Các Bài Độc Giả Gửi Tới
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 61 = CANH TAN DAC SUNG PDF Print E-mail

 

Monday, September 17, 2012 6:59 PM

Canh tân đặc sủng - Tự vấn canh tân

§ Lm Giuse Trần Việt Hùng

Một trong những mầu nhiệm cao trọng nhất trong Đạo là Mầu Nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Giáo Hội tuyên xưng Ba Ngôi riêng biệt cùng môt Bản Thể duy nhất và uy quyền như nhau. Ngôi Cha tạo dựng, Ngôi Con Cứu Chuộc và Ngôi ThánhThần Thánh Hóa. Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là nguồn sự sống.

Những từ diễn tả thường dùng để nói về Chúa Thánh Thần như Thần Chân Lý, Đấng Phù Trợ, Đấng An Ủi, Ngôi Ba Thiên Chúa và Chúa Thánh Linh. Một từ không được phổ thông lắm là từ Thần Khí, vì ngày xưa người ta đã dùng từ này với ý nghĩa không tốt, để nói đến thần khí mất mùa, giặc giã.

Trong Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng chú tâm đặc biệt đến vai trò của Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa. Cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần thánh hóa, thay đổi và ban các ơn cần thiết để sống đạo và sống xứng đáng là người con Chúa. Chúng ta đừng lẫn lộn linh đạo của PTCTĐS mà Giáo Hội, các Đức Giáo Hoàng đã chấp thuận và ủng hộ với sự hướng dẫn cùng các áp dụng cụ thể nơi các nhóm Tĩnh Tâm ở địa phương.

Dựa vào những giáo huấn khôn ngoan của Đức Giám Mục Dennis Sullivan, Tổng Đại Diện của Tổng Giáo Phận Nữu Ước, con xin nêu lên vài câu hỏi gợi ý liên quan đến các hiện tượng trong Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng. Chúng ta hãy đối diện trực tiếp với vấn đề cụ thể tại chỗ của các hiện tượng đang xảy ra, chứ không phải là lý thuyết, suy đoán hay cảm nghiệm. Chúng ta hãy loại bỏ ra ngoài mọi thiên kiến và không tranh luận, để trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cầu nguyện, tịnh tâm và thành thật trả lời với lòng mình.

1. Việc té ngã

a. Tác động té ngã ngửa ra đàng sau và có người sẵn đỡ, có phải do quyền năng của Ngôi Ba Thiên Chúa không?

b. Tại sao ban tổ chức cần phải sắp đặt những kẻ đỡ sẵn sau lưng, trong khi người khác đứng cầu nguyện? Sợ ai? Sợ gì?

c. Trong bầu khí mờ tối, lời ca sốt mến và khi chúng ta đứng nhắm mắt, giơ tay lên tập trung cầu nguyện có ảnh hưởng gì đến sự đánh mất thăng bằng và rủn té không? Hãy thử xem.

d. Sự đặt tay trên trán của linh mục hay thừa tác viên trong tư thế người kia đang đứng nhắm mẳt, có gây ảnh hưởng gì đến sự kiện té ngã không?

e. Té ngã hàng loạt, có thể do tâm sinh lý ảnh hưởng chung, môi trường, liên đới "dominos" đổ và có cảm giác nhẹ tênh do đâu?

f. Quý vị có thể thử đặt tay cho nhau trong nhóm khi đứng cầu nguyện. Ai cũng có thể thực hiện té ngã được và làm ở mọi nơi nhưng hãy cẩn thận.

2. Nói Tiếng Lạ

a. Có phải trực tiếp do Chúa Thánh Thần thúc đẩy để nói tiếng lạ không?

b. Có phải do người hướng dẫn muốn mọi người họa theo để cùng cầu nguyện tiếng lạ, vậy tiếng lạ đây do Ngôi Ba Thiên Chúa hay do con người tự nói? Nên phân biệt.

c. Tiếng lạ đây có giúp ích cho đời sống tâm linh thật, giúp cầu nguyện mật thiết với Thiên Chúa hay chỉ là cách diễn tả cá nhân một cách vô nghĩa?

d. Ai đã dám ký thác cho Ngôi Ba Thiên Chúa can thiệp vào những hiện tượng mơ hồ hàng loạt và cụ thể hóa tác động của Chúa Thánh Thần như thế?

3. Chữa lành

a. Chúng ta đều tin vào quyền năng chữa lành của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói: Ai xin thì sẽ được. Chúa vẫn ban ân sủng cho kẻ tin tưởng nơi Ngài.

b. Trong Giáo Hội cử hành các Bí Tích chữa lành như Bí tích Hòa Giải, Thêm Sức, Xức Dầu, Thánh Thể...là nguồn ân sủng.

c. Lịch sử 2000 năm qua, ngày ngày trong Giáo Hội có biết bao nhiêu người vẫn được ơn trở lại, sống thánh và nên thánh trong muôn vàn cách. Đặc biệt nhờ các thành qủa qua các sinh hoạt trong các Xứ Đạo, Dòng Tu, Hội Dòng, các Tổ Chức và các Phong Trào...

d. Về chữa lành thân xác thì sao? Chúng ta tin rằng có nhiều trường hợp Chúa đã chữa lành bệnh tật qua sự cầu nguyện, tin tưởng, qua sự bầu cử của Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, các Thánh và những vị được Chúa ban đặc ân riêng để chữa bệnh như các cha thánh Piô 5 Dấu, thánh John Vianney, thánh Nicholas of Tolentine...

e. Trong các cuộc Tĩnh Tâm Canh Tân Đặc Sủng đã có nhiều người phát biểu rằng họ cảm nhận ơn chữa lành nơi thân xác. Đúng! Nhưng chúng ta nên hết sức cẩn thận trong vấn đề này. Có rất nhiều chứng bệnh thường như đau nhức, mệt mỏi, thấp khớp, chúng ta cần xem xét và phân tích kỹ về nguyên nhân và hậu qủa của các loại thuốc mà chúng ta đang dùng hằng ngày. Chú ý thời gian đã dùng thuốc, tình trạng sức khỏe và ảnh hưởng thời khí và máu huyết lên xuống hằng ngày.

f. Câu truyện của những vị ngồi xe lăn được chữa lành đã xảy ra nhiều nơi. Sau khi linh mục đặt tay cầu nguyện, họ có thể đứng lên đi một khoảng, rồi được mọi người vỗ tay khen thưởng và loan truyền tin tức khắp nơi là linh mục làm phép lạ, nhưng chẳng mấy ai (follow-up) tiếp tục theo dõi tiến trình của người liệt sau đó. Có vẻ hơi là diễn kịch. Chúng ta tự hỏi rằng đã từng có ai, sau khi được linh mục xin ơn chữa lành đã đi bác sĩ chứng nghiệm để có hồ sơ bệnh án và bỏ xe lăn chưa? Hay là họ chỉ đứng lên đi một chút rồi ngồi lại xe lăn như cũ và tiếp tục uống thuốc như thường. Câu truyện này xảy ra hằng ngày. Chúng ta biết không phải tất cả những người ngồi xe lăn là đều bại liệt hoàn toàn cả đâu. Họ vẫn có thể bước đi chút ít trong nhà khi cần thiết. Con đã từng chứng kiến những cảnh tượng này nơi Viện Dưỡng Lão.

g. Ghi chú: Nếu thật sự có những trường hợp được chữa lành qua sự đặt tay cầu nguyện tại chỗ của linh mục, chúng ta nên ghi lại hồ sơ lưu trữ đầy đủ, để khi những vị đó mãn phần, chúng ta có đủ chứng cớ để xin tòa thánh phong chân phước hay phong thánh cho các vị đó. Đã gọi là chữa lành thì dù bệnh nhẹ, nặng hay nguy tử đều là phép lạ cả. Vì đã là sự lạ thì phải có sự can thiệp bên ngoài khả năng của con người.

Xét rằng: Nếu những sự kiện tác động trên (té ngã, tiếng lạ, chữa lành) là do quyền năng của Ngôi Ba Thiên Chúa thì không ai có thể ngăn cản hay giới hạn: Thần khí Thiên Chúa, ai đo cho nổi? Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người? (Is 40,13).

Nếu là do tác động và sự can thiệp phần nào của con người tạo nên những hiện tượng để qua mặt những tâm hồn đơn sơ và đức tin của chúng ta còn nhỏ bé chưa bằng hạt cải bị hoang mang lung lạc thì phải cẩn thận. Là linh hướng và là người hướng dẫn, chúng ta phải trả lẽ về mình trước mặt Chúa.

