mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2229
mod_vvisit_counterHôm Qua9844
mod_vvisit_counterTuần Này45135
mod_vvisit_counterTuần Trước79228
mod_vvisit_counterTháng Này134344
mod_vvisit_counterTháng Trước339420
mod_vvisit_counterTất cả17354136

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Các Bài Độc Giả Gửi Tới
CAC BÀI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI - GIÊ-SU MỈM CƯỜI PDF Print E-mail

Chi Tran

TỪ MÁNG CỎ ĐẾN THẬP GIÁ: GIÊSU MỈM CƯỜI

Tôi không có ý nói đến những lúc trẻ sơ sinh đang ngủ với khuôn mặt giống như đang mỉm cười hạnh phúc, hoặc đôi khi có những nụ cười 'vu vơ thoáng qua'. Điều tôi muốn nói về nụ cười nhân văn...

MẦU NHIỆM ẨN CHỨA TRONG NỤ CƯỜI HÀI NHI GIÊSU[1]

Hành động nhân văn đầu tiên của con người chính là mỉm cười.

Đúng vậy, khi nhu cầu động vật của trẻ thơ được đáp ứng - bé đã được bú sữa no nê và ngủ ngon, mọi sự đã hài hòa êm ấm rồi - thì hành động nhân văn đầu tiên của bé thơ chính là mỉm cười (chứ không phải là hút và bú như thực vật và động vật).

Tôi không có ý nói đến những lúc trẻ sơ sinh đang ngủ với khuôn mặt giống như đang mỉm cười hạnh phúc, hoặc đôi khi có những nụ cười 'vu vơ thoáng qua'. Điều tôi muốn nói về nụ cười nhân văn, đó là khi bé thơ đã lớn hơn một chút, ở hai hoặc ba tháng tuổi, đã có thể tập trung đôi mắt của mình đủ lâu để nhìn vào mắt mẹ và mỉm cười với mẹ mình.

Khi ấy, rất chính xác, đây chính là hành vi nhân văn đầu tiên mà một trẻ sơ sinh đã thực hiện được. Không phải cử chỉ giơ tay, không phải giọng nói, không phải cái gật đầu hay cái nháy mắt, mà chính là hành vi mỉm cười với người khác. Phải nói rằng, thật đúng là một biến cố đáng kinh ngạc khi mọi người đang đứng xung quanh bé, bất ngờ thốt lên: "Nhìn kìa, bé mỉm cười với bạn kìa!" Chúng ta thấy rằng nụ cười của bé khi ấy chính là nét đặc trưng của con người, do sự tinh tế của nó, nhưng cũng do những gì sẽ được phát triển lên sau này.

Nụ cười trẻ thơ mang đậm nhiều ý nghĩa. Nó không chỉ là một phản xạ đơn thuần, bởi vì nó có mục đích và diễn ra trong một bối cảnh cụ thể. Quả là nó có một 'phần cứng', nghĩa là không cần luyện tập học hỏi, bé thơ cũng có thể mỉm cười được. Nụ cười của bé xuất hiện rất tự nhiên, nhưng tự nhiên cách thông minh và nhanh nhạy.

Nếu nụ cười trẻ thơ có ý nghĩa, thì ý nghĩa đó đến từ bản chất con người - và do đó đến từ Đấng Tạo Hóa, bởi vì nụ cười của trẻ thơ không phải là hành vi cụ thể của riêng nó – giống như những câu nói mà bé sẽ thốt ra sau này.

Hãy lắng nghe Đấng Tạo Hóa nói về ý nghĩa nụ cười của trẻ thơ: "Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian" (Ga 16,21). Chúng ta có thể thấy rằng niềm vui của mẹ và của con rất giống nhau. Và điều chúng ta thấy được trong nụ cười của trẻ sơ sinh chính là niềm vui của một con người vừa mới chào đời.

Niềm vui của một con người vừa mới chào đời, không phải là vì một cái 'Tôi' vừa mới được sinh ra - bởi lẽ, niềm vui đó nằm trong sự tốt lành của bản chất và hiện hữu con người, chứ không phải nằm trong cá vị của trẻ bé đó. Một trẻ bé xem ra có vẻ ích kỷ theo nghĩa là nó luôn cố gắng tìm thỏa mãn nhu cầu của mình. Nhưng trẻ bé đó lại hoàn toàn quên mình bởi vì bé không hề nghĩ về bản thân mình như là một thực thể đối kháng với người khác; bé hoàn toàn hòa nhập với mọi người.

Đây chính là niềm vui vì một người đã được sinh ra "trên thế giới". Câu nói này mang cả hai nghĩa: trẻ sơ sinh "đến từ thế giới" và "đến với thế giới". Và cả hai ý nghĩa này đều thấy được trong nụ cười của trẻ sơ sinh.

"Nụ cười đến từ một thế giới": Trong nụ cười trẻ thơ, chúng ta thấy rằng trẻ bé này đã đến từ một nơi nào đó, không phải từ bụng mẹ, mà là từ Cha trên trời.

Trong nụ cười của mình, trẻ sơ sinh chia sẻ với chúng ta một điều ẩn giấu. Nụ cười của bé cho thấy mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa mà bé đang vui hưởng trong tư cách một nhân vật mới mẻ đầy thơ ngây và tươi mới (như lời của Thánh Jose María Escrivá). Đó là lý do tại sao nụ cười trẻ thơ thậm chí có thể khiến chúng ta tự cảm thấy xấu hổ và có cảm giác mình không xứng đáng với một nụ cười xinh đẹp và thánh thiện như thế.

