mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3620
mod_vvisit_counterHôm Qua7192
mod_vvisit_counterTuần Này10812
mod_vvisit_counterTuần Trước54956
mod_vvisit_counterTháng Này158943
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11123536

We have: 104 guests online
Your IP: 54.224.85.115
 , 
Today: Jun 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Sống Tỉnh Thức
SONG TINH THUC # 296 = HAN QUOC CAU NGUYEN PDF Print E-mail

Hàn Quốc cầu nguyện cho hòa bình giữa lúc căng thẳng dâng cao
Đức Hồng y Andrew Yeom Soo-jung kêu gọi người Công giáo Hàn Quốc xin Đức Mẹ cầu bầu
Tags: bán đảo Triều Tiên, căng thẳng

August 11, 2017 - Phóng viên ucanews.com từ Seoul, Hàn Quốc
Đức Hồng y Nicholas Cheong Jin-suk của Seoul dâng Thánh lễ mừng đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và kỷ niệm Ngày Giải phóng tại nhà thờ chính tòa Myeongdong.

Trong lúc tình hình căng thẳng tăng cao vì chương trình hỏa tiễn và hạt nhân của Bắc Triều Tiên, các giám mục Hàn Quốc kêu gọi người Công giáo ở Hàn Quốc xin Đức Mẹ cầu bầu cho hòa bình trên bán đảo này.

Các giám mục trong đó có Đức Hồng y Andrew Yeom Soo-jung của Seoul đưa lời kêu gọi này vào thông điệp mừng kính trọng thể Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời vào ngày 15-8.

Trong thông điệp, Đức Hồng y Yeom kêu gọi người Công giáo lần hạt Mân Côi nhân kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima.

"Đức Maria Đồng Trinh thúc giục chúng ta lần hạt Mân Côi cầu cho tội nhân hoán cải và cho hòa bình trên thế giới. Tràng hạt Mân Côi là vũ khí tinh thần giúp chúng ta đánh bại sự dữ cách hữu hiệu và sẽ giúp chúng ta vượt qua những thách thức trong đức tin và biến đổi chúng ta thành những người có ích cho hòa bình thế giới", Đức Hồng y Yeom nói.

Hàn Quốc được giải phóng khỏi ách cai trị của thực dân Nhật Bản ngày 15-8-1945, trùng với ngày người Công giáo mừng đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Giáo hội Công giáo ở Hàn Quốc cũng được dâng hiến cho Đức Mẹ và xem việc đất nước được giải phóng là nhờ "Đức Mẹ ban ơn".

Đức Hồng y Yeom hết sức lo lắng về tình hình căng thẳng tăng cao trên bán đảo Triều Tiên do các chương trình hỏa tiễn và vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên gây ra.

"Vì sự an toàn và tương lai của tất cả người dân Triều Tiên, Bắc Triều Tiên nên ngồi vào bàn thảo luận và từ bỏ vũ khí hạt nhân", ngài nói.

Bắc Triều Tiên tuyên bố hôm 9-8 họ đang "thận trọng xem xét" các kế hoạch tấn công hỏa tiễn nhắm vào lãnh thổ Guam của Mỹ, chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo Bình Nhưỡng rằng bất kỳ mối đe dọa nào đối với nước Mỹ đều sẽ phải đối mặt với "sự thịnh nộ và hỏa lực", Reuters đưa tin.

Trong thông điệp mừng đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Đức cha Lazarus You Heung-sik của Daejeon nói: "Giáo hội nên xúc tiến văn hóa hòa bình và sự sống chống lại văn hóa hủy diệt đang gia tăng trên bán đảo Triều Tiên. Chúng ta nên bảo vệ hòa bình bằng cách cầu nguyện cho hòa bình và lòng khoan dung".

Đức cha Peter Lee Ki-heon của Uijeongbu kêu gọi có một hiệp định hòa bình giữa hai miền Triều Tiên vốn vẫn đang trong tình trạng chiến tranh.

Đức cha còn kêu gọi các lãnh đạo thế giới chung tay giải quyết tình trạng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Đức cha John Chrysostom Kwon Hyeok-ju của Andong kêu gọi người Công giáo ở Hàn Quốc hãy làm việc cho hòa bình.

