mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay687
mod_vvisit_counterHôm Qua9655
mod_vvisit_counterTuần Này54542
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này145598
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10649854

We have: 87 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Các Bài Độc Giả Gửi Tới
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 57 = BAI GIAO LY NGAY THU TU PDF Print E-mail

¬¬¬¬¬¬¬¬

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 29)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 12.09.2012.

CẦU NGUYỆN TRONG PHẦN HAI SÁCH KHẢI HUYỀN ( Ap 4, 1- 22, 21).

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

thứ tư vừa qua, tôi đã nói về cầu nguyện trong phần thứ nhứt Sách Khải Huyền, hôm nay chúng ta đi vào phần thứ hai của quyển sách.

Và như trong phần đầu, lời cầu nguyện quy hướng về nội bộ đời sống Giáo Hội, thì phần hai đặc tâm của lời cầu nguyện được quy hướng về cả thế giới: thật vậy, Giáo Hội đang lữ hành trong lịch sử, là thành phần của lịch sử theo đồ án của Thiên Chúa.

Cộng đồng đang lắng nghe sứ điệp của Thánh Gioan, được biểu tượng qua người đọc, đã khám phá ra

- bổn phận của chính mình là cộng tác để phát triển Nước Chúa, với tư cách là " các tư tế của Chúa và của Chúa Kitô" ( Ap 20, 6; cfr 1,5; 5, 10)

- và rộng mở mình ra trên thế giới con người.

Và ở đây nổi bật lên hai phương thức sống năng động có liên hệ với nhau:

- phương thức thứ nhứt, chúng ta có thể định nghĩa là " hệ thống của Chúa Kitô ", mà cộng đồng vui suớng được thuộc về

- và phương thức thứ hai, đó là " theo hệ thống trần gian chống lại Vương Quốc và chống lại hoà hợp, được lập nên do ảnh hưởng của Ác Thần ". Sự Ác đó lường gạt con người, muốn thực hiện một thế giới đối ngược lại thế giới Chúa Kitô và Thiên Chúa muốn ( cfr Pontificia Commissione Biblica, Bibbia e Morale, Radice bibliche dell'agire cristiano, 70).

Hiểu như vậy, cộng đồng phải biết đọc một cách sâu xa dòng lịch sử mà mình đang sống, bằng cách tìm học hỏi chuẩn định được giữa đức tin và các biến cố để cộng tác bằng động tác của mình nhằm phát triển Nước Thiên Chúa.

Động tác biết đọc và định chuẩn đó, cũng như hành động, đều có liên hệ với cầu nguyện.

1 - Trước hết sau phần kêu gọi khẩn thiết của Chúa Kitô, trong phần đầu của Sách Khải Huyển, bằng cách lập lại đến bảy lần

- " Ai có tai nghe, thì hãy nghe những gì Chúa Thánh Thần nói lên trong Giáo Hội " ( cfr Ap 2, 7.11.17.29; 3, 6.13.22),

cộng đồng được mời gọi hãy lên Trời, để nhìn thực tế bằng chính đôi mắt của Thiên Chúa và ở đây chúng ta gặp được ba biểu tượng, định điểm đối chiếu khởi điểm để bắt đầu đọc hiểu dòng lịch sử: đó là ngai của Chúa, Con Chiên và quyển sách ( cfr Ap 4, 1-5, 14).

a) Biểu tượng thứ nhứt là ngai của Chúa, trên đó có một nhân vật đang ngồi, mà Thánh Gioan không diễn tả cho biết là ai, bởi vì nhân vật đó vượt lên trên mọi khả năng biểu thị diễn tả của con người. Thánh Gioan chỉ có thể đề cập sơ qua ý nghĩa đẹp và vui tươi, mà ngài cảm nhận được khi đứng trước Người.

Nhân vật bí nhiệm đó là Thiên Chúa.

Thiên Chúa toàn năng không đóng kín mình trên Trời của Người, mà tỏ hiện ra sát gần với con người, đi vào giao ước với con người: Thiên Chúa là Đấng làm cho mình được nhận ra trong lịch sử, một cách bí nhiệm, nhưng thực tiển. Tiếng nói của Người được thể hiện bằng ánh sấm chớp và tiếng gầm sét. Có nhiều yếu tố hiện diện chung quanh ngai của Chúa, như hai mươi bốn vị bô lão và bốn con thú sống động, không ngừng ngợi khen Thiên Chúa duy nhứt của lịch sử.

