mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1633
mod_vvisit_counterHôm Qua8689
mod_vvisit_counterTuần Này10322
mod_vvisit_counterTuần Trước66679
mod_vvisit_counterTháng Này206509
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9706075

We have: 68 guests online
Your IP: 54.81.195.240
 , 
Today: Nov 21, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Các Bài Độc Giả Gửi Tới
CAC BAI DOC GIA GOI TOI= BAI GIAO LY NGAY THU TU(8A 9) PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 9)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.03.2012.

CẦN CÓ THINH LẶNG ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong một loạt các bài giáo lý trước đây, tôi đã đề cập đến động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu và tôi không muốn kết thúc sự suy niệm nầy mà không ngắn ngủi dừng lại trên chủ đề sự thinh lặng của Chúa Giêsu, rất quan trọng trong mối tưong quan với Thiên Chúa.

Trong Huấn Dụ Tông Đồ Verbum Dei sau Thượng Hội Đồng, tôi đã đề cập đến vai trò của việc thinh lặng trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhứt là trên đồi Golgota:

- " Ở đây chúng ta được đặt trước Ngôi Lời trên thập giá " ( 1 Cọr 1, 18). Ngôi Lời giữ thinh lặng, trở thành sự thinh lặng của cái chết, bởi vì Người đã " nói hết " về mình, trước khi trở nên thinh lặng. Người không còn giữ lấy một điều gì nữa về những gì cần phải thông báo " ( n. 12).

Trước cái thinh lặng đó của thập giá,Thánh Maximo vị Thầy Cáo Giải đặt trên môi Mẹ Thiên Chúa cách diễn tả sau đây:

- " Không có lời nói, Lời của Chúa Cha, Đấng đã làm nên mọi tạo vật có tiếng nói; không có sự sống

đôi mắt nhắm lại của Đấng bằng lời nói và chỉ cần một dấu hiệu là làm cho cử động tất cả những gì có sự sống " ( La vita di Maria, n. 89. Testi mariani del primo millennio, 2, Roma 1989, p. 253).

1 - Thập giá của Chúa Ki Tô không những nói lên sự thinh lặng của Chúa Giêsu như là lời nói sau cùng của Người với Chúa Cha, nhưng còn mạc khải rằng Thiên Chúa nói bằng thinh lặng:

- " Sự thinh lặng của Thiên Chúa, cảm tưởng kinh nghiệm sự xa vời của Đấng Toàn Năng và Cha là giai đoạn quyết định trên con đường trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên gỗ của thập giá, Người đã than van vì cơn đau đớn đã tạo nên cho Người do việc thinh lặng đó: " Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con " ( Mc 15, 34; Mt 27, 46)-

- " Tiếp tục tiến thêm lên trong đức vâng lời cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, trong cơn tối tăm của cái chết, Chúa Giêsu đã kêu lên Chúa Cha. Người phó thác cho Chúa Cha, trong thời điểm chuyển tiếp, qua cái chết đến cuộc sống đời đời:" Lạy Cha, trong tay Cha, con phó thác hồn con " ( Lc 23, 46) ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini, 21).

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải sâu xa trạng thái con người đang cầu nguyện và thượng đỉnh của lời cầu nguyện.

Sau khi lắng nghe và nhận biết được Lời Chúa, chúng ta cũng phải biết đo lường chúng ta với sự thinh lặng của Chúa, đó cũng là cách diễn tả của chính Lời Chúa.

Tiến trình diễn biến lời nói và thinh lặng của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhứt là trên thập giá, cũng có liên hệ đến cuộc đời cầu nguyện của chúng ta theo hai chiều hướng.

a) Chiếu hướng thứ nhứt là những gì có liên quan đến việc đón nhận Lời Chúa.

Chúng ta cần có sự thinh lặng nội tâm cũng như bên ngoài, để cho Lời Chúa có thể được lắng nghe . Đây là một điểm đặc biệt khó khăn đối với chúng ta trong thời đại nầy. Thật vậy, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó không có gì dễ dàng cho việc đón nhận; đúng hơn, nhiều khi chúng ta có cảm tưởng mình phải lo sợ, khi phải tách rời dầu một giây lát khỏi dòng sông tràn ngập lời nói và hình ảnh ấn dấu và đầy ứ các ngày tháng của chúng ta.

Bởi đó trong Huấn Du Verbum Dei được đề cập, tôi đã nhắc đến việc cần thiết phải huấn luyện chúng ta hiểu biết giá trị của thinh lặng:

- " Khám phá ra trở lại tầm mức trọng tâm Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng có nghĩa là khám phá ra lại ý nghĩa của việc tập trung tư tưởng và sự yên lặng nội tâm.

Truyền thống cao cả của các Giáo Phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Ki Tô được liên kết với sự thinh lặng và chỉ có trong thinh lặng Lời Chúa mới tìm được nơi cư ngụ trong chúng ta, như đã xảy ra cho Mẹ Maria, không thể so sánh được là người phụ nữ của Lời Chúa và của thinh lặng" ( n. 66).

Nguyên lý nầy - không có thinh lặng không thể nghe thấy được, không thể lắng nghe được, không thể đón nhận được một lời nói nào - có giá trị cho công việc cầu nguyện nhứt là cá nhân, mà cũng cho các công việc phung vụ của chúng ta: bởi vì để tạo điều kiện dễ dàng cho viêc lắng nghe chính đáng, các buổi phụng vụ cũng phải có được dồi dào những lúc thinh lặng và đón nhận không bằng lời nói.

Đó cũng là điều lưu ý có ý nghĩa của Thánh Augustino:

- " Verbo crescente, verbo deficunt " ( Khi Lời Chúa tăng trưởng lên, lời nói của con người bị giảm thiểu bớt đi )( cfr. Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677).

Các Phúc Âm thường trình bày cho chúng ta, nhứt là trong những lựa chọn quyết định, Chúa Giêsu lui về nơi vắng vẻ một mình, tách rời khỏi đoàn lũ dân chúng và cả khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng và sống mối liên hê con cái của mình với Thiên Chúa.

Sự thinh lặng có khả năng đào được một khoản không gian nội tâm trong sâu thẩm của chính chúng ta, để cho Thiên Chúa cư ngụ ở đó, để cho Lời Người ở lại với chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm sâu gốc rễ vào trong tâm thức chúng ta và trong con tim chúng ta, và làm sống động đời sống chúng ta.

Như vậy chiều hướng thứ nhứt là làm cho mình tràn ngập sự thinh lặng, mở rộng mình ra để lắng nghe , mở rộng chúng ta cho phía bên kia, cho Lời Chúa.

b) Nhưng cũng có một chiều hướng thứ hai, đó là sự quan trọng của thinh lặng cho việc cầu nguyện.

