẽ giải phóng chúng ta và làm cho chúng ta đứng: "Hãy chỗi dậy, hãy đến, hãy đứng lên!" Vì Thiên Chúa đã dựng lên chúng ta: Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta thẳng đứng, chứ không thấp hèn - thẳng đứng. Những gì Chúa Giêsu ban tặng là ơn cứu độ trọn vẹn, một ơn cứu độ tái hội nhập đời sống của người đàn bà này vào lãnh giới của tình yêu Thiên Chúa, đồng thời tái thiết lập phẩm vị toàn vẹn của bà cho bà.

Sau hết, không phải là cái áo mà người đàn bà chạm tới đã mang đến ơn cứu độ cho bà, nhưng là lời của Chúa Giêsu, được đón nhận bởi đức tin, có khả năng an ủi bà, chữa lành bà và tái thiết bà vào mối liên hệ với Thiên Chúa cũng như với dân của bà. Chúa Giêsu là nguồn mạch phúc lành duy nhất tuôn chảy các thứ cứu độ cho tất cả mọi người, và đức tin là điều kiện căn bản để lãnh nhận. Chúa Giêsu, một lần nữa, bằng hành vi đầy thương xót của mình, tỏ cho Giáo Hội thấy đường lối phải theo để gặp gỡ hết mọi người, nhờ đó mỗi người có thể được chữa lành về phần xác cũng như về tinh thần và phục hồi phẩm giá của con cái Thiên Chúa.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-how-faith-bri ngs-salvation/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

----------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI #295 = ME TERESA VÁ DIANA PDF Print E-mail

Mẹ Têrêsa và Công Nương Diana
27-08-2016 Gioan Long Vân

Trong những ngày này các tín hữu Công Giáo trên khắp thế giới đang nao nao đón đợi ngày tôn phong hiển thánh cho mẹ Têrêsa, thành Calcutta, Ấn Độ. Nhiều người lần giở những trang báo truyền thông về vị nữ tu này. Sinh thời mẹ Têrêsa nổi tiếng bởi những việc làm bác ái-từ thiện và đã được trao giải Nobel Hòa Bình vào năm 1979. Chính vì nổi tiếng nên mẹ cũng đã gặp nhiều người nổi tiếng thế giới, trong đó có công nương Diana, nước Anh.

Chẳng biết thánh ý Chúa an bài ra sao? Hai phụ nữ này qua đời cách nhau chưa đầy một tuần lễ. Mặc dù mỗi người ra đi trong một tình huống khác nhau: công nương Diana tử vong sau một tai nạn xe hơi ở thủ đô Paris, nước Pháp vào ngày 31 tháng Bảy năm 1997 đang tuổi 36; mẹ Têrêsa từ giã cõi thế vào ngày 05 tháng Tám cùng năm do bệnh tim, hưởng thọ 87 tuổi. Thế nhưng cái chết của hai người đã để lại trong lòng hàng triệu người trên khắp thế giới nỗi niềm thương tiếc vô bờ vì tấm lòng nhân ái bao la và những nghĩa cử quãng đại của họ lúc còn sống.

Trong bài viết này, tác giả xin đề cập nhiều hơn về công nương Diana và những công việc bác ái-từ thiện của bà. Diana tên đầy đủ là Diana Frances Spencer sinh ngày 01 tháng Bảy năm 1961 trong một gia đình quý phái ở xứ Wales, tây- nam nước Anh. Năm 20 tuổi, Diana kết hôn với thái tử Charles, trở thành vương phi nước Anh. Dù là người phụ nữ tôn quý, cao sang đứng hàng thứ hai ở Anh quốc, sau nữ hoàng Elizabeth đệ nhị, nhưng Diana có lối sống bình dị, gần gũi với mọi người kể cà thường dân và ngay cả với những người nghèo hèn, khốn khổ. Chẳng vậy ngoài biệt danh "Bông hồng nước Anh" Diana còn được gọi là "Công nương của thường dân".