"Chúng ta hãy thực thi hòa bình trên mảnh đất này bằng các hành động hòa bình trong cuộc sống hằng ngày của mình", ngài kêu gọi.

UCAN VN

---------------------------

 
SONG TINH THUC # 294 - VINH QUANG THAP GIA PDF Print E-mail

VINH QUANG THẬP GIÁ

Kim Vu chuyển

Họa sĩ người Ý, Raphael (1483 – 1520), khi chết mới 37 tuổi, nhưng đã để lại một số lượng tác phẩm tuyệt vời cho hậu thế. Một trong những tác phẩm danh tiếng của ông có tên là "Cuộc Biến Hình", "Transfiguration". Trong tang lễ, bức tranh này đã được đặt trên đầu quan tài của ông. Bức tranh vẽ có hai phần. Phần trên, diễn tả cảnh Chúa Giêsu biến hình trong sự sáng láng và vinh quang của Ngài, mặt Ngài chiếu sáng, áo Ngài trắng như tuyết. Bản tính Thiên Chúa ngời sáng qua nhân tính của Ngài. Ở bên phải là Môsê, đại diện cho luật cũ, và bên trái là tiên tri Elia, đại diện cho các tiên tri của Cựu ước. Ở dưới chân của Chúa Giêsu là ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan trong sự sửng sốt và kinh ngạc khi thấy vinh quang thiên quốc của Ngài.

Trái lại, phần dưới của bức tranh tối tăm u buồn. Trong cái u tối đó có một bé trai bị bệnh, đang đau đớn quằn quại trên chiếc giường nhỏ, gia đình qui tụ xung quanh, cùng với chín tông đồ còn lại. Một tông đồ đang chỉ tay vào em bé bị bệnh, và một tông đồ khác chỉ tay hướng về Chúa Giêsu đang trên đường đi xuống núi. Các tông đồ không thể chữa được cơn bệnh ngặt nghèo của em bé, chỉ có Chúa Giêsu mới có thể chữa được. Em bé trai phải hướng về Chúa Giêsu và tin tưởng vào Ngài.

******************************

Đau khổ và thập giá là sự kiện hiển nhiên trong cuộc sống. Chúng xuất hiện dưới nhiều hình thức. Không ai có thể tránh khỏi.

Sáu ngày trước khi biến hình vinh quang trên đỉnh Taborê, Chúa Giêsu đã chính thức loan báo cho các tông đồ biết về những khổ đau Người sẽ phải chịu. Thế nhưng, Phêrô đã lên tiếng can ngăn Ngài, để rồi Ngài đã thẳng thắn quở trách: Hỡi Satan hãy lui đi.

Qua đó chúng ta thấy mơ ước của các tông đồ là một mơ ước nặng nùi xôi thịt, được bao phủ bằng những quyền lực trần thế. Thực vậy, khi dân chúng có ý định tôn Chúa Giêsu lên làm vua sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, các tông đồ đã khấp khởi mừng thầm, vì sẽ được chia chác ghế nọ, ghế kia trong thành phần nội các của Ngài, nhưng rồi các ông đã thất vọng khi Chúa lên thuyền và đi ngay. Mãi cho đến những ngày cuối cùng của Chúa, các ông vẫn còn tranh cãi xem ai được làm lớn nhất dưới triều đại của Ngài. Và giờ đây, trước ánh quang vinh, các ông lại càng khó chấp nhận thập giá hơn nữa. Maisen và Elia đang nói chuyện với Chúa về vấn đề thập giá mà Ngài sẽ phải chịu. Các ông tai nghe mắt thấy nhưng không một mảy may chú ý. Các ông chỉ thấy có ánh sáng và vinh quang, cho nên đã định dựng lều tại Tabo, chứ không thấy được sứ mạng của Thầy mình ở Canvê.

Đó cũng chính là tâm trạng của mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta không nguyền rủa thập giá, thì cũng chỉ chấp nhận nó như một tai ương không thể lẩn tránh chứ không như một sứ mạng cao cả và có tính cách cứu độ. Chúng ta không ngừng xây dựng thiên đàng ngay ở dưới thế, cũng như không ngừng phóng đại những hạnh phúc trần gian, coi đó như cùng đích phải theo đuổi, để rồi cuối cùng xin chọn trần gian này làm quê hương vĩnh cửu.

