mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay99
mod_vvisit_counterHôm Qua8700
mod_vvisit_counterTuần Này46415
mod_vvisit_counterTuần Trước41075
mod_vvisit_counterTháng Này112851
mod_vvisit_counterTháng Trước182520
mod_vvisit_counterTất cả11975492

We have: 91 guests online
Your IP: 54.161.100.24
 , 
Today: Oct 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI -KINH NGHIEM SU CHET PDF Print E-mail

KINH NGHIỆM SỰ CHẾT CỦA CHA JOSE MANIYANGAT
(Sau khi Chúa cho sống lại năm 1985)

Tôi sinh ngày 16 tháng 7 năm 1949 tại Kerala, Ấn Độ. Cha mẹ của tôi là Joseph và Theresa Maniyangat. Tôi là người con lớn nhất trong 7 anh chị em: Jose, Mary, Theresa, Lissama, Zachariah, Valsa và Tom.

Vào năm 14 tuổi, tôi gia nhập tu viện St. Mary ở Thiruvalla. Bốn năm sau đó, tôi đổi sang tu viện St. Joseph ở Alwaye, Kerala để tiếp tục đời tu. Sau 7 năm triết học và thần học, tôi được thụ phong linh mục vào ngày 1 tháng 1 năm 1975. Sau đó, tôi làm công tác truyền giáo ở Giáo Phận Thiruvalla.

Vào năm 1978, trong thời gian tôi đang dạy ở tu viện St. Thomas ở Bathery, tôi là một thành viên hoạt động trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Kerala và bắt đầu tổ chức các cuộc tĩnh tâm, đại hội của phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Kerala.

Vào Chúa Nhật Lễ Kính Lòng Thương Xót ngày 14 tháng 4 năm 1985, khi trên đường đi dâng lễ cho một nhà thờ phía bắc ở Kerala, tôi đã bị tai nạn thật khủng khiếp. Tôi đang lái xe gắn máy bị một người say rượu lái chiếc xe jeep đụng vào đầu xe. Sau đó người ta chuyển tôi tới bệnh viện cách xa khoảng 35 dặm. Trên đường tới bệnh viện, linh hồn tôi đã lìa khỏi xác, và tôi đã cảm nghiệm được sự chết. Ngay lúc đó, tôi gặp Thiên Thần bản mệnh. Tôi được nhìn thấy thân xác của tôi và những người đưa tôi đến bệnh viện. Tôi nghe tiếng họ đang khóc và cầu nguyện cho tôi. Lúc đó Thiên Thần bản mệnh nói với tôi rằng: "Tôi sẽ đưa cha lên Thiên Đàng; Thiên Chúa muốn gặp và nói chuyện với cha." Thiên Thần bản mệnh cũng nói với tôi trên đường đi sẽ cho tôi thấy Hỏa Ngục và Luyện Ngục.

Trước tiên, Thiên Thần dẫn tôi tới Hỏa Ngục. Thật là một cảnh rất khủng khiếp! Tôi đã nhìn thấy Satan và các quỷ dữ với độ nóng phừng phực khoảng 2000 độ F, giòi bọ bò lúc nhúc, người ta la hét và chửi bới, một số khác đang bị tra tấn bởi quỷ dữ. Thiên Thần bảo tôi những người này đã mắc tội trọng mà không ăn năn hối cải khi còn sống. Tôi đã hiểu ở đó có 7 mức độ đau đớn của hình phạt khác nhau tùy theo tội trọng mà họ đã phạm khi còn sống, linh hồn họ rất xấu xí, độc ác và kinh khiếp. Đó là một kinh nghiệm đáng sợ. Tôi có nhìn thấy một số người quen nhưng tôi không được phép nêu tên của họ. Những tội bị rơi vào Hỏa Ngục chính yếu là các tội: phá thai, dâm dục, trợ tử, ghen ghét, không tha thứ và phạm thánh. Thiên Thần bảo tôi rằng, nếu những người này thống hối trước giờ chết thì họ có thể tránh được Hỏa Ngục, chỉ phải đền bù ở Luyện Ngục. Tôi còn hiểu rằng một số người hối cải chịu đau khổ để đền tội ở đời này. Bằng cách đó, họ sẽ tránh được luyện ngục và được lên thẳng Thiên Đàng.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy có cả các linh mục và giám mục ở Hỏa Ngục. Trong số những người đó, một số người tôi không bao giờ dám nghĩ họ sẽ bị sa Hỏa Ngục. Những giám mục và linh mục này bị sa Hỏa Ngục vì đã giảng dạy sai lầm và làm gương xấu.

Sau khi thăm Hỏa Ngục, Thiên Thần đưa tôi đến Luyện Ngục. Ở đây cũng vậy, có 7 mức độ hình phạt và lửa cháy phừng phực khác nhau. Nhưng ở Luyện Ngục thì không khủng khiếp như ở Hỏa Ngục. Người ta không tranh giành và chửi bới. Nỗi đau khổ chính của họ là không được chiêm ngắm Thiên Chúa. Một số người trong Luyện Ngục mắc tội trọng nhưng họ đã ăn năn thống hối với Chúa trước khi chết. Mặc dù những linh hồn này đang chịu hình phạt, họ vẫn cảm nhận sự bình an và họ biết rằng ngày nào đó họ sẽ được hưởng thánh nhan Chúa. Tôi đã được phép nói chuyện với linh hồn ở Luyện Ngục. Họ xin tôi và mọi người cầu nguyện cho họ để họ sớm được về Thiên Đàng. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, họ sẽ nhớ ơn và cầu nguyện lại cho chúng ta khi họ về Thiên Đàng.