"Nụ cười đến với thế giới": Không còn nghi ngờ gì nữa, nụ cười trẻ thơ là một niềm vui được chia sẻ với người khác và mang xã hội tính. Nó đòi hỏi chúng ta phải đáp lại bằng nụ cười vui mừng tương tự - và chúng ta đã làm như thế.

Sự 'siêu việt nội tại' này - mà nhà triết học người Do Thái Emmanuel Levinas đã nhận ra trên khuôn mặt con người - được nhìn thấy trước hết trong nụ cười trẻ thơ.

Và hãy nghĩ đến nụ cười của Hài nhi Giêsu, nụ cười diễn tả niềm vui của một 'Thiên Chúa làm người' đã đến trong thế giới.

Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu đã mô tả cuộc khổ nạn của Ngài như việc chào đời của một trẻ thơ. Ta hãy cùng làm như vậy.

Với nhiều vị thánh, hành động cuối cùng cũng như đầu tiên trong đời của họ chính là mỉm cười. Không phải là Chúa của họ cũng đã làm như thế và đã mỉm cười trên thập giá hay sao? Ngài đã mỉm cười, ngay trong cơn đau, khi nhìn Mẹ Maria và nói với Gioan: "Này là Mẹ con!"

Thánh Tôma Aquinô kết nối lời này trên thập giá với tiệc cưới Cana: "Trong tiệc cưới Cana, khi Mẹ Maria nói: 'Họ hết rượu rồi' (Ga 2, 3), Đức Giêsu đáp: 'Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và Tôi? Giờ của Tôi chưa đến.' Giờ của Tôi là Giờ thương khó, khi Tôi chịu đau khổ nơi thân xác đã nhận được từ nơi Bà. Giờ đó chưa đến. Nhưng khi Giờ đó đến, Tôi sẽ 'xác nhận' Bà. Và bây giờ đã đến Giờ ấy, Chúa đã giới thiệu Mẹ mình: 'Này là Mẹ con!'"

Vì có một sợi chỉ trực tiếp nối từ máng cỏ đến thập giá - như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã xác định trong một bài giảng Giáng Sinh - nên câu nói này trên thập giá cũng kết nối với Bêlem. Kết nối qua đôi mắt của Mẹ Maria. Là người môn đệ tốt lành của Chúa, hẳn Mẹ vẫn nhớ lời dạy của Con mình mà nhìn Thánh giá Chúa như một cuộc sinh nở.

Và, nếu chúng ta cho rằng Chúa chúng ta đã mỉm cười với Mẹ mình từ đỉnh cao thập giá, thì hãy tưởng tượng rằng, Mẹ cũng đã nhìn thấy, trong nụ cười ấy, có nụ cười của Hài nhi Giêsu lúc mới chào đời. Ý nghĩa của cả hai nụ cười rất giống nhau. Trong cả hai nụ cười, Mẹ thấy niềm vui của bản tính nhân loại - mà Đức Giêsu đã nhận lấy từ Mẹ để mạc khải thiên tính của Ngài - đã đến trong thế giới để cứu độ với cuộc khổ nạn của Ngài.

Vì thế, đây chính là liều thuốc giải độc cho chủ nghĩa cảm tính về Giáng Sinh, được tìm thấy trong nụ cười của Hài nhi Giêsu. Vì như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói, nụ cười ấy giải thích mầu nhiệm Giáng Sinh - "một mầu nhiệm không ngừng chất vấn chúng ta, cũng là mầu nhiệm của niềm hy vọng và nỗi sầu muộn." Ta có thể hiểu hơn về ý nghĩa nụ cười của Hài nhi Giêsu trong 2 bài thơ dưới đây.

KHI GIÊSU MỈM CƯỜI VỚI TÔI

Hồn u ám trong đêm tội lỗi,
Không ánh sáng của Chúa chiếu soi
Nhưng Cứu Chúa đã đến tìm tôi
Ôi hồn tôi thắng được bóng tối
Vì Giêsu mỉm cười với tôi.

Khi Giêsu mỉm cười,
ngày tăm tối cũng thành tươi sáng.
Khi Giêsu mỉm cười
tim chĩu nặng cũng hóa dịu êm,
Khi Giêsu mỉm cười
tôi chẳng sợ dù ngày hay đêm.

Ôi Giêsu mỉm cười với tôi...

Đường tôi đi âm u lạc loài,
Lang thang trong mê cung vô vọng
Tôi vẫn hát những lời ca tụng
Vì Giêsu mỉm cười với tôi.

Khi Thần Chết gọi tôi đi với nó
Dẫn tôi vào cõi lạnh lẽo giá băng
Vẫn thấy Ngài nên tôi vẫn hân hoan
Ngài vẫn mỉm cười với tôi nơi đó... [2]

GIÊSU MỈM CƯỜI [3]

Khi Giêsu mỉm cười, trong nụ cười ấy có tình yêu. Có yên vui. Có hòa bình.

Khi Giêsu mỉm cười, trong nụ cười ấy có sự đón nhận và hiệp nhất. Có sự khiêm tốn và dịu dàng như nụ cười của một người mẹ tặng cho con mình. Đó là nụ cười giống như khi người mẹ quay sang nhìn con trong tấm thân hồng hào quấn tã.