Thật vậy, không phải chỉ có sự thinh lặng của chúng ta khiến chúng ta sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa. Bởi lẽ thường khi trong việc cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta có cảm nhận dường như mình bị bỏ rơi , cảm nhận như mình không được Chúa lắng nghe và không trả lời lại.

Nhưng việc Chúa thinh lặng đó, như đã xảy ra ngay cả đối với Chúa Giêsu, không phải là dấu chứng sự khiếm diện của Người. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe , ngay cả trong tăm tối của đau khổ, khước từ và đơn độc lẻ loi.

Chúa Giêsu trấn an các mon đệ và mỗi người chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ những gì cần thiết cho chúng ta bất cứ lúc nào trong đời sống chúng ta. Người dạy các môn đệ:

- " Khi cầu nguyện, anh em đừng lai nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chưóc họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " ( Mt 6, 7-8).

Bởi đó một tâm hồn chăm chú, thinh lặng, rộng mở có giá trị hơn những lời nói.Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong thầm kín của chúng ta, biết rõ hơn cả chúng ta, và thương yêu chúng ta: biết đdược điều đó phải là những gì đủ rồi.

Trong Thánh Kinh, kinh nghiệm của Giob có ý nghĩa đặc biệt đối với những gì vừa kể. Con người đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi bị mất đi tất cả: các người thân trong gia đình, của cải, bạn bè, sức khoẻ: Chúng ta có cảm tưởng rằng thái độ của Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi, hoàn toàn thinh lặng.

Dầu vậy, Giob trong mối tương quan với Chúa, nói với Chúa, kêu van lớn tiếng lên Chúa. Trong lời cầu nguyện của ông, mặc cho tất cả sự việc xảy ra, ông vẫn còn giữ nguyên vẹn đức tin và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và thái độ thinh lặng của Chúa. Và như vậy, sau cùng, trong lúc van lên với Đấng Tạo Hoá, ông có thể kết luận:

- " Trước kia con chỉ biết về Ngài, nhờ người ta nói lai. nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến " ( Gb 42, 51).

Dường như hầu hết chúng ta biết được Chúa chỉ nhờ nghe nói lại .Nhưng bao nhiêu chúng ta rộng mở con người chúng ta ra cho sự thinh lặng của Người và cho sự thinh lặng của chúng ta, chúng ta càng được bắt đầu hơn bấy nhiêu thực sự biết được Người.Thái độ tin cậy thượng đỉnh đó mở rộng mình ra để tiép xúc được sâu đậm với Chúa là sự tin cậy trưởng thành trong thinh lặng.

Thánh Phanxicô Saverio cầu nguyện bằng cách nói với Chúa:

- " Con kính mến Chúa, không phải vì Chúa có thể cho con thiên đàng hay lên án phạt con xuống hoả ngục, mà bởì vì Chúa là Chúa của con. Con yêu mến Chúa, vì Chúa là Chúa ".

Trong khi khởi đầu kết thúc những dòng suy niệm về công cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu, tôi nhớ lại một vài điều huấn dạy của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo:

- " Biến cố cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta hoàn hảo nơi Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Tìm hiểu việc cầu nguyện của Người, qua những điều mà các nhân chứng của Người nói cho chúng ta trong Phúc Âm, là tiến gần đến Chúa Giêsu như bụi gai đang nóng cháy: trước hết chúng ta chiêm ngắm Người, trong khi Người cầu nguyện, kế đến chúng ta lắng nghe Người như Người dạy chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, sau cùng biết được Người nhậm lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào " ( n. 2598).

Trong Tổng Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( Compendio del Catechismo della Chiesa Cattolica)

chúng ta gặp được một câu trả lời rõ ràng:

- " Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bằng Kinh Lạy Cha ",

dĩ nhiên đó là động tác trung tâm điểm của lời huấn dạy phải cầu nguyện như thế nào.

Nhưng với động tác cầu nguyện đó, ngoài ra nội dung, Người tỏ ra cho chúng ta biết thái độ phải có cho một lời cầu nguyện đích thực: đó là

- sự trong sạch của con tim, đang tìm kiếm Vương Quốc của Thiên Chúa và sự tha thứ đối với kẻ thù địch;

- lòng tin cậy gan dạ và con cái vượt qua bên kia những gì chúng ta cảm nhận được và có thể hiểu biết được;

- sự tỉnh thức bảo vệ người môn đệ khỏi cơn cám dỗ ( n. 544).

Dọc theo các Phúc Âm, chúng ta đã thấy Chúa, đối với lời cầu nguyện của chúng ta,Người là Đấng đối thoại, thân hữu, chứng nhân và thầy dạy bảo cho chúng ta.

Nơi Chúa Giêsu điều mới mẻ cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa được mạc khải cho chúng ta: đó là lời cầu nguyện của con cái, mà Chúa Cha đang mong đợi ở con cái Người.

Và nơi Chúa Giêsu chúng ta

- biết được thế nào lời cầu nguyện bền bĩ giúp mình giải thích được cuộc sống của mình,

- biết được phải có thái độ lựa chọn nào , nhận biết và đón nhận ơn gọi của mình , khám phá ra được tài năng mà Chúa ban cho mình, biết chu toàn thánh ý Người mỗi ngày , là con đường duy nhứt để thực hiện được cuộc sống của mình.

Chúng ta thường lo lắng về hiệu năng của động tác và các kết quả thiết thực mà chúng ta đạt được, Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ dạy cho chúng ta phải biết dừng lại , phải biết sống những giây phút thân tình với Chúa, " bằng cách tách mình " ra khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt của mỗi ngày, để lắng nghe, để đi đến tận " cội rễ " nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống.

Một trong những giây phút đẹp nhứt trong công cuôc cầu nguyện của Chúa Giêsu, đó là khi, cần chạm trán với bệnh tật, âu lo và giới hạn của những kẻ đang đối thoại với Người, Người hướng về Cha người bằng lời cầu nguyện và như vậy dạy cho những ai đang ở chung quanh Người biết đâu là nơi phải tìm nguồn mạch để có được hy vọng và cứu độ. Tôi đã nhắc nhớ, như là mẫu gương cảm động, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước mộ của Lazzaro.Tác giả Phúc Âm Gioan thuật lại:

- " Rồi người ta đem phiến đá đi. Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: " Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong, Người kêu lớn tiếng: " Anh Lazzaro, hãy ra khỏi mộ " ( Jn 12, 41-43).