Tại nước Anh, bà bảo trợ cho rất nhiều cơ sở từ thiện: các mái ấm nuôi dưỡng cô nhi, các nhà dưỡng lão chăm sóc người già neo đơn, các nhà lưu trú người vô gia cư, các cơ sở y tế điều trị bệnh nhân Aids, ung thư...Diana còn dấn thân đi nhiều quốc gia trên thế giới gặp gỡ, tiếp xúc, an ủi và ủy lạo những người bị xem là đang sống bên lề xã hội. Đâu đâu bà cũng quan tâm, lắng nghe như thể hòa mình, đồng cảm với những người bất hạnh. Những hình ảnh bà trong trang phục giản dị, huy hiệu Hồng Thập Tự gắn nơi túi áo trái, chụp với các trẻ mồ côi, các bệnh nhân hoặc với những người thương tật do mìn nổ đã làm lay động trái tim bao người trên khắp thế giới hết mực ngưỡng mộ vị vương phi "đẹp cả hồn lẫn xác".

Dù có với thái tử Charles hai hoàng tử William và Harry, nhưng cuộc sống hôn nhân gia đình của Diana không được êm đềm, hạnh phúc. Cặp vợ chồng hoàng gia này chính thức ly thân vào ngày 28 tháng Tám năm 1996. Kể từ đó, Diana không còn là vương phi nước Anh mà chỉ là công nương xứ Wales. Và cũng kể từ đây công nương Diana dấn bước trên con đường hành thiện nhiều hơn, như một phương thế giải tỏa nỗi buồn đau sau cuộc hôn nhân tan vỡ. Không còn vướng bận, gò bó trong nếp sống hoàng gia của một vương phi, giờ đây trái tim nhân ái của bà có điều kiện triển nở trọn vẹn.

Diana nhiều lần gặp mẹ Têrêsa, được mẹ an ủi, cầu nguyện. Mẹ còn chứng nhận "Diana là con gái tôi".

Các người cùng thời cho biết mẹ Têrêsa đã tặng cho công nương một chuỗi tràng hạt Mân Côi. Và dù theo Anh Giáo, không biết lần hạt Mân Côi, nhưng công nương luôn mang theo chuỗi tràng hạt này trong người. Bởi vậy chẳng ngạc nhiên khi khám nghiệm tử thi của Diana sau tai nạn thương tâm,

người ta phát hiện có một chuỗi tràng hạt trên người nạn nhân. Hẳn đó là chuỗi tràng hạt Mân Côi mà mẹ Têrêsa đã trao tặng công nương Diana lúc còn sống. Chuỗi tràng hạt đã đi theo người phụ nữ "hồng nhan bạc phận" đến cuối đời.

Nao nao đón đợi ngày tôn phong hiển thánh cho mẹ Têrêsa thành Calcutta vào ngày 04 tháng Chín tới, lại bùi ngùi tưởng nhớ đến công nương Diana xứ Wales, một phụ nữ sống đường trần ngắn ngủi nhưng chất đầy công đức, một bông hồng sớm phai tàn nhưng lan tỏa dạt dào hương thơm nhân ái. Tưởng nhớ đến vị công nương xinh đẹp từ trong tâm hồn đến ngoài thể xác, tôi thầm nguyện xin Thiên Chúa là Đấng Giàu Lòng Thương Xót, qua lời bầu cử linh thiêng của mẹ Têrêsa, bù đắp và ban thưởng cho công nương Diana bội phần ở thế giới bên kia. Amen.

ĐẠO BINH ĐỨC MẸ

-------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # 294 = PDF Print E-mail

Thượng Đế cấu tạo cơ thể con người một cách rất hợp lý,
Nhưng sao chúng ta lại không xử dụng nó theo đúng ý của Ngài:

1-Ngài đặt hai mắt chúng ta ở đằng trước, vì Ngài muốn chúng ta luôn hướng tới phía trước,
chứ không phải để chúng ta cứ ngoái nhìn về những sự việc ở phía sau.