Khi Giêsu mỉm cười,
Hỡi bạn là những người hiền lành, những người không ghen ghét, tự bản chất bạn là thế, bạn chỉ biết yêu thương mọi loài. Ôi ngay cả các bạn, những người thuộc mọi thế giới đang trân trọng tình yêu, hòa bình và yên vui, hãy để nụ cười Giêsu thấm sâu vào trong bạn và hãy mỉm cười.

Giêsu mỉm cười. Trong nụ cười này là sự hòa điệu.
Chúng ta cũng hãy mỉm cười như thế.

Đừng để những khắc nghiệt xen vào giữa chúng ta. Vì nụ cười này là tình yêu. Đừng xét đoán, đừng buộc tội; đừng để bất kỳ suy nghĩ không tử tế nào đến giữa chúng ta, ngay cả khi chúng ta xa nhau, hoặc khi chúng ta ở một mình.

Dù bạn sống ở phía bên kia thế giới, còn tôi sống ở phía bên này, chúng ta cũng hãy mỉm cười.
Dù bạn sống ở phía bên kia hàng rào, còn tôi ngồi ở đây, chúng ta hãy mỉm cười.

Giêsu mỉm cười. Xin đừng để cho 'cái tôi' đi vào trong nụ cười ấy. Vì ở đây không cần diễn văn uyên bác, câu nói vô tình, ý đồ ngang ngạnh. Hoặc sự kiêu căng nhằm chứng tỏ mình đúng đắn.

Luôn chỉ có nụ cười. Và hòa bình.
Đừng xúc phạm nhau vì chỉ có tình yêu khi có nụ cười.

Khi Giêsu mỉm cười,
Nụ cười này là nụ cười của tình yêu hoàn hảo vô vị lợi, mang đến cho người khác những gì họ đang mong đợi. Trong nụ cười này, xin đừng để những khắc nghiệt và ích kỷ đến giữa chúng ta.

Khi Giêsu mỉm cười,
Hãy gặp nhau như thể chúng ta hằng luôn hiểu biết nhau. Hãy gặp và tôn kính tình yêu trong nhau. Hãy mỉm cười vì kìa, Giêsu đang mỉm cười.

Hãy gặp nhau và khởi hành trong hòa bình. Hãy gặp nhau và khởi hành với tình yêu. Vì nụ cười thậm chí đã phủ đầy ngay cả những tâm hồn khắc nghiệt nhất. Hãy để nụ cười đó tràn ngập tâm hồn bạn.

Như Giêsu mỉm cười. Mỉm cười luôn mãi.

Chú thích:

[1] Vi Hữu chuyển ngữ từ bài viết 'The Mystery in the Christ Child's Smile' của Michael Pakaluk,
https://www.thecatholicthing.org/2016/12/31/the-mystery-in-the-christ-childs-smile/
[2] Vi Hữu dịch thành thơ, từ bài thánh ca 'When Jesus smiles on me' của nhạc sĩ Thomas Curtis Clark.
https://hymnary.org/text/my_soul_was_darkened_in_the_night
[3]

Từ Máng cỏ đến Thập giá: Giêsu mỉm cười

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Chuyên trang Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Vi Hữu chuyển ngữ thơ 'Jesus smiles' của Raj Arumugam

Lm Giuse Vi Hữu

-------------------------------------

 
CAC BÀI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI - NHÓM HIỆP THÔNG PDF Print E-mail

Huong Bui


Dec 23 at 1:29 AM
Lc 1: 28-38
Tin nhận :
Lạy Thiên Chúa là Cha !
" Vâng , tôi đây là nữ tỳ của Chúa , xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói. "


Một việc làm sãnh sàng vâng lời Thiên Chúa Cha bằng đức tin của Thiếu nữ Maria năm xưa , qua lời sứ Thần truyền , Maria đã chấp nhận việc làm siêu nhiên là : mang thai cho Thiên Chúa mà không nghĩ đến có thể gây ra hậu quả.
Mất danh dự
Mất hạnh phúc cá nhân với vị hôn phu.
Mất tính mạng bằng những hòn đá theo phong tục thời đó.
Maria đã đồng ý để chương trình của Thiên Cha Cha muốn nơi mình.
Cảm tạ Cha !Cha đã không để Maria bị thiệt thòi. Nhưng Cha làm trên sự vâng lời của Maria thật lớn lao.
-Mẹ Maria thật có phúc hơn mọi người nữ , phúc cho dân tộc , phúc cho nhân loại. Vì sự tin cậy của Mẹ đã đem món quà vô giá là : Ơn Cứu Rỗi đời đời cho con người.
Nay , Giesu Ngài đã giáng trần. Emmanuel, Ngài ở giữa chúng con Ngài làm những điều con người không thể làm được là :
Giải thoát gông cùm tội lỗi , ban bình an , chữa lành và cho con người sự sống đời đời trên Vương Quốc của Ngài.
Cầu nguyện : Xin Chúa Thánh Thần giúp con đừng e dè , lo sợ khi vâng lời Thánh ý Cha qua Tin Mừng , đám chấp nhận hành động theo ý Cha. Xin cho con hạ mình khiêm tốn và có niềm tin như Mẹ , để con biết tin cậy vào Chúa Giesu Kitô Đấng đã chết và sống lại cho con , mà con không mất đi cơ hội quý báu và những điều phi thường Cha đã dành cho con.