Nhưng điểm sâu đậm nhứt trong lời nguyện lên Chúa Cha, Chúa Giêsu đạt đến trong thời điểm cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn, trong đó Người thốt lên tiếng " xin vâng " đối với đồ án của Thiên Chúa và cho thấy làm thế nào ý muốn của con người đạt được đỉnh hoàn hảo của mình trong việc hội nhập hoàn toàn vào thánh ý của Chúa chớ không phải trong trạng thái đối ngược lại.

Trong lời nguyện của Chúa Giêsu, trong tiếng kêu thét trên thập giá lên Cha Người, đều quy tựu hội nhập vào " tất cả những âu lo của nhân loại ở mọi thời đại, con người đang là nô lệ của tội lỗi và cái chết, tất cả những lời van xin và can thiệp của dòng lịch sử cứu độ. Và kía Chúa Cha đón nhận và, vượt qua cả bên kia mọi hy vọng, Người làm cho Chúa Con sống lại. Như vậy biến cố cầu nguyện được kết thúc hoàn hảo trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ " ( Catechismo della Chiesa Cattolica).

Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy tin cậy xin Chúa cho chúng ta biết sống cuộc hành trình cầu nguyện con cái của chúng ta, học hỏi nơi Con Một, trở thành người cho chúng ta, phương thức như thế nào chúng ta phải hướng về về Chúa.

Những lời của Thánh Phaolồ nói vê đời sống Ki Tô hữu một cách tổng quát, cũng có giá trị cho lời cầu nuyện của chúng ta:

- " Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " ( Rom 5, 38-39).

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Nhật báo Avvenire, 08.03.2012, trg.21).

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 9)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.03.2012.

CẦN CÓ THINH LẶNG ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong một loạt các bài giáo lý trước đây, tôi đã đề cập đến động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu và tôi không muốn kết thúc sự suy niệm nầy mà không ngắn ngủi dừng lại trên chủ đề sự thinh lặng của Chúa Giêsu, rất quan trọng trong mối tưong quan với Thiên Chúa.

Trong Huấn Dụ Tông Đồ Verbum Dei sau Thượng Hội Đồng, tôi đã đề cập đến vai trò của việc thinh lặng trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhứt là trên đồi Golgota:

- " Ở đây chúng ta được đặt trước Ngôi Lời trên thập giá " ( 1 Cọr 1, 18). Ngôi Lời giữ thinh lặng, trở thành sự thinh lặng của cái chết, bởi vì Người đã " nói hết " về mình, trước khi trở nên thinh lặng. Người không còn giữ lấy một điều gì nữa về những gì cần phải thông báo " ( n. 12).

Trước cái thinh lặng đó của thập giá,Thánh Maximo vị Thầy Cáo Giải đặt trên môi Mẹ Thiên Chúa cách diễn tả sau đây:

- " Không có lời nói, Lời của Chúa Cha, Đấng đã làm nên mọi tạo vật có tiếng nói; không có sự sống

đôi mắt nhắm lại của Đấng bằng lời nói và chỉ cần một dấu hiệu là làm cho cử động tất cả những gì có sự sống " ( La vita di Maria, n. 89. Testi mariani del primo millennio, 2, Roma 1989, p. 253).

1 - Thập giá của Chúa Ki Tô không những nói lên sự thinh lặng của Chúa Giêsu như là lời nói sau cùng của Người với Chúa Cha, nhưng còn mạc khải rằng Thiên Chúa nói bằng thinh lặng:

- " Sự thinh lặng của Thiên Chúa, cảm tưởng kinh nghiệm sự xa vời của Đấng Toàn Năng và Cha là giai đoạn quyết định trên con đường trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên gỗ của thập giá, Người đã than van vì cơn đau đớn đã tạo nên cho Người do việc thinh lặng đó: " Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con " ( Mc 15, 34; Mt 27, 46)-

- " Tiếp tục tiến thêm lên trong đức vâng lời cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, trong cơn tối tăm của cái chết, Chúa Giêsu đã kêu lên Chúa Cha. Người phó thác cho Chúa Cha, trong thời điểm chuyển tiếp, qua cái chết đến cuộc sống đời đời:" Lạy Cha, trong tay Cha, con phó thác hồn con " ( Lc 23, 46) ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini, 21).

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải sâu xa trạng thái con người đang cầu nguyện và thượng đỉnh của lời cầu nguyện.

Sau khi lắng nghe và nhận biết được Lời Chúa, chúng ta cũng phải biết đo lường chúng ta với sự thinh lặng của Chúa, đó cũng là cách diễn tả của chính Lời Chúa.

Tiến trình diễn biến lời nói và thinh lặng của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhứt là trên thập giá, cũng có liên hệ đến cuộc đời cầu nguyện của chúng ta theo hai chiều hướng.

a) Chiếu hướng thứ nhứt là những gì có liên quan đến việc đón nhận Lời Chúa.

Chúng ta cần có sự thinh lặng nội tâm cũng như bên ngoài, để cho Lời Chúa có thể được lắng nghe . Đây là một điểm đặc biệt khó khăn đối với chúng ta trong thời đại nầy. Thật vậy, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó không có gì dễ dàng cho việc đón nhận; đúng hơn, nhiều khi chúng ta có cảm tưởng mình phải lo sợ, khi phải tách rời dầu một giây lát khỏi dòng sông tràn ngập lời nói và hình ảnh ấn dấu và đầy ứ các ngày tháng của chúng ta.

Bởi đó trong Huấn Du Verbum Dei được đề cập, tôi đã nhắc đến việc cần thiết phải huấn luyện chúng ta hiểu biết giá trị của thinh lặng:

- " Khám phá ra trở lại tầm mức trọng tâm Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng có nghĩa là khám phá ra lại ý nghĩa của việc tập trung tư tưởng và sự yên lặng nội tâm.

Truyền thống cao cả của các Giáo Phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Ki Tô được liên kết với sự thinh lặng và chỉ có trong thinh lặng Lời Chúa mới tìm được nơi cư ngụ trong chúng ta, như đã xảy ra cho Mẹ Maria, không thể so sánh được là người phụ nữ của Lời Chúa và của thinh lặng" ( n. 66).

Nguyên lý nầy - không có thinh lặng không thể nghe thấy được, không thể lắng nghe được, không thể đón nhận được một lời nói nào - có giá trị cho công việc cầu nguyện nhứt là cá nhân, mà cũng cho các công việc phung vụ của chúng ta: bởi vì để tạo điều kiện dễ dàng cho viêc lắng nghe chính đáng, các buổi phụng vụ cũng phải có được dồi dào những lúc thinh lặng và đón nhận không bằng lời nói.