Một vài suy tư góp ý, xin mỗi người chúng ta dùng thời giờ để suy nghĩ một cách khôn ngoan và chân thật. Nhớ khi xưa Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Con một Thiên Chúa bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa đã sai thiên thần Gabriel đến truyền tin cho Đức Maria. Ngày nay các linh mục trong Phong Trào có thể khẩn mời Ngôi Ba Thiên Chúa đến đúng hẹn, tận chỗ và tận nơi: nơi phòng chơi thể thao (gym), trung tâm (center) và những nơi dùng chung để hội họp và sinh hoạt (halls). Lạy Chúa, xin đừng chấp tội chúng con vì chúng con đã xúc phạm đến Thánh Danh Chúa.

Chúng ta hãy tỉnh thức và cầu nguyện để được ơn khôn ngoan và hiểu biết. Chúng ta nhận biết các Á thánh như Chân Phước Têrêxa Calcutta, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, phải chờ thời gian lâu mới chứng minh được một phép lạ để phong Chân Phước. Đức Cố Hồng Y Francis Xavier Nguyễn Văn Thuận cũng còn đang chờ có phép lạ chứng minh rõ ràng để phong Chân Phước và Phong Thánh. Khi sinh thời, mẹ Têrêxa Calcutta, ĐGH Gioan Phaolô Đệ Nhị và Đức Cố HY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận cũng không thấy ghi lại đã thực hiện sự lạ nào cả.

Vậy thưa quý ông bà và anh chị em, đừng để những hiện tượng biểu lộ bên ngoài làm lung lạc đức tin của chúng ta. Vì chỉ có sự thật mới có thể giải thoát và mang ơn cứu độ. Chúa Giêsu đã phán: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy" (Ga 14,6). Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta mọi ngày trong đời sống. Amen.

Lm Giuse Trần Việt Hùng

--

NganhNho chuyển

__._,_.___

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 60 = PDF Print E-mail



>> Chiến Đấu Với Ma Quỷ Trong Nghi Thức Trừ Quỷ

>> Thứ Bảy, Ngày 15 tháng 9-2012

>> CHIẾN ĐẤU VỚI MA QUỶ TRONG NGHI THỨC TRỪ QUỶ


>> Ngày 25-12-2004, Cha Germano Ventura, Linh Mục dòng Thương Khó, gốc người đảo Sardegna (Nam Ý) đã êm ái trút hơi thở cuối cùng. Trong vòng hơn 30 năm - kể từ năm 1960 - Cha thi hành tác vụ trừ quỷ trong giáo phận thủ đô Roma. Trước đó, Cha thi hành tác vụ trừ quỷ tại Toscana ở đảo Sicilia (Nam Ý). Chính Cha kể lại kinh nghiệm chiến đấu, đối diện từng ngày với ma quỷ như sau.


>> Ngày còn là Linh Mục trẻ, tôi được giao nhiệm vụ ban phép lành cho các bệnh nhân tại nhà thờ tu viện chúng tôi. Một ngày, người ta mang đến cho tôi một người tê liệt ngồi trên ghế lăn. Vừa giơ tay vẽ hình Thánh Giá ban phép lành, tức khắc người bệnh la hét, chửi bới và vùng vẫy. Xong, anh té nhào xuống, nằm thẳng đơ trên nền nhà thờ. Người thân của anh kinh hãi, vội mang anh đi và đợi cho anh lắng dịu, mới mang trở lại nhà thờ. Nhưng khi tôi giơ tay ban phép lành, thì thảm kịch tái diễn: anh la hét, chửi bới và vùng vẫy. Thân nhân của anh ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội của anh. Đối với họ - cho đến lúc ấy - anh thật hiền lành và đạo đức.


>> Phần tôi, đây là lần đầu tiên đối diện với một trường hợp lạ lùng. Tôi nhớ lại điều đã học trong đại chủng viện và thầm nghĩ:

>> - Có lẽ anh này bị quỷ ám. Cần phải làm phép trừ quỷ!


>> Tôi trình bày với Cha Bề Trên Cộng Đoàn để xin Đức Giám Mục bản quyền ban phép thi hành nghĩa vụ trừ quỷ. Sau nhiều khó khăn, Đức Giám Mục đồng ý và tôi bắt đầu ngay nghi thức trừ quỷ.


>> Cuộc chiến thật là khủng khiếp. Sau một tuần lễ liên tục trừ quỷ, tôi đuổi được tên quỷ ra khỏi người bệnh. Lạ lùng thay, khi tên quỷ vừa đi, người bệnh cũng hết tê liệt. Thì ra bệnh tật thể xác là do tên quỷ ám hại gây ra.


>> Trường hợp đầu tiên gặp thấy trong đời Linh Mục trẻ khiến tôi miên man nghĩ ngợi. Cùng lúc đó, tin đồn tôi chữa lành một người tê liệt lan nhanh trong vùng. Người ta bắt đầu mang bệnh nhân đến xin tôi đặt tay ban phép lành. Sau đó tôi còn giải quyết mấy vụ khác. Thấy thế, các Đấng Bề Trên quyết định giao cho tôi trọng trách trừ quỷ.


>> Khi thi hành tác vụ trừ quỷ, tôi luôn luôn thi hành trong tư cách Linh Mục và nhân danh Giáo Hội Công Giáo đã ủy thác cho tôi nhiệm vụ này. Tôi tha thiết cầu xin THIÊN CHÚA, Đức Mẹ MARIA và Các Thánh trợ giúp tôi. Và như Phúc Âm nói, THIÊN CHÚA luôn luôn đáp lời con cái nài van.


>> Tôi bắt đầu nghi thức trừ quỷ bằng cách:

>> ban phép lành, rảy Nước Thánh và giơ cao tượng Thánh Giá Đức Chúa GIÊSU KITÔ cho bệnh nhân.


>> Nếu bệnh nhân có phản ứng kỳ lạ như :

>> run lẩy bẩy, chửi bới, đe dọa, tìm cách tẩu thoát hoặc nhảy bổ vào cấu xé vị Linh Mục, tôi hiểu là người bệnh bị một quyền lực vô hình điều khiển. Đây có thể là trường hợp bị quỷ ám thực sự.


>> Ma quỷ có thể phá hại con người bằng nhiều cách:

 

>> ám ảnh, quấy phá, qua trung gian bùa ngãi hoặc ám hại thực sự. Có nhiều người mắc những chứng bệnh kỳ lạ, chạy chữa đủ mọi phương thuốc nơi đủ mọi y sĩ, nhưng bệnh vẫn hoàn bệnh. Sau cùng họ đến với tôi.


>> Tôi làm phép trừ quỷ, tức khắc bệnh tật biến tan.

>> Điều này cho thấy những chứng bệnh kỳ lạ là do ma quỷ gây ra. Một điều quan trọng khi thi hành tác vụ trừ quỷ là

>> vị Linh Mục trừ quỷ cần có thái độ luôn luôn điềm tĩnh trước tất cả những hiện tượng quái dị do ma quỷ tác động nơi người bị ám hại. Bởi vì nếu vị Linh Mục tỏ ra sợ hãi, tức khắc ma quỷ không tuân lệnh vị Linh Mục trừ quỷ.


>> Lúc trước, tôi vẫn dè dặt mỗi khi phải chính thức đề cập đến vấn đề quỷ ám và trừ quỷ với giới báo chí, vì đây là một vấn đề hết sức tế nhị. Nay thì tôi nghĩ khác.


>> Ma quỷ hiện diện khắp nơi và luôn tìm cách quấy phá, ám hại con người, cuộc sống, thể xác và tinh thần.

>> Hơn ai hết, chúng tôi là Linh Mục trừ quỷ, hàng ngày đối đầu với quỷ dữ, chạm trán với những trường hợp ám hại thương đau, chúng tôi cần phải nói to, nói rõ cho mọi người biết về sức tung hoành tàn phá của quỷ dữ, và nhất là, minh chứng cho mọi người thấy:


>> - Quyền năng lớn lao của Giáo Hội Công Giáo, duy nhất, thánh thiện, tông truyền, khi nhân danh Đức Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ MARIA để trừ quỷ.

>>

>>

>> Các tín hữu Công Giáo cần ý thức sâu xa rằng, khi gặp những trường hợp nan giải, mắc phải những chứng bệnh kỳ lạ, không bác sĩ nào giải thích được và không phương thuốc nào chữa trị được, thì nên tìm đến với Linh Mục, hỏi han ý kiến của Ngài.


>> Chỉ có Linh Mục Công Giáo, nhân danh Giáo Hội Công Giáo và dùng những phương thức của chính Giáo Hội Công Giáo, mới giải thoát con người khỏi những bệnh tật do sức phá hoại của ma quỷ.


>> Trong mọi trường hợp, tín hữu Công Giáo không được phép chạy đến với thầy pháp, thầy phù thủy hoặc với những bà đồng bóng.

>> ... Khi Đức Chúa GIÊSU vừa ra khỏi thuyền và đặt chân lên đất thì có một người dân trong thành bị quỷ ám ra đón Người.


