mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay827
mod_vvisit_counterHôm Qua11420
mod_vvisit_counterTuần Này36792
mod_vvisit_counterTuần Trước42573
mod_vvisit_counterTháng Này142160
mod_vvisit_counterTháng Trước198792
mod_vvisit_counterTất cả9405254

We have: 93 guests online
Your IP: 54.167.250.64
 , 
Today: Oct 20, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Sống Tỉnh Thức
SONG TINH THUC # 294 = CO LUNG THANH LUA PDF Print E-mail

Chúa Nhật XVI Thường Niên A
BA DỤ NGÔN - HÌNH ẢNH KIẾP NHÂN SINH
Kn 12,13.16-19; Rm 8,26-27; Mt 13,24-43
Trong dụ ngôn thứ nhất, cùng với lúa, có sự hiện hữu của cỏ lùng, "cỏ lùng" là một loại cỏ dại gọi là darnel. Loại cỏ dại này rất là giống cây lúa khi mới mọc lên, nên rất khó phân biệt với lúa. Chỉ khi trổ bông thì mới khác với lúa, lúc đó thì rễ của cỏ và lúa đã quấn với nhau nên không thể nhổ một mình cỏ được. Hạt cỏ thì lại độc không ăn được.
Tâm hồn chúng ta được trình bày bằng hình ảnh thửa ruộng. Một thửa ruộng có lúa tốt xanh tươi nhưng cũng hiện hữu cỏ lùng phát triển không kém tựa lúa xanh và có khi nhìn thấy giống nhau. Dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong cùng thửa ruộng nói về thân phận con người luôn mang trong mình những cuộc đấu tranh giữa tốt và xấu, giữa chọn Thiên Chúa và chọn đối nghịch với Ngài. Một cuộc tranh đấu không ngừng, chỉ chấm dứt, phân thắng bại khi kết thúc đời người ở trần gian...
Trong cuộc sống nhân sinh, nếu Thiên Chúa nhổ cỏ lùng - tiêu diệt sự ác, thì chắc chắn không ai trong chúng ta có thể sống sót, bởi vì như lời Thánh Vịnh đã diễn tả: "Từ trong lòng mẹ, tôi đã là tội nhân, thoạt sinh ra, tôi đã mắc tội rồi" (Tv 51,7). Tình thương thì nhẫn nại, nên Thiên Chúa luôn chờ đợi thiện chí hoán cải của từng người, đồng thời Ngài còn ban ơn nâng đỡ họ trên mọi bước đường đời, để lúa thêm xanh tốt và lan toả, triệt hạ cỏ lùng để rồi cuối cùng, ngày thầm phán mới tới, ngày xét xử tuyệt đối công mình và không ai có thể trách cứ Ngài là đã không dủ lòng thương xót. Từ ý nghĩa của dụ ngôn, tôi, bạn nhìn vào cuộc đời mình, và thấy rõ ràng nơi chúng ta một cuộc đời luôn hiện hữu những tâm tình tốt lành, những việc làm thánh thiện nở hoa, nhưng cũng chính con người tôi cũng không ít những ích kỷ nhỏ nhen, những hành động mang sắc thái của cỏ lùng...

Có những tật xấu khiếm khuyết làm ta rất khổ sở dù đã làm đủ cách như người thợ xin chủ vườn, "nhổ tận gốc cỏ lùng", nhưng nó vẫn cứ hiện hữu trong cuộc đời ta, xin đừng thất vọng mà hãy kiên tâm nỗ lực sống, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi, Ngài đã sai Con của Ngài đến không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ tin vào Người Con ấy mà được cứu độ (Ga 3,17-18).Chính vì tin vào thiện chí và lòng hướng thượng của những kẻ gian ác mà vị chủ ruộng (tức Thiên Chúa) đã trì hoãn việc nhổ cỏ lùng ngay, vì Ngài chẳng muốn nhổ lầm những mầm lúa tốt trong tâm hồn những kẻ ác (x. Mt 13,29).
Dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong cùng thửa ruộng, cũng cắt nghĩa được sự thiện và sự ác giữa cuộc sống hàng ngày, chấp nhận sống trong một thế giới mà nơi nào cũng có kẻ tốt người xấu tựa lúa và cỏ lùng như ánh sáng và bóng tối luôn xen kẽ nhau trong cuộc sống, Thánh Gioan đã chỉ sự đối lập giữa con cái ánh sáng và con cái bóng tối (x. Ga 1). Thật thế, nhìn vào thế giới, chúng ta sẽ thấy có những ánh sáng, lúa là lòng yêu thương, bác ái, nhân hậu, từ bi, quan tâm giúp người. Nhưng cũng hiện hữu của cỏ lùng - bóng tối là ích kỷ, hận thù.