Đó cũng là điều lưu ý có ý nghĩa của Thánh Augustino:

- " Verbo crescente, verbo deficunt " ( Khi Lời Chúa tăng trưởng lên, lời nói của con người bị giảm thiểu bớt đi )( cfr. Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677).

Các Phúc Âm thường trình bày cho chúng ta, nhứt là trong những lựa chọn quyết định, Chúa Giêsu lui về nơi vắng vẻ một mình, tách rời khỏi đoàn lũ dân chúng và cả khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng và sống mối liên hê con cái của mình với Thiên Chúa.

Sự thinh lặng có khả năng đào được một khoản không gian nội tâm trong sâu thẩm của chính chúng ta, để cho Thiên Chúa cư ngụ ở đó, để cho Lời Người ở lại với chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm sâu gốc rễ vào trong tâm thức chúng ta và trong con tim chúng ta, và làm sống động đời sống chúng ta.

Như vậy chiều hướng thứ nhứt là làm cho mình tràn ngập sự thinh lặng, mở rộng mình ra để lắng nghe , mở rộng chúng ta cho phía bên kia, cho Lời Chúa.

b) Nhưng cũng có một chiều hướng thứ hai, đó là sự quan trọng của thinh lặng cho việc cầu nguyện.

Thật vậy, không phải chỉ có sự thinh lặng của chúng ta khiến chúng ta sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa. Bởi lẽ thường khi trong việc cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta có cảm nhận dường như mình bị bỏ rơi , cảm nhận như mình không được Chúa lắng nghe và không trả lời lại.

Nhưng việc Chúa thinh lặng đó, như đã xảy ra ngay cả đối với Chúa Giêsu, không phải là dấu chứng sự khiếm diện của Người. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe , ngay cả trong tăm tối của đau khổ, khước từ và đơn độc lẻ loi.

Chúa Giêsu trấn an các mon đệ và mỗi người chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ những gì cần thiết cho chúng ta bất cứ lúc nào trong đời sống chúng ta. Người dạy các môn đệ:

- " Khi cầu nguyện, anh em đừng lai nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chưóc họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " ( Mt 6, 7-8).

Bởi đó một tâm hồn chăm chú, thinh lặng, rộng mở có giá trị hơn những lời nói.Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong thầm kín của chúng ta, biết rõ hơn cả chúng ta, và thương yêu chúng ta: biết đdược điều đó phải là những gì đủ rồi.

Trong Thánh Kinh, kinh nghiệm của Giob có ý nghĩa đặc biệt đối với những gì vừa kể. Con người đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi bị mất đi tất cả: các người thân trong gia đình, của cải, bạn bè, sức khoẻ: Chúng ta có cảm tưởng rằng thái độ của Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi, hoàn toàn thinh lặng.

Dầu vậy, Giob trong mối tương quan với Chúa, nói với Chúa, kêu van lớn tiếng lên Chúa. Trong lời cầu nguyện của ông, mặc cho tất cả sự việc xảy ra, ông vẫn còn giữ nguyên vẹn đức tin và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và thái độ thinh lặng của Chúa. Và như vậy, sau cùng, trong lúc van lên với Đấng Tạo Hoá, ông có thể kết luận:

- " Trước kia con chỉ biết về Ngài, nhờ người ta nói lai. nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến " ( Gb 42, 51).

Dường như hầu hết chúng ta biết được Chúa chỉ nhờ nghe nói lại .Nhưng bao nhiêu chúng ta rộng mở con người chúng ta ra cho sự thinh lặng của Người và cho sự thinh lặng của chúng ta, chúng ta càng được bắt đầu hơn bấy nhiêu thực sự biết được Người.Thái độ tin cậy thượng đỉnh đó mở rộng mình ra để tiép xúc được sâu đậm với Chúa là sự tin cậy trưởng thành trong thinh lặng.

Thánh Phanxicô Saverio cầu nguyện bằng cách nói với Chúa:

- " Con kính mến Chúa, không phải vì Chúa có thể cho con thiên đàng hay lên án phạt con xuống hoả ngục, mà bởì vì Chúa là Chúa của con. Con yêu mến Chúa, vì Chúa là Chúa ".

Trong khi khởi đầu kết thúc những dòng suy niệm về công cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu, tôi nhớ lại một vài điều huấn dạy của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo:

- " Biến cố cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta hoàn hảo nơi Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Tìm hiểu việc cầu nguyện của Người, qua những điều mà các nhân chứng của Người nói cho chúng ta trong Phúc Âm, là tiến gần đến Chúa Giêsu như bụi gai đang nóng cháy: trước hết chúng ta chiêm ngắm Người, trong khi Người cầu nguyện, kế đến chúng ta lắng nghe Người như Người dạy chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, sau cùng biết được Người nhậm lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào " ( n. 2598).

Trong Tổng Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( Compendio del Catechismo della Chiesa Cattolica)

chúng ta gặp được một câu trả lời rõ ràng:

- " Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bằng Kinh Lạy Cha ",

dĩ nhiên đó là động tác trung tâm điểm của lời huấn dạy phải cầu nguyện như thế nào.

Nhưng với động tác cầu nguyện đó, ngoài ra nội dung, Người tỏ ra cho chúng ta biết thái độ phải có cho một lời cầu nguyện đích thực: đó là

- sự trong sạch của con tim, đang tìm kiếm Vương Quốc của Thiên Chúa và sự tha thứ đối với kẻ thù địch;

- lòng tin cậy gan dạ và con cái vượt qua bên kia những gì chúng ta cảm nhận được và có thể hiểu biết được;

- sự tỉnh thức bảo vệ người môn đệ khỏi cơn cám dỗ ( n. 544).

Dọc theo các Phúc Âm, chúng ta đã thấy Chúa, đối với lời cầu nguyện của chúng ta,Người là Đấng đối thoại, thân hữu, chứng nhân và thầy dạy bảo cho chúng ta.

Nơi Chúa Giêsu điều mới mẻ cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa được mạc khải cho chúng ta: đó là lời cầu nguyện của con cái, mà Chúa Cha đang mong đợi ở con cái Người.

Và nơi Chúa Giêsu chúng ta

- biết được thế nào lời cầu nguyện bền bĩ giúp mình giải thích được cuộc sống của mình,

- biết được phải có thái độ lựa chọn nào , nhận biết và đón nhận ơn gọi của mình , khám phá ra được tài năng mà Chúa ban cho mình, biết chu toàn thánh ý Người mỗi ngày , là con đường duy nhứt để thực hiện được cuộc sống của mình.