>> Từ lâu, anh ta không mặc quần áo, không ở trong nhà, nhưng ở trong đám mồ mả.

>> Thấy Đức Chúa GIÊSU, anh la lên, sấp mình dưới chân Người, và lớn tiếng nói rằng:

>> "Lạy Đức GIÊSU, Con THIÊN CHÚA Tối Cao, chuyện tôi can gì đến Ngài?


>> Tôi xin Ngài đừng hành hạ tôi!"


>> Ấy là vì Đức Chúa GIÊSU đã truyền cho thần ô uế xuất khỏi người ấy. Thật vậy, đã nhiều lần quỷ bắt lấy anh ta, người ta dùng xiềng xích gông cùm mà trói và giữ anh; nhưng anh bứt tung dây trói và bị quỷ đưa vào những nơi hoang vắng.


>> Đức Chúa GIÊSU hỏi anh:

>> "Tên anh là gì?" Anh thưa:

>> "Đạo binh", vì có rất nhiều quỷ nhập vào anh.


>> Lũ quỷ nài xin Đức Chúa GIÊSU đừng truyền cho chúng rút xuống vực thẳm (hỏa ngục). ** Ở đó có một bầy heo khá đông đang ăn trên núi. Lũ quỷ nài xin Đức Chúa GIÊSU cho phép chúng nhập vào bầy heo kia, và Đức Chúa GIÊSU cho phép.


>> Lũ quỷ xuất khỏi người đó, nhập vào bầy heo. Cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống hồ và chết ngộp hết (Luca 8,27-33).

>> ** Ma qủi sợ nhất là bị đuổi trở lại vào Hỏa ngục qua Danh uy quyền của Đức Giêsu mà không được trở lên mặt đất nữa.


>> (Renzo Allegri, "CRONISTA ALL'INFERNO", Arnoldo Mondadori Editore 1990, trang 86-95)

>> Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

__._,_.___

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 59 = DHY THUAN-NGUO ICUA HOI THANH PDF Print E-mail

 

Tác giả:

Lm Phạm Quốc Hưng

Đức Hồng Y Phanxicô-Người của Hội Thánh

(Nhân ngày giỗ 10 năm của Đức Hồng Y Phanxicô-Xaviê Nguyễn Văn Thuận)

Vào dịp kỷ niệm 5 năm Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận qua đời ngày 16/09/2007, Tòa Thánh đã chính thức mở án phong thánh cho ngài. Người ta đã đang và sẽ biết đến ngài như một "chứng nhân hy vọng", đúng như chủ đề của tuần tĩnh tâm dành cho Giáo Triều do chính ngài hướng dẫn vào Mùa Chay Năm Thánh 2000. Với người Công Giáo Việt Nam, ngài đã trở thành vị chủ chăn được nhiều người biết đến, mến yêu và ngưỡng mộ hơn cả.

Riêng tôi, nhớ đến Đức Hồng Y Phanxicô là nhớ đến tác giả Đường Hy Vọng, tác phẩm tu đức Việt ngữ có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với tôi. Lần đầu tiên được nghe đọc ít đoạn trong Đường Hy Vọng ở phần "lời bảo" từ lịch phụng vụ khi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật ở trại tị nạn Galang-Indonesia năm 1981, tôi đã cảm thấy bị thu hút mãnh liệt bởi tư tưởng súc tích đầy sức sống thần linh của ngài.

Ngày 26/ 04/1983, sau khi định cư tại Hoa Kỳ, tôi cảm thấy vui mừng biết bao khi được nhận được cuốn sách quý giá ấy do Bác Cửu, một người đồng hương của Anh Khoa, người bạn chí thân tôi tặng. Nỗi vui mừng lớn lao khi nhận được cuốn sách này khiến tôi lúc ấy đã viết vào trang đầu của cuốn sách những hàng sau:

"Lạy Chúa Giêsu, Bạn Chí Ái của lòng con, con sẽ cương quyết theo Chúa từ hôm nay. Chúa hãy giúp con sống trong hy vọng để kiên trung theo Chúa đến hơi thở cuối cùng của đời con!

"Xin Chúa cho con chính Chúa, còn mọi sự khác tùy Chúa lo liệu!

"Con chỉ xin một điều là cho con và mọi người thực hiện trọn vẹn Chương Trình Tình Yêu của Chúa. Chớ gì tất cả tình yêu của con dâng trọn cho Chúa nhờ tay Mẹ Maria.

"Chúa hãy cho con chết trong tình yêu Chúa chứ đừng để con ra ngoài tình yêu Ngài.

"Con đã bỏ mất cả quá khứ dài đằng đẵng trong ngã lòng, bối rối và ươn hèn, ích kỷ, tội lỗi.

"Ít nữa là từ hôm nay, con phải sống và muốn sống cũng như sống thực sự với Tình Yêu Chúa và bước đi trong Đường Hy Vọng".

Vào ngày 01/09/1987, sau khi được nhà dòng gửi vào Chủng Viện Thánh Gioan ở Camarillo, California, tôi viết ở cuối cuốn sách: "Cùng với Gương Chúa Giêsu, Đường Hy Vọng làm phấn khởi và trẻ trung hóa hồn tôi trên con đường mến yêu Chúa".

Biết ơn tác giả Đường Hy Vọng, tôi đã cầu nguyện đích danh cho ngài như một trong những ân nhân cao quý nhất của mình. Mãi đến mùa hè năm 1996, sau khi đã thụ phong linh mục, tôi đã được diễm phúc gặp gỡ ngài trong kỳ tĩnh huấn dành cho các linh mục Việt Nam tại Florida. Và tôi đã sung sướng bày tỏ lòng yêu mến biết ơn của tôi đối với ngài. Năm 1998, sau khi nhận được cuốn Trong Dòng Đời, cuốn sách đầu tay của tôi, ngài đã viết cho tôi ít hàng khích lệ sau: "Cảm ơn Cha đã gửi sách, cầu chúc Cha sản xuất thêm nhiều hơn nữa".

Tôi còn được gặp gỡ, lắng nghe và học hỏi với ngài trong lần ngài nói chuyện với giới trẻ Việt Nam tại Orange County năm 1996, cuộc nói chuyện của ngài với giới doanh thương Hoa Kỳ tại Saint Paul-Minesota tháng 09/1999, và cuộc gặp gỡ nói chuyện và vui xuân của ngài với anh chị em linh mục tu sĩ Việt Nam trong tuần tĩnh huấn đầu Năm Thánh 2000 tại Rôma.

Nhận biết giá trị đích thực của những giáo huấn cao quý của Đức Hồng Y và yêu quý ngưỡng mộ con người cao cả và cuộc sống chứng tá của ngài, tôi đã tìm mua và đọc hầu hết các tác phẩm của ngài: Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, Đường Hy Vọng Dưới Ánh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vaticanô II, Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, Đường Hy Vọng và Dẫn Giải, Niềm Vui Sống Đạo Thế Kỷ 21, Cầu Nguyện Hy Vọng, Sứ Điệp Cha Thánh Maximilian Kolbe, Chứng Nhân Hy Vọng; Hôm Qua, Hôm Nay, Ngày Mai...; Đức Thánh Cha Gioan XXIII.

Mới đây, tôi vui mừng được đọc thêm bộ hồi ký Cha Tôi trong Cuộc Đời của Tôi của Đức Ông Phaolô Phan Văn Hiền và cuốn Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận qua những Lời Tự Thuật của Đức Ông Phanxicô B. Trần Văn Khả.

Nhờ đó, tôi càng hiểu biết hơn về con người, cuộc đời và tâm tư của Đức Hồng Y. Có biết bao điều tuyệt diệu đáng được ngưỡng mộ và học hỏi nơi con người, cuộc đời và giáo huấn của ngài! Ở đây, tôi muốn chiêm ngắm và học hỏi với ngài như một người của Hội Thánh.

Trong tác phẩm Đường Hy Vọng, khi viết về Hội Thánh, Đức Hồng Y đã bắt đầu bằng cách trình bày Đức Thánh Cha Phaolô VI như một mẫu gương rạng ngời về lòng yêu mến Hội Thánh. Ngài viết: "Mỗi khi có ai tỏ ý lo sợ Ngài đau khổ, nhọc mệt. Đức Phaolô VI luôn luôn trả lời: Vỉ Hội Thánh! Vì Hội Thánh! Con hãy sống và trả lời như vậy" (# 247).

Chính Đức Thánh Cha Phaolô VI đã trình bày tầm quan trọng của lòng yêu mến Hội Thánh trong đời sống đức tin Công Giáo trong Thông Điệp Ecclesiam Suam (Những Con Đường của Hội Thánh-1964) như sau: "Chúng ta phải tập nhìn thấy Chúa Kitô trong Hội Thánh. Chính Chúa Kitô sống trong Hội Thánh là Đấng giảng dạy, cai quản và thánh hóa Hội Thánh. Cũng chính Chúa Kitô là Đấng tỏ mình cách khác nhau nơi các thành viên trong tổ chức của Người" (# 35).