2-Ngài đặt hai tai chúng ta ở hai bên là để chúng ta nghe từ hai phía, cả lời khen lẫn tiếng chê,
chứ không phải để chúng ta chỉ nghe từ một phía hoặc chỉ để nghe những lời tâng bốc êm tai.

3-Ngài tạo cho chúng ta chỉ một cái miệng và một cái lưỡi mềm mại,
vì Ngài muốn chúng ta nói ít nghe nhiều và chỉ nói những lời khôn ngoan,
chứ không phải để chúng ta nói nhiều hơn nghe và nói những lời sâu hiểm làm tổn thương người khác.

4-Ngài đặt bộ não chúng ta trong một hộp sọ vững chãi, vì Ngài muốn chúng ta nên tích lũy tri thức,
những thứ chẳng ai có thể lấy đi, chứ không phải chỉ chăm lo tích lũy những của cải bên ngoài,
những thứ dễ dàng bị mất mát.

5-Ngài đặt trái tim chúng ta nằm trong lồng ngực,
vì Ngài muốn những tình cảm yêu thương giữa những con người phải được xuất phát
và lưu giữ tận nơi sâu thẳm trong cõi lòng, chứ không phải ở một nơi hời hợt bên ngoài.

Dễ mà khó đấy. Luật tạo hoá Thuyết nhà Phật đã dạy sắc sắc không không. Rất ngắn gọn nhưng vô bờ vô bến !!!

--
Phan Cao Tri

Visit Thần Phong TaeKwonDo Australia
http://thanphongaustralia.com/

__._,_.___

 

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # 293= PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ - TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 17-8-2016

GIÁO LÝ NĂM THÁNH THƯƠNG XÓT - BÀI 22

Xin chào Anh Chị Em thân mến!

Hôm nay, chúng ta muốn suy niệm về phép lạ hóa bánh ra nhiều. Mở đầu đoạn trình thuật của Thánh Mathêu (xem 14:13-21) này, Chúa Giêsu vừa nhận được tin về cái chết của vị Gioan Tẩy Giả, và Người đi thuyền qua bên kia biển hồ, tìm kiếm "cho mình một nơi hoang vắng" (câu 13). Tuy nhiên, dân chúng thấy vậy thì đi bộ đến trước Người, nên "khi Người xuống thuyền thì thấy một đám rất đông, khiến Người động lòng thương họ và Người đã chữa lành bệnh nạn của họ" (câu 14).

Chúa Giêsu là thế đó: luôn luôn cảm thương, luôn luôn nghĩ đến người khác. Sự quyết tâm của dân chúng sợ bị bỏ lại một mình, như thể bị bỏ rơi, là những gì ấn tượng. Vị tiên tri đặc sủng Gioan Tẩy Giả đã chết nên họ ký thác bản thân họ cho Chúa Giêsu là Đấng đã được chính Vị Gioan nói rằng "Đấng đến sau tôi thì quyền năng hơn tôi" (Mathêu 3:11). Bởi vậy mà các đám đông dân chúng theo Người ở khắp nơi, để nghe Người và mang bệnh nhân tới với Người. Khi thấy thế, Chúa Giêsu lấy làm cảm động. Chúa Giêsu không phải là con người lạnh lùng.

Người không có một con tim lạnh cảm. Chúa Giêsu biết cảm động. Một mặt Người cảm thấy gắn bó với đám đông này và không muốn họ đi mất; mặt khác Người lại cần những giây phút âm thầm một mình, những giây phút cầu nguyện với Cha của Người. Người bỏ ra nhiều đêm để cầu nguyện với Chúa Cha. Bởi vậy mà cả hôm đó nữa, Vị Sư Phụ này đã sống cho dân chúng. Lòng cảm thương của Người không phải là thứ tình cảm mơ hồ; trái lại, nó cho thấy tất cả sức mạnh của những gì Người muốn được gần gũi với chúng ta và cứu độ chúng ta. Chúa Giêsu yêu thương chúng ta rất nhiều và muốn được gần gũi với chúng ta.