Thật rất khó mà diễn tả Thiên Thần của tôi đẹp như thế nào. Thiên Thần sáng như ánh hào quang. Thiên Thần luôn đồng hành với tôi trong công việc mục vụ, đặc biệt là mục vụ chữa lành. Thiên Thần luôn đi với tôi bất cứ nơi nào và tôi rất biết ơn về sự bảo vệ của thiên thần cho đời sống của tôi.

Kế tiếp, Thiên Thần đưa tôi lên Thiên Đàng. Chúng tôi băng qua con đường hầm sáng láng. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự bình an và hoan hỉ bằng lúc này. Ngay tức khắc, tôi nghe thấy điệu nhạc du dương những Thiên Thần đang ca hát và tôn thờ Chúa. Tôi nhìn thấy những vị Thánh đặc biệt là Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, nhiều giám mục và linh mục thánh thiện. Những vị này sáng láng như các vì sao. Khi tôi đến trước mặt Chúa, Chúa Giêsu bảo tôi "Cha muốn con trở lại trần gian, trong cuộc sống thứ hai của con, con sẽ trở nên dụng cụ hòa bình và chữa lành cho mọi người, con sẽ đến một nơi đất lạ và con sẽ nói tiếng nước ngoài, mọi sự sẽ được Cha chúc phúc." Sau những lời đó, Đức Mẹ Maria bảo tôi "Con hãy làm những gì Chúa bảo con, Mẹ sẽ giúp con trong công việc mục vụ của con."

Không một ngôn từ nào có thể diễn tả được sự đẹp đẽ của Thiên Đàng. Nơi đó chúng ta đầy tràn bình an và hạnh phúc vượt quá hằng triệu lần sự tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa rất là tốt đẹp hơn bất cứ sự tưởng tượng nào. Mặt của Ngài sáng láng và rực rỡ hơn ngàn lần ánh sáng của mặt trời. Những bức tranh mà chúng ta nhìn thấy ở thế giới này chỉ là những bóng mờ so với sự lộng lẫy của Ngài. Bên cạnh Chúa Giêsu là Mẹ Maria, Mẹ rất đẹp và sáng láng. Không có một hình ảnh nào trên thế giới có thể so sánh với vẻ đẹp thật sự của Mẹ. Thiên Đàng là quê thật của mỗi người chúng ta. Chúng ta cố gắng trở về Thiên Đàng và hưởng hạnh phúc nhan thánh Chúa mãi mãi. Sau đó tôi cùng Thiên Thần trở lại trần gian.

Lúc xác tôi còn nằm ở bệnh viện, bác sĩ đã kiểm tra toàn bộ và xác nhận tôi đã chết. Nguyên nhân của sự tử vong là do mất quá nhiều máu. Gia đình tôi đã được thông báo khi họ còn ở xa. Nhân viên bệnh viện quyết định đưa xác tôi xuống nhà xác. Bởi vì bệnh viện không có máy lạnh, nên họ lo ngại xác sẽ có mùi hôi.

Ngay lúc họ chuyển xác tôi tới nhà xác, linh hồn tôi trở lại thân xác. Tôi cảm thấy rất đau đớn bởi vì những vết thương và nhiều xương bị gẫy. Tôi bắt đầu rên la, những người xung quanh tôi chạy tán loạn la hoảng lên vì sợ hãi. Một trong những người đó đã đi gọi bác sĩ và nói "Xác chết đang rên la." Bác sĩ đến kiểm tra lại thân thể tôi và phát hiện tôi vẫn còn sống. Bác sĩ ấy nói rằng "Cha Jose vẫn còn sống, đây là phép lạ, hãy đem cha trở lại bệnh viện."

Khi họ đưa tôi đến phòng để truyền máu, đồng thời họ mổ và sửa lại những xương đã bị gẫy. Họ sửa lại xương quai hàm, xương sườn, xương chậu, xương cổ tay và xương chân phải của tôi.

Sau hai tháng điều trị tại bệnh viện, bác sĩ về xương đã cho tôi biết là tôi không bao giờ có thể đi lại được nữa. Nhưng tôi đã nói với bác sĩ: "Thiên Chúa đã cho tôi sống lại, gửi tôi về trần gian thì cũng sẽ chữa lành tôi." Sau một tháng cắt băng bột, tôi vẫn không thể đi lại được. Trong lúc chúng tôi đang cầu nguyện tại nhà, tôi cảm thấy rất đau đớn ở nơi xương chậu. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, sự đau đớn đã hoàn toàn biến mất và tôi nghe thấy có tiếng nói với tôi: "Con đã được chữa lành, đứng dậy và đi." Tôi cảm thấy an bình và được chữa lành hoàn toàn trong con người của tôi. Tôi đứng dậy và bước đi. Tôi ngợi khen và tạ ơn Chúa cho phép lạ này.

Tôi báo cho bác sĩ về cái tin mà tôi đã được chữa lành, ông ta rất ngạc nhiên. Ông ta nói với tôi rằng: "Thiên Chúa của ông là Chúa thật. Tôi phải theo Thiên Chúa của ông." Bác sĩ này là người theo đạo Hindu, ông ta đã hỏi tôi về đạo thánh. Sau đó, ông ta học đạo và chính tôi là người đã rửa tội cho ông để gia nhập đạo Công Giáo.