Tạ ơn Chúa Giesu ! Vi khi con biết vâng Lời Chúa truyền. Con tìm được một nơi an toàn , nơi bình an cho Linh hồn và Nước Thiên Đàng ngay trong lòng con.

Nhóm Hiệp Thông cầu nguyện.

--------------------------------------

 

 
CAC BÀI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI - ĐỨC HUỲNH PHÚ SỔ PDF Print E-mail

Nguyen Quang Duy
Dec 15 at 2:53 PM

Bài mới xin gởi đến quý vị rất mong được phổ biến rộng rãi.

Nguyễn Quang Duy

Đức Huỳnh Phú Sổ: đạo, đời và đảng chính trị là một.

Đức Huỳnh Phú Sổ sinh tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc ngày 15/1/1920, nhằm ngày 25/11 năm Kỷ Mùi, gần 100 năm trước.

Đức Thầy vừa khai sáng Phật Giáo Hòa Hảo, vừa thành lập đảng Dân Xã, triết lý đạo, đời và đảng chính trị của Đức Thầy xét thấy rất gần với triết lý xây dựng thể chế chính trị tại Hoa Kỳ.

Kỷ niệm 100 năm ngày Đức Thầy đản sinh là dịp để chúng ta suy ngẫm về con đường toàn dân chính trị Thầy đề ra.

Mang đạo vào đời

Phật Giáo Hòa Hảo làm lành tránh ác, tu thân nhập thế, thực hành Tứ Ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Ngoài giáo lý nhà Phật, Thầy còn chọn lọc những điều hay lẽ phải của Nho giáo và Lão giáo, cùng với tấm lòng yêu nước chuyển thành thơ ca được gọi là Sấm Giảng.

Đức Huỳnh Giáo Chủ giải thích sự tương quan vô cùng chặt chẽ giữa đạo và đời: "Đời không đạo, đời vô liêm sỉ, đạo không đời, đạo biết dạy ai?"

Những bài thơ về Đạo khuyên người đời tu niệm, lời lẽ bình dân, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ đi vào lòng người, nhanh chóng thu hút được hằng triệu tín đồ miền Tây Nam phần.

Số tín đồ Hòa Hảo ngày nay đã lên đến 7 triệu người sống khắp nơi trên thế giới, sống hòa đồng với đồng bào nhân loại nên được hầu hết bà con cộng đồng, làng xóm yêu mến và quý trọng.

Người viết chỉ là thân hữu của Phật Giáo Hòa Hảo và thân hữu của đảng Dân Xã nhưng có cơ duyên được biết về Đạo và tìm hiểu về Thầy.

Mang đạo vào chính trị

Ngày 21/9/1946, Đức Thầy cùng luật sư Mai Văn Dậu, ông Nguyễn Văn Sâm, ông Trần Văn Ân và giáo sư Nguyễn Hoàn Bích (Nguyễn Bảo Toàn) tuyên bố thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng viết tắt là đảng Dân Xã.

Giáo chủ một tôn giáo lại công khai đứng ra thành lập một đảng chính trị là một điều chưa từng nghe thấy trong lịch sử nhân loại.

Triết lý mang đạo vào chính trị hòa nhập đạo, đời và đảng chính trị được Đức Thầy giải thích như sau:

"1. Việt Minh tranh đấu chánh trị, nếu Thầy đem đạo ra tranh đấu thì không thích hợp. Vì đạo lo tu hành chơn chất. Nên Thầy phải tổ chức đảng chánh trị, mới thích ứng nhu cầu tình thế nước nhà.

"2. Các nhà ái quốc chơn chánh trong nước mặc dầu nhận Thầy là một nhà ái quốc, nhưng không hề cùng hiệp chung với Thầy dưới danh nghĩa Phật Giáo Hòa Hảo để lo việc quốc gia, bởi lẽ anh em ấy không thể tu hành như mình, hoặc giả đã có đạo rồi thì không thể bỏ đạo quy y Phật Giáo Hòa Hảo. Vì vậy, Thầy phải tổ chức chánh đảng để anh em ấy có điều kiện tham gia. Họ chỉ phải giữ kỷ luật của Đảng mà thôi, còn tôn giáo thì riêng ai nấy giữ.

"3. Vậy tất cả anh em tín đồ, nếu thấy mình còn nặng nợ với Non sông Tổ quốc, thương nước thương dân, hãy tham gia đảng mà tranh đấu. Đây là phương tiện để anh em hành xử Tứ-Ân."

Triết lý Đức Thầy không chỉ giới hạn ở chỗ mỗi tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo là một đảng viên Dân Xã, Thầy còn nêu rõ chủ trương toàn dân chính trị:

'Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thực thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: "chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân".

'Đã chủ trương "Toàn dân chánh trị" thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào.'

Toàn dân chính trị là nâng tầm hiểu biết của người dân về quyền chính trị để mọi người tham gia chính trị một cách bình đẳng.

Đức Huỳnh Giáo Chủ lấy lời Phật dạy "Phật đồng thể tánh với chúng sanh, chúng sanh là Phật sẽ thành (mọi người đều có thể thành Phật)", để nhắc nhở tín đồ tinh thần bình đẳng của Phật Giáo.