Chúng ta thường lo lắng về hiệu năng của động tác và các kết quả thiết thực mà chúng ta đạt được, Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ dạy cho chúng ta phải biết dừng lại , phải biết sống những giây phút thân tình với Chúa, " bằng cách tách mình " ra khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt của mỗi ngày, để lắng nghe, để đi đến tận " cội rễ " nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống.

Một trong những giây phút đẹp nhứt trong công cuôc cầu nguyện của Chúa Giêsu, đó là khi, cần chạm trán với bệnh tật, âu lo và giới hạn của những kẻ đang đối thoại với Người, Người hướng về Cha người bằng lời cầu nguyện và như vậy dạy cho những ai đang ở chung quanh Người biết đâu là nơi phải tìm nguồn mạch để có được hy vọng và cứu độ. Tôi đã nhắc nhớ, như là mẫu gương cảm động, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước mộ của Lazzaro.Tác giả Phúc Âm Gioan thuật lại:

- " Rồi người ta đem phiến đá đi. Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: " Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong, Người kêu lớn tiếng: " Anh Lazzaro, hãy ra khỏi mộ " ( Jn 12, 41-43).

Nhưng điểm sâu đậm nhứt trong lời nguyện lên Chúa Cha, Chúa Giêsu đạt đến trong thời điểm cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn, trong đó Người thốt lên tiếng " xin vâng " đối với đồ án của Thiên Chúa và cho thấy làm thế nào ý muốn của con người đạt được đỉnh hoàn hảo của mình trong việc hội nhập hoàn toàn vào thánh ý của Chúa chớ không phải trong trạng thái đối ngược lại.

Trong lời nguyện của Chúa Giêsu, trong tiếng kêu thét trên thập giá lên Cha Người, đều quy tựu hội nhập vào " tất cả những âu lo của nhân loại ở mọi thời đại, con người đang là nô lệ của tội lỗi và cái chết, tất cả những lời van xin và can thiệp của dòng lịch sử cứu độ. Và kía Chúa Cha đón nhận và, vượt qua cả bên kia mọi hy vọng, Người làm cho Chúa Con sống lại. Như vậy biến cố cầu nguyện được kết thúc hoàn hảo trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ " ( Catechismo della Chiesa Cattolica).

Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy tin cậy xin Chúa cho chúng ta biết sống cuộc hành trình cầu nguyện con cái của chúng ta, học hỏi nơi Con Một, trở thành người cho chúng ta, phương thức như thế nào chúng ta phải hướng về về Chúa.

Những lời của Thánh Phaolồ nói vê đời sống Ki Tô hữu một cách tổng quát, cũng có giá trị cho lời cầu nuyện của chúng ta:

- " Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " ( Rom 5, 38-39).

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Nhật báo Avvenire, 08.03.2012, trg.21).

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 9)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.03.2012.

CẦN CÓ THINH LẶNG ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong một loạt các bài giáo lý trước đây, tôi đã đề cập đến động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu và tôi không muốn kết thúc sự suy niệm nầy mà không ngắn ngủi dừng lại trên chủ đề sự thinh lặng của Chúa Giêsu, rất quan trọng trong mối tưong quan với Thiên Chúa.

Trong Huấn Dụ Tông Đồ Verbum Dei sau Thượng Hội Đồng, tôi đã đề cập đến vai trò của việc thinh lặng trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhứt là trên đồi Golgota:

- " Ở đây chúng ta được đặt trước Ngôi Lời trên thập giá " ( 1 Cọr 1, 18). Ngôi Lời giữ thinh lặng, trở thành sự thinh lặng của cái chết, bởi vì Người đã " nói hết " về mình, trước khi trở nên thinh lặng. Người không còn giữ lấy một điều gì nữa về những gì cần phải thông báo " ( n. 12).

Trước cái thinh lặng đó của thập giá,Thánh Maximo vị Thầy Cáo Giải đặt trên môi Mẹ Thiên Chúa cách diễn tả sau đây:

- " Không có lời nói, Lời của Chúa Cha, Đấng đã làm nên mọi tạo vật có tiếng nói; không có sự sống

đôi mắt nhắm lại của Đấng bằng lời nói và chỉ cần một dấu hiệu là làm cho cử động tất cả những gì có sự sống " ( La vita di Maria, n. 89. Testi mariani del primo millennio, 2, Roma 1989, p. 253).

1 - Thập giá của Chúa Ki Tô không những nói lên sự thinh lặng của Chúa Giêsu như là lời nói sau cùng của Người với Chúa Cha, nhưng còn mạc khải rằng Thiên Chúa nói bằng thinh lặng:

- " Sự thinh lặng của Thiên Chúa, cảm tưởng kinh nghiệm sự xa vời của Đấng Toàn Năng và Cha là giai đoạn quyết định trên con đường trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên gỗ của thập giá, Người đã than van vì cơn đau đớn đã tạo nên cho Người do việc thinh lặng đó: " Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con " ( Mc 15, 34; Mt 27, 46)-

- " Tiếp tục tiến thêm lên trong đức vâng lời cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, trong cơn tối tăm của cái chết, Chúa Giêsu đã kêu lên Chúa Cha. Người phó thác cho Chúa Cha, trong thời điểm chuyển tiếp, qua cái chết đến cuộc sống đời đời:" Lạy Cha, trong tay Cha, con phó thác hồn con " ( Lc 23, 46) ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini, 21).

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải sâu xa trạng thái con người đang cầu nguyện và thượng đỉnh của lời cầu nguyện.

Sau khi lắng nghe và nhận biết được Lời Chúa, chúng ta cũng phải biết đo lường chúng ta với sự thinh lặng của Chúa, đó cũng là cách diễn tả của chính Lời Chúa.

Tiến trình diễn biến lời nói và thinh lặng của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhứt là trên thập giá, cũng có liên hệ đến cuộc đời cầu nguyện của chúng ta theo hai chiều hướng.

a) Chiếu hướng thứ nhứt là những gì có liên quan đến việc đón nhận Lời Chúa.

Chúng ta cần có sự thinh lặng nội tâm cũng như bên ngoài, để cho Lời Chúa có thể được lắng nghe . Đây là một điểm đặc biệt khó khăn đối với chúng ta trong thời đại nầy. Thật vậy, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó không có gì dễ dàng cho việc đón nhận; đúng hơn, nhiều khi chúng ta có cảm tưởng mình phải lo sợ, khi phải tách rời dầu một giây lát khỏi dòng sông tràn ngập lời nói và hình ảnh ấn dấu và đầy ứ các ngày tháng của chúng ta.