Thế giới có ánh sáng là khiêm nhường, hiền lành như Chúa Giêsu dạy, nhưng cũng xuất hiện bóng tối là kiêu căng, tự mãn, coi thường tất cả. Có ánh sáng là điều độ, siêu thoát, có bóng tối là tham sân si, chạy theo lạc thú, ham của cải, yêu chức quyền, địa vị. Có hiện hữu ánh sáng là công lý và hoà bình, có bóng tối là bất công, khủng bố và chiến tranh... Chúa Giêsu khẳng định nhiệm vụ của người tin và theo Chúa: "Chúng con là ánh sáng thế gian" (Mt 5,14), và "Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng" (Ga 1,5).
Dụ ngôn "cỏ lùng và lúa" không kết thúc bằng hình ảnh bi quan của "cỏ lùng hoành hành" hay của "lửa thiêu vào mùa gặt". Cỏ lùng sẽ được tận diệt và cánh đồng lúa luôn được tăng trưởng trong thửa ruộng con người, nếu để niềm tin được nuôi dưỡng và tăng trưởng và để đức ái được dậy men như hai dụ ngôn ngắn gọn về hạt cải (x. Mt 13, 31-32) và men trong bột (x. Mt 13, 33) kế tiếp. Hai dụ ngôn này mở ra một cái nhìn rất lạc quan về thực tại Nước Trời nơi tâm hồn của kiếp nhân sinh được Thiên Chúa cứu độ: Nếu có niềm tin dù nhỏ bé và ít ỏi, nhưng một khi vượt qua được những trở ngại để vươn lên, hạt cải Nước Trời sẽ trở thành một cây lớn, làm chỗ nương tựa cho cuộc sống, niềm tin này giúp con người luôn vươn lên phát triển tâm linh và cuộc sống dù bản thân mình đang bị cỏ lùng chiếm hữu; hạt giống đức tin có những khả năng không ngờ: Khi được gieo xuống đất, hạt giống bé tí xíu nó mọc lên thành một cây to.


Cỏ lùng dù còn hiện hữu trong tâm chúng ta, nhưng nếu luôn nuôi dưỡng niềm tin và lòng mến dậy men, tôi và bạn sẽ cảm nghiệm được tâm tình của Thánh Phaolô: "Tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý " (1Tm 2,4).
Thật thế, nếu con có đức tin lớn mạnh và đức mến dậy men, tâm hồn con sẽ diệt được cỏ lùng.

Lm. Vinh Sơn

 
SONG TINH THUC # 293 = GA GAY VA NGA NGUA PDF Print E-mail

GÀ GÁY VÀ NGÃ NGỰA!
Gà gáy và ngã ngựa là hai sự kiện nổi bật trong cuộc đời hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Tiếng gà gáy để phản tỉnh. Cú ngã ngựa để hết tự mãn. Phêrô và Phaolô, trước khi là thánh, hai vị cũng là người tội lỗi, yếu đuối, chập choạng trên con đường đức tin. Các ngài có một quá khứ lầm lỗi. Phêrô có lần bị Chúa quở là satan; ông đã ba lần chối Thầy. Phaolô đã năm lần bảy lượt đi lùng bắt và giết chết những ai mang danh Kitô hữu; ông đã can dự vào việc ném đá Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội. Cả hai đều hăng say năng nổ, muốn dùng sức lực của mình và phương tiện thế gian để bảo vệ Chúa mình tôn thờ, và muốn tiêu diệt những kẻ không theo đạo giống mình. Chúa Giêsu đã cứu cả hai, mỗi người được cứu một cách. Tiếng gà gáy và cú ngã ngựa là hai dấu ấn không phai trên hành trình nên thánh.

