mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay887
mod_vvisit_counterHôm Qua7734
mod_vvisit_counterTuần Này39063
mod_vvisit_counterTuần Trước43672
mod_vvisit_counterTháng Này92783
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12289016

We have: 103 guests online
Your IP: 34.228.30.69
 , 
Today: Dec 15, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm tình Chúa yêu tôi
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - CN23TN-B PDF Print E-mail

09/09 – Chúa Nhật tuần 23 Thường Niên năm B.

"Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được".

Lời Chúa: Mc 7, 31-37 = EPPHAT - HÃY MỞ RA !

Khi ấy, Chúa Giêsu từ địa hạt Tyrô, qua Siđon, đến gần biển Galilêa giữa miền thập tỉnh. Người ta đem một kẻ câm điếc đến cùng Người và xin Người đặt tay trên kẻ ấy.

Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh ta. Ðoạn ngước mặt lên trời, Người thở dài và bảo: "Effetha!" (nghĩa là "Hãy mở ra!"), tức thì tai anh ta mở ra, và lưỡi anh ta được tháo gỡ, và anh nói được rõ ràng. Chúa Giêsu liền cấm họ đừng nói điều đó với ai. Nhưng Người càng cấm, thì họ càng loan truyền mạnh hơn.

Họ đầy lòng thán phục mà rằng: "Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được!"

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN - B

Lời Chúa: Is. 35,4-7a; Gc. 2,1-5; Mc 7,31-37

1- Hãy mở ra - EPPHATHA! - CÂM VÀ ĐIẾC THỂ XAC VÀ TÂM HỒN

Michel Angelo là một trong những nhà danh hoạ đã để lại nhiều tác phẩm tuyệt vời vì giá trị vượt thời gian đã đành, mà còn vì sự sống động mà ông đã mặc cho những tác phẩm ấy, điển hình là bức tượng Maisen.

Người ta kể lại rằng: Sau khi hoàn thành bức tượng này, ông đã đứng chiêm ngắm một cách say sưa. Và sự sống động của pho tượng đã làm cho ông ngây ngất, đến độ ông đã cầm chiếc búa gõ vào pho tượng và thốt lên: Hãy nói lên đi.

Thực vậy, ngôn ngữ và tiếng nói là phương tiện Chúa trao ban đẻ chúng ta truyền đạt tư tưởng và ước muốn cho người khác, để tạo lấy một sự hiểu biết và cảm thông. Khi chúng ta nói là chúng ta đang sống cùng, và sống với người khác. Sự hiện diện của chúng ta trong xã hội cần phải được biểu lộ bằng tiếng nói. Vì thế những người câm điếc một phần nào đã bị hạn chế trong mối liên hệ với thế giới chung quanh, sự hiện diện của họ dễ bị người khác quên lãng. Họ luôn sống trong thảm trạng cô đơn và lẻ loi.

Tuy nhiên, đáng thương hơn nữa có lẽ là những kẻ thấp cổ bé miệng, những kẻ bị tước đoạt quyền được lên tiếng, quyền được được sống. Để sóng xứng với phẩm giá con người, thì cần phải có tiếng nói. Cũng trong chiều hướng ấy, phép lạ chữa người câm điếc qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, không phải chỉ là một sự chữa lành bệnh tật phần xác, mà còn là một dấu chỉ cho một thực tại cao siêu hơn, đó là sự sống đích thực mà Chúa Giêsu muốn mang lại cho con người. Khi phục hồi cho người câm điếc khả năng nghe và nói, có lẽ Ngài muốn nhắn nhủ chúng ta rằng con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống bằng Lời Chúa. Con người chỉ có thể sống thực, sống trọn phẩm giá của mình khi biết mở rộng tâm hồn đón nhận lời hằng sống của Chúa.

Cử chỉ của Chúa Giêsu khi chữa lành người câm điếc, đã có một thời được Giáo Hội lặp lại khi cử hành bí tích Rửa tội. Thực vậy, bí tích Rửa tội cũng là một phép lạ, trong đó chúng ta được chữa lành với tái sinh trong đời sống mới.

Với phép lạ này, Chúa Giêsu cũng nói với mỗi người chúng ta: Épphatha, hãy mở ra. Hãy mở rộng đôi tai để lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố, trong từng giây phút của cuộc sống. Hãy mở rộng con tim và đôi tay để cảm thông và chia sẻ với người khác.

*CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI: Hãy mở miệng lưỡi để cảm tạ, chúc tụngchúc tụng và loan báo tình thương của Chúa, để nói những lời yêu thương và hoà bình, của cảm thông và tha thứ, nhờ đó chúng ta sẽ trở thành những chứng nhân sống động co Tin Mừng của Chúa giữa lòng cuộc đời.

----------------------------------

 

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - NGUON NUOC SACH PDF Print E-mail

Đức Thánh cha mong muốn mọi người được tiếp cận nguồn nước sạch

Bảo vệ các nguồn tài nguyên là nhu cầu cấp bách, Đức Phanxicô nói trong sứ điệp kỷ niệm Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Công trình sáng tạo

Ngày 4 tháng 9 năm 2018

Nước là tặng phẩm Chúa ban giúp hỗ trợ sự sống, thế nhưng hàng triệu người không tiếp cận được nguồn nước uống sạch, và sông ngòi, biển và đại dương tiếp tục bị ô nhiễm, Đức Thánh cha Phanxicô nói.

"Bảo vệ các nguồn nước và hồ chứa nước là một nhu cầu cấp bách", Đức Thánh cha nói trong sứ điệp hôm 1-9, Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Công trình sáng tạo, lễ kỷ niệm do Giáo hội Chính thống khởi xướng và hiện nay được nhiều Kitô hữu tổ chức.

Ngày lễ kỷ niệm năm 2018 tập trung vào chủ đề nước sạch, và Đức Thánh cha quan tâm đặc biệt đến hơn 600 triệu người không được thường xuyên tiếp cận nguồn nước uống sạch.

"Tiếp cận nguồn nước uống an toàn là quyền cơ bản và phổ quát của con người, vì nó cần thiết cho sự sống của con người, và do đó nó là điều kiện để thi hành các quyền khác của con người", ngài trích dẫn thông điệp Laudato Si' về môi trường.

"Xem xét vai trò cơ bản của nước trong công trình sáng tạo và phát triển con người, tôi thấy cần tạ ơn Chúa đã ban 'Chị Nước'", như Thánh Phanxicô Assisi gọi. Nước "đơn giản và hữu ích cho sự sống tuyệt vời trên hành tinh của chúng ta".

Thực hiện lệnh truyền cho người khát uống trong Phúc âm không chỉ có những hành động bác ái của cá nhân, mặc dù những việc làm này quan trọng, ngài nói. Nó còn bao gồm "những lựa chọn cụ thể và không ngừng cam kết đảm bảo tất cả mọi người có được nguồn nước tốt nhất".

Các tín hữu có bổn phận tạ ơn Chúa đã ban cho tặng phẩm là nước và "ngợi khen Ngài đã cho đại dương chiếm phần lớn bề mặt trái đất", Đức Thánh cha Phanxicô nói. Nhưng họ cũng có bổn phận làm việc chung với nhau để giữ cho các đại dương được sạch thay vì để chúng "trở thành những bãi rác nhựa trôi nổi bồng bềnh dài vô tận".

Nghĩ về biển và đại dương còn làm cho Đức Thánh cha nghĩ đến hàng ngàn di dân và người tỵ nạn "liều mạng vượt biển tìm một tương lai tốt đẹp hơn".

"Chúng ta hãy cầu xin Chúa và tất cả những người tham gia các hoạt động chính trị cao quý cho những vấn đề nhạy cảm hơn trong thời đại của chúng ta, như những vấn đề liên quan đến các làn sóng di cư, biến đổi khí hậu và quyền được hưởng các nhu cầu cơ bản của mọi người, có thể được xử lý bằng tinh thần trách nhiệm cao có tầm nhìn xa và trong tinh thần hợp tác, đặc biệt là nơi các nước có khả năng giúp đỡ nhất", ngài viết.

Đức Thánh cha Phanxicô còn dâng lời cầu nguyện cho những người đánh bắt cá và những người kiếm sống trên biển, cho những người chăm sóc họ và cho tất cả các nhà khoa học và chuyên gia chính sách công giúp công chúng nhận ra các nguồn tài nguyên quý giá của biển và làm việc bảo vệ các nguồn tài nguyên này.