Thực hiện công bằng xã hội

Trong Tuyên Ngôn sáng lập đảng Dân Xã, Đức Thầy nêu ra cách thức tạo công bằng xã hội:

"Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng cách mạng xã hội, chủ trương tổ chức nền kinh tế theo nguyên tắc chủ nghĩa xã hội: không để giai cấp mạnh cướp công quả của giai cấp yếu, làm cho mọi người đều được hưởng phúc lợi cân xứng với tài năng và việc làm của mình; những người tàn tật yếu đuối thì được nuôi dưỡng đầy đủ."

Xã hội Tây Phương luôn tồn tại hai khuynh hướng chính trị trái ngược nhau là tự do và xã hội.

Những người có vốn, có tiền, tin vào động lực của kinh tế tự do thường liên kết bảo vệ quyền lợi của họ.

Còn những người nhận ra sai sót của kinh tế thị trường, những người gắn liền với đời sống thực tế của người lao động và chính những người lao động thường liên kết để đấu tranh thực hiện công bằng xã hội.

Ở Tây phương các đảng dân chủ xã hội ngoài việc bảo đảm công ăn việc làm, bảo đảm một đời sống cơ bản cho người dân, còn không ngừng đấu tranh cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, cho giáo dục, y tế được miễn phí, cho người già, người tàn tật, người thiểu số, người thất nghiệp có an sinh và cho xã hội được bình đẳng bình quyền.

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng cũng thế là tổ chức chính trị của những người dân chủ xã hội sẵn sàng dấn thân đấu tranh cho tầng lớp lao động.

Chủ tịch‎ đảng ông ‎Nguyễn Văn Sâm và Tổng bí thư‎ giáo sư Nguyễn Hoàn Bích (bí danh Nguyễn Bảo Tòan) đều không phải là tín đồ Hòa Hảo.

Bài học tranh cử tại Mỹ

Triết lý đạo, đời và đảng chính trị là một và chính trị toàn dân của Thầy, hoàn toàn đối nghịch với lý thuyết cộng sản muốn tách riêng đạo với đời, người cộng sản xem chính trị là công việc độc quyền của đảng, nhưng triết lý của Thầy lại rất giống với triết lý chính trị ở Mỹ.

Nước Mỹ được thành lập bởi những tín đồ Thiên Chúa Giáo với niềm tin con người bình đẳng về chính trị:

"...rằng tạo hóa đã ban cho con người những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc."

Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ Mỹ gồm hằng ngàn tổ chức chính trị, kinh doanh, tín ngưỡng, nghiệp đoàn, dân sự và phong trào xã hội lớn nhỏ cùng hằng chục triệu đảng viên cá nhân không tham gia tổ chức.

Ở Mỹ, ngay đến những tu sỹ Thiên Chúa Giáo, cứ đến mùa bầu cử, dân chúng đều tham gia chính trị bằng cách gia nhập một đảng chính trị để chọn lựa những người trong đảng xứng đáng nhất để đưa ra tranh cử quốc gia.

Phương cách công khai tranh cử nội bộ đảng trước, rồi sau đó ra tranh cử quốc gia đã hết sức thành công tại Mỹ, nước Mỹ luôn có những người lãnh đạo thích hợp nhất với thời cuộc, giúp nước Mỹ luôn giữ vai trò cường quốc số 1 trên thế giới.

Đức Thầy thọ nạn

Chỉ sáu tháng sau khi đảng Dân Xã thành lập, Việt Minh cộng sản đã ám hại Đức Thầy tại Đốc Vàng Hạ thuộc tỉnh Long Xuyên, ngày 16/4/1947.

Tín đồ Hòa Hảo tiếp tục con đường tu thân nhập thế thực hành Tứ Ân, nhưng triết lý mang đạo vào chính trị, hòa nhập đạo, đời và đảng chính trị của Đức Thầy ít được biết đến.

Dẫu vậy Phật Giáo Hòa Hảo và đảng Dân Xã đã đóng góp rất lớn cho cuộc đấu tranh chống Pháp giành độc lập nước nhà và đấu tranh bảo vệ, xây dựng dân chủ tại miền Nam.

Trước 30/4/1975, những khu vực Phật Giáo Hòa Hảo là những khu vực được tín đồ Hòa Hảo giữ gìn an ninh không để cộng sản xâm nhập, người dân sống thanh bình như không hề có chiến tranh.

Việt Nam tự do

Đảng Cộng sản vẫn mệnh danh là đại diện cho giai cấp công nhân, nhưng thực chất là những kẻ cai trị vừa bóc lột tầng lớp lao động, vừa đục khoét tài nguyên quốc gia.

Công nhân không đủ sống, nông dân không đủ ăn, sông Cửu Long cạn nước, nước biển tràn vào đồng bằng, miền Nam ngập nước, tệ nạn buôn người là những đề tài thường xuyên được báo chí chính thống đề cập tới.

Không ai thực sự đại diện đấu tranh cho quyền lợi của tầng lớp lao động, đấu tranh cho công nhân, cho nông dân, cho dân lao động, cho dân thất nghiệp và cho sắc tộc thiểu số tại Việt Nam.

Triết lý đạo, đời, đảng chính trị là một và toàn dân chính trị của Đức Thầy quả đi trước thời đại, nhưng vẫn còn nguyên giá trị và khi Việt Nam có tự do đảng Dân Xã cần phục hồi triết lý của Đức Thầy để xây dựng lại đất nước.

