mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay687
mod_vvisit_counterHôm Qua10757
mod_vvisit_counterTuần Này44887
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này135943
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10640199

We have: 141 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Sống Tỉnh Thức
SONG TINH THUC - ANH EM HAY NHAN LANY THANH THAN PDF Print E-mail

„Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em" (CV 1:8).

Năm 1942 phi đoàn Hoàng Gia Nhật thả bom tại Trân Châu Cảng mở đầu cho chiến tranh Ðệ Nhị Thế Chiến 1939-1944.

Một trung sĩ hỏa đầu quân ở Minesota đang gọt khoai tây, nghe tin tức này qua radio, anh tức giận quăng dao, ném khoai tứ tung và la to :"Tại sao cả nước Mỹ phải chịu một sự nhục nhã to lớn như vậy". Anh tình nguyện gia nhập ngay vào đội quân cảm tử thuộc ngành không quân để được huấn luyện cấp tốc gởi ra mặt trận trả thù nước Nhật. Khi mãn khóa anh được bổ sung cho đơn vị tác chiến tiền phong, và trong phi vụ đầu tiên, chiếc máy bay của anh đã thả những quả bom thù hận xuống thành phố Tokyo, thủ phủ của nước Nhật như ý mong muốn của anh. Quả bom đầu tiên được toán của anh bấm nút thả xuống đầu dân Nhật, anh cảm thấy hả hê, cười vang một cách thỏa mãn.

Nhưng chính trong phi vụ này, máy bay của anh bị đạn của quân đội Nhật bắn thủng thùng xăng, nhiên liệu hết buộc lòng máy bay phải hạ cánh khẩn cấp trong vùng địch. Anh bị bắt làm tù binh, Nhật đưa anh về giam giữ tại Miến Ðiện, hằng ngày anh phải theo đoàn tù làm những công việc khổ sai để hoàn thành con đường sắt. Nỗi hờn căm của anh trong tù mỗi ngày gia tăng gấp bội. Đồng thời anh nhớ gia đình, nhớ đến những ngày tuổi thơ sống êm đềm bên mẹ hiền, nhớ những giây phút an bình khi mẹ anh đọc và dạy anh những đọan Kinh Thánh, cũng như cách thức cầu nguyện.

Hình ảnh này thôi thúc anh chổi dậy đến gặp người cai ngục, đề nghị xin mang đến cho anh một cuốn Thánh Kinh. Hai ngày với nhiều lần năn nỉ đều bị từ chối và còn bị đánh đập tàn nhẫn, anh vẫn kiên trì chịu đựng, vẫn nài nỉ. Đến ngày thứ ba người cai ngục nhìn anh cách lạ lùng, và không muốn bị anh quấy rầy nữa, nên tìm đưa cho anh một cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Anh. Có Kinh Thánh anh nghiền ngẫm đọc, càng đọc lòng anh càng dịu xuống, sự căm hờn mổi ngày giảm nhẹ đi.
Câu Kinh Thánh „... Ai ở trong Ðức Kitô kẻ ấy sẽ trở thành mới, cũ đã qua đi và mới đang thành hình" đánh động tâm hồn anh, anh quỳ xuống cầu nguyện „Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin Chúa thay đổi con người con, xin Chúa ở với con và biến đổi con thành một con người mới. Xin Chúa cũng biến đổi lòng thù hận trong con thành một sự yêu thương".

Năm 1945 Nhật Mỹ đình chiến, anh được tha. Trở về Mỹ anh theo học Kinh Thánh, sau khi tốt nghiệp thần học anh sang Nhật sống và học ngôn ngữ Nhật. Anh viết một cuốn sách kể lại đời anh và sự anh được biến đổi do Chúa Giêsu.
Vị đại tá Yamamoto, người đã chỉ huy đoàn quân Hoàng gia bỏ bom Tân Châu Cảng đã đọc được cuốn sách này. Ông thấy tên mình được nhắc đến với tất cả các chi tiết trận bỏ bom 1942, ông ta vội vã từ miền Nam nước Nhật bay đến Tokyo gặp tác giả. Hai kẻ thù địch bắt tay thân thiện, và sau một thời gian gần gụi nhau, ông đại tá này đã xin nhận lãnh bí tích rửa tội và cùng tác giả rao giảng Tin Mừng của Chúa cho dân Nhật.