Và trong lúc Giáo hội Công giáo chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục thế giới về người trẻ, ngài thúc giục các Kitô hữu giáo dục và cầu nguyện cho người trẻ "để họ có thể lớn lên trong sự hiểu biết và tôn trọng ngôi nhà chung của chúng ta và trong ao ước bảo vệ nguồn nước thiết yếu, vì lợi ích của tất cả mọi người".
UCAN Vietnam

-----------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - LONG TC CHUA PDF Print E-mail

Chi Tran
Aug 30 at 7:53 PM

ĐỪNG HÀ TIỆN LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA

Nếu tôi được làm lại đời linh mục của mình, tôi sẽ nhẹ nhàng hơn với giáo dân. Tôi sẽ không hà tiện lòng thương xót của Thiên Chúa, hay các bí tích, hay phép tha tội.

Ngày nay, vì nhiều lý do, chúng ta đấu tranh mới mong có được tấm lòng quảng đại và hào phóng để tâm hồn mở ra với lòng thương xót của Thiên Chúa.

Khi số người tham dự phụng vụ nhà thờ tiếp tục suy giảm, thì nhiều lãnh đạo và mục tử trong Giáo hội có khuynh hướng xem điều này như một sự cắt tỉa hơn là một bi kịch và họ hành động để giải quyết tình trạng này bằng cách làm cho hình ảnh Thiên Chúa trở nên ít thương xót hơn, thay vì một hình ảnh dễ gần. Chẳng hạn một giáo sư chủng viện tôi quen đã chia sẻ, với 40 năm kinh nghiệm dạy khóa học chuẩn bị cho chủng sinh ban bí tích hòa giải, ngày nay, ông nhận thấy câu hỏi chủng sinh hay hỏi là: "Khi nào con có thể từ chối tha tội?" Thật sự, câu hỏi phải là, con phải thận trọng đến mức như thế nào khi ban lòng thương xót của Thiên Chúa chứ?

Động cơ và lòng tin của họ gần như hoàn toàn chân thành nhưng họ lầm đường. Họ thật lòng e sợ việc chơi trò đánh bạc với ơn Chúa, họ sợ rằng đến cuối cùng những gì họ ban cho người khác chỉ là ơn sủng rẻ tiền.

Phần nào, đây cũng là một động cơ có căn cứ. Nỗi sợ là mình đùa giỡn với ơn Chúa, cùng với những lo âu về chân lý, về tính chính thống, về các kiểu mẫu chung đúng luật, cộng thêm nỗi sợ bị tai tiếng đã làm cho họ làm việc theo khuôn phép dè dặt như vậy. Lòng thương xót luôn luôn được thúc đẩy bởi sự thật. Nhưng đôi khi, các động cơ làm cho chúng ta dè dặt lại không được cao cả đến thế, và nỗi lo lắng về việc trao ban một ân sủng rẻ tiền xuất phát nhiều từ tính nhỏ nhen, sợ sệt, chủ nghĩa lề luật, và cả khao khát (dù vô thức) ham muốn quyền lực.

Nhưng dù cho kiềm giữ lòng thương xót vì những lý do cao cả nào hơn đi chăng nữa, chúng ta vẫn là những mục tử xấu và lầm đường, không chung lòng với Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Chúa Giêsu đã mặc khải rằng, lòng thương xót của Thiên Chúa ôm lấy hết, không phân biệt người xấu kẻ tốt, người bất xứng hay người xứng đáng, người có đạo hay không có đạo. Một trong những thấu suốt thực sự đáng giật mình mà Chúa Giêsu đã cho chúng ta, chính là việc lòng thương xót của Thiên Chúa, như ánh sáng và hơi ấm mặt trời, không thể không đổ tràn cho tất cả mọi người. Như thế, lòng thương xót của Thiên Chúa luôn luôn tuôn đổ nhưng không, không đòi hỏi, không điều kiện và chung cho hết thảy, lòng thương xót đó vươn ra khỏi mọi tôn giáo, phong tục, trường phái, luận điệu chính trị, chương trình luật định, mọi hệ tư tưởng, và thậm chí là cả tội lỗi.