Với 7 triệu tín đồ Hòa Hảo, nếu đảng Dân Xã áp dụng thể thức tranh cử kiểu Mỹ là công khai tranh cử nội bộ trước, sau đó đưa ứng viên ra tranh cử quốc gia, đảng Dân Xã sẽ trở thành lực lượng chính trị thiết yếu đại diện cho tầng lớp lao động thực thi công bằng xã hội.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi - 16/12/2019

----------------------------------

 

 
CAC BAI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI - LƯƠNG THIỆN PDF Print E-mail

Chi Tran
Dec 14 at 7:29 AM

---------- Forwarded message ---------
From: nguyenthi leyen
Date: Fri, Dec 13, 2019 at 11:14 PM
Subject: Fw: LƯƠNG THIỆN
To:

LƯƠNG THIỆN

Thông minh là thiên phú mà lương thiện lại là sự lựa chọn. Vậy nên, nếu có lúc cuộc sống này bắt ta lựa chọn, đừng ngần ngại lựa chọn trở thành người thiện lương.

Từ xưa Sa mạc Sahara được mệnh danh là vùng đất chết, hễ người nào tiến vào sa mạc này cũng không thoát được vận mệnh: Có đi không có về.

Vào năm 1814, một đoàn khảo cổ đã phá vỡ "lời nguyền" nói trên. Khi đó, ở bất cứ nơi nào trong sa mạc cũng có thể nhìn thấy xương người. Trưởng đoàn đã yêu cầu mọi người dựng lại, chọn nơi đất cao để đào hố chôn những bộ hài cốt này và dùng thân cây hoặc đá để làm bia mộ đơn giản.

Tuy nhiên, xương người trong sa mạc thật sự quá nhiều, việc chôn cất đã chiếm một khoảng thời gian quá dài. Các thành viên trong đoàn phàn nàn: "Chúng ta đến đây để nghiên cứu khảo cổ chứ đâu phải để thu dọn xương người".

Vị đội trưởng kiên trì nói: "Mỗi bộ hài cốt đều từng là đồng nghiệp của chúng ta, mọi người làm sao có thể nhẫn tâm để họ phơi xương nơi hoang dã như thế này?"

Một tuần sau, đoàn khảo cổ phát hiện được rất nhiều di tích của người cổ đại đủ gây chấn động trên toàn thế giới. Nhưng lúc họ rời đi, bão cát đột nhiên nổi lên, mấy ngày liền không thể nhìn thấy Mặt trời. Tiếp đó, la bàn cũng mất tác dụng.

Đoàn khảo cổ hoàn toàn bị mất phương hướng, lương thực và nước uống cạn dần. Lúc này họ mới hiểu tại sao những đồng nghiệp kia không thể trở về.

Trong lúc nguy nan, vị trưởng đoàn đột nhiên nói: "Đừng vội tuyệt vọng, mọi người có nhớ không. khi đến đây chúng ta đã để lại dấu hiệu dọc đường!"

Và thế là họ men theo những bia mộ đã lập khi chôn hài cốt, cuối cùng tìm được đường ra khỏi vùng đất chết. Về sau, khi trả lời phỏng vấn của báo chí, các thành viên của đoàn khảo cổ đều bùi ngùi nói: "Lương thiện chính là thứ đã giúp chúng tôi thoát khỏi sa mạc!"

Thật vậy, trong sa mạc mênh mông, sự lương thiện đã thôi thúc họ làm một việc nhân văn và chính hành động đó đã giúp cả đoàn tìm được đường về.

Trên con đường nhân sinh dài đằng đẳng, lương thiện chính là kim chỉ nam trong lòng mỗi người, giúp chúng ta thấy rõ nội tâm của mình, vĩnh viễn không bao giờ lầm đường lạc lối.

Tôi vẫn luôn cho rằng thiện là một loại phẩm tính mềm mại nhất, nhưng cũng giàu sức mạnh nhất tiềm ẩn trong nhân tính của con người. Bất kể gian nan thế nào, chúng ta cũng nên giữ vững tấm lòng lương thiện; mặc kệ cô độc ra sao, cũng phải duy trì nhân cách cao thượng.

Trên thế giới này, cuộc sống của mỗi người đều có những khó khăn riêng, mong rằng mỗi trường hợp bi thương đều sẽ nhận được ấm áp tình người, mong rằng tất cả mọi người đều có thể đối đãi với nhau thật hòa nhã.

Một ngày nào đó tất cả mọi người sẽ minh bạch, muốn có được tấm lòng lương thiện còn khó hơn sự thông minh. Bởi thông minh là thiên phú mà lương thiện lại là sự lựa chọn. Vậy nên, nếu có lúc cuộc sống này bắt ta lựa chọn, đừng ngần ngại lựa chọn trở thành người thiện lương.

ST

 
CAC BÀI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI - THÁNH DON BOSCO VÀ CON CHÓ PDF Print E-mail

Chi Tran

Thánh Don Bosco và con chó

Khi những con thú tương đối kém thông minh răm rắp tuân lệnh các thánh thật là một chuyện lạ lùng. Sách Chuyện Các Thánh đầy rẫy những câu chuyện về ảnh hưởng khác thuờng của các thánh đối với đủ mọi loài thú. Dường như Thiên Chúa ban cho các ngài một mối quan hệ lạ lùng với các loài thú là để lôi kéo con người đến với Ngài khi họ kinh ngạc trước những điều kỳ diệu mà Chúa đã tạo ra giữa các thánh và các thú dữ.
Sau đây chúng tôi xin kể ba trường hợp như vậy - chuyện thánh Gioan Bosco với con chó bí mật tên Grigio, chuyện thánh Giuse Cupertino với con chim sẻ cánh vàng, và chuyện linh mục Phaolô thành Moll và những con chim thông tín viên nhiều màu sắc.