1. Tiếng gà gáy phản tỉnh
Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô. Ánh mắt Thầy vẫn trìu mến thân thương như gởi đến ông sứ điệp: Phêrô, sao con lại chối Ta. Ơn nghĩa Thầy trò ba năm gắn bó chẳng lẽ không còn một chút vương vấn hay sao? Lại thêm tiếng gà gáy đêm khuya, nhắc nhở lương tâm ông tỉnh ngộ và nhớ lại lời Thầy đã tiên báo: "Trước khi gà gáy, con đã chối Ta ba lần." Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, cõi lòng xốn xang, mình chỉ là cát bụi, phận yếu hèn và quá dễ sa ngã! Phêrô thổn thức. Mới hôm nào ông còn tuyên bố: "Dù mọi người bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ." Thế mà, giờ đây ông lại nhát gan khi đối diện nguy nan nên đã chối Thầy đến ba lần. Và đêm hôm ấy, tiếng gà gáy đã thức tỉnh tâm hồn Phêrô. Xuất thân là ngư phủ với bản tính chất phác, chân thật, có sao nói vậy, nên khi lầm lỗi ngài chân thành sám hối và òa khóc như một đứa trẻ. Đó là hành trình của phàm nhân, những con người luôn mỏng dòn và yếu đuối, nhưng luôn được Thiên Chúa hải hà thương xót, thứ tha và thánh hóa. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mãnh, giữa trọn vẹn và dang dở. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Tuy nhiên, thánh Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tầm thường nơi con người của ngài. Nhờ đó, ngài đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa. Thánh Phêrô có lòng quảng đại. Khi được Chúa gọi, ông nhanh nhẹn bỏ tất cả mọi sự rồi theo Chúa.

2. Cú ngã ngựa để hết tự mãn
Saolô ở Tacxô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái-Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Là biệt phái nhiệt thành nên Saolô đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Stêphanô và trên đường Đamat truy lùng các Kitô hữu. Oai phong trên yên ngựa đang phi nước đại, thình lình, một luồng ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông, Saolô té nhào từ yên ngựa. Nằm sóng soài dưới chân ngựa, Saolô nghe được tiếng gọi trong luồng ánh sáng phát ra từ trời: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Saolô hỏi lại: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Tiếng từ trời đáp: ��Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ." Không thể tin vào chính mình nữa, không ngờ ông Giêsu Nadarét, người đã bị đóng đinh vào thập giá như một tên tội phạm, lại chính là Thiên Chúa quyền năng đã quật ngã mình và đã tự đồng hóa với những Kitô hữu mà mình đang lùng bắt. Dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh, đôi mắt của Saolô bị mù loà, nhờ đó ngài biết rằng trước đây mình thật là mù quáng. Nhưng sau đó, qua trung gian của Khanania, đại diện của Giáo Hội, ngài đã được sáng mắt về phần xác và cả phần hồn để nhìn thấy con đường mình được mời gọi bước vào..................

Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Cùng chịu tử đạo. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Vì Sao Sáng được Giáo hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6. Hai Tông Đồ cột trụ đã trở nên tượng đài của sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hiệp nhất là một công trình ��ược xây dựng với nhiều nỗ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. "Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả," đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM  HÀNH ĐỘNG : Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô, hoạt động truyền giáo theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, hai Thánh Tông đồ trở nên nền tảng hiệp nhất. Hai ngài trở thành chói sáng như hai vì sao trong vòm trời Giáo Hội, đáng được các tín hữu chiêm ngắm noi theo. Hai ngài đã biết khiêm tốn, nhận mình là thấp hèn tội lỗi rồi mở tâm hồn ra đón nhận tình thương của Thiên Chúa. Khi trả lời câu phỏng vấn: "Jorge Bergoglio là ai?", Đức Thánh cha Phanxicô đáp: "Tôi là người tội lỗi được Chúa nhìn đến." Và ngài tuyên bố: "Chính tôi là người tội lỗi đây, có gì lạ đâu! Cái lạ là ở chỗ được Chúa nhìn đến, được Chúa xót thương. Và từ đó người ta tìm xem Chúa xót thương ở chỗ nào."