Và như vậy, về phần chúng ta, đặc biệt là bậc làm cha mẹ, mục tử, giáo viên, giáo lý viên, người cao niên, chúng ta phải liều mình loan báo đặc tính quảng đại của lòng thương xót này. Chúng ta không được dùng lòng thương xót của Chúa như thể nó là của chúng ta, không được cấp phát ơn tha thứ của Chúa như một mặt hàng có giới hạn, không được đặt điều kiện cho tình thương Thiên Chúa như thể Ngài là một bạo chúa bủn xỉn hay một hệ tư tưởng chính trị, và cũng không được chặn bớt con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng Thiên Đàng. Chúng ta không phải là người có quyền đó. Nếu chúng ta kềm giữ lòng thương xót của Chúa trong sự thu mình và e ngại của chúng ta, thì chúng ta đang hạn chế lòng thương xót vô bờ của Ngài trong giới hạn tâm trí của chúng ta.

Một điều đáng lưu ý trong các Tin mừng là, các tông đồ, dù có thiện ý nhưng họ thường hay cố gắng loại một số người ra khỏi Chúa Giêsu như thể những người này không xứng đáng vậy, như thể họ xúc phạm đến sự thánh thiện của Chúa hay họ có thể làm vấy bẩn sự nguyên tuyền của Ngài. Vậy nên, họ cứ luôn gắng ngăn trẻ con, gái điếm, người thu thuế, những người bị xem là tội lỗi, và đủ loại người khác chưa học biết đạo, đến gần với Chúa Giêsu. Nhưng, Chúa Giêsu thì luôn luôn gạt ra các cố gắng sai lầm của họ bằng những lời mạnh mẽ: "Hãy để họ đến! Ta muốn họ đến."

Lúc mới bắt đầu đời mục vụ, tôi sống trong nhà xứ với một linh mục già thánh thiện. Cha đã trên 80 tuổi, mắt gần như đã mù, nổi danh và được kính trọng, nhất là trong vai trò linh mục giải tội Một tối nọ, khi ngồi riêng với cha, tôi hỏi cha: "Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có muốn làm điều gì khác đi hay không?" Với một người đầy chính trực như cha, tôi hoàn toàn cho rằng không có gì để cha phải hối tiếc. Nhưng câu trả lời của cha đã làm cho tôi bất ngờ. Cha có một nỗi hối tiếc, một hối hận lớn, là: "Nếu tôi được làm lại đời linh mục của mình, tôi sẽ nhẹ nhàng hơn với giáo dân. Tôi sẽ không hà tiện lòng thương xót của Thiên Chúa, hay các bí tích, hay phép tha tội. Tôi sợ là tôi đã quá cứng rắn với giáo dân. Họ đã có quá đủ đau đớn rồi, chứ chẳng cần tôi hay Giáo hội đặt thêm gánh nặng trên vai họ nữa đâu. Đáng ra tôi nên liều lĩnh hơn nữa với lòng thương xót của Chúa!"

Tôi được đánh động bởi lời này, vì chưa đầy một năm trước đây, khi làm các bài thi cuối ở chủng viện, một trong các linh mục kiểm tra tôi đã cảnh báo tôi: "Cẩn thận, đừng có mềm yếu. Chỉ có sự thật mới giải phóng con người. Hãy liều với sự thật hơn là với lòng thương."

Khi đã cao tuổi như lúc này, tôi ngày càng đổi hướng theo lời khuyên của vị linh mục già. Chúng ta cần liều lĩnh hơn nữa với lòng thương xót của Chúa. Không bao giờ được loại trừ vai trò của công bằng và sự thật, nhưng chúng ta phải liều mình để cho lòng thương xót vô bờ, không điều kiện, không đòi hỏi của Thiên Chúa tuôn đổ một cách tự do.

Nhưng, như các tông đồ xưa, chúng ta, với thiện hướng tốt, cứ luôn mãi cố gắng giữ một số người và một số nhóm người xa khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa được ban qua lời, qua bí tích và qua cộng đoàn. Nhưng Chúa không muốn sự bảo vệ của chúng ta. Điều Chúa muốn là, tất cả mọi người, bất kể phẩm hạnh, chính thống, thiếu chuẩn bị, tuổi tác, hay văn hóa, tất cả đều đến với dòng nước vô tận của lòng thương xót Thiên Chúa.

George Eliot đã viết: "Khi thần chết đến, chúng ta không bao giờ hối hận vì đã dịu dàng ân cần nhưng vì đã gay gắt khắc nghiệt."