Đến chiều tối, Chúa Giêsu quan tâm đến việc ăn uống cho tất cả những người mệt mỏi đói khát, và Người chăm sóc cho tất cả những ai theo Người. Người muốn các môn đệ của Người tham gia nữa. Thật vậy, Người nói với họ rằng: "các con hãy kiếm gì cho họ ăn đi" (câu 16). Rồi Người đã tỏ cho các vị thấy rằng một ít ổ bánh và cá họ có - bằng sức mạnh của đức tin và của lời nguyện cầu - có thể chia sẻ cho tất cả những người ấy. Chúa Giêsu đã làm phép lạ, thế nhưng nó là phép lạ của đức tin, của cầu nguyện, được xuất phát bởi lòng cảm thương và tình yêu thương. Vậy "Chúa Giêsu bẻ ra và trao các ổ bánh cho các môn đệ, và các môn đệ phân chia cho đám đông" (câu 19). Chúa tỏ ra đáp ứng nhu cầu của con người, Người còn muốn làm cho mỗi người chúng ta trở thành những tham dự viên cụ thể của lòng Người cảm thương nữa.

Giờ đây chúng ta dừng lại ở cử chỉ chúc tụng của Chúa Giêsu: Người đã cầm lấy "năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và phân chia" (câu 19). Như chúng ta thấy, đó là những dấu hiệu giống như Người làm trong Bữa Tiệc Ly; chúng cũng giống như các cử chỉ được vị linh mục thực hiện khi cử hành Thánh Lễ. Cộng đồng Kitô hữu được hạ sinh và tái sinh một cách liên tục nhờ mối Hiệp Thông Thánh Thể này. Vì vậy, để sống mối hiệp thông với Chúa Kitô nói chung khác với việc tỏ ra thụ động và xa lạ với đời sống thường nhật; trái lại, nó càng thúc đẩy chúng ta liên hệ với những con người nam nữ trong thời đại của chúng ta, để cống hiến họ một dấu hiệu cụ thể của lòng thương xót và của việc Chúa Giêsu chăm sóc. Trong khi được nuôi dưỡng mình bằng Chúa Kitô, từ từ Thánh Thể mà chúng ta cử hành cũng biến đổi chúng ta thành Mình Chúa Kitô và của ăn thiêng liêng cho anh chị em của chúng ta. Chúa Giêsu muốn tiến đến với hết mọi người, muốn mang tình yêu của Thiên Chúa đến cho tất cả mọi người. Vì thế, Người làm cho hết mọi tín hữu thành một người tôi tớ của lòng thương xót. Chúa Giêsu đã thấy đám đông, Người đã tỏ lòng cảm thương họ và đã hóa bánh ra nhiều nuôi họ; Người cũng làm như thế nơi Thánh Thể. Và thành phần tín hữu chúng ta, thành phần lãnh nhận bánh Thánh Thể này, được Chúa Giêsu thúc đẩy để mang dịch vụ này đến cho những người khác, bằng cùng lòng cảm thương của Người. Cách thức là như thế.

Trình thuật về phép lá hóa bánh và cá ra nhiều kết thúc bằng việc chứng thực rằng tất cả đều được no thỏa và thu lại những gì còn dư (câu 20). Một khi, bằng lòng cảm thương của mình và tình yêu của mình, Chúa Giêsu ban cho chúng ta một ân sủng nào đó, Người tha thứ tội lỗi của chúng ta, Người ôm lấy chúng ta, Người yêu thương chúng ta, thì Người không làm một cách dở dang mà là hoàn toàn. Như xẩy ra ở đây tất cả đều được no thỏa. Chúa Giêsu làm cho trái tim của chúng ta và của đời sống chúng ta tràn đầy tình yêu của Người, ơn tha thứ của Người, lòng cảm thương của Người.