Chúng ta không biết rằng: thiên đàng là tình yêu chứ không phải là những thú vui vị kỷ hay nói đúng hơn, thiên đàng là chính Thiên Chúa. Giữa vinh quang, các tông đồ không thể tin nổi rằng Chúa có thể chết và chết cách nhục nhã. Đã bao lần Chúa đã nối kết cái chết của Ngài vào với sự phục sinh, nhưng các ông không thể hiểu nổi sợi dây nối kết ấy. Vì thế khi Chúa bị bắt, các ông bị tan tác như bầy chiên trước sói rừng. Nếu có theo thì chỉ dám theo xa xa, để rồi sau cùng đã chối bỏ Chúa. Ngay cả sau khi Chúa đã sống lại mà các ông vẫn còn không tin, vẫn còn tuyệt vọng.

Với cac bạn cũng vậy, biết bao lần chúng ta đã nhìn thử thách cuộc đời qua cặp kính màu xám, kéo lê thập giá chứ không tự mình vác lấy. Còn Chúa Giêsu thì khác, chính lúc Người nộp mình trong tay kẻ thù lại là lúc Người được quang vinh như Người đã nói: Ta đã thắng thế gian, ngày nào Ta bị treo lên khỏi đất...

Là môn đệ của Chúa, chúng ta không có con đường nào khác ngoài con đường thập giá như lời thánh Phaolô: Tôi chỉ biết có Đức Kitô chịu đóng đinh, nhưng Ngài đã phục sinh để chúng ta được sống. Cho nên mặc dù vai vác thập giá, cặp mắt chúng ta vẫn luôn hướng về trời cao. Trời cao và sự sống, đó là kết thúc của con đường thập giá.

*TÔI SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG : Sự biến hình của Chúa Giêsu trong vinh quang chính là niềm hy vọng và tăng cường sức mạnh cho quý bạn đang khi cố gắng trung thành với Ngài giữa những cám dỗ, đau khổ và thử thách. Giống như em bé trai thống khổ trong bức tranh vẽ của Raphael, Tôi không bao giờ thất vọng khi nhìn ngắm vào thập giá của Chúa Giêsu, mà phải luôn tìm kiếm Ngài trong vinh quang. Chỉ qua Ngài, với Ngài, và ở trong Ngài tôi mới chiến thắng được thế gian và ma quỉ.

Sưu tầm

----------------------------------

 
SONG TINH THUC @ 295 = VIEN NGOC QUY PDF Print E-mail

> VIÊN NGỌC QUÝ
>
> Chuyện kể rằng có một thầy khổ tu vào rừng để hành xác, mong được lên cõi thiên đàng. Ngày ngày có một cô gái nhân đức tới để cung cấp trái cây và nước suối cho thầy.
>
> Nhiều năm trôi qua, đã đến lúc thầy phải rời bỏ khu rừng vào hang núi sâu, hoàn thành cuộc hành xác khắc nghiệt. Người con gái chặt củi nước mắt lưng tròng van xin:
>
> - Tại sao thầy không cho con được diễm phúc hầu hạ thầy?
>
> Và thầy tu đã ngồi lại, ở nguyên chỗ cũ.
>
> Thầy ngồi một mình, tháng này qua năm nọ, cho đến khi cuộc hành xác hoàn thành. Vị chúa tể của những con người bất tử xuống báo cho thầy biết rằng thầy đã được lên cõi thiên đàng. Nhưng thầy tu nói:
>
> - Đã lâu rồi tôi không cần thiên đàng nữa!
>
> Vị chúa tể kia liền hỏi:
>
> - Vậy thầy muốn được phần thưởng nào quí giá hơn thiên đàng?
>
> Thầy tu chắp tay nhắm mắt điềm nhiên trả lời:
>
> - Tôi muốn được cô gái chặt củi?