Bởi đó trong Huấn Du Verbum Dei được đề cập, tôi đã nhắc đến việc cần thiết phải huấn luyện chúng ta hiểu biết giá trị của thinh lặng:

- " Khám phá ra trở lại tầm mức trọng tâm Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng có nghĩa là khám phá ra lại ý nghĩa của việc tập trung tư tưởng và sự yên lặng nội tâm.

Truyền thống cao cả của các Giáo Phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Ki Tô được liên kết với sự thinh lặng và chỉ có trong thinh lặng Lời Chúa mới tìm được nơi cư ngụ trong chúng ta, như đã xảy ra cho Mẹ Maria, không thể so sánh được là người phụ nữ của Lời Chúa và của thinh lặng" ( n. 66).

Nguyên lý nầy - không có thinh lặng không thể nghe thấy được, không thể lắng nghe được, không thể đón nhận được một lời nói nào - có giá trị cho công việc cầu nguyện nhứt là cá nhân, mà cũng cho các công việc phung vụ của chúng ta: bởi vì để tạo điều kiện dễ dàng cho viêc lắng nghe chính đáng, các buổi phụng vụ cũng phải có được dồi dào những lúc thinh lặng và đón nhận không bằng lời nói.

Đó cũng là điều lưu ý có ý nghĩa của Thánh Augustino:

- " Verbo crescente, verbo deficunt " ( Khi Lời Chúa tăng trưởng lên, lời nói của con người bị giảm thiểu bớt đi )( cfr. Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677).

Các Phúc Âm thường trình bày cho chúng ta, nhứt là trong những lựa chọn quyết định, Chúa Giêsu lui về nơi vắng vẻ một mình, tách rời khỏi đoàn lũ dân chúng và cả khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng và sống mối liên hê con cái của mình với Thiên Chúa.

Sự thinh lặng có khả năng đào được một khoản không gian nội tâm trong sâu thẩm của chính chúng ta, để cho Thiên Chúa cư ngụ ở đó, để cho Lời Người ở lại với chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm sâu gốc rễ vào trong tâm thức chúng ta và trong con tim chúng ta, và làm sống động đời sống chúng ta.

Như vậy chiều hướng thứ nhứt là làm cho mình tràn ngập sự thinh lặng, mở rộng mình ra để lắng nghe , mở rộng chúng ta cho phía bên kia, cho Lời Chúa.

b) Nhưng cũng có một chiều hướng thứ hai, đó là sự quan trọng của thinh lặng cho việc cầu nguyện.

Thật vậy, không phải chỉ có sự thinh lặng của chúng ta khiến chúng ta sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa. Bởi lẽ thường khi trong việc cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta có cảm nhận dường như mình bị bỏ rơi , cảm nhận như mình không được Chúa lắng nghe và không trả lời lại.

Nhưng việc Chúa thinh lặng đó, như đã xảy ra ngay cả đối với Chúa Giêsu, không phải là dấu chứng sự khiếm diện của Người. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe , ngay cả trong tăm tối của đau khổ, khước từ và đơn độc lẻ loi.

Chúa Giêsu trấn an các mon đệ và mỗi người chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ những gì cần thiết cho chúng ta bất cứ lúc nào trong đời sống chúng ta. Người dạy các môn đệ:

- " Khi cầu nguyện, anh em đừng lai nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chưóc họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " ( Mt 6, 7-8).

Bởi đó một tâm hồn chăm chú, thinh lặng, rộng mở có giá trị hơn những lời nói.Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong thầm kín của chúng ta, biết rõ hơn cả chúng ta, và thương yêu chúng ta: biết đdược điều đó phải là những gì đủ rồi.

Trong Thánh Kinh, kinh nghiệm của Giob có ý nghĩa đặc biệt đối với những gì vừa kể. Con người đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi bị mất đi tất cả: các người thân trong gia đình, của cải, bạn bè, sức khoẻ: Chúng ta có cảm tưởng rằng thái độ của Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi, hoàn toàn thinh lặng.

Dầu vậy, Giob trong mối tương quan với Chúa, nói với Chúa, kêu van lớn tiếng lên Chúa. Trong lời cầu nguyện của ông, mặc cho tất cả sự việc xảy ra, ông vẫn còn giữ nguyên vẹn đức tin và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và thái độ thinh lặng của Chúa. Và như vậy, sau cùng, trong lúc van lên với Đấng Tạo Hoá, ông có thể kết luận:

- " Trước kia con chỉ biết về Ngài, nhờ người ta nói lai. nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến " ( Gb 42, 51).

Dường như hầu hết chúng ta biết được Chúa chỉ nhờ nghe nói lại .Nhưng bao nhiêu chúng ta rộng mở con người chúng ta ra cho sự thinh lặng của Người và cho sự thinh lặng của chúng ta, chúng ta càng được bắt đầu hơn bấy nhiêu thực sự biết được Người.Thái độ tin cậy thượng đỉnh đó mở rộng mình ra để tiép xúc được sâu đậm với Chúa là sự tin cậy trưởng thành trong thinh lặng.

Thánh Phanxicô Saverio cầu nguyện bằng cách nói với Chúa:

- " Con kính mến Chúa, không phải vì Chúa có thể cho con thiên đàng hay lên án phạt con xuống hoả ngục, mà bởì vì Chúa là Chúa của con. Con yêu mến Chúa, vì Chúa là Chúa ".

Trong khi khởi đầu kết thúc những dòng suy niệm về công cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu, tôi nhớ lại một vài điều huấn dạy của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo:

- " Biến cố cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta hoàn hảo nơi Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Tìm hiểu việc cầu nguyện của Người, qua những điều mà các nhân chứng của Người nói cho chúng ta trong Phúc Âm, là tiến gần đến Chúa Giêsu như bụi gai đang nóng cháy: trước hết chúng ta chiêm ngắm Người, trong khi Người cầu nguyện, kế đến chúng ta lắng nghe Người như Người dạy chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, sau cùng biết được Người nhậm lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào " ( n. 2598).

Trong Tổng Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( Compendio del Catechismo della Chiesa Cattolica)

chúng ta gặp được một câu trả lời rõ ràng:

- " Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bằng Kinh Lạy Cha ",

dĩ nhiên đó là động tác trung tâm điểm của lời huấn dạy phải cầu nguyện như thế nào.

Nhưng với động tác cầu nguyện đó, ngoài ra nội dung, Người tỏ ra cho chúng ta biết thái độ phải có cho một lời cầu nguyện đích thực: đó là

- sự trong sạch của con tim, đang tìm kiếm Vương Quốc của Thiên Chúa và sự tha thứ đối với kẻ thù địch;

- lòng tin cậy gan dạ và con cái vượt qua bên kia những gì chúng ta cảm nhận được và có thể hiểu biết được;

- sự tỉnh thức bảo vệ người môn đệ khỏi cơn cám dỗ ( n. 544).