Như vậy, biểu tượng thứ nhứt là ngai của Chúa.

b) Biểu tượng thứ hai là một quyển sách, trong đó chứa đựng đồ án của Chúa về các biến cố và về con người. Quyển sách được đóng kín bởi bảy ấn triện và không ai có khả năng đọc được.

Trước sự bất lực của con người để thấu hiểu được đồ án của Thiên Chúa, Thánh Gioan cảm thấy một nỗi buồn thấm thiá khiến cho ngài bật khóc.

Tuy nhiên có một điều vớt vát được cho khủng hoảng đó của con người trước mầu nhiệm lịch sử, bởi vì có một nhân vật nào đó có khả năng mở sách ra được và cho biết những gì trong đó.

c) Và đây là biểu tượng thứ ba: đó là Chúa Kitô, Chiên bị Hiến Tế trên Thánh Giá, nhưng vẫn đứng thẳng người, dấu hiệu cho thấy Người đã Phục Sinh.

Đó chính là Con Chiên, Chúa Kitô đã tử nạn và phục sinh. Người tuần tự mở các ấn triện ra và mạc khải đồ án của Thiên Chúa, ý nghĩa sâu đậm của lịch sử.

Các biểu tượng đó nói lên những gì ?

Những biểu tượng đó nhắc nhớ chúng ta đâu là con đường để đọc hiểu các sự kiện lịch sử và các biến cố của chính đời sống chúng ta.

Ngước mắt lên trời, trong vị thế hằng tiếp tục liên hệ với Chúa Kitô, mở rộng trái tím và trí óc chúng ta ra với Người trong lời cầu nguyện cá nhân và tập thể, chúng ta học biết được nhìn các sự việc theo phương thức mới và đón nhận ý nghĩa mời đích thực.

Cầu nguyện như là cửa sổ mở ra, cho phép chúng ta phóng tầm nhìn hướng về Chúa, không những chỉ để làm cho chúng ta nhớ đó là mục đích mà chúng ta phải hướng về, mà còn để cho thánh ý Chúa soi sáng cuộc hành trình trần thế của chúng ta và giúp chúng ta sống con đường đó đầy cường độ và chuyên cần.

2 - Chúa hướng dẫn cộng đồng Kitô hữu bằng cách nào để đọc hiểu sâu đậm hơn dòng lịch sử?

Trước tiên bằng cách mời gọi cộng đồng hãy biết nhìn hiện trạng mà chúng ta đang sống bằng cặp mắt thực tế.

Như vậy Con Chiên mở ấn triện thứ nhứt trong bốn ấn triện của quyển sách ra và Giáo Hội thấy được thế giới mà mình được hội nhập vào đó, một thế giới trong đó có nhiều yếu tố tiêu cực khác nhau:

- có những điều ác, mà con người thực hiện, như bạo lực, được nảy sinh ra do lòng muốn chiếm hữu, người nầy vượt lên trên người kia, đến nỗi đưa đến giết chóc ( đó là ấn triện thứ hai ).

- hay điều bất công, bởi vì con người không tôn trọng các lề luật đã được ban cho ( ấn triện thứ ba).

- thêm vào đó những điều ác khác, mà con người phải gánh chịu, như cái chết, đói khát, bệnh tật ( ấn triện thứ tư ).

Trước những thực thể đó, thường là những thực thể thảm đạm, cộng đồng Giáo Hội được mời gọi đừng bao giờ đánh mất đi niềm hy vọng, hãy vững tin rằng quyền năng bề ngoài đầy quyền lực của Ác Thần chạm trán với quyền toàn năng đích thực của Thiên Chúa. Và ấn triện thứ nhứt mà Con Chiên tháo gở ra chứa đựng chính sứ điệp nầy được Thánh Gioan thuật lại:

- " Tôi thấy kìa một con ngựa trắng, và người cởi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng " ( Ap 6, 2).

Sức mạnh của Thiên Chúa đã đi vào dòng lịch sử của con người, sức mạnh đó không những có khả năng cân bằng sự ác, mà còn chiến thắng nó: màu trắng nhắc lại màu Chúa Phục Sinh. Thiên Chúa đã làm cho mình thể hiện sát gần, đi vào bóng tối của sự chết và chiếu sáng nó bằng ánh sáng chiếu rạng đời sống thần linh của Người; Chúa đã gánh lấy nơi mình điều ác của thế gian để thanh tẩy nó bằng lửa tình yêu của Người.