ELISABET NGUYEN

**********************

 
SONG TINH THUC - CN3TN-B - HAY THEO TOI PDF Print E-mail

Chúa Nhật III Thường Niên B

TIẾNG GỌI
Gn 3,1-5.10; 1Cr 7,29-31; Mc 1,14-20

Một gia đình sống giữa đồng không mông quạnh. Vào một đêm người trong nhà sơ ý làm rớt cây đèn dầu, căn nhà bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái vội vã chạy ra ngoài sân và đành đứng bất lực nhìn ngọn lừa thiêu rụi mái ấm của họ. Bỗng mọi người chợt nhận ra còn thiếu mất đứa con bé nhất. Thì ra trong lúc cậu bé chạy với mọi người, nhưng chưa ra tới cửa, thấy lửa cháy dữ quá, cậu sợ hãi nên lại chạy trở lên lầu.
Lửa phừng phừng cao ngút tứ phía, đang lúc cả gia đình hốt hoảng không biết phải làm sao để cứu cậu bé chỉ mới 5 tuổi, thì bỗng cửa sổ trên lầu mở toang, và cậu bé ló ra, nhìn xuống kêu khóc inh ỏi. Từ dưới sân, cha cậu bé gọi lớn tên con, rồi nói: "Con nhảy xuống đây ?" Cậu bé chỉ thấy bên dưới toàn khói mù và lửa, nhưng nghe rõ tiếng cha kêu mình, liền trả lời: "Ba ơi, con không trông thấy ba đâu hết!" Người cha trả lời giọng cương quyết: "Con cứ nhảy đi, có ba trông thấy con là đủ rồi?"
Nghe lời cha, cậu bé leo lên thành cửa sổ, liều mình nhảy xuống. Mọi người thấy vậy thì la lên kinh hãi vì lo sợ cho mạng sống của cậu, nhưng cậu đã rơi đúng vào vòng tay yêu thương của cha mình một cách an toàn...
Sau này nhiều năm, người quen trong khu phố ai gặp cậu bé cũng tò mò hỏi: "Sao hôm ấy cháu liều thế, lỡ rơi không trúng vòng tay của ba cháu thì sao?" Cậu hồn nhiên trả lời: "Cháu cũng không biết nữa, khi ấy cháu nghe tiếng kêu của ba cháu, tự nhiên cháu không sợ nữa, cháu tin ba cháu không bao giờ để cho cháu té chết đâu!".
Trong cuộc đời có những tiếng gọi, tiếng gọi huyền nhiệm thúc bách để ta bước đi, bước đi.... đi trong chốn tốt tăm mịt mù...
Ápraham sinh khoảng 1.850 năm trước Ðức Giê-su, Thiên Chúa gọi, ông cũng không hề thấy Chúa, chỉ nghe tiếng Chúa gọi, ông đã can đảm tin tưởng ra đi vào vùng đất lạ như Chúa phán dạy. Ông tin rằng Thiên Chúa sẽ dẫn ông đi, cho nên bước đi vào vùng đất mà mình không hề có kinh nghiệm sống, nhưng ông vẫn tin và tiến bước theo lời mời gọi của Giave. Bước trong tiếng gọi ông đã trở nên một Tổ phụ đông đảo như sao trên Trời như cát ngoài bãi biển.
Êlisê đang cày ruộng như muốn nói về một cuộc sống êm đềm sung túc ở thôn quê, Ngôn sứ Êlia đi ngang qua, vị tiên tri đã lấy áo choàng đang mặc ném lên người Êlisê đó là cử chỉ gọi và chọn Êlisê làm môn sinh, Êlisê liền chạy theo xin phép về nhà từ giã cha mẹ trước khi đi theo vị Ngôn sứ. Được thầy đồng ý, Êlisê đã về nhà bắt giết cặp bò đang dùng để làm lễ tế, rồi dùng chiếc cày làm củi đun thịt bò để đãi người thân trước khi đi theo làm môn đệ của vị Ngôn sứ (1V 19,19-21) và sau này nối nghiệp thầy trở nên ngôn sứ. Hành động đốt chiếc cày của Elisê như là một sự dứt khoát bỏ lại tất cả để theo thầy – người của Thiên Chúa... hiến lễ chiên bò lên Giavê như một quyết tâm trở nên người nói Lời Thiên Chúa người được gọi.
Có tiếng gọi ở Biển hồ Galilê, biển hồ được biết đến nhiều qua tên hồ Tibêria rộng lớn với 21 km chiều dài và 12 km chiều rộng, biển nước mênh mông hình ảnh sứ vụ khi người được gọi giông buồm ra khơi. Thật thế, Bờ hồ hướng về một chân trời rộng lớn mãi tới những miền đất dân ngoại bên kia sông Giođan. Bờ hồ được Marcô nói tới như nôi phát sinh lời mời gọi (x. Mc 2,13-14), sau lời loan báo Tin Mừng cho dân chúng (x. Mc 2,13; 3,7-12; 5,21). Loan bao Tin mừng là sứ vụ của Đấng Messiah như Ngài mượn lời Ngôn Sứ Isaia khẳng định: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn"(Lc 4,18-19).