> ******************
>
> "Nước Trời giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy" (Mt 13,45-46). Người thương gia rất am tường về ngọc, ông biết rõ viên ngọc quý này là vô giá, mà người bán không hề biết, nên ông đã đánh đổi cả gia tài của mình để mua viên ngọc ấy, vì tất cả những gì ông có so với viên ngọc quý ấy cũng chẳng là gì, chẳng đáng giá chi.
>
> Nước Trời đáng quí, đáng trọng, đáng mơ ước là thế, vậy mà thày tu trong câu chuyện trên đây lại bỏ thiên đàng để ở lại với cô gái chặt củi. Viên ngọc quý của ông sau bao nhiêu năm hành xác mới có được lại không phải là thiên đàng vĩnh cửu, mà là một xác phàm hay chết, một thụ tạo nay còn mai đã biến tan. Thật là ngu lắm thay, dại khờ lắm thay!
>
> Chợt nghĩ lại, đâu chỉ mình thày tu này dại khờ, ngu ngơ! Đâu chỉ mình ông mới "Bỏ hình bắt bóng".
>
> Những kẻ xem danh vọng, chức quyền là viên ngọc quý, cả đời săn lùng tìm kiếm cho đến hao tâm tổn sức, để rồi nó vỡ tan như bong bóng xà phòng, lại không dại khờ lắm sao?
>
> Những kẻ coi tiền bạc, của cải là kho báu duy nhất trên đời, để bôn ba vất vả thu tích cho thật nhiều mà chẳng nghĩ đến ai, và khi nhắm mắt xuôi tay cũng chẳng mang được một xu về bên kia thế giới, lại chẳng dại khờ lắm sao?
>
> Những kẻ đam mê khoái lạc, ăn chơi cho thỏa thích, họ xem thế gian này là kho báu, là viên ngọc quý, phải thụ hưởng tối đa cho thỏa mãn, cho tràn trề, để rồi khi kết thúc cuộc đời ngắn ngủi, sẽ phải khóc lóc nghiến răng muôn kiếp, lại không phải là kẻ dại khờ lắm sao?
>
> Hãy bỏ đi những chiếc phao thủng mà một lúc nào đó, giữa biển đời lênh đênh chúng ta đã bám víu như một vật cứu sinh an toàn.
>
> Chỉ có những ai sáng suốt nhận ra Đức Giêsu chính là viên ngọc quý, lấp lánh ngời sáng như sao mai trên bầu trời, mới dám bán đi những viên ngọc giả là của cải, danh vọng và khoái lạc trần gian, mà mua lấy mối tình thâm sâu với Người trong cõi đời đời.
>
> Chỉ có những ai xác tín rằng Nước Trời chính là kho báu vô giá, tồn tại vĩnh cửu, mới "vui mừng bán đi tất cả" những kho tàng phù vân đời này, mà mua lấy kho báu bất diệt trên nơi vĩnh phúc.
>
> Đức Giêsu nói với người thanh niên giàu có: "Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi" (Mc 10,21). Nếu Đức Giêsu là viên ngọc quý, là hiện thân của nước Trời, thì người tín hữu phải bán đi tất cả, phải chấp nhận mất mát tất cả, phải từ bỏ mọi sự để được sống với Người, để chọn Người làm lẽ sống, và để được Người, là được tất cả.
> Đó là cái nghịch lý chạy xuyên suốt toàn bộ Tin Mừng: mất đi để được lại, cho đi để được nhận lãnh, chết đi để được sống mãi.
> Baeteman có viết: "Cái đáng giá, không luôn là cái chúng ta hiến dâng cho chúa, nhưng luôn là cái gì chúng ta nhân danh Người mà từ chối".
> ******************
>
>TÔI CẦU NGUYỆN VÀ THỰC HÀNH LỜI TÔI CẦU XIN :  Lạy Chúa, nếu có lần nào chúng con cảm nghiệm được hạnh phúc giả tạo mau qua của kho tàng dưới đất, thì xin cho chúng con một chút ngất ngây hạnh phúc của kho báu trên trời.
>
> Xin dạy chúng con biết luôn chọn chúa là gia nghiệp, là cùng đích và là lẽ sống của cuộc đời chúng con. Amen.