Việc đọc trong ý nghĩa Kitô giáo vừa kể làm cho chúng ta được tăng trưởng như thế nào ?

Sách Khải Huyền cho chúng ta biết rằng cầu nguyện nuôi dưỡng mỗi người chúng ta và trong cộng đồng nhãn quang ánh sáng nầy và niềm hy vọng sâu xa: mời gọi chúng ta đừng để mình bị sự dữ chiến thắng, mà hãy chiến thắng sự dữ bằng điều lành, hãy nhìn lên Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh đang hội nhập chúng ta vào cuộc chiến thắng của Người.

Giáo Hội sống trong dòng lịch sử, không đóng khuôn chính mình lại, nhưng can đảm đối đầu cuộc hành trình của mình giữa những khó khăn và đau khổ, bằng cách thấy rằng rốt cuộc sự ác không thắng được điều thiện, tăm tối không làm lu mờ được ánh sáng chói lọi của Thiên Chúa.

Điều vừa kể quan trọng đối với chúng ta, với tư cách là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta không bao giờ được bi quan.

Chúng ta biết rõ rằng trong cuộc hành trình đời sống chúng ta, chúng ta thường gặp bạo lực, gian dối, ghen ghét, bách hại, nhưng những gì vừa kể không làm cho chúng ta thối chí.

Nhứt là cầu nguyện dạy chúng ta thấy được các dấu chỉ của Chúa, sự hiện diện và động tác của Người, đúng hơn Người hiện diện ở với chúng ta chính các ánh sáng của điều thiện đang phổ biến lan tràn niềm hy vọng và chỉ cho thấy chiến thắng là của Chúa.

3 - Viễn ảnh đó thúc đẩy chúng ta dâng lên Chúa và Con Chiên lòng biết ơn và lời ca ngợi khen.

Hai mươi bốn vị bô lão và bốn con thú sống đang cùng đồng thanh hát lên " bài ca ngợi mới ", chúc tụng công trình của Chúa Kitô Con Chiên, Đấng " đổi mới mọi sự " ( Ap 21, 5 ).

Nhưng công cuộc đổi mới đó là một ơn ban, chúng ta cần phải cầu xin.

Và ở đây chúng ta gặp được một yếu tố khác, đặc thù của cầu nguyện: đó là khẩn khoản van xin Chúa, xin Nước Người được thể hiện. xin cho con người có được con tim vâng nghe dễ dạy trước vương quyền của Chúa, xin thánh ý Người hướng dẫn đời sống chúng ta và thế giới.

Trong nhãn quang Sách Khải Huyền lời cầu nguyện van xin đó chiếm một địa vị quan trọng cá biệt: " hai mươi bốn vị bô lão " và " bốn con thú sống " đang cầm trong tay mình, cùng chung với cây đàn đang hoà điệu với lời hát của mình, " những chén vàng đầy hương " ( Ap 5, 8a).

Đó là, như được giải thích kế tiếp, " những lời cầu nguyện của dân thánh " ( Ap 5, 8b), tức là của những người đã đạt được đến Chúa, nhưng cũng là của tất cả chúng ta, là những kẻ đang trên đường lữ hành.

Và chúng ta cũng thấy được trước ngai Chúa, một thiên thần đang cầm trên tay một bình hương vàng mà vị ấy đang tiếp tục bỏ vào đó các hột hương, tức là các lời cầu nguyện của chúng ta, mà mùi hương ngọt ngào cùng với những lời cầu nguyện bay lên trước nhan Chúa ( cfr Ap 8, 1-4).

Đó là một biểu tượng nói cho chúng ta biết tất cả các lời cầu nguyện của chúng ta - với tất cả những giới hạn, mệt nhọc, nghèo khổ, khô khan, những bất toàn mà lời cầu nguyện có thể có - cũng dường như được thanh tẩy và đạt đến được trái tim Chúa.

Như vậy, chúng phải chắc chắn rằng không có lời cầu nguyện nào là lời câu nguyện dư thừa, vô ích , không có lời cầu nguyện nào bị đánh mất đi. Và những lời cấu nguyện đó đều có được lời đáp ứng, mạc dầu đôi khi là những đáp bí nhiệm, bởi vì Chúa là Tình Yêu và Nhân Từ vô cùng.