Đức Giêsu loan báo Tin Mừng và gọi 4 môn đệ đầu tiên Simon Pherô, Anrê, Gioan và Giacôbê (Mc 1,16-20): là hoạt động của Chúa Giêsu đặt nền cho một công trình xây dựng mà Giáo hội sau này tiếp bước. Tin Mừng Marco nhấn mạnh: Ngài "thấy ông Simon với người anh là Anrê đang quăng chài xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá" (Mc 2,16b). Phía bắc hồ Tibêria nơi hai ông đang thả lưới là nơi nước ấm hơn và có rất nhiều cá. Ngài gọi các ông: "Các anh hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá" (Mc 2,17). Ngài dùng thứ ngôn ngữ của nghề đánh cá để thôi thúc họ dấn thân vào sứ vụ Tin Mừng của tương lai: "lưới người như lưới cá". Khi gọi những ngư phủ này để họ trở nên "kẻ lưới bắt" trong Biển khơi thế trần, Chúa Giêsu mời họ theo Ngài đi ra khơi của sứ vụ tông đồ tiếp tục sứ mạng của Ngài vừa loan báo, như chiên vào giữa bầy sói (Mt 10,16 ; Lc 10,3), nhưng các môn đê vẫn theo tiếng gọi, như em bé nhảy dù sợ nhưng tin và nhảy theo tiếng gọi của cha....
Trình thuật về ơn gọi vừa rồi cho thấy: Ơn gọi xuất phát từ nơi Đức Giêsu (x. Ga 15,16): Chính Ngài đã gọi các ông: "Các anh hãy theo Tôi" (x. Mc 1, 18a). Phần các ông, đã đáp trả với sự dứt khoát từ bỏ những gì cản trở sứ mệnh tông đồ bằng hình ảnh mạnh mẽ: Các môn đệ đã lập tức bỏ chài lưới và bỏ cha già mà đi theo Người (x. Mc 1,18.20). Gọi các ông nhận lãnh sứ mệnh làm tông đồ: Đức Giêsu đã thu nhận 72 môn đệ (x. Lc 10,1), chọn ra 12 tông đồ (x. Mt 10,1; Mc 3,14; Lc 6,13), rồi sai đi làm cho muôn dân thành môn đệ của Thầy (x. Mt 28,19) và nên "chứng nhân của Người" (x. Cv 1,8).
Chúa gọi và các ông đáp trả với tất cả tấm lòng, nhấn mạnh đến tất cả sự khác biệt mà giữa Người và các nhà thông thái lề luật giữa môn sinh của Ngài và môn sinh của các nhà thông luật. Các nhà thông thái này có nhiều môn đệ, song họ chỉ truyền lại môt giáo huấn và các môn sinh sẽ trở nên người cắt nghĩa Lề luật. Trong lúc Chúa Giêsu truyền cả con tim cho các đồ đệ, để các môn sinh cảm nghiệm được Tình yêu, tham dự vào Tình Yêu và loan báo Tin Mừng.
Thật thế, Chúa kêu gọi trở nên môn sinh, người được gọi bước theo Chúa. Trong ngôn ngữ Thánh Kinh tiếng "theo" có nghĩa là gắn bó với con người mà mình theo, là "trở thành môn đệ".
Chúa Kitô cũng gọi mỗi người chúng ta khi trở nên Kitô hữu qua Bí tích Thanh Tẩy, đi vào cuộc đời, dù tương lai mịt mờ như Abraham bước vào, dù phải bỏ lại công việc hiện tại êm ấm như Elisa, dù bỏ lại bên bờ trù phú với nghề đã định cư tại biển hồ Tibéria như Phêrô, Anrê, dù bỏ cả gia đình bao bọc như Gioan va Giacobê, nhưng trong tiếng gọi của Thầy, được đến và sống trong tình yêu của thầy, sức sống dồi dào trong tim thúc bách lại ra đi loan báo Tin Mừng cho anh chị em, sự thúc bách mãng liệt như kinh nghiệm của Phaolô: "Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1 Cr 9,16).
Gọi theo Đức Kitô hôm nay, không buộc ta phải bỏ nghề nghiệp, bỏ mọi của cải vật chất, bỏ tình cảm đối với gia đình ruột thịt... Sự từ bỏ của các môn đệ năm xưa là hình ảnh nói nên sự từ bỏ bỏ ý riêng, theo chân Chúa đến cùng.
Cuộc sống của chúng ta – Kitô hữu, có những lúc khốc liệt như em bé bị kẹt giữa đám lửa, nghe tiếng Cha gọi, em nhảy vào lòng cha, với sự bảo bọc của đôi tay hiền phụ...
Chúa yêu thương con dù con bất xứng, Chúa vẫn gọi con. Con sung sướng hy vọng và vui mừng...
Chúa gọi con bước đi và Ngài là sức mạnh của con giữa cuộc đời đầy dang dở....
Lạy Thiên Chúa, con rất sung sướng và vui mừng, bởi vì trên đường đời Chúa là nguồn ủi an khi tâm hổn con phiền muộn, là ánh sáng chiếu soi nẻo đường tối tăm, là sự giàu có cho cảnh túng nghèo của con...
Thật thế, trong tiếng mời gọi ra khơi vào biển thế trần, đầy phong ba bão tố, con đáp trả xác tín:
"Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa".
(Dt 10,9).