Xin hai Thánh Tông Đồ giúp chúng con luôn biết tín thác vào tình thương của Chúa, luôn biết tiến bước theo các ngài trên con đường theo Chúa. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
--------------------------------------

 
SONG TINH THUC # 292 =NHUNG TUONG THUAT VE FATIMA PDF Print E-mail

Tất cả các tường thuật về Fatima chỉ là rác rưởi nếu chúng ta không dám nói rằng hỏa ngục là có thật.
Đặng Tự Do5/15/2017

Stephen Bullivant Giáo sư Thần Học tại St. Mary's University, Twickenham. - Catholic Herald

Ngày 13 tháng 7, 1917, Đức Mẹ đã cảnh báo ba trẻ mục đồng tại Fatima rằng nếu thế giới không ăn năn, và hoán cải thì cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất sẽ được tiếp nối bằng một cuộc chiến tranh thứ hai còn kinh hoàng hơn nữa. Điều này sẽ được báo trước bởi một "dấu hiệu vĩ đại" trên bầu trời. Nhìn lại, nhiều người quả quyết là dấu hiệu vĩ đại này chính là hiện tượng nhật thực vào tháng Giêng năm 1938.

Đức Mẹ đã yêu cầu nước Nga phải được thánh hiến cho Trái tim Vô Nhiễm Nguyên tội của Mẹ và các ngày thứ Bảy đầu tháng phải được dành cho việc rước lễ đền tạ. Nếu nhân loại đáp ứng lời kêu gọi của Mẹ, nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ có hòa bình. Nếu không, nước Nga sẽ truyền bá những thuyết sai lầm trên toàn thế giới, sẽ gây ra nhiều cuộc chiến tranh và bách hại Giáo Hội. Kẻ lành sẽ chịu tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ, nhiều quốc gia sẽ bị hủy diệt. Nhưng sau cùng, Trái tim Mẹ sẽ toàn thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng nước Nga cho Mẹ. Nước Nga sẽ trở lại và nhân loại sẽ được Chúa ban cho một thời hòa bình.

Đối với những người đón nhận sứ điệp Fatima một cách nghiêm túc, đây là một trường hợp rất rõ ràng về một lời tiên tri đã trở thành hiện thực một cách nhãn tiền. Vì những yêu cầu của Đức Mẹ đã không được chú ý, nước Nga thực sự đã truyền bá ảnh hưởng của nó trên toàn thế giới, gây ra chiến tranh, bắt bớ và tử đạo trên quy mô rộng lớn, cùng với sự hủy diệt của nhiều quốc gia.

Đứng trước thực tại đó, các vị Giáo Hoàng đã nhiều lần dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, mặc dù đôi khi kín đáo, vì các nhạy cảm chính trị và ngoại giao. Tuy nhiên, chính chị Lucia đã xác nhận rằng hành động đó đã thực sự được thực hiện.

Và đúng như lời Đức Mẹ nói nước Nga đã trở lại. Tôn giáo được hồi sinh tại quốc gia này. Và mặc dù mong manh, thế giới sau năm 1991 đã thực sự hưởng được một giai đoạn hòa bình.

Nhiều người Công Giáo thích nói về biến cố nước Nga trở lại này. Tuy nhiên, cũng vào ngày 13 tháng 7 năm 1917, Đức Mẹ còn nói về một điều còn quan trọng hơn gấp bội phần. Đó là hỏa ngục. Không những nói, Đức Mẹ còn cho 3 trẻ mục đồng được thị kiến về hỏa ngục. Sơ Lucia cho biết như sau: "Thị kiến đó chỉ kéo dài trong một lát... Nếu không, tôi nghĩ chúng tôi sẽ chết vì sợ hãi."

Ngày nay, người ta né tránh không muốn nói về hỏa ngục, đặc biệt là theo những cách thức mà sơ Lucia đã kể lại trong hồi ký của mình. Trong một cuốn sách về thần học, một thần học gia Công Giáo quả quyết rằng không hề có hoả ngục vì theo ông "nói cho cùng, ý tưởng về hoả ngục không xứng đáng với Chúa Giêsu".