Đức Phaolô VI víêt tiếp: "Thực thế, ý thức về mầu nhiệm Hội Thánh là kết quả của một đức tin trưởng thành và sống động. Từ một đức tin như thế sẽ nảy sinh một cảm nghĩ với Hội Thánh, cảm nghĩ này đong đầy người Kitô hữu đã được dưỡng dục trong Trường Lời Chúa. Người ấy đã được bổ dưỡng bởi ân sủng của các Bí Tích và của những linh hứng khôn tả của Đấng An Ủi, đã được đào luyện trong việc thực hành các nhân đức của Phúc Âm, đã được thấm nhuần với đời sống văn hóa và cộng đoàn của Hội Thánh, và được hạnh phúc sâu xa khi nhận thấy mình được trao tặng Chức Tư Tế Vương Giả thuộc về Dân Thiên Chúa. Mầu nhiệm Hội Thánh không phải chỉ là một kiến thức thần học; nó là một điều để sống, một điều mà tâm hồn trung tín có thể có được một thứ cảm nghiệm rất tự nhiên, ngay cả trước khi có một ý tưởng rõ ràng về Hội Thánh" (#36 & 37).

"Cảm nghĩ với Hội Thánh" được nói đến trên đây thường được các giáo sư trong chủng viện gọi là "luật trứơc tiên" hay "luật căn bản" (rule of thumb) trong công cuộc giáo dục đức tin và giảng dạy thần học. Nó phải là thước đo thực chất đức tin nơi từng tín hữu Công Giáo. Thiếu nó, linh mục không thể sống đúng căn tính của mình là thừa tác viên hay người của Hội Thánh. Đây chính là điều tôi nhận thấy đã thể hiện rõ nét nơi con người, cuộc sống và giáo huấn của Đức Hồng Y Phanxicô.

"Cảm nghĩ với Hội Thánh" ấy Đức Hồng Y đã được hấp thụ từ gia đình lành thánh của ngài, cách riêng từ mẹ ngài. Theo lời ngài thuật lại, khi ngài bị tù tội, mẹ ngài đã là nguồn an ủi lớn lao đối với ngài. Bà cố không xin mọi người cầu nguyện cho ngài sớm ra khỏi tù ngục theo lối thường nhân, nhưng với một đức tin lớn lao bà cố đã nói với mọi người: "Xin hãy cầu nguyện để con tôi được trung thành với Hội Thánh và ở lại nơi nào Chúa muốn".

Việc Đức Hồng Y bị bắt giữ năm 1975 và cầm tù suốt 13 năm đã trở thành cơ hội quý giá để ngài chứng thực lòng yêu yêu mến trung thành với Hội Thánh, cũng như góp phần xây dựng bằng lời cầu nguyện và biết bao hy sinh trong đau khổ trong thầm lặng của cảnh ngục tù. Ngài viết: "Tôi bị bắt giam không một phiên tòa, không một lời tuyên án. Cũng như Đức Thánh Cha Phaolô VI, tôi đã lập lại nhiều lần Vì Giáo Hội! Vì Giáo Hội! (Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê...tr.55).

Tôi sung sướng đọc được tâm tình yêu mến Hội Thánh thật thiết tha của Đức Hồng Y Phanxicô nơi những lời tâm sự của ngài được ghi lại trong hồi ký Cha Tôi trong Cuộc Đời của Tôi của Đức Ông Hiền, người con thiêng liêng của ngài. Khi biết Cha Hiền sắp vào học tại Trường Thánh Phêrô ở Rôma, ngài nhắn nhủ Cha Hiền như sau:

"Hiền chỉ còn mấy ngày nữa là bắt đầu vào Trường Thánh Phêrô chuẩn bị học rồi. Lẽ dĩ nhiên bây giờ ở đâu cũng có thể học được. Nhiều đại học trên thế giới cũng dạy những môn như ở Rôma. Nhưng học ở đây có hai đặc tính Romanitas và Universalitas. Rôma tính và hoàn vũ tính. Rôma là Thánh Đô của Hội Thánh. Có Đức Thánh Cha, đại diện Chúa Kitô, và các vị lãnh đạo đang ngày đêm cần mẫn làm việc để gìn giữ và phát triển Hội Thánh hoàn vũ. Rôma cũng là điểm gặp của mọi sắc dân trên thế giới. Không có nơi nào có nhiều sinh viên thuộc nhiều quốc gia đến học như ở Rôma. Người sinh viên đến du học ở đây, nếu biết tìm hiểu và ý thức, sẽ có lòng yêu mến Hội Thánh nhiều hơn và sẵn sàng cộng tác với mọi người để xây dựng Hội Thánh" (Cha Tôi Q. II tr. 25).

Ngài còn kể lại một kỷ niệm trong tù chứa đựng một tình mến thiết tha dành cho Hội Thánh và Đấng Kế Vị Thánh Phêrô:

"Sau khi rời Giang Xá, Cha được đưa đến ở tại những khu tập thể của công an. Không người nào biết Cha là ai cả. Một bữa kia, chị công an có nhiệm vụ lo cơm nước cho Cha, đem về hai con cá được gói trong một tờ giấy báo Osservatore Romano. Cha vui mừng thấy lại tờ báo chính thức của Hội Thánh và lén lấy đem đi rửa sạch khỏi mùi tanh và phơi khô, rồi cất giữ nó như một vật trân quý. Đường lối Chúa thật lạ lùng! Khi mọi tin tức từ Hội Thánh bị cắt đứt, Chúa lại khéo léo dùng tờ báo Osservatore Romano qua ngã giấy tạp gói cá ngoài chợ, để nhắc Cha về sự hiệp thông với Hội Thánh hoàn vũ, với Đức Thánh Cha, với Rôma. Và qua đó, Cha nhận ra Hội Thánh vẫn luôn gần gũi và để ý quan tâm lo lắng cho Cha, dù cho Cha bị hoàn toàn cô lập. Chính điều này đã nâng đỡ sức mạnh của Cha rất nhiều" (Cha Tôi Q. II tr. 25-26).

Một buổi sáng ở Rôma, ngài chỉ cho Cha Hiền thấy vòm tháp tròn của Đền Thờ Thánh Phêrô và tâm sự:

"Trong thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, nhiều lần nghe tiếng chuông Nhà Thờ Chánh Tòa Hà Nội thánh thót, Cha nghĩ đến Đền Thờ Thánh Phêrô ở Rôma với tất cả tâm tình hiệp thông và yêu mến. Đền thờ này là biểu tượng của Hội Thánh do chính Chúa thiết lập và tiếp tục hướng dẫn dìu dắt, để qua đó mọi người trên thế giới ở mọi thời đại nhận biết ơn cứu độ của Chúa. Nhiều người tự xưng mình là tin Chúa, nhưng lại không tin, không yêu mến Hội Thánh. Thật lạ lùng! Làm sao có thể tách Chúa Giêsu ra khỏi Hội Thánh do chính Ngài thiết lập được. Tất nhiên Hội Thánh cũng có những khuyết điểm vì cũng là một tổ chức. Nhưng cũng thật bất công nếu chỉ dựa vào những khuyết điểm đó để công kích và tẩy chay Hội Thánh. Hơn nữa, Hội Thánh đâu phải là giáo triều, nhà thờ hay nghi thức. Hội Thánh là toàn thể Dân Chúa đang tiến về Nước Trời. Và mỗi người Kitô hữu đều có nhiệm vụ góp phần để làm cho những tổ chức của Hội Thánh nên hoàn hảo" (Cha Tôi Q. II tr. 34).

Để diễn tả lòng yêu mến sâu xa dành Hội Thánh, ngài đã sáng tác bài thơ Tất Cả Vì Sứ Mạng!Tất Cả Vì Hội Thánh! (lời Đức Phaolô VI) như sau:

Lạy Cha, con tin vững vàng.

Cha trao sứ mạng ngập tràn yêu thương.

Cha đang chuẩn bị dọn đường,

Con luôn thanh luyện, con hằng quyết tâm

Quyết nên hy lễ âm thầm,

Quyết nên khí cụ Cha cầm trong tay.

Hy sinh rướm máu từng giây,

Vì yêu Hội Thánh, "con đây sẵn sàng!"

Ngài giải thích với Cha Hiền như sau: "Đây là một trong 6 bài thơ Cha làm trong thời gian ở trại Phú Khánh, Nha Trang. Tất cả làm thành Kinh Toàn Hiến, vì trong đó Cha bày tỏ niềm tin tưởng tuyệt đối vào tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa, nhờ đó Cha sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn xảy đến trong tinh thần vâng phục để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho Hội Thánh" (Cha Tôi Q. II tr. 36).