Lm. Vinh Sơn scj, Sài Gòn

 
SONG TINH THUC - MUC SU MARTIN LUTHER KING PDF Print E-mail

Suy Niệm Hàng Ngày

5 phút cầu nguyện tâm tình với Chúa

Lang Thang Chiều Tím
TÂN ƯỚC
SÁCH THIÊNG LIÊNG
GIỚI THIỆU  - 13-1-2018

TÔI CÓ MỘT GIẤC MƠ

Mục sư Martin Luther King

Ngày 28/8/1963, mục sư Martin Luther King, một nhà hoạt động vì dân quyền, chống phân biệt chủng tộc, đã đọc bài diễn văn "Tôi có một giấc mơ" tại Đài tưởng niệm Lincoln (Washington D.C, Mỹ) trước hàng nghìn người tham gia cuộc tuần hành đến Washington vì việc làm và tự do.

Trong bài diễn văn, Luther King đã nói lên ước mơ cháy bỏng của mình cho một tương lai của nước Mỹ, tương lai mà ở đó, người da đen và người da trắng được đối xử bình đẳng, chung sống hoà thuận. Cuộc tuần hành, cùng với bài diễn văn lay động này đã gây áp lực lên chính quyền Tổng thống Kennedy, thúc đẩy việc thông qua đạo luật dân quyền tại Quốc hội Mỹ.

Vài ngày sau khi bài diễn văn được đọc, tờ Los Angeles Times đã ca ngợi rằng "tài hùng biện vô song" được thể hiện bởi King, "nhà hùng biện siêu đẳng" với phong cách quá hiếm hoi đến nỗi hầu như bị lãng quên trong thời đại chúng ta, "đã khiến những kẻ chủ trương phân biệt phải hổ thẹn" bằng cách soi sáng "lương tâm của nước Mỹ" với công lý của chính nghĩa quyền công dân.

"Tôi có một giấc mơ" đứng đầu trong danh sách 100 bài diễn văn chính trị xuất sắc nhất nước Mỹ trong thế kỷ 20, theo bình chọn năm 1999 của giới học giả về diễn thuyết.

Xin giới thiệu toàn văn bài diễn văn "Tôi có một giấc mơ" của mục sư Martin Luther King:

Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại mà chúng ta giờ đây đứng dưới bóng của ông, đã ký một bản Tuyên ngôn giải phóng. Tuyên ngôn lịch sử này đã trở thành ngọn đuốc hy vọng cho hàng triệu nô lệ da đen, những người bị thiêu đốt trong ngọn lửa của sự bất công. Nó đến như vầng dương chấm dứt đêm dài tăm tối. Nhưng một trăm năm sau, chúng ta lại đang phải đối mặt với một sự thật bi kịch khác, người da đen vẫn chưa được tự do.

Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn bị kéo lê bởi xiềng xích của sự cách ngăn và cùm gông của nạn kỳ thị. Một trăm năm sau, người da đen vẫn đang phải sống trên hoang đảo nghèo đói giữa biển cả phồn vinh. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tiều tụy lang thang nơi góc phố tối tăm trên đất Mỹ, chỉ thấy chính họ là kẻ lưu vong trên ngay mảnh đất quê hương mình.

Bởi vậy, chúng ta cùng nhau có mặt tại đây hôm nay, cất chung tiếng nói về điều kiện thương tâm của chúng ta. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đã tới thủ đô để đòi một khoản nợ. Khi các kiến trúc sư của nền dân chủ Mỹ viết những lời tuyệt đẹp cho bản Hiến pháp và Tuyên bố Độc lập, họ đã ký nhận vào một tờ tín phiếu, theo đó mọi công dân Mỹ đều có quyền thừa kế.

Tờ tín phiếu này mang theo một lời hứa hẹn rằng mọi người dân đều được đảm bảo quyền không thể tách rời là quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hôm nay, thực tế hiển nhiên cho thấy nước Mỹ đã thất hứa vì rằng màu da của người dân Mỹ lại bị xem là rào cản trong việc sử dụng tờ tín phiếu này. Thay vì trân trọng trách nhiệm thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã trao cho người dân da đen một tờ séc trống không có giá trị thanh toán. Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng công lý đã bị phá sản. Chúng ta không tin rằng quốc gia không có đủ ngân quỹ trong hầm dự trữ chứa đầy những cơ hội của đất nước này.

Bởi vậy, chúng ta đến đây để đòi nợ, một khoản nợ về quyền tự do và sự đảm bảo về công lý. Chúng ta có mặt tại nơi linh thiêng này để nhắc nhở nước Mỹ về sự cấp thiết trong thời điểm hiện nay. Lúc này không phải là thời điểm của sự nhượng bộ thỏa hiệp hay xoa dịu bằng những viên thuốc an thần. Giờ là thời điểm mở tung cánh cửa cơ hội cho tất cả những người con của Chúa. Giờ là thời khắc đưa dân tộc ta từ vũng lầy của bất công kỳ thị tới một nền tảng vững chắc của tình đoàn kết anh em.