Dọc theo các Phúc Âm, chúng ta đã thấy Chúa, đối với lời cầu nguyện của chúng ta,Người là Đấng đối thoại, thân hữu, chứng nhân và thầy dạy bảo cho chúng ta.

Nơi Chúa Giêsu điều mới mẻ cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa được mạc khải cho chúng ta: đó là lời cầu nguyện của con cái, mà Chúa Cha đang mong đợi ở con cái Người.

Và nơi Chúa Giêsu chúng ta

- biết được thế nào lời cầu nguyện bền bĩ giúp mình giải thích được cuộc sống của mình,

- biết được phải có thái độ lựa chọn nào , nhận biết và đón nhận ơn gọi của mình , khám phá ra được tài năng mà Chúa ban cho mình, biết chu toàn thánh ý Người mỗi ngày , là con đường duy nhứt để thực hiện được cuộc sống của mình.

Chúng ta thường lo lắng về hiệu năng của động tác và các kết quả thiết thực mà chúng ta đạt được, Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ dạy cho chúng ta phải biết dừng lại , phải biết sống những giây phút thân tình với Chúa, " bằng cách tách mình " ra khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt của mỗi ngày, để lắng nghe, để đi đến tận " cội rễ " nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống.

Một trong những giây phút đẹp nhứt trong công cuôc cầu nguyện của Chúa Giêsu, đó là khi, cần chạm trán với bệnh tật, âu lo và giới hạn của những kẻ đang đối thoại với Người, Người hướng về Cha người bằng lời cầu nguyện và như vậy dạy cho những ai đang ở chung quanh Người biết đâu là nơi phải tìm nguồn mạch để có được hy vọng và cứu độ. Tôi đã nhắc nhớ, như là mẫu gương cảm động, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước mộ của Lazzaro.Tác giả Phúc Âm Gioan thuật lại:

- " Rồi người ta đem phiến đá đi. Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: " Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong, Người kêu lớn tiếng: " Anh Lazzaro, hãy ra khỏi mộ " ( Jn 12, 41-43).

Nhưng điểm sâu đậm nhứt trong lời nguyện lên Chúa Cha, Chúa Giêsu đạt đến trong thời điểm cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn, trong đó Người thốt lên tiếng " xin vâng " đối với đồ án của Thiên Chúa và cho thấy làm thế nào ý muốn của con người đạt được đỉnh hoàn hảo của mình trong việc hội nhập hoàn toàn vào thánh ý của Chúa chớ không phải trong trạng thái đối ngược lại.

Trong lời nguyện của Chúa Giêsu, trong tiếng kêu thét trên thập giá lên Cha Người, đều quy tựu hội nhập vào " tất cả những âu lo của nhân loại ở mọi thời đại, con người đang là nô lệ của tội lỗi và cái chết, tất cả những lời van xin và can thiệp của dòng lịch sử cứu độ. Và kía Chúa Cha đón nhận và, vượt qua cả bên kia mọi hy vọng, Người làm cho Chúa Con sống lại. Như vậy biến cố cầu nguyện được kết thúc hoàn hảo trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ " ( Catechismo della Chiesa Cattolica).

Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy tin cậy xin Chúa cho chúng ta biết sống cuộc hành trình cầu nguyện con cái của chúng ta, học hỏi nơi Con Một, trở thành người cho chúng ta, phương thức như thế nào chúng ta phải hướng về về Chúa.

Những lời của Thánh Phaolồ nói vê đời sống Ki Tô hữu một cách tổng quát, cũng có giá trị cho lời cầu nuyện của chúng ta:

- " Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " ( Rom 5, 38-39).

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Nhật báo Avvenire, 08.03.2012, trg.21).

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI= NGUOI VO TOT PDF Print E-mail

 

NGƯỜI VỢ TỐT

Vợ tốt phải hội đủ những điều kiện sau đây:

1- Phải đẹp gái

2- Không kiêu sa

3- Thích ở nhà

4- Lo nội trợ

5- Không cắc cớ chửi chồng con

6- Không phấn son

7- Không nhiều chuyện

8- Không hà tiện

9- Không càm ràm

10- Phải siêng năng

11- Không lười biếng

12- Nói nhỏ tiếng

13- Biết chiều chồng

14- Giỏi nữ công

15- Và gia chánh.

16- Biết làm bánh

17- Nấu ăn ngon

18- Biết dạy con

19- Ứng xử tốt

20- Không quá dốt

21- Không quá khôn

22- Không ôm đồm

23- Không ủy mị

24- Không thiên vị

25- Không cầu kỳ

26- Không quá phì

27- Không quá ốm

28- Không dị hợm

29- Không chanh chua

30- Không se sua

31- Không bẻm mép

32- Không bép xép

33- Không phàn nàn...

34- Không có đâu!

35- Đừng có KIẾM!

__._,_.___



 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI: HOC HOI KINH THANH PDF Print E-mail

Học Hỏi Kinh Thánh

Bạn thân mến,

Nếu như tôi được khuyên bạn một điều, thì tôi xin được khuyên bạn là hãy học hỏi Kinh Thánh. Tại sao? Nếu bạn có hỏi thì thú thực, tôi không có lý lẽ gì cao siêu để giải thích cho bạn, mà tôi cũng chẳng biết làm sao để thuyết phục bạn cho được, nhưng tôi xin được chia xẻ với bạn lý do đã thúc đẩy tôi học hỏi Kinh Thánh.