Theo sứ điệp của Thiên Thần, tôi đã đến Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 11 năm 1986, với công tác là linh mục truyền giáo. Lúc đầu, tôi làm việc cho Giáo Phận Boise ở Idaho từ năm 1987 tới 1989, kế đến tôi làm tuyên úy cho một nhà tù trong Giáo Phận Orlando, Florida từ năm 1989 tới 1992.

Năm 1992, tôi thuyên chuyển đến Giáo Phận Thánh Augustinô và làm việc tại nhà thờ Thánh Máthêu ở thành phố Jacksonville trong hai năm. Sau đó tôi được chỉ định làm chính xứ của nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời từ năm 1994 đến 1999. Vào năm 1997, tôi được chính thức công nhận là linh mục trong giáo phận. Từ tháng 6 năm 1999 đến nay, tôi là cha quản nhiệm nhà thờ Đức Mẹ của Lòng Thương Xót ở thành phố MacClenny, Florida. Đồng thời tôi cũng phục vụ cho trại tù Starke, trung tâm cải huấn Raiford và trong bệnh viện MacClenny. Hơn nữa, tôi cũng là cha linh hướng của Hội Lêgiô Marie của địa phận.

Trong mỗi ngày thứ bảy đầu tháng, giáo xứ tôi có giờ chầu Thánh Thể và Thánh Lễ chữa lành. Mọi người đến từ nhiều nơi trong tiểu bang Florida và các tiểu bang khác. Tôi đã được mời đến cho mục vụ chữa lành ở nhiều thành phố lớn trong nước như New York, Philadelphia, Washington DC, San Jose, Dallas, Chicago, Birmingham, Denver, Boise, Idaho Falls, Ontario, Miami, Ft. Lauderdale, Poolsville và nhiều nước trên thế giới như Ireland, Spain, Czech Republic, India, France, Portugal, Yugoslavia, Italy, Canada, Mexico, Cayman Island và Hawaiian Islands.

Xuyên qua công tác mục vụ chữa lành qua phép Thánh Thể, tôi đã thấy nhiều người được chữa lành về thể xác, linh hồn, tâm hồn cũng như cảm xúc. Nhiều bệnh khác nhau như ung thư, SIDA, tim, mắt, xuyễn, đau lưng, lãng tai và nhiều bệnh khác đã được chữa lành hoàn toàn. Thêm vào đó, nhiều lần trong năm có những cuộc chữa lành đặc biệt về giòng tộc mà đã ảnh hưởng bởi tội lỗi của cha ông cũng đã được chữa lành hoàn toàn.

SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Vì thế chúng ta cần sự chữa lành về gia tộc. Các bác sĩ và nhiều thuốc men không thể giúp chúng ta chữa lành về các loại bệnh tật này.

Trong mục vụ chữa lành, đã có nhiều người được nghỉ ngơi trong ơn Chúa Thánh Thần trước Thánh Thể Chúa và nhiều người được đổi mới tâm linh cũng như chữa lành về thân xác.

Tường thuật của Linh Mục Jose Maniyangat
Chuyển dịch: Anna Liên Nguyễn

-----------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI -BA NOI KHO DAU PDF Print E-mail

BA NỖI ĐAU KHỔ
https://hddaminh thanhlinh.net/ p109a3109/ba-no i-dau-kho

KRISTIE PHAN CHUYỂN

"Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trong ba phương cách như chúng ta chịu về tinh thần, thể xác và tâm linh"

Trong thời thế chiến II, linh mục Titus Brandsma làm viện trưởng một đại học tại Hòa Lan. Ngài bị Đức Quốc Xã đem về trại tập trung ở Dachau. Nơi đây, ngài bị biệt giam trong một chiếc cũi nhốt chó cũ kỹ. Bọn lính gác mua vui bằng cách bắt ngài phải sủa lên như chó mỗi lần chúng đi ngang qua. Cuối cùng ngài bị chết vì bị tra tấn. Bọn lính kia đâu có ngờ rằng ngay giữa cơn thử thách, vị linh mục ấy vẫn tiếp tục viết nhật ký giữa những dòng chữ in trong quyển sách kinh cũ của ngài.

Ngài kể lại rằng, sở dĩ ngài có thể chịu đựng được nỗi đau đớn là vì ngài biết rằng Chúa Giêsu cũng đã từng chịu đau khổ như thế. Trong một bài thơ ngỏ gởi Chúa Giêsu, ngài viết:

"Sẽ không có đau đớn nào làm con gục ngã, bởi con luôn nhìn thấy đôi mắt đầy khổ đau của Chúa. Con đường cô độc mà Chúa từng đi qua đã giúp con chịu đựng nỗi cay đắng một cách khôn ngoan. Tình yêu của Chúa đã biến màn đêm tăm tối trong con thành nguồn sáng rực rỡ. Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với con, chỉ cần ở lại thôi. Con sẽ chẳng còn sợ hãi chi nếu khi đưa đôi tay ra con cảm thấy Chúa đang ở bên con." (Kilian Healy, Walking with God).