Điều rắc rối là, chính Chúa Giêsu không đồng ý với nhà thần học này. Mô tả của chính Chúa, rất là cụ thể. Khi Đức Mẹ Fatima nói về "những ngọn lửa hỏa ngục", Mẹ chỉ đơn giản lặp lại những hình ảnh đã được chính Con Mẹ thường xuyên sử dụng.

"Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt." (Mc 9:43).

"Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng." (Mt 13:42)

"Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng." (Mt 13:49-50)

"Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: 'Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó.'" (Mt 25:41)

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã quở trách những người yêu cầu "một dấu hiệu từ trời" (Mc 8:11) với nhận xét rằng "chỉ có một thế hệ gian ác và tà dâm" (Mt 12:39) mới cần một dấu lạ như vậy.

Khi QUÝ VỊ cử hành kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, QUÝ VỊ có thể suy nghĩ – dù không thoải mái - về câu hỏi: liệu thế giới hiện đại này còn cần thêm những dấu chỉ nào nữa khi không phải chỉ một dấu hiệu, mà là cơ man những dấu chỉ từ trời như thế đã xảy ra?
------------------------------

 
SONG TINH THUC # 291= NAM 2017-BIEN CO TRONG ĐẠI PDF Print E-mail

> Nhân dịp khai mạc tháng hoa Mẹ, xin chia sẻ với em, để chúng ta cầu nguyện cho nhau và siêng năng lần hạt Mân côi ....là cách thức sống niềm vui Tin mừng.

> 1917 = 100 NĂM FATIMA - Năm 2017 biến cố trọng đại
>
> Tôi đã viết trong một số bài viết giải thích, tại sao năm 2017 sẽ là một năm quan trọng. Tôi cho rằng đó hoặc sẽ là một năm đầy tràn các ân phúc kín đáo, ẩn tàng, hoặc sẽ là một năm của những điều gây sững sờ và chỉ sau này người ta mới hiểu ra đó là một ân phúc. Đã 100 năm sau các cuộc hiện ra (của Đức Mẹ) tại Fatima, và 500 năm sau cuộc cách mạnh Tin Lành.