Sẽ là tai họa cho cả dân tộc nếu lờ đi tính cấp bách của thời cuộc hiện nay và đánh giá thấp lòng quyết tâm của người dân da đen. Không khí ngột ngạt oi bức chứa đầy sự bất bình trong mùa hè này chưa thể qua đi tới khi có được làn gió thu của tự do và công bằng tiếp sinh lực. Những ai có hy vọng rằng người da đen cần phải xả bớt sự căng thẳng và hài lòng với những gì đã có sẽ bị vỡ mộng nếu như đất nước này trở lại với công việc như thường ngày. Nước Mỹ sẽ chưa thể bình yên, chừng nào người da đen chưa giành được quyền công dân của mình.

Cơn lốc của cuộc nổi dậy sẽ tiếp tục làm lung lay nền móng của quốc gia này cho tới ngày thấy được ánh sáng của công lý. Trong quá trình đấu tranh giành lại vị trí xứng đáng cho mình, chúng ta không cho phép mình mắc phải những hành động sai lầm. Hãy đừng thỏa mãn cơn khát bằng chén hận thù và đắng cay.

Chúng ta phải xây dựng các cuộc tranh đấu của mình trên nền tảng của các giá trị và nguyên tắc. Chúng ta không cho phép những chống đối biến thái thành các cuộc xung đột bạo lực. Chúng ta phải đứng trên tầm cao của sự hòa trộn tâm lực và trí lực.

Tính chiến đấu thấm nhuần trong đông đảo người dân da đen không được làm cho chúng ta mất lòng tin vào những người da trắng. Rất nhiều những người anh em da trắng, như bằng chứng sự có mặt của các bạn ở đây hôm nay, đã cho thấy vận mệnh của các bạn cũng là vận mệnh của chúng ta và tự do của các bạn cũng gắn liền với tự do của chúng ta.

Chúng ta không thể bước những bước đơn độc.

Mỗi bước đi, chúng ta phải nối vòng tay bè bạn cùng đồng hành.

Chúng ta không thể quay trở lại.

Có những người đang hỏi bạn, "Rồi chừng nào bạn mới yên lòng?" Chúng ta sẽ không bao giờ thấy yên lòng khi mà ta không thể tìm được một nơi trú ngụ trong một nhà nghỉ bên đường hay tại một khách sạn trong thành phố sau chuyến đi mỏi mệt. Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào sự di chuyển của một người da đen vẫn đơn giản chỉ là từ một khu ghetto nhỏ sang một khu ghetto lớn hơn. Chúng ta chưa thể yên lòng chừng nào một người Negro ở Mississipi còn chưa được quyền đi bầu cử, khi một người da đen ở New York còn tin rằng anh ta chẳng có gì để đi bầu. Không, không, chúng ta không yên lòng, và chúng ta sẽ chưa thể yên lòng cho tới ngày công lý được tuôn tràn như dòng thác, và công bằng sẽ như một dòng sông cuộn chảy.

Tôi biết có những bạn tới đây vượt qua những nỗi khổ đau, gian nan thử thách. Có những bạn mới vừa ra khỏi xà lim. Có những bạn đến từ những nơi mà cuộc tìm kiếm tự do của bạn bị chà đạp bởi sự ngược đãi cuồng bạo và bị cản trở bởi sự tàn bạo của cảnh sát. Các bạn đã trở thành những người kỳ cựu về chịu đựng khổ đau. Tiếp tục tiến lên với niềm tin rằng sự thống khổ oan ức là cứu thế.

Trở về Mississippi, trở về Alabama, trở về Georgia, trở về Louisiana, trở về với những khu nhà ổ chuột ở các thành phố phía bắc của chúng ta, chúng ta tin rằng bằng cách nào đó tình trạng này có thể và sẽ đươc thay đổi.

Hãy đừng đắm mình trong nỗi tuyệt vọng.

Hôm nay, tôi muốn nói với các bạn rằng, dù hiện tại có muôn vàn khó khăn và nỗi bức xúc, tôi vẫn luôn mang trong mình một giấc mơ. Đó là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ nước Mỹ.

Trong giấc mơ của tôi, tới một ngày đất nước này sẽ cùng đứng lên và sống một cuộc sống với niềm tin "Chúng ta coi sự thực này là điều hiển nhiên: con người sinh ra là bình đẳng."

Giấc mơ của tôi là một ngày kia, trên những ngọn đồi ở Georgia, những đứa con của những người nô lệ và những đứa con của những người chủ nô trước đây sẽ cùng ngồi bên chiếc bàn thân thiện của tình anh em.

Trong giấc mơ của tôi, thậm chí một ngày kia, bang Mississippi, một hoang mạc ngột ngạt trong bầu không khí của bất công và kỳ thị, sẽ biến thành một ốc đảo của tự do và công bằng.

Trong giấc mơ của tôi, 4 đứa con tôi tới một ngày sẽ được sống trong một đất nước mà ở đó giá trị của chúng được đánh giá bởi chính ý chí, nghị lực cá nhân, chứ không phải bằng màu da.

Ngày hôm nay, tôi có một giấc mơ!

Tôi mơ một ngày kia bang Alabama, nơi vị thống đốc hiện thời đang luôn mồm nói về quyền can thiệp và vô hiệu hóa sẽ trở thành nơi các trẻ trai và trẻ gái da đen cùng nắm tay các bạn da trắng như anh em một nhà.