Sự thống khổ của Chúa Giêsu được chúng ta đặc biệt nhắc lại trong ngày hôm nay đã từng là nguồn sức mạnh cho rất nhiều người trong lịch sử. Giống như linh mục Brandsma, những người này sẽ không bao giờ chịu đựng nổi sự đau đớn nếu họ không biết rằng Chúa Giêsu đã từng chịu đau khổ như vậy, và Ngài hiện đang nâng đỡ họ trong giây phút thử thách.

Khi nhìn lại sự thống khổ của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người đã chịu đau khổ dưới cả ba hình thức khác nhau.

1) Trước hết là đau khổ tinh thần. Chúa Giêsu chịu đau khổ này trong vườn Cây Dầu, Người đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến thử thách trước mặt, đồng thời Người rất đau khổ khi các môn đệ phản bội và bỏ Người chạy trốn hết. Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm sự đau khổ tinh thần này, tỉ như một cậu bé 15 tuổi bỏ nhà ra đi đã mô tả sự đau khổ tinh thần của mình trong cuộc phỏng vấn của tạp chí Parade như sau:

"Tôi không bao giờ thực sự có được một mái nhà, tôi không bao giờ được thực sự nhìn thấy người cha của tôi. Tôi luôn cô độc... Tôi cảm thấy có gì sái quấy nơi tôi. Chắc là tôi tệ lắm. Tôi cảm thấy mình không hiện hữu, vì chẳng có ai yêu mến tôi."

Trong lúc đau khổ tinh thần như thế, chúng ta chỉ còn một nguồn an ủi duy nhất, đó là biết rằng chính Chúa Giêsu từng bị đau khổ như thế trước chúng ta, và Người hiện đang nâng đỡ chúng ta trong khi bị thử thách.

2) Tiếp đến, Chúa Giêsu từng bị đau khổ nơi thể xác. Người bị đánh đập tàn bạo, bị đội mão gai và bị đóng đinh vào thập giá. Và chúng ta, ít nhiều cũng đã t���ng chịu những đau đớn phần xác. Đây là loại đau đớn mà bác sĩ Sheila Cassidy đã phải gánh chịu khi ở Chile vào đầu thập niên 1970. Cô là một bác sĩ y khoa và đã phạm một lỗi lầm tai hại là đã chữa lành vết thương cho một phần tử chống đối chính phủ. Cảnh sát đã bắt cô và tra tấn buộc cô phải khai tên những người dính líu đến phong trào chống đối.

Giống như Chúa Giêsu bị treo trên thập giá, cô cũng bị căng thây trong bốn ngày. Nhớ về sự thử thách ấy cô viết:

"Tôi cảm nghiệm được một cách mơ hồ về sự đau đớn mà Chúa Giêsu từng chịu. Trong suốt cơn thử thách, tôi luôn luôn cảm thấy Người ở đó, và tôi nài xin Người giúp tôi được kiên vững."

Cũng thế, trong giờ phút chịu đau đớn thể xác, chúng ta thường chỉ còn nguồn an ủi là biết rằng Chúa Giêsu đã từng chịu đau đớn như thế, và Người hiện đang nâng đỡ chúng ta trong cơn thử thách này.

3) Và cuối cùng, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu cũng từng chịu đau đớn về tâm linh. Tỉ như, khi Người bị treo bơ vơ trên thập giá, dường như chính Chúa Cha cũng đã ruồng bỏ Người. Chúa Giêsu cầu xin:

"Lạy Chúa con, lạy Chúa con, sao Ngài lại bỏ rơi con" (TV 22:1).

Tất cả chúng ta cũng từng gặp đau khổ tâm linh giống như Người. Nhiều lần, chúng ta cảm thấy như bị Chúa bỏ rơi. Đây là sự đau đớn mà Walter Ciszel, vị linh mục người Hoa Kỳ đã từng chịu khi bị cầm tù ở Nga suốt 23 năm. Có lúc, tâm linh ngài bị suy sụp đến mức gần như tuyệt vọng. Nhưng thay vì đầu hàng, ngài lại biết noi gương Chúa Giêsu trên thập giá, hướng về Thiên Chúa Cha trong cơn thử thách. Cha Walter Ciszel viết:

"Tôi thưa với Chúa rằng, hiện giờ mọi khả năng của tôi đều cạn kiệt và chỉ còn Ngài là nguồn hy vọng duy nhất của tôi... Tôi chỉ có thể mô tả lại cảm nghiệm này giống như một sự 'phó mặc'"

Vào lúc bấy giờ, lần đầu tiên, cha Ciszel hiểu được những lời cu���i cùng trên thập giá của Chúa Giêsu:

"Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha" (Lc. 23:46). Về sau, cha Ciszel nói rằng chính quyết định phó thác ấy đã giúp ngài kiên định và sống sót.

Như thế, Chúa Giêsu đã từng chịu cả ba sự đau đớn mà con người có thể gặp phải. Người đau đớn tinh thần vì bị các môn đệ phản bội. Người đau đớn thể xác vì bị tra tấn, và sau cùng Người đau đớn tâm linh khi cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi.