Ronald Rolheiser,

J.B. Thái Hòa dịch

-------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - LA LUNG THAY! PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Aug 23 at 3:14 AM

LẠ LÙNG THAY TÌNH YÊU CỦA CHÚA

Ta cứ đấm ngực như thể ta là con người tội lỗi nhất thế gian, hay như thể đây là lần cuối cùng ta phạm tội. Đây là một kiểu kiêu ngạo đội lốt. Tự nó không giải phóng ta và cũng không mang lại cho ta chút lợi ích nào.

Nếu phải nói đến một mầu nhiệm gì đó mang tính hiện sinh liên quan đến Thiên Chúa mà mãi muôn đời con người chỉ có thể chiêm ngưỡng chứ không sao hiểu được, tôi sẽ chọn để nói về lòng thương xót của Ngài. Hãy tạm gác lại tất cả các kiểu phân tích ngữ nghĩa hay thần học, khi nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa, đơn giản tôi chỉ có ý muốn diễn tả tình yêu mà Ngài dành cho toàn thể chúng sinh, loài vật cũng như loài người, cấp độ phát triển bậc thấp cũng như bậc cao, giống vô tri cũng như loài có ý thức. Tưởng tượng về Ngài, tôi thấy hình ảnh một Đấng luôn nở nụ cười tươi, luôn trao ban, hoà nhã, thân thiện, một người có sức hút. Và điều mà tôi cho là mầu nhiệm, là điều tôi chẳng thể nào hiểu được nơi lòng thương xót của Ngài chính là: làm sao Ngài có thể luôn tha thứ, tha thứ và tha thứ hoài mãi như vậy?

Trên thế giới hàng tỷ con người này, đâu phải chỉ có một người phạm tội. Và người ta phạm tội đâu phải chỉ có một lần. Người ta cũng đâu chỉ phạm một tội. Người ta luôn phạm tội, kể từ khi có cái gọi là tội xuất hiện, con người đã không ngừng hùa theo nó. Nói bằng một ngôn ngữ bình dân, ngay từ khi khoảnh khắc đầu tiên trong sự hiện hữu của mình, con người đã luôn chống lại Thiên Chúa, từng giây từng phút, với nhiều hình thức khác nhau, nhiều cường độ khác nhau, nhiều kiểu cách khác nhau. Thiên Chúa luôn dành mọi điều tốt nhất cho con người và cái mà Ngài nhận được luôn là những sự chống đối từ đối tượng mà mình yêu thương nhất. Vậy mà Ngài vẫn tha! Lạ chưa!

Có những tội rất đỗi "nhẹ nhàng", dù có khi ta cảm thấy áy náy, nhưng rồi thời gian trôi qua, ta cũng chẳng còn bận tâm. Có những tội mà khi nghe xong, cha giải tội chỉ thấy buồn cười, chẳng cần giải thích hay khuyên nhủ gì, ngài ban phép xá giải ngay lập tức. Nhưng tội lỗi mà con người phạm phải đâu chỉ là những điều nhỏ nhặt như thế. Đọc lại lịch sử, ta thấy có vô vàn cảnh tượng vô cùng thê lương, những tình huống mà ngay cả cõi lòng của những con người tội lỗi như chúng ta cũng giận căm lên và tưởng chừng chẳng thể nào có thể tha thứ. Cảnh hàng ngàn con người giết chết nhau ngoài mặt trận. Cảnh người ta cứa cổ, tùng xẻo, cho voi đạp đầu, ném người cho thú dữ ăn, hãm hiếp phụ nữ, tàn sát con nít. Cảnh con giết cha, cảnh chồng giết vợ, cảnh gia đình vì đồng tiền mà tru diệt nhau... Và còn nhiều thảm cảnh khác nữa, ta không thấy không chứng kiến, còn Chúa, Ngài thấy hết, biết hết. Vậy mà Ngài vẫn tha!