Hôm nay, tôi có một giấc mơ!

Tôi mơ một ngày kia các thung lũng rồi sẽ được lấp đầy, những quả đồi, ngọn núi sẽ được san bằng, mặt đất gồ ghề sẽ trở nên phẳng phiu, những góc quanh co sẽ được uốn thẳng tắp, và sự huy hoàng của Thiên Chúa sẽ được bộc lộ và mọi người cùng thấy.

Đó là hy vọng của chúng ta. Đó là niềm tin tôi sẽ mang theo về miền Nam.

Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể đập nát núi tuyệt vọng thành những viên đá hy vọng. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ biến những tiếng kêu bất hòa trong lòng dân tộc thành bản giao hưởng êm ái của tình đoàn kết anh em. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ cùng sát cánh bên nhau, cùng nguyện cầu, cùng chiến đấu, cùng vào nhà lao, cùng đứng lên vì tự do, vì chúng ta biết rõ một ngày kia chúng ta sẽ tự do.

Đó sẽ là ngày tất cả những người con của Chúa cùng hòa chung một bài ca: "Quê hương tôi, miền đất thân yêu của sự tự do, của người tôi hát. Miền đất nơi cha tôi đã nằm xuống, miền đất niềm tự hào của những người hành hương, từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do".

Và nếu nước Mỹ là một đất nước vĩ đại, điều đó nhất định phải trở thành sự thực.

Hãy để tự do ngân lên từ những ngọn núi khổng lồ ở New Hampshire.

Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi hùng vĩ vùng New York.

Hãy để tự do ngân lên trên những vùng cao Alleghenies miền Pennsylvania!

Hãy để tự do ngân lên trên những đỉnh núi Rockies tuyết phủ của Colorado!

Hãy để tự do ngân lên trên những núi đồi tròn trịa của California!

Không chỉ thế,

Hãy để tự do ngân lên từ những đỉnh núi Stone Mountain của Georgia!

Hãy để tự do ngân lên trên ngọn Lookout Mountain của Tennessee!

Hãy để tự do ngân lên từ mọi triền đồi và vùng đất cao ở Mississippi.

Từ mọi triền núi, hãy ngân vang tiếng hát tự do.

Khi chúng ta để tự do ngân lên, khi tự do ngân lên từ mọi làng quê, mọi thôn xóm, mọi thành phố và tiểu bang, chúng ta sẽ có thể làm cho ngày ấy đến thật nhanh, ngày mà mọi đứa con của Thiên Chúa, dù da trắng hay da đen, Do Thái hay không phải Do Thái, người theo đạo Tin Lành hay công giáo La Mã, tất cả sẽ cùng nối vòng tay hát vang lời ca linh thiêng của người da đen:

"Tự do đã đến, tự do đã đến, xin cảm ơn Đức Chúa toàn năng, cuối cùng chúng ta đã tự do!"