Đây chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu trao lại cho chúng ta, để khi gặp bất cứ đau khổ nào, chúng ta cũng biết hướng về Chúa Giêsu. Người hiểu được sự đau khổ của chúng ta và sẵn sàng nâng đỡ chúng ta. Từ đó, chúng ta hãy trở lại câu chuyện mở đầu nói về Cha Brandsma. Khi gặp đau đớn dưới bất cứ hình thức nào, không có gì tốt hơn là chúng ta hãy lập lại những lời mà Cha Brandsma đã cầu nguyện với Chúa Giêsu:

"Sẽ không có đau đớn nào làm con gục ngã, bởi con luôn nhìn thấy đôi mắt đầy khổ đau của Chúa. Con đường cô độc mà Chúa từng đi qua đã giúp con chịu đựng nỗi cay đắng một cách khôn ngoan. Tình yêu của Chúa đã biến màn đêm tăm tối trong con thành nguồn sáng rực rỡ. Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với con, chỉ cần ở lại thôi. Con sẽ chẳng còn sợ hãi chi nếu khi đưa đôi tay ra con cảm thấy Chúa đang ở bên con."

LM Mark Link, S.J.
****************************** ****************************** ****************
1. Chúng ta thật tình TIN vào Chúa không hay là chỉ nói bằng môi miệng thôi? Tại sao vậy?
2. Chúng ta thật tình CẬY vào Chúa không hay là chỉ nói bằng môi miệng thôi? Tại sao vậy?
3. Chúng ta thật tình MẾN Chúa không hay là chỉ nói bằng môi miệng thôi? Tại sao vậy?
4. Chúng ta có ý thức là chúng ta là "con cưng" của Chúa không?
5. Chúng ta có biết những việc đau khổ lớn hay nhỏ đều là những cơ hội đền tội, cứu linh hồn, khuyến khích, răng đe, xây dựng, giảng dạy, la rầy, dạy bảo, học hỏi, rèn luyện, trừ tà, chữa lành, khuyên răng và làm sáng danh Chúa nữa. Xin đừng trách móc, nguyền rủa, chưởi thề, nói xuy này hên kia, mất lòng Tin mà quyên đi sự QUAN PHÒNG luôn mãi của Chúa cho chúng ta ... không một cộng tóc hay một đồng xu nào mất đâu, a/c/e ơi.

Hãy cùng nhau xin lỗi Chúa (Go to Confession at least once a month). Hãy cùng nhau cầu nguyện HARDER. Hãy cùng nhau hy sinh MORE. Hãy cùng nhau ca ngợi Chúa MUCH MUCH MORE. Xin THÈM Chúa, xin ĐÓI Chúa, xin SAY MÊ Chúa, xin VÂNG LỜI Chúa. Xin bớt nói lại và cầu nguyện/lắng nghe luôn mãi thiết tha ngây ngất trong tình Chúa, a/c/e ơi ... và xin nhớ lời của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận nói "đừng say mê làm việc Nhà Chúa, mà hãy say mê Chúa" (rất là nhiều a/c/e bị trúng kế này của Ma Quỷ đấy mà "quên" Chúa ... too busy is an excuse which leads to: no close relationship with the Lord; lukewarm at best ... and the Enemies love it) ... a/c/e ơi, chúng ta đã xúc phạm đến Chúa và làm gương xấu cho nhau quá nhiều rồi !!!

--------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - ANH SAO XUA PDF Print E-mail