"Cảm nghĩ với Hội Thánh" sâu đậm nơi tâm hồn Đức Hồng Y khíên ngài nhận thức và quan tâm trước thực trạng chống phá Hội Thánh một cách tinh vi và tàn nhẫn của những người bất phục Hội Thánh ngay trong lòng Hội Thánh. Với tầm nhìn xuyên suốt của đức tin được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, Đấng hằng dẫn dắt Hội Thánh, ngài còn vạch ra những lý do và động lực nằm sâu nơi tâm hồn của những kẻ đang chống phá Hội Thánh. Điều này đã được Cha Hiền kể lại như sau:

"Ngài kể cho tôi biết về trào lưu vô thần ở Âu Châu. Có những người không tin Chúa nhưng vẫn ghi danh tham dự các lớp thần học ở các đại học Công giáo. Cũng có bằng cử nhân, tiến sĩ thần học. Nhưng những người này chỉ muốn học để thỏa mãn tính tò mò, hay để tìm cách phá Giáo Hội. Tệ hại hơn nữa, có những nhà thần học tự phụ cho mình biết tất cả mọi sự và lên mặt lớn tíêng chỉ trích Giáo Hội sai lầm và lỗi thời. Họ thường lý luận thật tinh vi. Kiểu lý luận của những người biệt phái ngày xưa: không chống Đức Giavê nhưng lại giết kẻ Ngài sai đến. Cũng vậy, họ hô hào mình không phản Giáo Hội nhưng lại chống những người đại diện của Giáo Hội, phê phán Giáo Hội cách bất công, thiếu tinh thần xây dựng. Họ quên mất hay cố tình quên yếu tố yêu thương và phục vụ phải gắn liền với kiến thức mà chính Chúa đã ban cho họ. Và ngài kể cho tôi nghe về những trường hợp dễ đưa người ta đến chỗ chống đối Giáo Hội: 1) khi kẹt vấn đề tiền tài, tình cảm; 2) khi bất mãn vì tham vọng; 3) khi sợ cực, sợ đau khổ, sợ chết (ĐHV # 262).

"Ngài lấy gương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam để giải thích lòng yêu mến Giáo Hội. Các bậc tiền nhân sẵn sàng chấp nhận đau khổ, và ngay cả cái chết, nên luôn giữ vững được đức tin và lòng trung thành với Giáo Hội. Ngài nói tiếp: Dĩ nhiên tử đạo là một ơn đặc biệt của Chúa. Không phải bất kỳ ai cũng được ơn này. Nhưng chỉ những người sống đức tin và yêu mến Giáo Hội thực sự mới được ơn phúc đó. Trong ba trường hợp trên đây, phản bội do "bất mãn vì tham vọng" được xem là nghiêm trọng hơn cả vì chính đương sự chủ động, không phải bị áp lực của những yếu tố bên ngoài. Đây là loại "phản bội trí thức" vì sự phản bội này thường thấy nơi những người trí thức kiêu căng. Họ tự cho mình biết tất cả, thông thạo tất cả nên sẵn sàng lên mặt chống đối, phê phán chỉ trích tất cả những người khác, kể cả những người đại diện Giáo Hội. Tham vọng của những người này là muốn tất cả mọi người phải nghe và chấp nhận ý kiến của họ. Vì thế, một khi tham vọng không đạt được như ước muốn, họ đâm ra bất mãn và phản lại Giáo Hội" (Cha Tôi Q. I tr. 102-103).

Chính khẩu hiệu "Vui Mừng và Hy Vọng" ngài chọn khi được tấn phong giám mục năm 1967 là một biểu hiện sống động của "cảm nghĩ cùng Hội Thánh" sâu thẳm nơi ngài. Đó là một lời tuyên xưng lòng yêu mến gắn bó thiết tha của ngài. Vì khẩu hiệu đó-Gaudium et Spes-chính là tên gọi của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới hôm nay.

Xác tín vào tầm quan trọng và sự cần thiết của việc phải có cùng "cảm nghĩ với Hội Thánh" trong đời sống đức tin người tín hữu, Đức Hồng Y Phanxicô đã dùng mọi cơ hội để gieo vào lòng mọi người niềm tin tưởng, kính yêu và vâng phục Đức Thánh Cha và Hội Thánh. Đặc biệt, trong Thư Luân Lưu Vững Mạnh Trong Đức Tin-Tíên Lên Trong An Bình ngài viết năm 1969, khi ngài công bố năm đức tin tại Giáo Phận Nha Trang với tư cách là giám mục địa phận, ngài đã giúp các tín hữu có cùng "cảm nghĩ với Hội Thánh" một cách súc tích và cụ thể như sau:

"Muốn vững mạnh trong đức tin ở Hội Thánh, anh chị em phải làm gì?-Tôi tha thiết khuyên bảo anh chị em ghi tạc ba điểm này, vừa thực tế, vừa cần thiết:

"1. Phải công nhận có quyền bính (auctoritas)

"Chúng ta tin điều Chúa mạc khải, nhưng Chúa trao quyền bính gìn giữ gìn giữ kho tàng mạc khải ấy cho Hội Thánh. Kho tàng ấy nằm trong Thánh Kinh và Thánh Truyền. Hội Thánh có quyền giải thích và ta có bổn phận phải vâng lời,

"2. Phải công nhận có mầu nhiệm (mysterium)

"Nhờ ơn Chúa, nhờ Chúa mạc khải, trí óc chúng ta hiểu được nhưng chân lý Chúa tỏ cho ta. Có những chân lý cao cả, trí óc nhân loại không thấu hết được, nhưng có thực, mặc dù không thể dùng khoa học để thí nghiệm, nhưng mọi tín hữu tin như Hội Thánh dạy, không phải ai muốn tin sao cũng được.

"3. Phải chấp nhận trở ngại (scandalum)

"Những tín điều Công Giáo nhiều khi trái ngược hẳn với sự hiểu biết tự nhiên: Đức Mẹ Đồng Trinh, Chúa Giêsu chịu tử nạn, phục sinh, lên trời và sẽ trở lại phán xét là những thực tại lịch sử, khoa học không giải thích được. Ngay lúc Chúa dạy về Phép Thánh Thể đã có người phản đối: "Lời này cứng cỏi quá ai chịu nổi" (Jn 6:61).

"Chúng ta phải phân biệt rằng Hội Thánh không gò bó bóp nghẹt, ngược lại khuyến khích những ai có khả năng và thiện chí hãy nhận lấy sứ mạng tuyệt diệu là đào sâu, thanh lọc, diễn tả những bản văn về các tín điều bằng lời lẽ mới mẻ, tốt đẹp, đặc sắc, linh động và dễ hiểu hơn.

"Theo Công Đồng Vaticanô II dạy, kho tàng mạc khải luôn luôn là một, không biến đổi, trong một giáo lý, trong một đường hướng, trong một tư tưởng (Diễn văn Đức Phaolô VI ngày 03/07/1968).

"Yêu mến Hội Thánh là không làm hại Hội Thánh bằng những lời chỉ trích, những thái độ vơ đũa cả nắm.

"Yêu mến Hội Thánh là không làm tổn thương cho Hội Thánh bằng những lời lẽ không khôn ngoan, những thái độ mập mờ không xứng một người Công Giáo chân chính.

"Yêu mến Hội Thánh là không để Hội Thánh lệ thuộc một thực tại trần gian nào, dù là đảng phái, dù là văn minh, dù là giai cấp.

"Yêu mến Hội Thánh là biết khôn ngoan đề phòng những lối tuyên truyền của báo chí, có tính cách chiêu khách, đấu thầu, vô trách nhiệm, có nhiều lần do những hội kín mua chuộc, và như lời Đức Thánh Cha Phaolô VI, nó tạo cho óc chỉ trích phá hoại thành một lối thời trang trong nhiều khu vực của đời sống Công Giáo".

Và ngài đã trân trọng lập lại trong thư luân lưu này lời hiệu triệu trong diễn văn ngày 18/09/1968 của Đức Thánh Cha Phaolô VI:

"Giờ đây, Ta nói với các con, những người con trung thành, Ta vui sướng nhìn các con là những người yêu thương Hội Thánh với một tâm hồn khiêm tốn và chân thật. Tâm tình và hành động của các con đáp lại tiếng gọi của Ta. Hãy yêu mến Hội Thánh! Giờ đã điểm, hãy yêu mến Hội Thánh với một tâm hồn can đảm, mới mẻ."

Cuối thư, ngài thiết tha kêu gọi mọi tầng lớp trong giáo phận hãy tin tưởng, yêu mến và vâng phục Hội Thánh để vững mạnh tiến bước trong niềm tin như sau:

"Vì tinh thần trách nhiệm trước mặt Chúa, tôi đã trình bày những điều trên đây.