Năm 1517, cuộc cách mạng gây ra một tác động lớn lao, rúng động cho Giáo hội. Cũng như thế, với các cuộc hiện ra năm 1917, khi Đức Mẹ cảnh báo những đau khổ lớn lao nếu chúng không cầu nguyện và ăn năn sám hối. Xem ra Chúa đã để xảy ra (chứ không gây ra) những điều này như một lời cảnh tỉnh, cảnh cáo để người ta phải ăn năn sám hối, và như một cuộc thanh luyện nữa.
>
> 100 năm qua chứng kiến những cuộc chiến kinh hoàng, số người chết lên đến hàng trăm triệu, những cuộc chiến do xung khắc ý thức hệ, nạn phá thai bắt buộc, sự hư hoại, xuống cấp trong đời sống hôn nhân gia đình, các tệ nạn, lệch lạc tình dục, và sự trỗi dậy của văn hóa sự chết (đòi quyền chết và quyền giết người). Quả vậy, thế giới Kitô giáo Tây phương chính thức tới hồi sụp đổ: đức tin hời hợt, tạp nham, số người tham dự thánh lễ ít ỏi, và sự bùng phát của tâm thức thế tục luận hiếu chiến (militant secularism). Chẳng ai có thể phủ nhận rằng, Giáo hội, đặc biệt là tại Tây phương trù phú, đang bị công kích. Chúng ta đã chọn nhắm mắt bịt tai, chúng ta đã chọn thỏa hiệp hết lần này đến lần khác. Ai trong chúng ta có thể chối bỏ rằng, chúng ta cần một canh tân mới?
>
> Có hai lời tiên báo quan trọng cảnh báo chúng ta về những sự kiện sẽ xảy ra nếu chúng ta không ăn năn hối cải. Quả vậy, Kinh thánh chép, "Vì ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng không làm điều gì mà không bày tỏ kế hoạch của Người cho các ngôn sứ, tôi tớ của Người được biết" (Am 3,7). Và đang khi nhiều cuộc hiện ra (thị hiện) xảy ra (một số được công nhận nhận, một số chưa được công nhận), có hai sự kiện nổi bật sau đây đã xả ra:
>
> Sự kiện thứ nhất, tương truyền, vào năm 1884 ĐTC Lê-ô XIII có một thị kiến, trong đó Chúa cho ngài biết, sẽ có 100 năm Giáo hội bị thử thách như kiểu thử thách của ông Gióp vậy. Do đó, ĐTC Lê-ô đã soạn ra kinh nổi tiếng là Kinh Thánh Thiên Sứ Michael, và cho đọc vào cuối các thánh lễ trong Giáo hội toàn cầu. Một số người hoài nghi về tính xác thực của câu chuyện này, và cho rằng đó đơn thuần chỉ là một truyền thuyết, thế nhưng khó có thể phủ nhận sự kiện rằng, Giáo hội đã thực sự bị công kích. Nhưng, khoảng thời gian 100 năm đó là khoảng thời gian nào? Câu hỏi này dẫn chúng ta đến...
>
> Sự kiện thứ hai, năm 1917, Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, nước Bồ Đào Nha với ba trẻ nhỏ: Giaxinta, Francesco và Lucia. Đức Mẹ cho biết Thế Chiến Thứ Nhất sẽ sớm kết thúc, đây là cuộc thế chiến có sử dụng các loại vũ khí hóa học với sức hủy diệt khủng khiếp, và một hiệp ước quốc tế sẽ được ký kết nhằm ngăn chặn việc sử dụng nó. Tuy nhiên, Mẹ cũng cảnh báo rằng, một cuộc chiến còn thảm khốc hơn sẽ xảy ra nếu người ta không biết ăn năn sám hối và cầu nguyện. Đức Mẹ cũng cho biết, sau chiến quốc, nước Nga sẽ làm lây lan, làm cho lan tràn những sai lầm, ngu dốt tai hại của chủ thuyết vô thần và chủ thuyết duy vật, đưa tới những đau khổ lớn lao cho Giáo hội và nhiều tín hữu. Mẹ cũng báo trước rằng, sau trót sẽ có một điềm báo bằng ánh sáng trên bầu trời ngay trước khi xảy ra cuộc chiến mới này.
>
> Như một bảo chứng cho lời phán ra, Đức Mẹ hứa một phép lạ trong lần hiện ra sau trót của Mẹ. Ngày 13 Tháng Mười 1917, xảy ra phép lạ "Mặt trời múa nhảy", 70.000 người chứng kiến tận mắt, mặt trời múa nhảy trên bầu trời và lao về phía trái đất.
>
> Tháng 01 năm 1938, chòm sao Xử Nữ chiếu sáng lệch hẳn về hướng Nam trệch hẳn so với quỹ đạo bình thường của nó; báo chí trên toàn thế giới có tường thuật về sự kiện này. Tiếp đó trong cùng năm, Đức tấn công Czechoslovakia, và năm 1939, Ba Lan bị xâm lược; Thế Chiến II leo thang, như một hệ quả do bởi việc người ta không ăn năn hối cải.
>
>
> Nhiều điều xảy ra khiến tôi linh cảm rằng, năm 2017 sẽ là một năm quyết định, quyết liệt, và rằng, chúng ta phải cầu nguyện thật nhiều, cầu nguyện nhiều hơn nữa, hơn so với những năm tháng đã qua. Ăn năn sám hối, hoán cải đời sống là việc cấp bách hơn bao giờ hết. Ngủ quên giữa lúc trận chiến đang hồi quyết liệt thật chẳng phải là một chọn lựa hay ho. Chúng ta đang ở vào một khúc quanh quyết liệt, một khúc quanh mang tính quyết định. Có lẽ hàng trăm năm thử thách, thử luyện đang vào hồi kết của nó; có thể nó sẽ kết thúc một cách tốt đẹp, hoặc cũng có thể nó sẽ kết thúc một cách tang thương, dư họa khôn lường. Và thế nên, chúng ta phải cầu nguyện.
>
>SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Những việc cầu nguyện chung không làm sao nhãng các việc cầu nguyện riêng, nhưng giúp cho lời cầu nguyện riêng tư thêm thiết tha hơn. Lần chuỗi Mân Côi, đọc kinh Truyền Tin, lần chuỗi Lòng Thương Xót... phải chăng đấy là việc mà bạn cũng có thể làm? Có phải có những thứ tội mà bạn phải dồn sức chú tâm mới tránh được? Có phải có những thú vui chánh đáng mà bạn có thể kềm hãm được?
>
> Vậy bạn sẽ chọn thực thi điều nào đây? Đây là thời khắc quyết định; tôi mong muốn là bạn sẽ chọn cho mình đôi ba điều tốt lành để thực hiện trong năm nay. Bạn sẽ cùng tôi dâng lên những lời cầu nguyện thật thiết tha trong năm đặc biệt này, năm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima chứ?
>
> Đức ông Charles Pope
> Chuyển dịch: Truyền thông Đa Minh
> http://www.ncregister.com
--------------------------------------------