Lễ Hiển Linh
ÁNH SAO XƯA
Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Đầu thế kỷ thứ tư, cả đế quốc Rôma tin theo Kitô giáo, Hoàng đế Constantin đã xây cất một đền thờ ở Belem. Bên dưới bàn thờ chính có một đền thờ vẫn còn đến ngày nay. H. V. Morton tả lại chuyến đi thăm thánh đường Chúa Giáng Sinh tại Bêlem: Ông đến một bức tường lớn, ở đó có một cửa rất thấp, đến nỗi một người lùn cũng phải khom lưng mới vào được. Bên kia bức tường là đền thờ. Bên dưới bàn thờ chính có một hang đá. Khi khách hành hương viếng nơi thánh vào hang đá sẽ thấy một cái động nhỏ, tối, dài 14 thước và ngang 4 thước được thắp sáng bởi 53 ngọn đèn bằng bạc và trên nền có một ngôi sao, chung quanh ngôi sao có bảng đề bằng tiếng Latinh "Đây là nơi Chúa Giêsu sinh bởi trinh nữ Maria".
Nơi Belem đã tỏa ánh sáng sao, ánh sao tượng trưng và báo hiệu cho ánh sáng của Thiên Chúa, tràn ngập tình yêu và ân sủng của Ngài cho con người : "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta". (Ga 1,14 )
Ngài đến thế gian như là nguồn ánh sáng:
Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người (Ga 1,9)
Ngài là nguồn ánh sáng ban sự sống:
Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. (Ga 1,4),
Ngôn Sứ Isaia đã loan báo trước ánh sáng soi đường cho nhân loại tiến bước về bình minh cứu độ : "bóng tối lại bao trùm mặt đất, nhưng Đức Chúa xuất hiện trên ngươi, và vinh quang của Người chiếu tỏ trên ngươi. Các dân nước sẽ tiến về phía ánh sáng của ngươi, và các vua, về phía luống sáng bình minh ngươi" (Is 60,2-6)
Vì sao sáng gợi lên trong lòng người Do Thái niềm nôn nao đợi chờ Đấng Cứu Độ cho dân tộc mình và cho cả thế giới (x. Ds 24,7), chính Ngôi sao tỏa sáng xuất phát từ nhà các Tổ Phụ của niềm tin: "một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en" (Ds 24,17)
Nhân loại sống trong lầm than vì bóng đêm của tội lỗi, Ngôi Lời xuất hiện tựa : "Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối" (Ga 1,5), Chính vì lẽ đó Ngôn Sứ Isaia đã nhìn thấy trước "người đi trong bóng tối đã trông thấy xuất hiện một ánh sáng lớn lao, bởi vì một Hài nhi đã sinh ra cho chúng ta" (Is 9,1-5). Hài nhi sinh ra như ánh sáng cho nhân loại bước đi đưa con người tiến vào sự sống: "Ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israen dân Ngài" (Lc 2,32).
Xưa kia khi dân Chúa rời bỏ kiếp nô lệ Aicập, Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa (x. Xh 13,21-22). Hôm nay, từ ngày Ngôi Lời Giáng trần, Ngài dùng ánh sáng ngôi sao dẫn đường cho nhân loại đến Bêlem để gặp Đấng Cứu Tinh, nhưng thái độ của mỗi người khác nhau :
• Thấy Ngôi sao tỏa sáng Hêrôđê lòng bồn chồn bất an vì lo sợ cho ngai vàng mình sẽ bị lung lay bởi Đấng quân vương mới sinh ra như các Đạo Sĩ nói (x. Mt 2,2). Herôđê dò hỏi về nơi sinh và ngày sinh của vị Vua mới ra đời, để âm mưu loại trừ. Ông là hiện thân của những con người ham danh vọng quyền bính, chà đạp sự thật, ghen ghét độc ác bất chấp mọi thủ đoạn để tiến bước trong danh vọng và quyền lực ...
• Thấy ánh sao lạ các thượng tế và kinh sư ở Giêrusalem là bậc thầy thông hiểu Kinh Thánh, cho nên các ông biết rõ nơi sinh của Vua Mêsia –Đấng Quân Vương được loan báo dưới vì sao (Mt 2, 4-6). Nhưng các ông lại dửng dưng thụ động, Họ giải thích đúng, nhưng họ không hề ra đi tìm kiếm, không cất bước tới Bêlem, coi sự xuất hiện của Đấng Messia như không có gì. Họ đại diện cho con người hãnh diện với những thông thái của mình, không cần cố gắng tiến bước trong ân sủng.
• Thấy ánh sao lạ dù ở phương Đông xa xăm, dân ngoại được đại diện các nhà chiêm tinh, đã hăm hở lên đường, bước vào cuộc phiêu lưu tìm đến Hai Nhi.
Anh sao dẫn lối, soi đường,
Các nhà Hiền sĩ can trường bước đi.
Dù cho có lắm hiểm nguy,
Vẫn luôn tiến bước, không gì cản ngăn*
Hình ảnh đoàn dân khắp nơi tuôn đổ về tôn thờ Hài Nhi đã được Kinh Thánh Cựu Ước loan báo bằng các hình ảnh : từng đàn Lạc đà che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha, tất cả những người từ Saba kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa" (Is 60,1-6). Nữ hoàng Saba, đến từ phương Nam xa xôi nghe tiếng khôn ngoan của Salomon, bà đã lên Giêrusalem để gặp gỡ vị Quân Vương đầy Thần khí (x. 1 V 10,1-10). Thánh Vịnh 71 nói về các vị vua xa xăm tiến về dâng lễ triều cống: "Các vua xứ Tacsi và các hải đảo sẽ mang các tặng phẩm đến" (Tv 71,1). Dân các nơi tuôn về, hình ảnh báo về mọi người tụ họp trong bàn tiệc Thiên Quốc, như Chúa Giêsu nhấn mạnh : "sẽ đến từ Phương Đông và Phương Tây, an phần vào bữa tiệc với Abraham" (Mt 8,11)
Ngôi Lời nhập thể, sinh ra trong một hang đá. Hang đá ấy hiện nay được ở trong thánh đường Chúa Giáng Sinh tại Bêlem. Thánh đường xây trên hang đá có một cái cửa rất thấp đến nỗi ai muốn vào phải cúi khom người xuống. Khi được loan báo các mục tử, các đạo sĩ và các tín hữu hành hương ngày hôm nay muốn đến cùng Hài Nhi Giêsu đều phải cúi xuống bước qua cửa, biểu tượng cho thái độ khiêm cung, quỳ gối thờ lạy như Ba Đạo sĩ đến Bêlem : "Trông thấy ngôi sao, họ vô cùng mừng rỡ. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Maria. Liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (x. Mt 2,10- 11).
Ngày hôm nay, Ngôi sao vẫn rạng ngời trong lòng chúng ta, Ngôi sao đó như Thánh Gioan nói : ngôi sao mai là chính Đức Kitô (x.Kh 2,28). Và Thánh Phêrô chỉ rõ "sao Mai xuất hiện trong lòng chúng ta" (2 P 1,19). Chúng ta như các Đạo sĩ :
Niềm tin sức mạnh vạn năng,
Giúp cho thắng được khó khăn đường đời*.
Trên bước đường tìm kiếm trong gian nan, nhờ ánh sao dẫn đường, chúng tôi đến đặt vào tay Hài nhi tất cả những gì chúng tôi là : ưu điểm khuyết điểm, những gì chúng tôi có : tài năng cố gắng...Cuộc đời trở nên là lễ vật dâng Chúa:
"Đời con như của lễ dâng không hề ngưng, như tấm bánh luôn để dâng..." (Xin dâng, Ngọc Kôn)

* Ánh Sao Dẫn Đường.