Thánh Gioan viết:

- " Thiên thần cầm bình hương, lấy lửa trên bàn thờ bỏ vào và ném xuống đất. Liền có tiếng sấm, tiếng sét, ánh chớp và động đất " ( Ap 8, 5 ) .

Hình ảnh đó có nghĩa là Thiên Chúa không vô cảm đối với những lời van xin của chúng ta. Người can thiệp và làm cho chúng ta cảm nhận được quyền năng của Người và tiếng nói của Người trên mặt đất, làm rung động và đảo lộn hệ thống của Ác Thần.

Thường thường, đứng trước sự ác chúng ta có cảm tưởng là không thể làm gì được, nhưng chính lời cầu nguyện của chúng ta là câu trả lời thứ nhứt và hữu hiệu nhứt, mà chúng ta có thể làm được và làm cho việc chuyên cần dấn thân của chúng ta để bênh vực điều thiện trở nên mạnh mẽ hơn.

Quyền lực của Thiên Chúa làm cho sự yếu hèn của chúng ta trở thành sung mãn ( cfr Rom 8, 26-27).

4 - Tôi muốn được kết thúc bằng một vài lời đề cập đến phần đối thoại cuối cùng ( Ap 22, 6-21).

Chúa Giêsu lập đi lập lại nhiều lần khác nhau:

- " Nầy đây, Ta sẽ đến liền " ( Ap 22, 7.12).

Lời xác quyết đó không chỉ nói về cho viễn ảnh tương lai khi thời gian kết thúc, nhưng cho cả hiện tại: Chúa Giêsu đến, đặt nơi cư ngụ của Người ở nơi những ai tin vào Người và đón nhận Người.

Như vậy, cộng đồng được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, lập lại với Chúa Giêsu lời mời gọi khẩn thiết hãy hiện diện luôn luôn sát gần:

- " Xin Chúa hãy ngự đến " ( Ap 22, 17a).

Và như " vị hôn thê " đang nóng bỏng mong đợi cuộc hôn lễ được kết thúc hoàn hảo:

- " Xin Ngài ngư đến " ( Ap 22, 17).

Và đến cả ba lần cộng đồng còn dùng đến lời van xin:

- " Amen, Hãy đến, lạy Chúa Giêsu " ( Ap 22, 20b).

Và người đọc kết thúc bằng cách diễn tả nói lên ý nghĩa của sự hiện diện đó:

- " Chúc mọi người được đầy ơn sủng của Chúa Giêsu " ( Ap 22, 21).

Sách Khải Huyền, mặc dầu phức tạp với các biểu tượng, cũng thu hút chúng ta vào một lời cầu nguyện rất sung mãn, bởi đó chúng ta cũng lắng nghe, ngợi khen, cảm tạ, chiêm niệm Chúa, xin Người tha thứ cho.

Cấu trúc của Sách Khải Huyền nhằm cho lời cầu nguyện cả thể cho cộng đồng cũng là lời nhắn nhủ chúng ta khám phá ra sức mạnh phi thường và chuyển hóa của Phép Thánh Thể, một cách đặc biệt tôi muốn mạnh dạn mời gọi Anh Chị Em hãy trung thành với Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, trong ngày của Chúa, ngày Chúa Nhật là trung tâm điểm của tuần lễ !

Sự sung mãn giàu có của cầu nguyện Sách Khải Huyền làm cho chúng ta nghĩ đến một viên kim cương, có một loạt các mặt nhỏ thật là hấp dẫn, nhưng giá trị qúy báu của viên kim cương hệ tại ở độ tinh ròng của khối nhân duy nhứt.

Các phương thức cầu nguyện, mà chúng ta gặp được trong Sách Khải Huyền làm cho sáng chói óng ánh lên đặc tính qúy báu duy nhứt và không thể phân chia của Chúa Giêsu Kitô.

Cám ơn Anh Chị Em.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 12.09.2012).

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 56 = CAU NGUYEN PDF Print E-mail

 

CẦU NGUYỆN

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học. Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.

Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi:

"Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?"

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ:

"Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!"

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn:

"Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?"

Chàng sinh viên liền hỏi:

"Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?"

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

"Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi cầu nguyện mà thôi!"