 
SONG TINH THUC # 290= TAM SU CUA 1 CUU LINH MUC PDF Print E-mail

SUY TƯ MÙA CHAY

Lời Cảnh Báo Đáng Suy Tư: Tâm Sự Của Một Cựu Linh Mục

TS Duyet chuyển

Trên tờ Records của giáo phận Perth, Australia, có đăng lời tâm sự của một cựu linh mục, một nhà thần học sau gần 20 năm trong thiên chức linh mục, nay đã hoàn tục. Bài tâm sự này là một lời cảnh báo cho tất cả chúng ta không nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện hằng ngày.

"Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô. Tôi xác quyết rằng dù sống hay dù chết, dù tù đày, bắt bớ, dù khốn cùng, quẫn bách. Không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Kitô".(ROMA 8, 38-39)

Tôi đã nhiều lần gân cổ, mặt đanh lại khi hát những câu hát trên. Cứ tưởng như là chỉ cần gào to lên như vậy thì tôi sẽ đời đời sống trong lòng mến của Thiên Chúa. Thật ra, cũng không hoàn toàn là vô lý. Thật sự, đúng là tù đày, bắt bớ, khốn cùng, quẫn bách đã không tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. Nhưng, đơn giản là vì những thứ ấy không xảy ra trên đất nước tự do này. Ai dám bỏ tù tôi, ai dám kỳ thị tôi, ngược đãi tôi vì tôi là người Công giáo, tôi kiện lên họ tới Tối Cao Pháp Viện chứ chơi à.

Tuy nhiên, đã có một thứ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn đã không chỉ tách tôi mà thực sự là "bứng" tôi hoàn toàn khỏi lòng mến của Thiên Chúa: một đời sống bận rộn và thiếu sự cầu nguyện.

Năm 1972, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở Rôma, tôi đã nổi như cồn với tác phẩm đầu tay "Tiếng thở dài". Cuốn sách trình bày những suy tư thần học về ý nghĩa của sự đau khổ trong kiếp nhân sinh này, đã được bề trên, các linh mục và anh chị em giáo dân đón nhận nhiệt liệt. Có những người viết thư cho tôi cho biết họ tìm lại được đức tin sau khi đọc cuốn sách đó. Họ tìm lại được lòng trông cậy vào Chúa và khen nức nở các ý kiến của tôi. Mỗi khi có chuyện không như ý, theo lời khuyên trong cuốn sách, họ cầu nguyện với Chúa: "Lạy Chúa, con biết Chúa hằng yêu thương con. Con phó thác mọi sự trong tay Chúa. Nhưng, lạy Chúa, qua chuyện không vui này, Chúa muốn nói với con điều gì ? "