Thế nên Chúa Giêsu đã để cho các môn đệ của Người thi hành lệnh truyền của Người. Nhờ đó các vị mới biết đường mà theo, đó là nuôi dưỡng dân chúng và làm cho họ liên kết lại với nhau; tức là việc phục vụ sự sống và hiệp thông. Vậy chúng ta cầu cùng Chúa, xin Người luôn ban cho Giáo Hội của Người khả năng thực hiện việc phục vụ thánh hảo này, nhờ đó hết mọi người chúng ta có thể trở thành dụng cụ hiệp thông trong gia đình của chúng ta, ở chỗ làm việc, trong giáo xứ và nơi các đoàn thể, trở nên một dấu hiệu của lòng thương xót Chúa, Đấng không muốn để cho bất cứ ai phải lẻ loi cô quạnh và thiếu thốn, để mối hiệp thông và bình an cùng mối hiệp thông với Thiên Chúa của con người xuống giữa con người, vì mối hiệp thông này là sự sống cho tất cả mọi người.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-the-multiplic ation-of-loaves-fishes/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

--------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # 292 = XUNG DANG PDF Print E-mail

XỨNG ĐÁNG
"Sự biết ơn là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa trong tất cả các thứ Ngài đã ban cho chúng ta – và Ngài đã cho chúng ta tất cả.
Từng hơi thở của chúng ta là một món quà tình yêu của Ngài, mỗi khoảnh khắc của cuộc sống là một hồng ân, vì nó mang đến cho chúng ta ân sủng bao la từ Thiên Chúa. Do đó, lòng biết ơn chẳng bao giờ để chúng ta nhận một cách dửng dưng, không bao giờ không đáp trả, không ngừng tỉnh thức để cảm nhận kỳ quan mới và để ca ngợi sự huyền diệu của Thiên Chúa. Đối với những người biết ơn, họ biết rằng Thiên Chúa rất tốt lành, không chỉ bởi nghe người ta nói nhưng bằng kinh nghi��m. Và đó chính là điều làm nên tất cả sự khác biệt." Thomas Merton

Chúng ta đã được nghe và chứng kiến nhiều mẫu chuyện về con số bảy trong Kinh Thánh cũng như trong điều luật Giáo Hội dạy. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa dựng nên mọi sự trong sáu ngày và ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi. Trong điều luật Giáo Hội dạy, chúng ta có bảy Bí Tích, bảy mối tội đầu, thương xác bảy mối, thương linh hồn bảy mối. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết tha thứ bảy mươi lần bảy, và bài đọc Phúc âm của Thánh Luca ở chương hai mươi con số bảy lại được nhắc đến khi các người thuộc nhóm Xađốc, những người không tin có đời sau, đến hỏi Chúa Giêsu về Luật Môisen dạy về việc cưới vợ lấy chồng và làm sao luật này có thể thực hiện được "trong ngày sống lại".

Trong Phúc âm Luca, những người Xađốc đã dùng câu chuyện bảy anh em cùng lần lượt cưới một người phụ nữ để hỏi Chúa Giêsu về việc sống lại. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho họ là "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại." Vậy qua câu chuyện này và câu trả lời của Chúa Giêsu, Thánh Sử Luca đang muốn nói g�� với mỗi người chúng ta là những người Kitô Hữu tin vào sự sống lại, và đặc biệt hơn nữa là đang đi tìm sự sống?