(Không ghi tác giả, nhận được qua i-meo do Tuấn Lê gửi)

Người ta thường nói, ai có đầu óc khoa học thì không, hoặc ít tin vào Thượng Đế cùng những gì trừu tượng thiêng liêng, bởi lẽ họ chỉ tin điều có thể thấy sờ ngửi, và chứng minh được ở trong phòng thí nghiệm. Quả vậy, rất hiếm những nhà bác học có đức tin như Ampère trên đây.

Phải chăng khi khiêm hạ quỳ gối cầu nguyện, ông xin Thiên Chúa ban cho sự minh triết, hiểu biết, lòng kiên nhẫn, hy vọng, hầu giúp mình đạt kết quả nghiên cứu mỹ mãn, thành công? Vậy, kinh nguyện không phải là bùa phép, mà chính là sức mạnh, nguồn sinh lực, để chúng ta sống và làm việc trong cuộc đời gian trần này.

Chúng ta nào hãy nguyện cầu

Hầu cho cuộc sống thắm mầu, bạn ơi

Thế trần khổ ải chèo bơi

Mấy ai có được thảnh thơi yên hàn

Đa phần than thở phàn nàn

Vô thường cõi tạm muôn vàn khó nguy

Với Người chẳng hãi sợ chi

Sắt son tin tưởng, an vi tháng ngày

Ngài ban ơn huệ vơi đầy

Giúp con sức mạnh, lưu đày vượt qua

Phận hèn hạnh phúc nở hoa

Hành hương cất bước, khúc ca vĩnh hằng!

* Nguyễn Sông Núi

(Tv Thánh Gioan Neumann, Dallas, TX,

Lễ Sinh Nhật Mẹ Maria, Sept. 8, 2012)

-----o0o-----

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 55 = DE VA KHO PDF Print E-mail

 

 

DỄ VÀ KHÓ

- Dễ là khi bạn có một chỗ trong sổ địa chỉ của ai đó

- Nhưng khó là khi bạn tìm được một chỗ trong trái tim của họ

- Dễ là khi đánh giá lỗi lầm người khác

- Nhưng khó là khi biết kiểm soát lời nói của mình

- Dễ là khi làm tổn thương một người mà bạn yêu thương

- Nhưng khó là khi làm lành vết thương của họ

- Dễ là khi tha thứ cho người khác

- Nhưng khó là khi làm cho người khác tha thứ cho mình

- Dễ là khi đặt ra các nguyên tắc

- Nhưng khó là khi làm theo chúng

- Dễ là khi nằm mơ hằng đêm

- Nhưng khó là khi chiến đấu vì một ước mơ

- Dễ là khi thể hiện chiến thắng

- Nhưng khó là khi nhìn nhận một thất bại

- Dễ là khi vấp phải một hòn đá và ngã

- Nhưng khó là khi đứng dậy và đi tiếp

- Dễ là khi hứa với ai một điều gì

- Nhưng khó là khi hoàn thành lời hứa đó

- Dễ là khi chúng ta nói rằng chúng ta yêu thương

- Nhưng khó là khi làm cho người khác cảm nhận được

- Dễ là khi phê bình người khác

- Nhưng khó là khi cải thiện chính bản thân mình

- Dễ là khi để xảy ra sai lầm

- Nhưng khó là khi học từ những sai lầm đó

- Dễ là khi buồn bực vì một điều gì đã mất

- Nhưng khó là khi quan tâm đủ đến những điều đó và đừng làm mất

- Dễ là khi nghĩ về một việc

- Nhưng khó là khi ngừng suy nghĩ và bắt đầu hành động

- Dễ là khi nghĩ xấu về một người khác

- Nhưng khó là khi cho họ một niềm tin

- Dễ là khi nhận

- Nhưng khó là khi cho

- Dễ là khi đọc những điều này

- Nhưng khó là khi bạn đem những điều này ra thực hiện

 

ty nguyen chuyen

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 54 = DAY AN SI DOC KINH PDF Print E-mail

FW: DẠY ẨN SĨ ÐỌC KINH

 

FROM:

CatBui PhuVan

T

Sunday, August 26, 2012 2:35 PM

DẠY ẨN SĨ ÐỌC KINH

Truyện cổ nước Nga thuật lại câu chuyện của một học giả thông thái và một vị ẩn sĩ khiêm tốn như sau:

Một học giả nọ đi dạo theo bờ hồ, bỗng nghe có tiếng cầu kinh của một ẩn sĩ vang lại từ một hòn đảo giữa hồ. Ông lắng tai nghe một lúc rồi tiếp tục đi. Nhưng một lát sau ông cảm thấy khó chịu. Bởi vì lời kinh của vị ẩn sĩ hoàn toàn sai lạc. Từ nội dung cho đến cách phát âm, tất cả đều sai.