Chúng ta thường lên án những tên khủng bố. Chúng ta thường đòi tử hình kẻ giết người hàng loạt. Chúng ta muốn loại trừ những tên bợm bãi ra khỏi cuộc sống... Đó là những phản ứng rất tự nhiên, vì chúng ta mong muốn mình và những người thân yêu được sống trong hoà bình, an lạc. Chúng căm phẫn khi công bình bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm, dù có khi những chuyện xảy ra chẳng dính dáng gì đến mình, đó là vì ta được dựng nên từ những điều tốt đẹp và để hướng về những điều tốt đẹp. Ai làm điều gì xấu xâm hại đến ta, ta nguyền rủa, muốn báo thù cho hả giận, không bằng hành động thì cũng bằng lời nói, hoặc ít ra cũng nung nấu và nảy sinh những tư tưởng không tốt về người đó trong đầu... Đó là cách hành xử của chúng ta, còn Chúa, Chúa tha thứ hết! Có nhiều khi, vì không hiểu được lòng thương xót của Ngài, nên ta còn trách Ngài sao thật dễ dãi và xem những lời dạy bảo của Ngài là chẳng thực tế tí nào! Cầu nguyện cho những tên khủng bố giết người không gớm tay sao? Làm ơn cho những người vả mình một cái đau điếng sao? Đừng quay lưng với những người vừa phản bội mình sao?

Đúng là chẳng thể nào hiểu được. Tại sao Chúa lại có một sự kiên nhẫn lớn lao như thế? Sao Chúa lại có thể lặng im mà chẳng có động thái nào giống như chúng ta? Nếu ta là Chúa, chắc là ta đã dùng quyền năng của mình mà dẹp tan hết tất cả mọi sự rồi. Nhưng may mắn thay, Chúa không phải là ta, cách Chúa nghĩ không giống như ta, con tim của Chúa không nhỏ hẹp như ta. Chúa như bờ biển dài, đón nhận hết tất cả mọi con sóng. Sóng to sóng bé, sóng lớn sóng nhỏ, dù ngày hay đêm, dù hôm qua hay hôm hay hay ngày mai, dù sóng có muôn hình vạn trạng thế nào, có hung dữ hay hiền hoà thế nào, chỉ cần sóng đổ vào, bờ biển cũng ôm trọn hết. Lòng thương xót của Chúa cũng hệt như thế. Ta thường dễ nghĩ về Thiên Chúa như một Đấng quyền năng có thể làm được mọi sự, nhưng thường rất khó để có thể cảm được rằng bên cạnh quyền năng, Ngài còn là Đấng yêu thương vô bờ bến nữa. "Yêu" và "quyền năng" đi đôi với nhau, vì khi yêu, người ta sẽ làm được mọi sự.

Vấn đề của chúng ta là nhiều khi ta không tin Chúa đã tha thứ cho mình. Ta tự kết án mình, tự cho rằng tội mình phạm quá lớn, rằng ta đã tự biến mình ra nhơ nhuốc, làm sao Chúa có thể tha thứ cho mình được. Một tấm lòng thống hối ăn năn là của lễ mà Thiên Chúa mong muốn nhất. Ta cần thống hối để được thứ tha. Nhưng thiếu niềm tin vào lòng thương xót của Chúa lại là một tội lớn khác. Thống hối ăn năn mà không tin là Chúa đã tha thứ cho mình thì chẳng khác nào tự đào hố chôn, tự đưa mình vào sâu trong bóng tối. Một sự ăn năn thống hối như thế chẳng có ý nghĩa gì, nếu không muốn nói là một điều tai hại. Ta cứ đấm ngực như thể ta là con người tội lỗi nhất thế gian, hay như thể đây là lần cuối cùng ta phạm tội. Đây là một kiểu kiêu ngạo đội lốt. Tự nó không giải phóng ta và cũng không mang lại cho ta chút lợi ích nào.

Con người có tội lỗi đến đâu cũng không thể thoát ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Con người có thần thánh đến đâu cũng không thể khiến cho Thiên Chúa không còn yêu thương mình. Chúng ta hạn hẹp, chỉ nhìn thấy được một phần nhỏ của sự việc. Còn Thiên Chúa nhìn bao quát mọi sự, thông tuệ mọi thứ. Tội lỗi của cả nhân loại từ thuở khai thiên lập địa cho đến ngày tận thế mà Thiên Chúa còn tha thứ được thì một chút nhỏ tội lỗi của ta có thấm vào đâu.

Thiết tưởng rằng, bước đầu tiên để khởi đầu con đường nhân đức chính là cảm nghiệm cho được Chúa đã yêu thương vũ trụ, nhân loại và cách riêng là bản thân ta thế nào. Khi cảm nghiệm được rồi, ta mới được tình yêu ấy thánh hoá, ta mới biết mình nên làm gì, nói gì, đi đâu, hành xử thế nào. Không biết Chúa yêu mình thế nào, thì con người cứ mãi loay hoay trong vòng xoay sự dữ.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Nguồn: dongten.net

-----------------------------------

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI - NGAI DUNG NEN TOI PDF Print E-mail

CHÚNG TA ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ LÀM GÌ?