Chúng ta có thể bắt đầu với con số bảy được nhắc đến trong Kinh Thánh. Đối với Kinh Thánh, con số bảy là con số hoàn hảo và vô tận. Thiên Chúa dựng nên mọi sự trong bảy ngày nói lên sự hoàn hảo của tạo dựng, trong đó có con người, và con số bảy đó cũng nói lên sự tiếp tục của tạo dựng và tái tạo của Thiên Chúa trong vũ trụ và nói riêng trong mỗi người chúng ta. Sự tái tạo ấy được Chúa Giêsu nhắc đến khi Ngài nói chúng ta phải biết tha thứ bảy mươi lần bảy. Đó là chúng ta được mời gọi để có tâm hồn biết tha thứ vô tận vì mỗi lần chúng ta tha thứ cho kẻ khác, chúng ta được tái tạo. Mỗi lần chúng ta biết nhận ra lỗi lầm và xin lỗi, chúng ta được tái tạo. Mỗi lần bước vào tòa giải tội, chúng ta lại được tái tạo. Ân sủng vô biên, vô tận của Thiên Chúa sẽ tái tạo chúng ta khi chúng ta mở lòng để đón nhận tình thương của Ngài, khi chúng ta có lỗi lầm cũng như khi chúng ta biết trao ban tình thương cho những ai xúc phạm đến mình. Hơn nữa, qua câu nói "tha thứ bảy mươi lần bảy", Chúa Giêsu mời gọi chúng ta là những tạo vật hữu hạn bước vào thế giới linh thiêng vô tận của Ngài qua ân sủng của ơn cứu độ. Thật vậy, đúng như lời nói trên của Thomas Merton, Thiên Chúa không tiếc gì với chúng ta cả. Ngài cho chúng ta tất cả những gì Ngài có, kể cả sự vô tận của Ngài.

Trong câu chuyện về sự sống lại này, Thánh Sử Luca lại một lần nữa nhắc nhở cho chúng ta lời mời gọi để bỏ đi những bám dính của chúng ta để bước vào sự vô tận của Thiên Chúa. Thánh Sử Luca nói rất rõ đó là những ai xét đáng được hưởng phúc đời sau (sự vô tận), và sống lại từ cõi chết, thì họ không thể chết được nữa, và được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái của Thiên Chúa, con cái của sự sống. Nói một cách khác, Thánh Sử Luca muốn nói với chúng ta rằng, những ai biết sống với Chúa mỗi giây phút trong cuộc sống, biết buông thả những bám dính và đừng để chúng ăn mòn tâm trí của mình, chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa. Chẳng hạn như thay vì để tâm trí của chúng ta hướng về Thiên Chúa và cảm tạ những gì Ngài cho, chúng ta lại bận tâm với những bám dính như phải có xe kiểu này, nhà kiểu nọ, khi đi phục vụ nhà thờ thì phải được tôn trọng như thế nào, con cái phải làm theo như ý mình muốn, từ việc học hành cho đến việc lập gia đình hay sống độc thân, trong khi đó chính mình chẳng bao giờ nhìn lại và tìm hiểu con cái mình muốn gì và như thế lòng chúng ta cứ thấp thỏm sống trong lo sợ, hoặc khi làm điều gì thì cứ sợ lời ra tiếng vào vì chưa biết phó thác. Thánh Sử Luca muốn xác định rõ, khi chúng ta biết chọn sự sống trong Ngài, chúng ta không thể chết được nữa và chúng ta được xét để đáng được hưởng ân sủng vô tận.

Ước gì chúng ta biết bước ra khỏi ngôi mồ của những bám dính, những lo âu vô tận mà đi tìm sự sống và bình an của Chúa. Vì khi chúng ta biết ý thức và nhận ra được Chúa là ai trong mỗi giây phút của cuộc sống, và chọn làm con của Thiên Chúa, thì chúng ta luôn biết cảm tạ tình yêu bao la của Ngài cho ta qua con cái, bạn bè, gia đình, cây cối, thú vật, trăng sao - tất cả những gì ta thấy và cảm nhận được. Lúc đó chúng ta sẽ chẳng bao giờ có những mong muốn nào khác ngoài cuộc sống với Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu và qua Chúa Giêsu.

Củ Khoai

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 39