Thánh Gioan Bosco và con chó bí mật Grigio đã bảo vệ ngài trong nhiều trường hợp
Trong cuộc đời của thánh Don Bosco có những giai đoạn lạ lùng mà đáng ngạc nhiên nhất là sự xuât hiện của con chó "Grigio" một con chó xám khổng lồ bất thần xuất hiện vào những lúc thánh nhân gặp nguy biến rồi ít năm sau biến mất khi nguy hiểm không còn nữa. Con chó này không đòi ăn, không tìm nơi trú ẩn; nó hung dữ như một con chó sói chống lại kẻ thù nhưng lại hiền lành như một con chiên đối với các cậu bé trong Nhà Nguyện Oratory, và thánh Bosco đã đặt cho nó cái tên là Grigio – "con chó lông xám."

Don Bosco một đêm nọ đi ngang qua một khu vực đông dân nằm gần thị trấn Valdocco. Bọn bất lương thường núp sau những bụi cây rậm rạp để nhảy bổ ra ám hại khách bộ hành. Bà Margaret Bosco, mẹ của ngài, rất lo lắng mỗi lần ngài phải di chuyển trong bóng đêm. Thánh Bosco vừa mới đi qua hết mấy dãy nhà trong thị trấn thì một con chó khổng lồ xuất hiện và đi bên cạnh ngài.

Thoạt tiên thì ngài rất sửng sốt nhưng khi nhận thấy con vật có vẻ thân thiện nên ngài chấp nhận cho nó đồng hành với ngài và đi tiếp đến Nhà Nguyện. Khi tới cửa thì con vật quay trở lại đường cũ và chạy mất hút trong đêm đen. Từ đó trở đi, mỗi khi Don Bosco phải ra ngoài ban đêm, thì con chó lại xuất hiện và sự thể cứ tiếp diễn như vậy.
Mỗi lần thánh Bosco đi ngang qua một khu vực hẻo lánh của thành phố thì lại thấy con chó đứng đó đợi ngài.

Một đêm nọ, ngài nhận thấy có hai tên khả nghi bám sát chân ngài. Don Bosco bèn băng qua đường để né tránh chúng thì ai tên này cũng liền băng qua theo ngài. Nhưng khi Don Bosco quyết định trở lại bên kia đường thì hai tên này đã nhảy tới nắm lấy ngài. Chúng lấy áo choàng trùm lên đầu và nhét giẻ vào miệng ngài. Don Bosco cố sức vẫy vùng để thoát khỏi tay chúng và kêu cứu nhưng vô ích. Bỗng chốc, Grigio xuất hiện gầm gừ dữ tợn và xông thẳng vào chúng. Grigio nhảy bổ vào tên cầm áo choàng khiến tên này phải bỏ áo ra, cắn tên thứ hai và vật ngã nó xuống đất. Tên thứ nhất tìm đường tẩu thoát nhưng Grigio phóng theo, vật nó xuống bùn, đè chân lên ngực cả hai và gầm gừ rất hung dữ. Hai tên vội năn nỉ Don Bosco: "Xin ngài gọi nó lại cho chúng tôi nhờ!" Ngài đáp: "Tao sẽ gọi nó lại nếu chúng mày để tao yên, không được phá rối công việc của tao nữa". "Vâng, chúng tôi xin hứa bất cứ điều gì... nhưng xin ngài gọi dùm nó lại!" Don Bosco nói, "Grigio, lại đây con" con chó vâng lời lập tức, trong khi hai tên bầt lương quá sợ hãi đã vội vã tháo chạy như bay.

Một đêm khác, trên đường về nhà, Don Bosco bị một người nấp sau bụi cây rút súng bắn ngài hai phát liền. Tầm bắn gần như vậy thì khó lòng mà trượt cả hai phát. Rồi tên bất lương vứt súng xuống và xông vào ngài. Nhưng đúng lúc ấy, Grigio bí mật xuất hiện nhảy bổ vào và vật tên kia xuống đất, lôi nó đi một quãng đồng thời gầm gừ dữ tợn. Rồi khi con chó thả nó ra thì tên bất lương bỏ chạy trối chết, và một lần nữa con chó tiễn chân Don Bosco đến tận cửa nhà. Một lần khác, con chó bí mật đã cứu ngài thoát khỏi tay cả một băng đảng côn đồ. Don Bosco vừa tới một khúc đường vắng thì ngài nghe có tiếng chân người theo sau. Ngài vừa quay lại thì thấy tên kia giơ cao một cây gậy tấn công ngài. Don Bosco xưa nay vẫn có tiếng là chạy nhanh nhưng tên kia còn chạy nhanh hơn và đã bắt kịp ngài. Đây là lúc phải nhanh tay hành động. Don Bosco tống cho y một cú đấm mạnh như trời giáng khiến nó té nhào xuống đất. Tiếng rên đau đớn của nó đã khiến một bọn mấy tên khác nấp sau các bụi rậm chung quanh xuất hiện. Tất cả đều cầm gậy gộc, lúc ấy tình thế trở nên rất nguy ngập cho Don Bosco. Một lần nữa đúng lúc quyết định tiếng sủa dữ tợn của con Grigio vọng lại. Nó chạy vòng quanh Don Bosco vừa nhe hai hàm răng nhọn hoắt đáng sợ vừa hung dữ gầm gừ khiến bọn vô lại hết đứa này đến đứa khác quay đầu chạy trốn thoát thân.