"Xin anh em trong chức Linh Mục hãy tin tưởng ở Hội Thánh, yêu mến, phục vụ, hy sinh, vâng lời Hội Thánh và Đức Thánh Cha. Anh em hãy dạy cho giáo dân được xác tín, trung thành với Hội Thánh.

"Các tu sĩ nam nữ hãy dâng cuộc đời tận hiến để tận tụy hy sinh cho Hội Thánh và Đức Thánh Cha, trong thinh lặng thầm kín, giữa những nơi xa xôi hẻo lánh, bằng những công việc rất khiêm tốn.

"Các chủng sinh hãy ý thức từng giây phút, để chuẩn bị các con mai ngày trở nên cộng tác viên của Đức Thánh Cha, người thừa hành của Thiên Chúa. Hội Thánh cần những người dấn thân đầy khả năng, không sợ hy sinh, biết trung thành và kỷ luật.

"Giáo dân là tiếng nói của Hội Thánh giữa đồng áng, xưởng máy, học đường. Anh chị em hãy tạo cho gia đình anh chị em thành tiểu tổ của chiến sĩ hăng say giữa trần gian.

"Tin tưởng ở lời cầu bầu của Đức Mẹ Maria, tôi tuyên bố năm 1969 là Năm Đức Tin của Địa Phận."

Ngài đã tận tình yêu mến phục vụ Hội Thánh khi ở giữa đoàn chiên. Ngài vẫn kiên trung yêu mến, hy sinh và cầu nguyện cho Hội Thánh giữa cảnh ngục tù. Ai lại không xúc động trước lòng yêu mến sắt son ngài dành cho Hội Thánh khi thấy ngài cầu nguyện với Đức Mẹ như sau, trước khi được trả tự do: "Lạy Mẹ, nếu con làm ích cho Giáo Hội trong cảnh tù đày này, xin Mẹ cho con ơn và vinh dự được chết ở đây. Nhưng nếu Mẹ thấy con còn có thể phục vụ Giáo Hội cách nào đó, xin Mẹ để cho các người bắt con thả con ra" (Đức Hồng Y Phanxicô-Xaviê...tr.113).

Quả thật ngài đã "sống và chết vì Hội Thánh như Chúa Kitô" (Đường Hy Vọng # 987).

Chính nhờ đã có cùng "cảm nghĩ với Hội Thánh", đã sống và chết như người của Hội Thánh, một người con thảo hiếu trung thành và vâng phục Mẹ Hội Thánh, mà ngài đã trở nên chứng nhân của niềm vui và hy vọng, chứng nhân của đức tin, một Phúc Âm sống, một môn đệ đích thực của Chúa Kitô, một người của Thiên Chúa, và một vị thánh. Vì ngài đã từng xác quyết rằng: "Trong Hội Thánh mọi người được mời gọi và có bổn phận phải nên thánh. Nếu con không sống thánh thiện, con đừng lên mặt canh tân Hội Thánh, Không ai có Thánh Thần mà chống lại Đức Kitô" (ĐHV # 267).

Bằng chính cuộc đời đong đầy tình yêu sâu đậm thiết tha dành cho Mẹ Hội Thánh của ngài, Đức Hồng Y Phanxicô đã vạch ra một quy luật tối cần để sống đức tin cho giới trẻ cũng như cho từng tín hữu hôm nay. Đó là: "Tôi sẽ trung thành làm chứng nhân cho Chúa Giêsu trong Giáo Hội và cho Giáo Hội" (Cha Tôi Q. IV tr. # 56).

Nguyện xin Chúa, qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse, Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Đức Hồng Y Phanxicô yêu dấu của chúng con, ban cho mọi tín hữu chúng con biết noi gương Đức Hồng Y và được gấp bội thần trí của ngài, để trung thành làm chứng nhân cho Chúa Giêsu trong Giáo Hội và cho Giáo Hội, như chính ngài đã thương yêu khuyên dạy chúng con. Amen.

Lm Phạm Quốc Hưng

---------------------------

CBPV chuyển

 
CAC BAI ĐOC GIA GOI TOI # 58 TUONG LAM PDF Print E-mail

 

-

Sun, 16/09/2012 - 10:46

Tác giả:

ĐGM Ngô Quang Kiệt

Tưởng lầm

Trong đời sống có rất nhiều điều hiểu lầm. Chẳng hạn xưa kia khi thấy mặt trời cứ sáng mọc tối lặn, người ta tưởng rằng trái đất đứng yên và mặt trời di chuyển chung quanh trái đất. Nhưng khoa học tiến bộ đã minh chứng mặt trời đứng yên, chính trái đất mới xoay chung quanh mình và chung quanh mặt trời.

Trong đời sống đạo cũng đã có những hiểu lầm như thế. Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế sẽ uy nghi từ trên mây trời hiện đến. Không ngờ Người lại do một thôn nữ dưới đất sinh. Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế phải ngự trong lâu đài sang trọng của vua chúa. Nhưng không ngờ Người lại sinh ra trong chuồng bò lừa. Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế phải uy quyền lẫm liệt. Nhưng không ngờ Người lại quá hiền lành khiêm nhường. Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế phải đánh đông dẹp bắc, đập tan quân thù, đưa nước Do Thái lên địa vị bá chủ. Nhưng không ngờ Người chịu thua hết mọi người, chịu hành hạ, chịu sỉ nhục, chịu chết như một kẻ tội lỗi. Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế là một ông vua có kẻ hầu người hạ. Nhưng không ngờ chính Người lại quỳ xuống hầu hạ, rửa chân cho các môn đệ.

Có quan niệm sai lầm về Thiên Chúa, người ta cũng sai lầm về người môn đệ. Người ta cứ tưởng theo Chúa thì sẽ được chức cao quyền trọng trong Nước Chúa. Nên bà Giêbêđê mới xin Chúa cho hai người con là Gioan và Giacôbê được ngồi bên tả và bên hữu Chúa trong Nước Chúa. Nhưng không ngờ Chúa không hứa cho chức quyền mà chỉ hứa cho uống chén Người sẽ uống, nghĩa là phải chết. Người ta cứ tưởng người làm lớn trong Nước Chúa sẽ được trọng vọng, được phục dịch. Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: "Ai trong anh em muốn làm lớn thì phải phục vụ anh em". Người ta cứ tưởng theo Chúa thì Chúa sẽ cho mọi sự may mắn ở đời, được thành công. Được giàu sang. Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: "Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo".

Hôm nay, sau khi nghe các môn đệ báo cáo về dư luận quần chúng, Đức Giêsu thấy họ quá sai lầm về Người, về vai trò Cứu thế của Người, về con đường cứu chuộc. Nên Người đã dậy rõ ràng cho các môn đệ biết Đấng Cứu thế thực là Con Thiên Chúa. Nhưng con đường Người đi là con đường thập giá. Người phải chịu đau khổ, chịu hành hạ, chịu sỉ nhục, và phải chịu chết.

Người cũng cho các môn đệ biết ai muốn theo Người cũng sẽ phải đi vào con đường của Người. Phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Người.

Phải chăng Thiên Chúa muốn hành hạ con người, muốn con người tàn lụi chứ không muốn con người phát triển, muốn con người phải chịu đau khổ chứ không muốn con người được hạnh phúc? Tại sao trên trần gian, người ta thường hứa hẹn cho những người theo mình hạnh phúc sung sướng mà Chúa thì làm ngược lại, chỉ hứa cho những người theo mình thánh giá và đau khổ?

Thưa, chắc chắn Chúa muốn cho con người được hạnh phúc. Chính vì muốn con người được hạnh phúc mà Chúa đã phải xuống trần gian để cứu chuộc con người. Nhưng thứ hạnh phúc mà Chúa muốn ban tặng cho con người không phải là thứ hạnh phúc giả tạo dễ dàng và mau qua. Chúa muốn cho con người được hạnh phúc vĩnh cửu, hạnh phúc đích thật, hạnh phúc không bao giờ tàn úa. Muốn được hạnh phúc đó, con người phải kinh qua những vất vả, đau đớn. Đau đớn nhất là phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình. Những vất vả đau đớn không phải là vì Chúa độc ác muốn hành hạ con người. Những đau đớn từ bỏ mình không phải là vì Chúa muốn con người đi vào tàn lụi diệt vong. Nhưng đó là qui luật, là điều kiện để được sự sống, được hạnh phúc đích thật.

Chính Đức Giêsu cũng phải đi qua con đường thập giá khổ nhục mới đến hạnh phúc. Chính Người phải kinh qua cái chết đau đớn mới tới ngày phục sinh vinh quang. Nên Chúa đã nói với các môn đệ: "Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy".

Thành ra, đau khổ Chúa hứa không phải để hành hạ con người, nhưng là con đường dẫn con người đến hạnh phúc đích thực. Thập giá và cái chết không phải để đưa con người vào tàn lụi, nhưng chính là điều kiện để con người được tái sinh và triển nở trong đời sống mới, đời sống vĩnh cửu với hạnh phúc không bao giờ tàn.