Trần Mỹ Duyệt

Bạn thân mến,

Hôm rồi bạn trích dẫn một câu: "Chúng con được tạo dựng ra là để phụng sự Chúa, tôn vinh Chúa và phục vụ Chúa", rồi bạn phân vân tự hỏi: "Nếu vậy thì mình mất tự do quá. Hóa ra mục đích tạo dựng cũng lại chỉ cho mình cái thân phận bầy tôi, thân phận một kẻ nô lệ chỉ để phục vụ cho Đấng nào đó đã tạo dựng nên mình."

Theo tôi, có thể bạn đã đọc hay học thuộc lòng điều này qua sách giáo lý trước đây nói về mục đích tạo dựng con người. Nhưng phải hiểu là 300 năm trước khi các nhà truyền giáo Tây Ban Nha, Pháp và Ý đến Việt Nam, họ đâu biết tiếng Việt (mà tiếng Việt lúc đó cũng chưa có) nên gặp những khó khăn về ngôn ngữ. Lại nữa, theo truyền thống và văn hóa xã hội phong kiến lúc bây giờ "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ xử tử trung, tử bất trung bất hiếu" thì việc con người được tạo ra để phụng sự, tôn vinh, và phục vụ một Đấng toàn năng, hằng hữu, quyền phép vô song, luôn luôn yêu thương con người đó chẳng phải đã là một giáo lý "cách mạng", một tư tưởng "mới" trong xã hội phong kiến thời bấy giờ sao? Vì ai mà bằng Chúa cả trời đất! Ai được cao vinh quyền năng như Thiên Chúa. Ai thương yêu, che chở và phù hộ con người như Ngài. Do đó mà lối diễn tả mục đích tạo dựng bằng ngôn ngữ bình dân, bằng quan niệm bình dân của xã hội đương thời, tôi cho là không xúc phạm hoặc giới hạn tự do của con người.

Ngày nay, giáo lý ấy phải được trình bày như thế này: "Thiên Chúa dựng nên ta vì sự thánh thiện của Ngài, và để chia sẻ với chúng ta hạnh phúc viên mãn của Ngài trên thiên đàng" (God made us to show forth His goodness and to share with us His everlasting happiness in heaven). *

Và qua đó, vấn đề phải được nhìn dưới 3 khía cạnh: Thiên Chúa tạo dựng con người. Thiên Chúa tạo dựng con người vì sự thánh thiện của Ngài. Và tạo dựng nên con người để con người chia sẻ hạnh phúc viên mãn của Ngài.

-Chúa tạo dựng con người: Việc này thánh Augustine (354-430) đã có câu trả lời rất rõ ràng: "Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến ai". Bởi nguyên một việc đưa ta từ hư vô ra hiện hữu đã là một ân huệ của Ngài. Theo triết học thì có bao giờ cũng hơn không có. Có 1$ chắc chắn hơn không có đồng nào. Không những chỉ tạo dựng, mà theo thánh Thomas Aquinas (1225-1274), "nếu có giây phút nào Thiên Chúa quên không nhớ đến ta, thì lập tức giây phút đó ta trở về hư vô ngay".

-Tạo dựng con người vì sự thánh thiện của Ngài: Vẫn theo giáo lý vừa trích dẫn, thì Thiên Chúa cần làm thế để tỏ ra vinh quang và sự thánh thiện của Ngài. Ngài không chỉ tạo dựng nên con người mà còn tạo dựng cả trời đất, vũ trụ, trăng sao, muôn loài, muôn vật... Tất cả vì uy danh Ngài. Còn riêng con người, Ngài tạo dựng nên vì tình thương của Ngài. "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Gioan 4:8), một tình yêu viên mãn và chia sẻ.

- Chia sẻ hạnh phúc viên mãn: Hai hành động trên, Thiên Chúa làm vì tình yêu và vì sự thánh thiện tuyệt đối của Ngài. Nhưng đến phần chia sẻ hạnh phúc với Ngài, Ngài mong muốn có sự cộng tác của mỗi chúng ta.