Khốn nạn thân tôi, trong khi khuyên người ta cầu nguyện, tôi càng ngày càng ít dành thời gian cho việc cầu nguyện. Tôi miệt mài trong các thư viện, cố viết hay hơn nữa, nhiều hơn nữa. Tôi tưởng tôi đã gặp được Chúa trong những suy tư thần học, cho nên tôi xao lãng đời sống cầu nguyện, tôi đã không thực hành chính những điều tôi nói và viết hằng ngày trên bục giảng và trong các tác phẩm của tôi. Có lẽ, tôi đã cho rằng cầu nguyện chỉ là hình thức cấp thấp dành cho những người bình dân. Siêu đẳng như tôi thì không cần. Càng ngày tôi cũng càng ít có giờ cho giáo dân và càng ngày tôi càng bướng bỉnh và kiêu căng với các đấng bề trên. Chuyện gì đến cũng đã đến. Tôi không muốn sa vào những phân tích vụn vặt. Điều tôi muốn nói với các bạn sau nhiều năm suy tư, sau những đêm dài không ngủ và trong sự hối tiếc chân thành của tôi là sự thật đơn giản này: Những hiểu biết sâu hơn về Thiên Chúa, nhiều hơn về Thiên Chúa không giúp giữ tôi trong lòng mến của Ngài. Chính đời sống cầu nguyện đơn sơ mà mẹ tôi tập cho tôi từ ngày còn bé mới giữ tôi lại trong tình yêu thương của Thiên Chúa.

Chẳng vậy, mà trong Phúc âm biết bao nhiêu lần chúng ta gặp câu này:

Chính Chúa Con mỗi ngày còn cần đến sự cầu nguyện ở nơi thanh vắng để hiểu được ý Chúa Cha. Chúng ta là ai, tư cách gì, mà đòi có thể biết được ý Chúa qua trí khôn, qua sự xét đoán nông cạn của mình trong cái náo nhiệt, bận rộn của cuộc sống quay cuồng chung quanh.

Chẳng vậy, tất cả các lần Đức Mẹ hiện ra, Mẹ đã không nói gì nhiều hơn là lặp lại tiếng kêu gọi khẩn cấp hãy cầu nguyện đó sao. Chúng ta cũng nhìn thấy điều này nơi các Thánh mà chúng ta hằng tôn kính. Chính sự cầu nguyện đã giúp các Ngài nên Thánh.

Tôi đặc biệt mong muốn lặp lại ở đây những điều Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 đã viết trong cuốn "Bước qua ngưỡng cửa hy vọng" :

"Việc cầu nguyện vừa là tìm tòi Thiên Chúa, vừa là mặc khải Thiên Chúa. Nơi việc cầu nguyện của ta, Thiên Chúa tỏ rõ Ngài là Đấng Sáng Tạo và là Cha, là Đấng Cứu Chuộc và là Chúa Cứu Thế, là Thần Khí "dò thấu mọi sự, cả đến những gì sâu xa nhất của Thiên Chúa" (1 Cr 2, 10), cũng như dò thấu những gì bí mật của tâm hồn. Trong việc cầu nguyện, trước hết, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là tình thương xót, nghĩa là một Tình yêu đi tới gặp con người đau khổ. Tình yêu này nâng đỡ, vực dậy và mời gọi chúng ta hãy tin tưởng".

Trên tất cả mọi sự, tôi nhận rõ rằng chính việc thiếu một đời sống cầu nguyện đã giết chết ơn gọi Linh mục trong tôi.

Lời bàn: Những lời cảnh báo này thật đáng suy nghĩ. Bao nhiêu lần tôi đi dự lễ ngày Chúa Nhật mà chỉ mong cha làm cho nhanh nhanh để tôi về còn lo làm chuyện khác. Tôi có chuyện gì đáng lo hơn là phần rỗi linh hồn của tôi.

Tôi có một công việc rồi, còn muốn kiếm thêm một công việc nữa đến nỗi không còn có giờ cầu nguyện nữa. Sống như điên, cày như điên như thế có phải là cuộc sống được chúc phúc không ???

https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif

----------------------------------

"CÓ NHIỀU NHÀ THẦN HỌC GIẢNG THUYẾT NÓI VỀ  CHÚA RẤT HAY; NHƯNG THIẾU NÓI CHUYỆN VỚI CHÚA, NÊN SA NGÃ THẢM THƯƠNG".

--------------------------------

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 36