Những lời Chúa nói hôm nay, tuy khó nghe và khó chấp nhận. Nhưng đó là sự thật và là con đường đưa ta đến hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu. Chúa đã không lừa mị ta, không hứa hẹn cho ta những gì dễ dãi, chóng qua. Chúa chỉ cho ta đường ngay nẻo chính. Chúa mời gọi ta phải dũng mạnh, can đảm và quyết liệt trong cuộc chạy đua dành lấy hạnh phúc nước trời.

Lạy Chúa, xin cho con biết từ bỏ mình, vác thập giá mình mà bước theo Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Đâu là những hiểu sai lầm về Chúa?

2. Đâu là những hiểu sai lầm về người môn đệ của Chúa?

3. Có phải Chúa muốn ta khổ sở khi bảo ta phải từ bỏ mình không?

4. Tại sao Chúa phải chịu đau khổ?

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

--

 

God's Child chuyển

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 57 = BAI GIAO LY NGAY THU TU PDF Print E-mail

¬¬¬¬¬¬¬¬

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 29)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 12.09.2012.

CẦU NGUYỆN TRONG PHẦN HAI SÁCH KHẢI HUYỀN ( Ap 4, 1- 22, 21).

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

thứ tư vừa qua, tôi đã nói về cầu nguyện trong phần thứ nhứt Sách Khải Huyền, hôm nay chúng ta đi vào phần thứ hai của quyển sách.

Và như trong phần đầu, lời cầu nguyện quy hướng về nội bộ đời sống Giáo Hội, thì phần hai đặc tâm của lời cầu nguyện được quy hướng về cả thế giới: thật vậy, Giáo Hội đang lữ hành trong lịch sử, là thành phần của lịch sử theo đồ án của Thiên Chúa.

Cộng đồng đang lắng nghe sứ điệp của Thánh Gioan, được biểu tượng qua người đọc, đã khám phá ra

- bổn phận của chính mình là cộng tác để phát triển Nước Chúa, với tư cách là " các tư tế của Chúa và của Chúa Kitô" ( Ap 20, 6; cfr 1,5; 5, 10)

- và rộng mở mình ra trên thế giới con người.

Và ở đây nổi bật lên hai phương thức sống năng động có liên hệ với nhau:

- phương thức thứ nhứt, chúng ta có thể định nghĩa là " hệ thống của Chúa Kitô ", mà cộng đồng vui suớng được thuộc về

- và phương thức thứ hai, đó là " theo hệ thống trần gian chống lại Vương Quốc và chống lại hoà hợp, được lập nên do ảnh hưởng của Ác Thần ". Sự Ác đó lường gạt con người, muốn thực hiện một thế giới đối ngược lại thế giới Chúa Kitô và Thiên Chúa muốn ( cfr Pontificia Commissione Biblica, Bibbia e Morale, Radice bibliche dell'agire cristiano, 70).

Hiểu như vậy, cộng đồng phải biết đọc một cách sâu xa dòng lịch sử mà mình đang sống, bằng cách tìm học hỏi chuẩn định được giữa đức tin và các biến cố để cộng tác bằng động tác của mình nhằm phát triển Nước Thiên Chúa.

Động tác biết đọc và định chuẩn đó, cũng như hành động, đều có liên hệ với cầu nguyện.

1 - Trước hết sau phần kêu gọi khẩn thiết của Chúa Kitô, trong phần đầu của Sách Khải Huyển, bằng cách lập lại đến bảy lần

- " Ai có tai nghe, thì hãy nghe những gì Chúa Thánh Thần nói lên trong Giáo Hội " ( cfr Ap 2, 7.11.17.29; 3, 6.13.22),

cộng đồng được mời gọi hãy lên Trời, để nhìn thực tế bằng chính đôi mắt của Thiên Chúa và ở đây chúng ta gặp được ba biểu tượng, định điểm đối chiếu khởi điểm để bắt đầu đọc hiểu dòng lịch sử: đó là ngai của Chúa, Con Chiên và quyển sách ( cfr Ap 4, 1-5, 14).

a) Biểu tượng thứ nhứt là ngai của Chúa, trên đó có một nhân vật đang ngồi, mà Thánh Gioan không diễn tả cho biết là ai, bởi vì nhân vật đó vượt lên trên mọi khả năng biểu thị diễn tả của con người. Thánh Gioan chỉ có thể đề cập sơ qua ý nghĩa đẹp và vui tươi, mà ngài cảm nhận được khi đứng trước Người.

Nhân vật bí nhiệm đó là Thiên Chúa.

Thiên Chúa toàn năng không đóng kín mình trên Trời của Người, mà tỏ hiện ra sát gần với con người, đi vào giao ước với con người: Thiên Chúa là Đấng làm cho mình được nhận ra trong lịch sử, một cách bí nhiệm, nhưng thực tiển. Tiếng nói của Người được thể hiện bằng ánh sấm chớp và tiếng gầm sét. Có nhiều yếu tố hiện diện chung quanh ngai của Chúa, như hai mươi bốn vị bô lão và bốn con thú sống động, không ngừng ngợi khen Thiên Chúa duy nhứt của lịch sử.

Như vậy, biểu tượng thứ nhứt là ngai của Chúa.

b) Biểu tượng thứ hai là một quyển sách, trong đó chứa đựng đồ án của Chúa về các biến cố và về con người. Quyển sách được đóng kín bởi bảy ấn triện và không ai có khả năng đọc được.

Trước sự bất lực của con người để thấu hiểu được đồ án của Thiên Chúa, Thánh Gioan cảm thấy một nỗi buồn thấm thiá khiến cho ngài bật khóc.

Tuy nhiên có một điều vớt vát được cho khủng hoảng đó của con người trước mầu nhiệm lịch sử, bởi vì có một nhân vật nào đó có khả năng mở sách ra được và cho biết những gì trong đó.

c) Và đây là biểu tượng thứ ba: đó là Chúa Kitô, Chiên bị Hiến Tế trên Thánh Giá, nhưng vẫn đứng thẳng người, dấu hiệu cho thấy Người đã Phục Sinh.

Đó chính là Con Chiên, Chúa Kitô đã tử nạn và phục sinh. Người tuần tự mở các ấn triện ra và mạc khải đồ án của Thiên Chúa, ý nghĩa sâu đậm của lịch sử.

Các biểu tượng đó nói lên những gì ?

Những biểu tượng đó nhắc nhớ chúng ta đâu là con đường để đọc hiểu các sự kiện lịch sử và các biến cố của chính đời sống chúng ta.

Ngước mắt lên trời, trong vị thế hằng tiếp tục liên hệ với Chúa Kitô, mở rộng trái tím và trí óc chúng ta ra với Người trong lời cầu nguyện cá nhân và tập thể, chúng ta học biết được nhìn các sự việc theo phương thức mới và đón nhận ý nghĩa mời đích thực.

Cầu nguyện như là cửa sổ mở ra, cho phép chúng ta phóng tầm nhìn hướng về Chúa, không những chỉ để làm cho chúng ta nhớ đó là mục đích mà chúng ta phải hướng về, mà còn để cho thánh ý Chúa soi sáng cuộc hành trình trần thế của chúng ta và giúp chúng ta sống con đường đó đầy cường độ và chuyên cần.

2 - Chúa hướng dẫn cộng đồng Kitô hữu bằng cách nào để đọc hiểu sâu đậm hơn dòng lịch sử?

Trước tiên bằng cách mời gọi cộng đồng hãy biết nhìn hiện trạng mà chúng ta đang sống bằng cặp mắt thực tế.

Như vậy Con Chiên mở ấn triện thứ nhứt trong bốn ấn triện của quyển sách ra và Giáo Hội thấy được thế giới mà mình được hội nhập vào đó, một thế giới trong đó có nhiều yếu tố tiêu cực khác nhau:

- có những điều ác, mà con người thực hiện, như bạo lực, được nảy sinh ra do lòng muốn chiếm hữu, người nầy vượt lên trên người kia, đến nỗi đưa đến giết chóc ( đó là ấn triện thứ hai ).

- hay điều bất công, bởi vì con người không tôn trọng các lề luật đã được ban cho ( ấn triện thứ ba).

- thêm vào đó những điều ác khác, mà con người phải gánh chịu, như cái chết, đói khát, bệnh tật ( ấn triện thứ tư ).

Trước những thực thể đó, thường là những thực thể thảm đạm, cộng đồng Giáo Hội được mời gọi đừng bao giờ đánh mất đi niềm hy vọng, hãy vững tin rằng quyền năng bề ngoài đầy quyền lực của Ác Thần chạm trán với quyền toàn năng đích thực của Thiên Chúa. Và ấn triện thứ nhứt mà Con Chiên tháo gở ra chứa đựng chính sứ điệp nầy được Thánh Gioan thuật lại:

- " Tôi thấy kìa một con ngựa trắng, và người cởi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng " ( Ap 6, 2).