> Thiên Phúc (trích trong "Như Thầy Đã Yêu")
>------------------------

 
SONG TINH THUC # 294 = CO LUNG THANH LUA PDF Print E-mail

Chúa Nhật XVI Thường Niên A
BA DỤ NGÔN - HÌNH ẢNH KIẾP NHÂN SINH
Kn 12,13.16-19; Rm 8,26-27; Mt 13,24-43
Trong dụ ngôn thứ nhất, cùng với lúa, có sự hiện hữu của cỏ lùng, "cỏ lùng" là một loại cỏ dại gọi là darnel. Loại cỏ dại này rất là giống cây lúa khi mới mọc lên, nên rất khó phân biệt với lúa. Chỉ khi trổ bông thì mới khác với lúa, lúc đó thì rễ của cỏ và lúa đã quấn với nhau nên không thể nhổ một mình cỏ được. Hạt cỏ thì lại độc không ăn được.
Tâm hồn chúng ta được trình bày bằng hình ảnh thửa ruộng. Một thửa ruộng có lúa tốt xanh tươi nhưng cũng hiện hữu cỏ lùng phát triển không kém tựa lúa xanh và có khi nhìn thấy giống nhau. Dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong cùng thửa ruộng nói về thân phận con người luôn mang trong mình những cuộc đấu tranh giữa tốt và xấu, giữa chọn Thiên Chúa và chọn đối nghịch với Ngài. Một cuộc tranh đấu không ngừng, chỉ chấm dứt, phân thắng bại khi kết thúc đời người ở trần gian...
Trong cuộc sống nhân sinh, nếu Thiên Chúa nhổ cỏ lùng - tiêu diệt sự ác, thì chắc chắn không ai trong chúng ta có thể sống sót, bởi vì như lời Thánh Vịnh đã diễn tả: "Từ trong lòng mẹ, tôi đã là tội nhân, thoạt sinh ra, tôi đã mắc tội rồi" (Tv 51,7). Tình thương thì nhẫn nại, nên Thiên Chúa luôn chờ đợi thiện chí hoán cải của từng người, đồng thời Ngài còn ban ơn nâng đỡ họ trên mọi bước đường đời, để lúa thêm xanh tốt và lan toả, triệt hạ cỏ lùng để rồi cuối cùng, ngày thầm phán mới tới, ngày xét xử tuyệt đối công mình và không ai có thể trách cứ Ngài là đã không dủ lòng thương xót. Từ ý nghĩa của dụ ngôn, tôi, bạn nhìn vào cuộc đời mình, và thấy rõ ràng nơi chúng ta một cuộc đời luôn hiện hữu những tâm tình tốt lành, những việc làm thánh thiện nở hoa, nhưng cũng chính con người tôi cũng không ít những ích kỷ nhỏ nhen, những hành động mang sắc thái của cỏ lùng...

Có những tật xấu khiếm khuyết làm ta rất khổ sở dù đã làm đủ cách như người thợ xin chủ vườn, "nhổ tận gốc cỏ lùng", nhưng nó vẫn cứ hiện hữu trong cuộc đời ta, xin đừng thất vọng mà hãy kiên tâm nỗ lực sống, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi, Ngài đã sai Con của Ngài đến không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ tin vào Người Con ấy mà được cứu độ (Ga 3,17-18).Chính vì tin vào thiện chí và lòng hướng thượng của những kẻ gian ác mà vị chủ ruộng (tức Thiên Chúa) đã trì hoãn việc nhổ cỏ lùng ngay, vì Ngài chẳng muốn nhổ lầm những mầm lúa tốt trong tâm hồn những kẻ ác (x. Mt 13,29).
Dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong cùng thửa ruộng, cũng cắt nghĩa được sự thiện và sự ác giữa cuộc sống hàng ngày, chấp nhận sống trong một thế giới mà nơi nào cũng có kẻ tốt người xấu tựa lúa và cỏ lùng như ánh sáng và bóng tối luôn xen kẽ nhau trong cuộc sống, Thánh Gioan đã chỉ sự đối lập giữa con cái ánh sáng và con cái bóng tối (x. Ga 1). Thật thế, nhìn vào thế giới, chúng ta sẽ thấy có những ánh sáng, lúa là lòng yêu thương, bác ái, nhân hậu, từ bi, quan tâm giúp người. Nhưng cũng hiện hữu của cỏ lùng - bóng tối là ích kỷ, hận thù.