Một đêm nọ, thay vì tháp tùng Don Bosco, Grigio nhất định ngăn không cho ngài ra đi. Nó nằm chắn ngang cửa phòng, và khi Don Bosco định đẩy nó sang một bên thì nó gầm ghè có ý kháng cự lại. Thân mẫu Don Bosco thấy thế bèn nói: "John, đừng đi con ạ, nếu con không nghe lời mẹ thì ít nhât con cũng nên nghe con chó này; nó biết nhiều hơn con đó." Don Bosco đành chịu thua, và chừng 15 phút sau thì một ông hàng xóm đến cho ngài biết rằng ông ta vừa nghe lỏm được hai tên lưu manh tính chuyện tấn công ngài.

Môt buổi chiều khác, sau bữa cơm tối con chó vào phòng giải trí của bọn trẻ mà Don Bosco đem về nuôi dạy trong Nhà Nguyện của ngài. Chúng vây quanh con Grigio nghịch ngợm, đứa thì vỗ đầu, em khác thì kéo tai, mấy đứa nhỏ khác còn cỡi cả lên lưng nó nữa. Nhưng nó chỉ nhìn lũ trẻ với đôi mắt hiền lành và sau cùng thì bọn nhỏ dẫn nó vào phòng ăn trong khi Don Bosco đang còn dùng cơm. Thấy nó, ngài liền nói "Ô kìa, Grigio, con đến đây có chuyện gì vậy?" Grigio tiến lại gần ngài, gối đầu vào bàn ăn và ngoe nguẩy vẫy đuôi. "Con có muốn ăn gì không, Grigio? Một miếng phó-mát hay một tô cháo bột?" Không, nó không muốn ăn gì cả. Don Bosco bèn nói "Vậy thì nếu con không muốn gì cả, thì về nhà mà đi ngủ đi." Grigio nhìn ngài một hồi lâu rồi nó chạy ra ngoài. Không ai biết lý do tại sao con Grigio bất thần đến thăm ngài, nhưng ta thấy rõ tánh hiền lành và dễ thương của "con chó lạc" này nhưng lại rất hung dữ trong nhiều trường hợp để bảo vệ cho thánh Don Bosco.

Lần chót mà Don Bosco gặp con Grigio một đêm nọ là tại thị trấn Castelnuovo. Ngài đang đi từ Murialdo đến Moncucco và trời thì tối dần. Ngài phải đi ngang qua mấy nông trại và hai vườn nho có chó dữ canh chừng. Ngài nghĩ thầm trong bụng: "Phải chi có con Grigio ở đây, thì đỡ khổ biết mấy". Khi ngài vừa ước nguyện như vậy, thì bỗng nhiên con Grigio xuất hiện tỏ vẻ mừng rỡ như khi gặp một bạn thân, vừa vẫy đuôi vừa tháp tùng ông chủ của mình suốt quãng đường. Đêm đó quả là may phước cho ngài vì hai con chó lớn trong nông trại mà ngài đi ngang qua xông ra tấn công thày trò Don Bosco, nhưng con Grigio chống trả hết sức mãnh liệt khiến hai con chó kia cụp đuôi chạy mất. Khi Don Bosco đến nhà người bạn, thì tất cả đều ngạc nhiên trầm trồ khen con chó đẹp và tự hỏi không hiểu Don Bosco đã tìm được nó ở đâu. Khi mọi người ngồi vào bàn ăn thì con Grigio nằm sát cạnh bàn, nhưng khi Don Bosco đứng lên đi tìm một cái gì cho nó ăn thì không còn thấy nó đâu nữa. Thật vậy, đó là lần chót người ta trông thấy Grigio.

Bọn thù địch của Don Bosco sau nhiều lần thất bại không thể hãm hại được ngài đã bỏ cuộc, và từ đó trở đi không còn ai trông thấy con vật bảo vệ bí mật của ngài đâu nữa. Vậy làm sao cắt nghĩa được sự xuất hiện bất thần đúng lúc và hành vi của con "Grigio", con chó mà người ta tưởng là chó hoang bị thất lạc. Làm sao cắt nghĩa được con chó xuất hiện một cách bí mật không phải một lần mà nhiều lần và đúng lúc để cứu mạng sống của Cha John Bosco? Phải chăng con Grigio là một thiên thần lấy hình dạng của môt con chó? Hay nó chỉ là một con chó được Chúa bí mật hướng dẫn để bảo vệ cho Don Bosco? Nhưng làm sao cắt nghĩa được những sự xuất hiện của nó từ đâu đâu? Tuy vậy ta có thể tin chắc một điều: Thiên Chúa ở cùng với thánh John Bosco vì ngài đã hoàn toàn hiến dâng đời mình để phụng sự Chúa, và qua lời cầu bầu của ngài Chúa đã thực hiện những phép lạ khó tưởng tượng nổi, để ngài làm tấm gương sáng cho tất cả những đứa trẻ côi cút nghèo hèn đến Nhà Nguyện mà ngài đã thiết lập để làm một nơi nương tựa thiên cung cho chúng.

[Tài liệu trên đây trích trong tác phẩm tuyệt vời của F.A. Forbes nhan đề là "St John Bosco" nhà xuất bản Tan Books, 2000.]

----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 84