Sức mạnh của Thiên Chúa đã đi vào dòng lịch sử của con người, sức mạnh đó không những có khả năng cân bằng sự ác, mà còn chiến thắng nó: màu trắng nhắc lại màu Chúa Phục Sinh. Thiên Chúa đã làm cho mình thể hiện sát gần, đi vào bóng tối của sự chết và chiếu sáng nó bằng ánh sáng chiếu rạng đời sống thần linh của Người; Chúa đã gánh lấy nơi mình điều ác của thế gian để thanh tẩy nó bằng lửa tình yêu của Người.

Việc đọc trong ý nghĩa Kitô giáo vừa kể làm cho chúng ta được tăng trưởng như thế nào ?

Sách Khải Huyền cho chúng ta biết rằng cầu nguyện nuôi dưỡng mỗi người chúng ta và trong cộng đồng nhãn quang ánh sáng nầy và niềm hy vọng sâu xa: mời gọi chúng ta đừng để mình bị sự dữ chiến thắng, mà hãy chiến thắng sự dữ bằng điều lành, hãy nhìn lên Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh đang hội nhập chúng ta vào cuộc chiến thắng của Người.

Giáo Hội sống trong dòng lịch sử, không đóng khuôn chính mình lại, nhưng can đảm đối đầu cuộc hành trình của mình giữa những khó khăn và đau khổ, bằng cách thấy rằng rốt cuộc sự ác không thắng được điều thiện, tăm tối không làm lu mờ được ánh sáng chói lọi của Thiên Chúa.

Điều vừa kể quan trọng đối với chúng ta, với tư cách là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta không bao giờ được bi quan.

Chúng ta biết rõ rằng trong cuộc hành trình đời sống chúng ta, chúng ta thường gặp bạo lực, gian dối, ghen ghét, bách hại, nhưng những gì vừa kể không làm cho chúng ta thối chí.

Nhứt là cầu nguyện dạy chúng ta thấy được các dấu chỉ của Chúa, sự hiện diện và động tác của Người, đúng hơn Người hiện diện ở với chúng ta chính các ánh sáng của điều thiện đang phổ biến lan tràn niềm hy vọng và chỉ cho thấy chiến thắng là của Chúa.

3 - Viễn ảnh đó thúc đẩy chúng ta dâng lên Chúa và Con Chiên lòng biết ơn và lời ca ngợi khen.

Hai mươi bốn vị bô lão và bốn con thú sống đang cùng đồng thanh hát lên " bài ca ngợi mới ", chúc tụng công trình của Chúa Kitô Con Chiên, Đấng " đổi mới mọi sự " ( Ap 21, 5 ).

Nhưng công cuộc đổi mới đó là một ơn ban, chúng ta cần phải cầu xin.

Và ở đây chúng ta gặp được một yếu tố khác, đặc thù của cầu nguyện: đó là khẩn khoản van xin Chúa, xin Nước Người được thể hiện. xin cho con người có được con tim vâng nghe dễ dạy trước vương quyền của Chúa, xin thánh ý Người hướng dẫn đời sống chúng ta và thế giới.

Trong nhãn quang Sách Khải Huyền lời cầu nguyện van xin đó chiếm một địa vị quan trọng cá biệt: " hai mươi bốn vị bô lão " và " bốn con thú sống " đang cầm trong tay mình, cùng chung với cây đàn đang hoà điệu với lời hát của mình, " những chén vàng đầy hương " ( Ap 5, 8a).

Đó là, như được giải thích kế tiếp, " những lời cầu nguyện của dân thánh " ( Ap 5, 8b), tức là của những người đã đạt được đến Chúa, nhưng cũng là của tất cả chúng ta, là những kẻ đang trên đường lữ hành.

Và chúng ta cũng thấy được trước ngai Chúa, một thiên thần đang cầm trên tay một bình hương vàng mà vị ấy đang tiếp tục bỏ vào đó các hột hương, tức là các lời cầu nguyện của chúng ta, mà mùi hương ngọt ngào cùng với những lời cầu nguyện bay lên trước nhan Chúa ( cfr Ap 8, 1-4).

Đó là một biểu tượng nói cho chúng ta biết tất cả các lời cầu nguyện của chúng ta - với tất cả những giới hạn, mệt nhọc, nghèo khổ, khô khan, những bất toàn mà lời cầu nguyện có thể có - cũng dường như được thanh tẩy và đạt đến được trái tim Chúa.

Như vậy, chúng phải chắc chắn rằng không có lời cầu nguyện nào là lời câu nguyện dư thừa, vô ích , không có lời cầu nguyện nào bị đánh mất đi. Và những lời cấu nguyện đó đều có được lời đáp ứng, mạc dầu đôi khi là những đáp bí nhiệm, bởi vì Chúa là Tình Yêu và Nhân Từ vô cùng.

Thánh Gioan viết:

- " Thiên thần cầm bình hương, lấy lửa trên bàn thờ bỏ vào và ném xuống đất. Liền có tiếng sấm, tiếng sét, ánh chớp và động đất " ( Ap 8, 5 ) .

Hình ảnh đó có nghĩa là Thiên Chúa không vô cảm đối với những lời van xin của chúng ta. Người can thiệp và làm cho chúng ta cảm nhận được quyền năng của Người và tiếng nói của Người trên mặt đất, làm rung động và đảo lộn hệ thống của Ác Thần.

Thường thường, đứng trước sự ác chúng ta có cảm tưởng là không thể làm gì được, nhưng chính lời cầu nguyện của chúng ta là câu trả lời thứ nhứt và hữu hiệu nhứt, mà chúng ta có thể làm được và làm cho việc chuyên cần dấn thân của chúng ta để bênh vực điều thiện trở nên mạnh mẽ hơn.

Quyền lực của Thiên Chúa làm cho sự yếu hèn của chúng ta trở thành sung mãn ( cfr Rom 8, 26-27).

4 - Tôi muốn được kết thúc bằng một vài lời đề cập đến phần đối thoại cuối cùng ( Ap 22, 6-21).

Chúa Giêsu lập đi lập lại nhiều lần khác nhau:

- " Nầy đây, Ta sẽ đến liền " ( Ap 22, 7.12).

Lời xác quyết đó không chỉ nói về cho viễn ảnh tương lai khi thời gian kết thúc, nhưng cho cả hiện tại: Chúa Giêsu đến, đặt nơi cư ngụ của Người ở nơi những ai tin vào Người và đón nhận Người.

Như vậy, cộng đồng được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, lập lại với Chúa Giêsu lời mời gọi khẩn thiết hãy hiện diện luôn luôn sát gần:

- " Xin Chúa hãy ngự đến " ( Ap 22, 17a).

Và như " vị hôn thê " đang nóng bỏng mong đợi cuộc hôn lễ được kết thúc hoàn hảo:

- " Xin Ngài ngư đến " ( Ap 22, 17).

Và đến cả ba lần cộng đồng còn dùng đến lời van xin:

- " Amen, Hãy đến, lạy Chúa Giêsu " ( Ap 22, 20b).

Và người đọc kết thúc bằng cách diễn tả nói lên ý nghĩa của sự hiện diện đó:

- " Chúc mọi người được đầy ơn sủng của Chúa Giêsu " ( Ap 22, 21).

Sách Khải Huyền, mặc dầu phức tạp với các biểu tượng, cũng thu hút chúng ta vào một lời cầu nguyện rất sung mãn, bởi đó chúng ta cũng lắng nghe, ngợi khen, cảm tạ, chiêm niệm Chúa, xin Người tha thứ cho.

Cấu trúc của Sách Khải Huyền nhằm cho lời cầu nguyện cả thể cho cộng đồng cũng là lời nhắn nhủ chúng ta khám phá ra sức mạnh phi thường và chuyển hóa của Phép Thánh Thể, một cách đặc biệt tôi muốn mạnh dạn mời gọi Anh Chị Em hãy trung thành với Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, trong ngày của Chúa, ngày Chúa Nhật là trung tâm điểm của tuần lễ !

Sự sung mãn giàu có của cầu nguyện Sách Khải Huyền làm cho chúng ta nghĩ đến một viên kim cương, có một loạt các mặt nhỏ thật là hấp dẫn, nhưng giá trị qúy báu của viên kim cương hệ tại ở độ tinh ròng của khối nhân duy nhứt.

Các phương thức cầu nguyện, mà chúng ta gặp được trong Sách Khải Huyền làm cho sáng chói óng ánh lên đặc tính qúy báu duy nhứt và không thể phân chia của Chúa Giêsu Kitô.

Cám ơn Anh Chị Em.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 12.09.2012).

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 18