Lm. Vinh Sơn SCJ

------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - LE HIEN LINH PDF Print E-mail

Chúa hiển linh trên toàn nhân loại
ĐBĐM CHUYỂN


CAC BẠN hãy cầu xin Thiên Chúa ban cho hết thảy con người, nhận ra Ánh Sáng tỏa lan hạnh phúc của một Chúa Giêsu giáng trần để Ngài ở cùng với chúng ta suốt cuộc đời trần thế này. Nếu CAC BẠN có cố gắng dành thời giờ cho Chúa mỗi ngày để học biết cảm nhận tình Chúa ôi cao vời biết bao.

Vì Người luôn thương ban cho chúng ta tất cả mọi điều cần thiết từ nuôi cho thân xác được hằng ngày dùng đủ cho đến ban bình an để chúng ta sống trong ý thức, để hiểu Bình An đó là món quà quý giá nhất trên trần đời mà thế gian không thể trao tặng. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta sẽ luôn được Chúa dạy cách để sống với Thiên Chúa từng ngày một trong Ánh Sáng của sự tốt lành, của yêu thương và của chia sẻ và đó là chìa khóa, là con đường dẫn chúng ta đến sự sống muôn đời ở đời sau.

Để tóm gọn điều quan trọng mà Thiên Chúa muốn dạy hết thảy chúng ta là luôn luôn kính thờ một Thiên Chúa và yêu thương người như yêu chính mình ... Thì đã sống trọn lề luật yêu thương mà Thiên Chúa mong mỏi và cần được chúng ta thực thi trong suốt cuộc đời để làm chứng nhân và làm sáng danh Đức Chúa. Vì hành động yêu thương thì tiếng vang của nó To hơn gấp vạn lần là lời nói xuông, có phải.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Hy vọng rằng nhờ Ánh Sáng chiếu rọi trên Con Trẻ Giêsu, sẽ là sự nhắc nhở cho muôn người sống trên khắp năm châu tìm thấy ý nghĩa, cùng lý tưởng sống làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ngày nay còn rất nhiều người sống thiếu vắng Chúa trong cuộc đời. Nhờ vào Ánh Sáng của Chúa THÁNH THẦN giúp QUÝ BẠN học bắt chước gương sống khiêm nhường, yêu thương và chia sẻ. Amen.

Y Tá Của Chúa,
Tuyết Mai
5 tháng 1, 2018
Chuyên Mục: Chia Sẻ Tâm Linh

--------------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHÚA YEU TÔI - TRO THANH LM PDF Print E-mail

Người đã từng khinh khi phỉ báng những tín hữu đi lễ - nay đã trở thành là một linh mục
Thanh Quảng sdb
27/Dec/2017
Người đã từng khinh khi phỉ báng những tín hữu đi lễ - nay đã trở thành là một linh mục