Thế giới có ánh sáng là khiêm nhường, hiền lành như Chúa Giêsu dạy, nhưng cũng xuất hiện bóng tối là kiêu căng, tự mãn, coi thường tất cả. Có ánh sáng là điều độ, siêu thoát, có bóng tối là tham sân si, chạy theo lạc thú, ham của cải, yêu chức quyền, địa vị. Có hiện hữu ánh sáng là công lý và hoà bình, có bóng tối là bất công, khủng bố và chiến tranh... Chúa Giêsu khẳng định nhiệm vụ của người tin và theo Chúa: "Chúng con là ánh sáng thế gian" (Mt 5,14), và "Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng" (Ga 1,5).
Dụ ngôn "cỏ lùng và lúa" không kết thúc bằng hình ảnh bi quan của "cỏ lùng hoành hành" hay của "lửa thiêu vào mùa gặt". Cỏ lùng sẽ được tận diệt và cánh đồng lúa luôn được tăng trưởng trong thửa ruộng con người, nếu để niềm tin được nuôi dưỡng và tăng trưởng và để đức ái được dậy men như hai dụ ngôn ngắn gọn về hạt cải (x. Mt 13, 31-32) và men trong bột (x. Mt 13, 33) kế tiếp. Hai dụ ngôn này mở ra một cái nhìn rất lạc quan về thực tại Nước Trời nơi tâm hồn của kiếp nhân sinh được Thiên Chúa cứu độ: Nếu có niềm tin dù nhỏ bé và ít ỏi, nhưng một khi vượt qua được những trở ngại để vươn lên, hạt cải Nước Trời sẽ trở thành một cây lớn, làm chỗ nương tựa cho cuộc sống, niềm tin này giúp con người luôn vươn lên phát triển tâm linh và cuộc sống dù bản thân mình đang bị cỏ lùng chiếm hữu; hạt giống đức tin có những khả năng không ngờ: Khi được gieo xuống đất, hạt giống bé tí xíu nó mọc lên thành một cây to.


Cỏ lùng dù còn hiện hữu trong tâm chúng ta, nhưng nếu luôn nuôi dưỡng niềm tin và lòng mến dậy men, tôi và bạn sẽ cảm nghiệm được tâm tình của Thánh Phaolô: "Tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý " (1Tm 2,4).
Thật thế, nếu con có đức tin lớn mạnh và đức mến dậy men, tâm hồn con sẽ diệt được cỏ lùng.

Lm. Vinh Sơn

 
SONG TINH THUC # 293 = GA GAY VA NGA NGUA PDF Print E-mail

GÀ GÁY VÀ NGÃ NGỰA!
Gà gáy và ngã ngựa là hai sự kiện nổi bật trong cuộc đời hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Tiếng gà gáy để phản tỉnh. Cú ngã ngựa để hết tự mãn. Phêrô và Phaolô, trước khi là thánh, hai vị cũng là người tội lỗi, yếu đuối, chập choạng trên con đường đức tin. Các ngài có một quá khứ lầm lỗi. Phêrô có lần bị Chúa quở là satan; ông đã ba lần chối Thầy. Phaolô đã năm lần bảy lượt đi lùng bắt và giết chết những ai mang danh Kitô hữu; ông đã can dự vào việc ném đá Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội. Cả hai đều hăng say năng nổ, muốn dùng sức lực của mình và phương tiện thế gian để bảo vệ Chúa mình tôn thờ, và muốn tiêu diệt những kẻ không theo đạo giống mình. Chúa Giêsu đã cứu cả hai, mỗi người được cứu một cách. Tiếng gà gáy và cú ngã ngựa là hai dấu ấn không phai trên hành trình nên thánh.