Mục sư Martin Luther King

-------------------------------------

 
SONG TINH THUC - NHAN QUA - DAI HOC STANFORD PDF Print E-mail

>> Tiếng việt ở cuối trang....
>> Nhân Quả
>>
>> Stanford University, 1892
>> Trước khi đọc câu chuyện dưới đây (bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt), xin giới thiệu với bạn đôi dòng về đại học Stanford:
>>
>> Đại học Stanford nằm trên một khuôn viên rộng 3.310 hecta tại thành phố Stanford, tiểu bang California, cách thành phố San Jose 20 dặm (32 km) và cách thành phố San Francisco 37 dặm (60 km). Đại học Stanford là một trong 2 trường đại học uy tín nhất Hoa Kỳ và được xếp hạng thứ nhì trong 10 trường đại học hàng đầu của thế giới năm 2012-2013.
>>
>> Stanford University is an American private research university located in Stanford, California, on an 8,180-acre (3,310 ha) campus near Palo Alto. It is situated in the northwestern Silicon Valley, approximately 20 miles (32 km) northwest of San Jose and 37 miles (60 km) southeast of San Francisco. Stanford is one of the two most prestigious universities in the United States (Stanford & Harvard) and ranks second in the list of top ten world universities in 2012-2013
>>
>> This is a true story that had happened in 1892 at Stanford University
>> http://immstories.wordpress. com/2012/09/18/1892-stanford- university/
>> An 18-year-old student was struggling to pay his fees. He was an orphan, and not knowing where to turn for money, he came up with a bright idea. A friend and he decided to host a musical concert on campus to raise money for their education.
>> They reached out to the great pianist Ignacy J. Paderewski. His manager demanded a guaranteed fee of $2000 for the piano recital. A deal was struck and the boys began to work to make the concert a success.
>> The big day arrived. Paderewski performed at Stanford. But unfortunately, they had not managed to sell enough tickets. The total collection was only $1600. Disappointed, they went to Paderewski and explained their plight. They gave him the entire $1600, plus a cheque for the balance $400. They promised to honour the cheque at the soonest possible.
>> "No," said Paderewski. "This is not acceptable." He tore up the cheque, returned the $1600 and told the two boys: "Here's the $1600. Please deduct whatever expenses you have incurred. Keep the money you need for your fees. And just give me whatever is left". The boys were surprised, and thanked him profusely.
>> It was a small act of kindness. But it clearly marked out Paderewski as a great human being.
>> Why should he help two people he did not even know? We all come across situations like these in our lives. And most of us only think "If I help them, what would happen to me?" The truly great people think, "If I don't help them, what will happen to them?" They don't do it expecting something in return. They do it because they feel it's the right thing to do.
>> Paderewski later went on to become the Prime Minister of Poland. He was a great leader, but unfortunately when the World War began, Poland was ravaged. There were more than 1.5 million people starving in his country, and no money to feed them. Paderewski did not know where to turn for help. He reached out to the US Food and Relief Administration for help.
>> The head there was a man called Herbert Hoover — who later went on to become the US President. Hoover agreed to help and quickly shipped tons of foodgrains to feed the starving Polish people.
>> A calamity was averted. Paderewski was relieved. He decided to go across to meet Hoover and personally thank him. When Paderewski began to thank Hoover for his noble gesture, Hoover quickly interjected and said, "You shouldn't be thanking me Mr Prime Minister. You may not remember this, but several years ago, you helped two young students go through college in the US. I was one of them."
>> The world is a wonderful place. What goes around comes around!
>>
>> CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ TẠI ĐẠI HỌC STANFORD NĂM 1892
>>
>> ĐÂY LÀ MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT XẢY RA VÀO NĂM 1892 TẠI ĐẠI HỌC STANFORD
>>
>> Có một cậu học sinh 18 tuổi đang gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Cậu ta là một đứa trẻ mồ côi, và cậu ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền. Thế là anh chàng này bèn nảy ra một sáng kiến. Cậu ta cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.
>>
>> Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm đại tài Ignacy J Paderewski . Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $2000 để cho ông ấy được biểu diễn. Sau khi họ thoà thuận xong, hai người sinh viên ấy bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn được thành công.
>>
>> Ngày trọng đại ấy cuối cùng đã đến. Paderewski cuối cùng cũng đã buổi diễn tại Stanford. Thế nhưng không may là vé vẫn chưa được bán hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé lại, họ chỉ có được $1600. Quá thất vọng, họ đến chỗ của của Paderewski để trình bày hoàn cảnh của mình. Hai người sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền bán vé, cùng với 1 check nợ $400, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm nhất có thể.
>>
>> "KHÔNG", Paderewski nói. "Cái này không thể nào chấp nhận được." Ông ta xé tờ check, trả lại $1,600 cho hai chàng thanh niên và nói: "Đây là 1600 đô, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn thì còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi." Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ, xúc động cảm ơn Paderewski...
>>
>> Đây chỉ là một làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski.
>>
>> Tại sao ông ấy có thể giúp hai người mà ông ấy thậm chí không hề quen biết. Chúng ta tất cả đều đã bắt gặp những tình huống như vậy trong cuộc sống của mình. Và hầu hết chúng ta đều nghĩ: "Nếu chúng ta giúp họ, chúng ta sẽ được gì?" Thế nhưng, những người vĩ đại họ lại nghĩ khác: "Giả sử chúng ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp khó khăn ấy?" Họ không mong đợi sự đền đáp, Họ làm chỉ vì họ nghĩ đó là việc nên làm, vậy thôi.
>>
>> Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski hôm nào sau này trở thành Thủ Tướng của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo tài năng. Thế nhưng không may chiến tranh thế giới nổ ra, và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Có hơn một triệu rưỡi người Ba Lan đang bị chết đói, và bây giờ chính phủ của ông không còn tiền để có thể nuôi sống họ được nữa. Paderewski không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ. Ông ta bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp.
>>
>> Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy.
>>
>> Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy nhẹ nhõm. Ông bèn quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm ơn ông Hoover vì cử chí cao quý của ông ấy đã giúp đỡ người dân Ba Lan trong những lúc khó khăn. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: "Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy."
>>
>> THẾ GIỚI NÀY ĐÚNG THẬT LÀ TUYỆT VỜI, KHI BẠN CHO ĐI THỨ GÌ, BẠN SẼ NHẬN LẠI ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU TƯƠNG TỰ.
>>-------------------------

 
SONG TINH THUC - TINH THUC DE TU CUU MINH PDF Print E-mail

TỈNH THỨC ĐỂ TỰ CỨU MÌNH

Vào thời Xuân Thu, khoảng 500 năm trước Chúa giáng sinh, vua nước Việt (một trong nhiều nước tại Trung Quốc thời đó) tên là Câu Tiễn muốn đánh bại vua Ngô là Phù Sai để phục thù mối nhục lớn, nhưng nước Ngô rất hùng mạnh, còn nước Việt thì yếu kém; vua nước Việt biết mình không thể thắng Ngô bằng sức mạnh quân sự nên phải dùng những mưu kế sau đây, cốt làm cho vua Ngô trở nên mê muội, mất tỉnh táo mà phải bại vong.