Madrid, Tây Ban Nha, ngày 27 tháng 12 năm 2017 theo Thông tấn xã EWTN và CAN thì sau một thời trai trẻ, đầy hận thù với Giáo Hội, Juan José Martínez tự thú ngài đã khám phá ra chân lý "Thiên Chúa hiện hữu và muốn ngài làm linh mục."
Ngài kể ngày xưa "Mỗi sáng Chúa Nhật đứng trên ban công nhà nhìn những ai đi tới nhà thờ tham dự thánh Lễ, tôi thường phỉ báng và khạc nhổ lên họ. Tôi nói với họ rằng Giáo Hội là một tổ chức làm tiền, móc túi họ!" Nay ngài trở thành một linh mục thuộc Giáo phận Almeria, Tây Ban Nha.
Cha mẹ của Juan José không phải là người Công Giáo sốt sắng. Chính ngài cũng chẳng nhận được một sự giáo dục tôn giáo nào! Ngược lại khi còn tại ghế nhà trường, tôi luôn phản bác chống lại các giờ về đạo đức tôn giáo! Ngài cũng không tưởng nổi, khi kết thúc cuộc hành trình như hiện nay ngài trở thành kẻ lôi cuốn bạn bè và tha nhân vào Giáo hội. Cha Juan José còn nhớ rất rõ lần đầu tiên ngài bước vào nhà thờ Công Giáo, "ngài đã vào để vui lòng những người đã mời ngài mà thôi". Đó là vào tháng giêng năm 1995, một số bạn bè trong lớp mời tôi tham dự buổi cầu nguyện đại kết giữa Hồi giáo và Công Giáo tại giáo xứ. Tôi nhớ tôi đã nói với họ rằng tôi không muốn họ tẩy não tôi. Và trong cả tháng, họ vẫn kiên trì. Cuối cùng vào một ngày thứ năm tháng hai năm 1995, lần đầu tiên tôi bước vào nhà thờ Công Giáo. "
Một hộp vàng
Rất nhiều bạn bè của tôi đang hiện diện và tôi rất ngạc nhiên bởi vì "tất cả đều tập trung hướng về một cái hộp bằng vàng ở trên gian cung thánh nhà thờ. Tôi không biết đó là cái gì, và tôi nghĩ có lẽ đó là nơi mà linh mục giáo xứ cất giữ tiền bạc!"
Hộp vàng đó là Nhà tạm.
Cha Juan José nói rằng ngài đã vào nhà thờ để làm cho bạn bè vui, nhưng tôi nghĩ "các bạn của tôi điên hết rối! Trong lòng tôi cười chế nhạo, nhưng vì lịch sự mà tôi cố che giấu nó. Tôi quyết định thứ Năm tuần sau tôi sẽ trở lại với họ để cười nhạo thêm."
Nhưng lạ lùng thay vào thứ năm đó chàng Juan José đã bị thuần hóa và buông bỏ những định kiến chống lại Giáo hội và tôn giáo.
Ngài chia sẻ Ngài đã nhìn ra "Linh mục là một người thông minh, sẵn sàng giúp đỡ tha nhân". Và rồi ý niệm ấy thấm nhập vào tâm hồn ngài. "Lúc ngài lên 15 tuổi, ngài bắt đầu đi hát Lễ vào các ngày Thứ Bảy. Và ở trước nhà tạm dần dần tôi nhận ra rằng Thiên Chúa hiện diện và yêu thương tôi. Tôi cảm được tình yêu của Chúa. Nhóm Canh Tân mà trước đây tôi tham gia vì vui, đã giúp tôi rất nhiều".
'Tôi là người của tha nhân bất luận lúc nào họ cần'
Cha Juan José đã chịu phép rửa tội và rước lễ lần đầu theo mong ước của cha mẹ nhưng tôi không có một mối quan hệ nào với Thiên Chúa. Cha tôi không bao giờ đi lễ, chỉ có mẹ tôi thực hành niềm tin... nhưng dầu sao một lúc nào đó chính là khoảnh khắc độc nhất vô nhị trong cuộc đời tôi đã nhận được ơn Chúa Thánh Thần và niềm tin vào Chúa. "
Trong nhiều năm tháng, chàng trẻ tuổi Juan José đã cố cự tuyệt lại tiếng gọi làm linh mục. "Tôi nói với Chúa rằng tôi không muốn những phiền hà xảy ra... Nhưng tư tưởng đó lúc nào cũng đeo đuổi tôi cho đến lúc tôi quyết định sẽ trở thành một linh mục."
Vào một chiều Thứ Bảy lúc chàng vừa tròn 17, Juan José mạnh dạn thưa với cha mình rằng con muốn gia nhập chủng viện. Bố của ngài đã đánh cá "chuyện đó chỉ xảy ra khi Jose bước qua xác chết của ông!"
"Cha tôi không hiểu nổi vì sao tôi muốn làm linh mục. Nên cha tôi đề nghị ông sẽ trả học phí cho tôi sang Hoa Kỳ du học, và ông cương quyết không bao giờ trả một đồng xu cho chủng viện. "
Trong một thời điểm khó khăn như vậy, Cha Juan José nhớ lại ngài chỉ biết cầu nguyện với tâm tình của Thánh nữ Têrêsa Avila: "Đừng sợ hãi... Điều mà con cần là Thiên Chúa mà thôi" và lúc cha cậu cản ngăn, ngài chỉ biết ôm lấy cha và nói: "Con mong một ngày ba sẽ hiểu..."
'Mừng vui'
Trên thực tế, cha ngài đã đi hơi xa là đe dọa bất cứ một linh mục nào giúp con ông đeo đuổi ơn gọi của ngài. "Cha tôi đã dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản, nhưng Thánh ý của Chúa còn mạnh hơn".
Để làm vui lòng cha đẻ của mình, cha Juan José đã không vào chủng viện ngay, ngài bắt học và làm nghiên cứu và giảng dạy tại Đại học Almeria. Trong nhiều năm, ông kiên nhẫn, và tiếp tục trung thành với ơn gọi của ông là trở nên linh mục Chúa. Cho đến một ngày tháng 5 năm 1999, Ngài nhớ mẹ ngài tâm sự với ngài rằng bà đã nói chuyện với ba ngài, thuyết phục ông để ông cho phép ngài gia nhập chủng viện. "Tôi đã òa khóc và khóc dòng. Tôi nhớ khi tôi nói với cha linh hướng của tôi về biến cố này, Cha linh hướng cũng ôm chặt lấy tôi..."
Tháng 9 năm 2000, Juan Jose vào chủng viện.
Chàng Juan Jose đã gia nhập chủng viện vào tháng 9/2000 và sau những năm học thần học, năm 2006, cha José được chịu chức tại nhà thờ Almeria. Người cha của ngài cũng tham dự buổi lễ. "Dù không chấp nhận cho tôi trở thành linh mục, nhưng ba thấy tôi hạnh phúc nên ông đành chấp nhận."
Và trên thực tế, cha nhớ lại rằng cách đây hai năm, "trước khi ba của ngài qua đời, chính cha đã Xức dầu cho ba và lo liệu hậu sự cho ba của ngài."
Cha Jose nói: "Khi có ai đó nói với cha rằng anh hay chị ta không tin vào Thiên Chúa, thì ngài luôn luôn trả lời rằng chính ngài cũng đã không tin vào Chúa, và ngài đã lầm, vì ngài chỉ khám phá ra niềm hạnh phúc đích thực nơi Chúa Giêsu mà thôi. Nếu bạn không có hạnh phúc tròn đầy bạn hãy cầu xin Chúa ban cho bạn, vì chỉ mình Chúa mới có thể ban cho bạn thứ hạnh phúc mà trái tim bạn đang khát mong."

ANH QUẢNG CALI CHUYỂN

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 49