1. Tiếng gà gáy phản tỉnh
Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô. Ánh mắt Thầy vẫn trìu mến thân thương như gởi đến ông sứ điệp: Phêrô, sao con lại chối Ta. Ơn nghĩa Thầy trò ba năm gắn bó chẳng lẽ không còn một chút vương vấn hay sao? Lại thêm tiếng gà gáy đêm khuya, nhắc nhở lương tâm ông tỉnh ngộ và nhớ lại lời Thầy đã tiên báo: "Trước khi gà gáy, con đã chối Ta ba lần." Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, cõi lòng xốn xang, mình chỉ là cát bụi, phận yếu hèn và quá dễ sa ngã! Phêrô thổn thức. Mới hôm nào ông còn tuyên bố: "Dù mọi người bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ." Thế mà, giờ đây ông lại nhát gan khi đối diện nguy nan nên đã chối Thầy đến ba lần. Và đêm hôm ấy, tiếng gà gáy đã thức tỉnh tâm hồn Phêrô. Xuất thân là ngư phủ với bản tính chất phác, chân thật, có sao nói vậy, nên khi lầm lỗi ngài chân thành sám hối và òa khóc như một đứa trẻ. Đó là hành trình của phàm nhân, những con người luôn mỏng dòn và yếu đuối, nhưng luôn được Thiên Chúa hải hà thương xót, thứ tha và thánh hóa. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mãnh, giữa trọn vẹn và dang dở. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Tuy nhiên, thánh Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tầm thường nơi con người của ngài. Nhờ đó, ngài đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa. Thánh Phêrô có lòng quảng đại. Khi được Chúa gọi, ông nhanh nhẹn bỏ tất cả mọi sự rồi theo Chúa.

2. Cú ngã ngựa để hết tự mãn
Saolô ở Tacxô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái-Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Là biệt phái nhiệt thành nên Saolô đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Stêphanô và trên đường Đamat truy lùng các Kitô hữu. Oai phong trên yên ngựa đang phi nước đại, thình lình, một luồng ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông, Saolô té nhào từ yên ngựa. Nằm sóng soài dưới chân ngựa, Saolô nghe được tiếng gọi trong luồng ánh sáng phát ra từ trời: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Saolô hỏi lại: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Tiếng từ trời đáp: ��Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ." Không thể tin vào chính mình nữa, không ngờ ông Giêsu Nadarét, người đã bị đóng đinh vào thập giá như một tên tội phạm, lại chính là Thiên Chúa quyền năng đã quật ngã mình và đã tự đồng hóa với những Kitô hữu mà mình đang lùng bắt. Dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh, đôi mắt của Saolô bị mù loà, nhờ đó ngài biết rằng trước đây mình thật là mù quáng. Nhưng sau đó, qua trung gian của Khanania, đại diện của Giáo Hội, ngài đã được sáng mắt về phần xác và cả phần hồn để nhìn thấy con đường mình được mời gọi bước vào..................

Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Cùng chịu tử đạo. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Vì Sao Sáng được Giáo hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6. Hai Tông Đồ cột trụ đã trở nên tượng đài của sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hiệp nhất là một công trình ��ược xây dựng với nhiều nỗ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. "Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả," đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM  HÀNH ĐỘNG : Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô, hoạt động truyền giáo theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, hai Thánh Tông đồ trở nên nền tảng hiệp nhất. Hai ngài trở thành chói sáng như hai vì sao trong vòm trời Giáo Hội, đáng được các tín hữu chiêm ngắm noi theo. Hai ngài đã biết khiêm tốn, nhận mình là thấp hèn tội lỗi rồi mở tâm hồn ra đón nhận tình thương của Thiên Chúa. Khi trả lời câu phỏng vấn: "Jorge Bergoglio là ai?", Đức Thánh cha Phanxicô đáp: "Tôi là người tội lỗi được Chúa nhìn đến." Và ngài tuyên bố: "Chính tôi là người tội lỗi đây, có gì lạ đâu! Cái lạ là ở chỗ được Chúa nhìn đến, được Chúa xót thương. Và từ đó người ta tìm xem Chúa xót thương ở chỗ nào."

Xin hai Thánh Tông Đồ giúp chúng con luôn biết tín thác vào tình thương của Chúa, luôn biết tiến bước theo các ngài trên con đường theo Chúa. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
--------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 41