Học giả liền thuê một chiếc ghe và chèo sang hòn đảo, cốt chỉ để nhắc nhở cho vị ẩn sĩ thấy được những sai lầm của ông trong lúc cầu kinh. Học giả nói với vị ẩn sĩ:

- Này ông bạn, tôi nghĩ là ông bạn sẽ không chấp nhất khi tôi làm việc này cho ông bạn.

Nói xong, ông đọc một thôi những lời cầu kinh, không sai một chữ, một phẩy, và dĩ nhiên với cách phát âm điêu luyện của một nhà học giả.

Trước khi trở lại ghe, học giả còn giải thích thêm:

- Tôi chèo ghe đến đây cốt để giúp bạn đọc kinh cho đúng cách mà thôi.

Vị ẩn sĩ cám ơn nhà học giả rối rít. Nhưng khi học giả vừa chèo ghe ra đến giữa hồ, ông bỗng nghe có tiếng động trên mặt nước. Quay nhìn lại, ông thấy vị ẩn sĩ đang đi trên mặt nước tiến về phía ông. Và đứng trên mặt nước, vị ẩn sĩ nói với nhà học giả:

- Xin ngài vui lòng chỉ dạy cho tôi một lần nữa. Vừa mới nghe xong lời kinh tôi đã quên cả rồi.

*******************************

Thiên Chúa là Cha vô cùng yêu thương của mọi người. Ngài biết ta cần gì trước khi ta kêu xin. Ðiều làm cho Ngài ưa thích chưa hẳn là những lời hay ý đẹp của con người, hay những câu kinh đọc đúng cung đúng cách.

Ðiều mà Thiên Chúa hài lòng hơn cả chính là một tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn, một tâm tình cậy trông và phó thác trọn vẹn cho tình thương của Ngài.

Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây hẳn đã hiểu được bí quyết ấy. Lời cầu kinh của ông không phải là để phô diễn những kiến thức uyên bác, mà chính là tâm tình tin tưởng phó thác của ông. Ðó là sức mạnh có thể khiến ông di chuyển trên mặt nước.

*******************************

Lạy Chúa Giêsu Kitô xin dạy con biết cách cầu nguyện, xin dạy con biết cách nói chuyện với Chúa trong đời sống thường nhật. Con có thể không thuộc câu kinh, bản nhạc, không kiến thức về giáo lý, về Thiên Chúa Ba Ngôi nhưng con vẫn có thể thân thưa với Chúa từ đáy tâm hồn con bằng ngôn ngữ hạn hẹp của chính mình, bằng những lời nói đơn sơ chân thành từ tấm lòng và bằng tấm lòng tin tưởng tuyệt đối nơi Người Cha Yêu Dấu. Nhưng làm sao con có thể cầu nguyện khi con không dành thì giờ cho Chúa mỗi ngày? Xin giúp con biết thu xếp một khoảng riêng cho Giêsu giữa những tháng ngày bận rộn tối tăm mặt mũi.

R. Veritas

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 53 = VAP NGA PDF Print E-mail

 

Wednesday, August 22, 2012 7:39 PM

Đức Tin sẽ cứu giúp mỗi khi chúng ta bị vấp ngã. Xin hãy đọc bài chia sẻ tâm tình dưới đây:

Nt. Têrêsa Ngọc Lễ, OP 8/22/2012

Đi vào cuộc đời, chẳng ai muốn mình bị vấp ngã. Té kiểu nào, vấp kiểu nào cũng đều để lại thương tích, không lớn thì bé; không nghiêm trọng thì cũng trầy xước, để lại cái đau. Nên ai cũng mong đường đời mình bằng phẳng, không đi trên đá sỏi, chẳng vấp ngã bao giờ.