Cũng Thánh Augustine, mặc dù Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến ta khi Ngài tạo dựng nên ta, "nhưng để cứu độ ta, Ngài cần có sự cộng tác của ta". Nói một cách dễ hiểu là để lên Thiên Đàng, để hưởng hạnh phúc đời đời với Ngài, chúng ta cũng cần phải có một cái gì đó gọi là thiện chí, là cố gắng. Trong cái nhìn này, Ngài cũng chứng tỏ rằng Ngài luôn luôn tôn trọng tự do, và công bằng trong sự đóng góp của chúng ta. Ai cố gắng nhiều, thưởng nhiều. Ai cố gắng ít, thưởng ít. Ai không cố gắng, sẽ không có thưởng.

Vì hạnh phúc nước Trời, Thiên Đàng là một phần thưởng chứ không phải của cho không. Thiên Chúa tạo dựng con người, cứu độ con người. Nguồn ơn sủng bao la ấy có sẵn như khí trời, như nước biển, nước sông bao la. Nhưng nếu có ai đó "chán" không muốn thở, hoặc "lười" không muốn uống thì người đó đành phải chết. Chúa là Đấng Công Bằng, Công Minh tuyệt đối nên Ngài sẽ không bao giờ xử bất công với bất cứ ai về bất cứ điều gì. Ngài không tóm cổ Satan, bọn quỉ thần, và những kẻ gian ác rồi bỏ chúng xuống hỏa ngục. Cũng vậy, Ngài không bao giờ cưỡng bức một ai lên Thiên Đàng với Ngài. Tất cả đều là "tự do" chọn lựa. Tự do lên hay tự do xuống. Vì tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta, nên Ngài luôn luôn tôn trọng mọi quyết định của chúng ta.

Như vậy việc "phụng sự Chúa, tôn vinh Chúa và phục vụ Chúa" có làm chúng ta mất tự do không? Thiên Chúa có đầy đủ vinh quang từ muôn thuở, tất cả những việc chúng ta làm và mọi thánh nhân, hiền nhân, những người thiện tâm, thiện chí làm đều không thêm bớt gì cho vinh quang và hạnh phúc của Ngài. Nhưng những tạo vật như chúng ta tại sao lại không ca tụng, và tôn vinh một Thượng Đế như Ngài - là Thiên Chúa và cũng là cha chúng ta: "Lạy Cha chúng con ở trên trời" (Kinh Lạy Cha).

Vậy cái mà ta gọi là phục vụ Thiên Chúa thật ra là những hành động bác ái, những cử chỉ yêu thương mà ta cần phải làm đối với cận thân, với anh chị em của chúng ta là những người mang hình ảnh Ngài, là những người cũng như chúng ta được tạo dựng để chia sẻ hạnh phúc trường sinh với Ngài. Trong ngày chung thẩm, quan án chí công (Chúa Giêsu) nói với những người lành: "Khi các con làm những việc ấy cho một người nhỏ nhất trong anh em ta đây, là các con đã làm cho chính ta." (Mat 25:40)

Đã là những hành động do tình yêu, do tình thương mến thì không thể gọi là những hành động cưỡng bức, mất tự do. Nếu vợ hay chồng chúng ta mà nghe chúng ta nói: "Tôi làm việc này là do ông, do bà muốn, do ông hay bà đòi hỏi, tôi không thích, tôi cảm thấy bị ép buộc, bị cưỡng bức..." Hoặc có người con nào nói với cha mẹ mình: "Ông bà làm phiền tôi quá. Ông bà không biết tôi rất bận rộn không? Tại sao lại đòi hỏi tôi việc này, việc khác?" chắc chắn những người này sẽ không vui.

Tóm lại, ơn được sinh ra làm người. Ơn được làm con Chúa. Và ơn được "phục vụ" Chúa là những ơn mà chúng ta phải cảm tạ hồng ân mọi ngày trong đời sống. Thử hỏi nếu Chúa không thương, không yêu, không nghĩ đến ta thì trước đây 100 năm, 200 năm, hoặc từ rất xa xưa chúng ta ở đâu? Vậy chỉ còn lâng lâng niềm cảm mến để mỗi ngày hát dâng lên Ngài lời ca tri ân:

"Đến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa.

Đến muôn đời con ngượi khen danh Chúa.

Muôn muôn đời con ca vang tình thương Chúa.

Và mãi mãi con nhớ công ơn Ngài".

TLVĐ CHUYỂN

____________

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 50