Thứ nhất là làm "mù mắt" vua Ngô, khiến cho nhà vua hoá ra tối tăm, mê muội, chẳng còn tỉnh táo để thấy nguy cơ mất nước.

Để thực hiện kế hoạch nầy, Câu Tiễn dâng cho vua Ngô nhiều gái đẹp, đặc biệt là Tây Thi, được xem là phụ nữ đẹp nhất trong lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu, để làm cho vua Ngô ngày đêm say đắm sắc đẹp và lạc thú mà không nhìn thấy nguy cơ mất nước.

Đồng thời, Câu Tiễn dâng cho vua Ngô nhiều thợ giỏi và gỗ quý để vua Ngô xây dựng lâu đài thật nguy nga tráng lệ, khiến cho ngân quỹ triều đình cạn kiệt, đồng thời lâu đài nầy là nơi cuốn hút vua Ngô vui hưởng lạc thú mà bỏ bê công việc triều đình.

Thứ hai là "bịt tai" vua Ngô, tìm cách làm cho vua bỏ ngoài tai những lời cảnh báo khôn ngoan của Ngũ Viên là vị quan đại thần có lòng giúp vua giữ nước.

Để thực hiện âm mưu nầy, Câu Tiễn mua chuộc một vị đại thần có tính xu nịnh trong triều đình vua Ngô tên là Bá Hi, để ông nầy xui khiến vua Ngô đừng nghe lời can gián sáng suốt của Ngũ Viên là vị quan trung thành cương trực, rồi dần hồi, bức tử Ngũ Viên.

Lâm vào diệu kế của Câu Tiễn, vua Ngô đâm ra mê đắm sắc đẹp của Tây Thi, ngày đêm vui chơi hưởng lạc quên việc triều đình; lại nghe lời nịnh hót của Bá-hy mà bức tử trung thần Ngũ Viên. Thế là từ đó, mắt nhà vua bị che chắn, không còn thấy được tại hoạ trước mắt; tai nhà vua bị đóng lại, không thể nghe được lời cảnh báo của Ngũ Viên về viễn ảnh nước mất nhà tan. Kết cục là vua Ngô bị Câu Tiễn đem quân đánh bại và cuối cùng phải tự sát.

♦♦♦

Như thế, bí quyết quan trọng để đánh bại một địch thủ hùng mạnh hơn mình là phải làm cho đối thủ đó trở nên mê muội, không thấy, không nghe.

Tương tự như thế, để đánh bại chúng ta, ma quỷ cũng dùng chiến thuật làm cho chúng ta ra mê muội, mắt không thấy những điều nguy hại để xa lánh, tai không nghe những lời răn khuyên để sửa mình.

-Ma quỷ làm cho con mắt tâm hồn của chúng ta hoá mù, không thấy được những thói hư tật xấu của mình, mà vì không thấy nên không tìm cách sửa chữa. Thế là chúng ta cứ mang thói hư tật xấu suốt đời cho đến chết.

-Ma quỷ cũng tìm cách bịt kín đôi tai để chúng ta không nghe được những lời Chúa dạy và lời Hội thánh truyền, không chịu nghe tiếng nói lương tâm cũng như lời hay lẽ phải của bao người thiện chí. Thế là vừa bị mù, vừa bị điếc, chúng ta sẽ lâm vào thảm hoạ bất cứ lúc nào.

*SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG : Để cứu khỏi mê muội, VÀ mất tỉnh táo, Lời Chúa trong Tin mừng kêu gọi chúng ta phải tỉnh thức thường xuyên, nghĩa là giữ cho "đôi mắt" của trí khôn được tinh tường, cho "đôi tai" được sáng rõ, phải tỉnh táo như người tôi tớ canh giữ cửa nhà cho chủ, không để quân gian đột nhập vào nhà, để bất cứ giờ nào chủ về cũng gặp chúng ta đang tỉnh thức.

♦♦♦

TÔI CẦU NGUYỆN VÀ QUYẾT THỰC HÀNH: Lạy Chúa Giê-su,

Dù đã từng nghe Chúa mời gọi canh phòng, tỉnh thức nhiều lần, nhưng chúng con không để cho Lời Chúa ngấm vào tâm hồn, như vua Ngô ngày xưa không chịu nghe lời khôn ngoan của Ngũ Viên. Như thế, chúng con sẽ không tránh khỏi những tai hoạ chụp xuống bất cứ lúc nào.

NHỜ THÁNH THẦN NHẮC NHỞ chúng con ghi khắc Lời Chúa dạy, luôn tỉnh táo canh phòng, không để cho đôi mắt tâm linh mù tối vì dục vọng và những lôi cuốn thế tục  Đồng thời không để cho đôi tai tâm hồn đóng lại trước những lời răn dạy khôn ngoan, nhờ đó, chúng con có thể tự cứu mình khỏi nanh vuốt huỷ diệt của tà thần. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Nguồn : http://www.conggiaovietnam.net

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 40