Cái vấp ngã thấy được để lại những vết thương hiển nhiên. Cái vấp ngã vô hình để lại cái nhức nhối, thấm thía từ bên trong. Vấp ngã đau nhất vẫn là cái bên trong, cái chẳng có hình tượng, nhưng lại rõ mồn một và làm cho con người thấm thía hơn bao giờ hết sự thất bại của tự mãn, của giới hạn hiển nhiên trong thân phận hữu hạn đầy yếu đuối của con người.

Cái tự đắc, kiêu căng, kiểu tự tin vượt mức cho phép bỗng trở nên trò đùa, trở nên lố bịch trước cú vấp ngã. Tình trạng dở khóc dở cười ở con người là thế! Không khóc nổi bởi nhận ra cái hão huyền của tự mãn. Và cũng không cười nổi bởi không thể cười thật vào chính mình, vì có mấy ai muốn nhìn thấy khuôn mặt đáng thương với nhiều vết lọ lem to nhỏ của mình bao giờ!

Vấp ngã như cơn lũ đến, quét sạch những cái rác rưởi, các vật thể có mặt trên đường lũ đi qua. Vấp ngã ào tới, cái ý thức về giới hạn bỗng nhận diện trở lại, con người chợt bừng tỉnh sau giấc ngủ mê của cái ảo tưởng về bản thân, của sự tự đánh bóng, ru ngủ chính mình. Vấp ngã đạp đổ cái kiêu ngạo, bắt tận mục cái "tôi" hèn yếu đang ẩn núp, và kết tội cái tôi tự mãn đang thống trị con người.

Chàng thanh niên giàu có hăm hở tiến đến hỏi Đức Giê-su "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?" ( x. Mt 19,16-22). Có lẽ, khuôn mặt anh lúc ấy đang rạng lên những tia hy vọng khi ngỡ mình đã đạt được sự công chính khi biết mình đã giữ luật từ thưở bé "Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu điều gì nữa không?". Nhưng cú vấp ngã đau nhất của anh ở vào cuối câu chuyện, trước lời yêu cầu của Đức Giê-su "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi." Anh đau đớn, buồn rầu bỏ đi. Không ai đẩy mà anh lại té ngã. Cú ngã của thất bại nơi chính mình. Anh vấp ngã bởi anh không thể từ bỏ những gì anh đang sở hữu. Anh tưởng mình hoàn thiện nhưng thật ra lại quá giới hạn, không đủ sức mạnh vượt thắng được chính mình.

Hình ảnh một Phê-rô khóc lóc thảm thiết sau khi chối Thầy, bởi ông nhận ra sự vấp ngã của mình khi bội phản Thầy ( x. Mt 26,69-75). Một hình ảnh trái ngược hoàn toàn với lời quyết đoán chắc nịch trước đó của ông " Lạy Chúa, dẫu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng" ( x. Lc 22,31-34). Cú vấp ngã cay đắng làm cho Phê-rô chợt tỉnh, nhận ra sự hèn yếu, đáng thương, giới hạn của sức mạnh nơi chính mình. Lòng hăng say, quyết tâm sống chết vì Chúa trong lời tuyên bố đầy dũng khí, bỗng trở nên bọt bèo, vô nghĩa khi đối diện với sự sợ hãi, bắt bớ và cái chết. Nhưng điều lạ lùng nơi tình yêu đỡ nâng của Thiên Chúa đã làm cho Phê-rô nhận ra bài học từ sự vấp ngã, nhìn nhận yếu đuối thực của con người mong manh giới hạn, để rồi ông đã hoàn toàn phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa cuộc đời của mình, để Ngài dẫn dắt " Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự. Thầy biết con yêu mến Thầy". (x. Ga 21,15-19).

Cuộc đời có bao nhiêu kiểu người, thì cũng có bất nhiêu dạng vấp ngã, nên nó chẳng có "form" chung, không có hình hài rõ rệt. Nó tùy thuộc vào nhận thức, điểm yếu, giới hạn, kiểu suy nghĩ, hành xử, nét tính cách của mỗi người mà hình thành, làm nên cú vấp ngã nặng cân hay nhẹ ký.

Vấp ngã không chỉ một lần, nhưng sao mãi hoài như điệp khúc bài hát cuộc đời? Điệp khúc ấy, không muốn hát, nhưng vẫn cứ lặp lại, bởi cái giới hạn phận người trong tôi, của cát bụi, của mỏng manh thân phận, của cái bất nhất trong con người, của cuộc chiến nội tâm " điều tôi muốn, tôi lại không làm, những điều tôi ghét, tôi lại cứ làm" ( x. Rm 7,15).

Vấp ngã...thương tích ê chề...

những nỗi đau vô hình...

gắng gượng từng chút...từng chút một,

đè lên nỗi đau để đứng lên,

hay,

vấp ngã ... bi thương, đau đớn trong mệt mỏi, thất vọng...

đóng kín lòng mình

và buông xuôi mái chèo?

Biết bao người đã té ngã, nhưng lại tìm thấy niềm vui trong nước mắt, tìm thấy vinh quang trong thất bại, và đã thật sự đứng lên trong nhịp đập của yêu thương, trong tiếng hò reo của chiến thắng. Nhưng lại cũng có bao nhiêu cú vấp ngã không thể vực dậy, không nhắc nổi thân mình để đứng gượng một chút một ra khỏi vùng mờ mịt, buông xuôi kéo lê cuộc đời chìm ngập trong thất vọng.

...

Tôi, cũng không loại trừ bị vấp ngã, cho dù tôi là ai đi chăng nữa. Bởi tôi cũng chỉ là con người với biết bao yếu đuối, giới hạn lớn nhỏ, mang theo suốt cả cuộc đời mình.

Những vết sẹo mờ dần trong cuộc đời sau bao phen vấp ngã đủ để chứng minh cuộc đời mình đã bao phen không thể đứng vững. Nước mắt...hạnh phúc và...nước mắt... như là bản nhạc cuộc đời của riêng mình, dù muốn dù không, mà tôi vừa là nhạc sĩ và ca sĩ, phối nhạc, thu âm, hát... cho đến khi... tôi nhắm mắt, từ giã mọi người để đi vào miền đất sẽ chẳng còn vấp ngã! Ca khúc ấy, được hát, được nghe...có cả những cung bậc trầm buồn của thương đau, của nước mắt, nhưng cũng có cả những âm vực cao vút với giai điệu của rộn ràng, hạnh phúc. Ca khúc được tấu lên sẽ không phải để than trách, nhưng là để tạ ơn, để cảm nếm hạnh phúc bởi tôi được yêu ngay cả khi tôi đang bội phản, khi tôi đang vấp ngã, khi tôi đang sóng soài loay hoay mệt mỏi, khi tôi đang đưa mắt tìm...bàn tay nâng tôi đứng dậy.

Bàn tay ... đôi tay

kéo tôi đứng dậy sau vấp ngã, giúp tôi đứng lên, và dìu tôi đi tới miền đất mới phải là bàn tay, những ngón tay của yêu thương, nhân hậu, khoan dung và tha thứ.

Bàn tay dịu dàng, êm ái ấy luôn sẵn sàng nắm lấy tay tôi, kéo tôi lên và đưa tôi trở lại vùng đất của sự sáng " Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!" (Rm 7, 24-25).

Vấp ngã bỗng trở nên biến cố hồng ân, là quà tặng để tôi nhận ra tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa đang cúi xuống trên mình. Không phải ngẫu nhiên hay tình cờ, nhưng tình yêu đó đã có từ trước muôn đời, từ khi con người bé nhỏ của tôi được tạo dựng" Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy" ( x. Tv 138,16). Tình yêu ấy giăng trải suốt cuộc đời, trong cả những đau thương và niềm vui, trong cả thất bại lẫn chiến thắng, và trong tất cả những lần tôi vấp ngã. Có té đau, tôi mới cảm nhận được sự êm ái của đôi tay bồng bế mình. Có vấp ngã, tôi mới hiểu được nước mắt của hạnh phúc khi nhận ra mình vẫn luôn được yêu thương, chăm sóc và che chở. Có vấp ngã, tôi mới nhận ra tình yêu nhưng không, một tình yêu bất biến, một tình yêu nhân hậu, thật kiên nhẫn của Thiên Chúa dành tặng cho con người bất toàn, yếu đuối và bất trung nơi tôi. Và nơi vùng trời đầy yêu thương ấy, tôi lặng lẽ thầm với Chúa " Chúa ơi! Chúa biết rõ mọi sự. Chúa biết con yêu mến Ngài!" (x. Ga 21,15-19)

 
<< Start < Prev 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 Next > End >>

Page 60 of 71