Một cuối tuần, có lẽ cũng đã hơn hai mươi năm về trước, tôi thấy mình buồn chán vì rảnh rỗi không có gì làm. Tôi vốn là một người rất năng động, ngồi yên là không được, và cuối tuần này cũng vậy. Ði tới đi lui tìm việc, tôi đã quyết định là phải dọn lại cái tủ sách cho gọn ghẽ. Sau hơn hai tiếng đồng hồ sắp xếp, đứng nhìn tủ sách sạch sẽ gọn gàng, tôi cảm thấy rất hài lòng. Ðưa mắt nhìn từng ngăn tủ, từng cuốn sách, lòng tôi thấy vui. Những ý nghĩ miên man bắt đầu tới; từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác, óc tưởng tượng của tôi bắt đầu phiêu du. Rồi cứ thế, tối thả hồn đưa mình về những ngày đầu tiên trên đất Mỹ. Tôi nhớ lại những khó khăn vì ngôn ngữ bất đồng, những vụng dại trong cách cư xử do sự khác biệt trong các phong tục tập quán. Cái gì cũng xa lạ hết, vậy mà bây giờ tôi đã tốt nghiệp đại học. Có công ăn việc làm, có nhà, có xe, có mọi thứ cho những nhu cầu cần thiết. Tôi cảm thấy tự mãn, mà hình như còn hơn tự mãn nữa; tôi thấy như có một chút kiêu hãnh nhen nhúm trong lòng. Tôi tự khen mình, giỏi thật! Rồi như để chứng minh cái giỏi của mình, tôi bắt đầu đếm xem mình đã phải đọc, phải học bao nhiêu cuốn sách để có thể tốt nghiệp đại học. Từ những cuốn toán dầy cộm, đến những cuốn lý, hóa, khoa học vật liệu, tĩnh học, động học, thôi thì đủ các môn, các sách, nhưng tôi bỗng khựng lại, gần như giựt mình, khi tôi đếm đến cuốn Thánh Kinh. Phải rồi, tôi tự nghĩ, mình có đọc cuốn này bao giờ đâu mà đếm! Tôi mua cuốn Thánh Kinh này đã sáu bảy năm về trước; chẳng phải vì tôi muốn đọc, hay vì ngoan đạo, mà vì tôi muốn ủng hộ một cơ quan nào đó mà tôi quên mất, họ bán Sách Thánh để gây quỹ. Tôi đặt cuốn Thánh Kinh này ở ngay giữa tủ sách, ngăn cao nhất và có đèn chiếu sáng. Tôi thấy cuốn Thánh Kinh này gần như hằng ngày nhưng tôi chưa bao giờ đọc nó hết. Ðứng đó nhìn cuốn Thánh Kinh lòng tôi bỗng thấy nao nao. Niềm kiêu hãnh, lòng tự mãn, mọi ý nghĩ, mọi hình ảnh vừa tràn ngập óc tưởng tượng của tôi mấy phút trước tự dưng biến tan. Trong khoảnh khắc, hồn tôi bỗng như trống rỗng. Tôi tự hỏi sao mình chưa đọc cuồn sách này? Từ tiểu học, qua trung học, cho đến hết đại học, chỉ tính sách giáo khoa thôi, tôi đọc, không phải chỉ đọc mà còn phải học nữa, có tới ba trăm cuốn sách. Nếu tính các sách để tham khảo nữa thì có tới bốn trăm, cộng thêm sách vở báo chí để đọc cho vui, các tiểu thuyết vô bổ, tất cả có lẽ tôi đã đọc đến năm sáu trăm cuốn sách; thế mà Kinh Thánh thì tôi chưa đọc bao giờ! Tại sao vậy? Ðứng đó như cây chết, hồn tôi trầm ngâm, tư lự. Tôi thấy như lòng mình dấy lên chút xao xuyến, hơi bồi hồi. Không phải cái xao xuyến của thuở vừa biết yêu; cũng chẳng là sự bồi hồi lúc trông ngóng người tình. Phải rồi..., không phải xao xuyến, cũng chẳng bồi hồi, mà là một tâm tư khó tả. Tôi còn đang miên man với tâm tư mông lung khó tả này, thì một ý nghĩ khác vọt đến làm tôi cảm thấy luyến tiếc. Tôi tiếc cho đời người ngắn ngủi! Sống được trăm năm đã kể là lâu, mà thực ra có mấy người sống được trăm năm! Năm năm đầu là thời thơ ấu. Trong năm năm này, ngoài là nguồn vui cho những người xung quanh, nguồn vui mà chính mình cũng không biết, thì giá trị cuộc đời vào những năm này có gì đâu? Có ai làm gì được cho mình, cho đời? Hai mươi lăm năm kế là thời gian để học, để chuẩn bị cho những năm sắp tới. Ba mươi năm sau là thời gian để vật lộn, để ganh đua, để tìm kiếm. Rồi từ đó, những gì chúng ta tìm được, đạt được bắt đầu phai mờ, bắt đầu dần dần mất giá trị; vậy mà để đạt được những thứ chóng qua này, tôi đã phải đọc, phải học đến mấy trăm cuốn sách. Còn cho cuộc sống mai hậu, cuộc sống vĩnh cửu, thì chỉ có một cuốn Thánh Kinh thôi mà tôi chưa đọc bao giờ. Tôi dại thật! Từ đó tôi bắt đầu đọc và học hỏi Thánh Kinh.

Bạn thân mến, Thánh Kinh khó hiểu thật! Bạn có nhớ là tôi vừa tự khen mình là giỏi không? Tôi đã đọc, học và hiểu cả mấy trăm cuốn sách, thế mà cuốn Thánh Kinh thì tôi chịu không hiểu nổi. Tôi tưởng là tôi không không hiểu vì tôi đọc Kinh Thánh viết bằng Tiếng Mỹ, nhưng khi đọc Kinh Thánh viết bằng Tiếng Việt, tôi cũng chịu chết. Những chữ, những từ dùng trong Kinh Thánh thì tôi hiểu, nhưng ý nghĩa của những việc Chúa làm, những lời Chúa dạy, của những diễn biến, những sự việc xảy ra trong Kinh Thánh thì tôi đã đọc đi đọc lại, đọc đến nản lòng mà có rất nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu được. Tôi đã định bụng là phải đầu hàng, nhưng ngay khi tôi nản chí, thì trong tôi như lóe lên một tia sáng. Phải rồi, những sách giáo khoa mà tôi vừa kể ra ở trên, đâu phải tôi đã đọc là hiểu liền được đâu! Tôi cũng đã phải hỏi người này, nhờ người kia giải thích mới hiểu nổi đấy chứ. Thánh Kinh cũng vậy, nếu không hiểu thì bạn phải hỏi. Nhưng hỏi ai đây? Có rất nhiều người được ơn hiểu biết Thánh Kinh để cho chúng ta hỏi, nhưng người có thể giải thích, bất cứ cuốn sách nào, cách đúng nhất, chính là tác giả của cuốn sách đó. Thành ra, ngoài học hỏi Kinh Thánh từ những vị có thẩm quyền về Kinh Thánh, chúng ta còn phải hỏi ngay chính Chúa Giêsu. Tới đây chắc bạn phải phì cười. Hỏi Chúa Giêsu! Làm sao để hỏi Chúa Giêsu? Ðể tôi chia xẻ với bạn nhé. Tôi được một hồng ân, đó là từ khi bắt đầu học hỏi Kinh Thánh thì tôi nhận ra là ỏ gần nhà tôi, trong khoảng 15 dậm, luôn luôn có nhà chầu Thánh Thể thường xuyên (Perpetual Adoration), và tôi đã chọn một giờ chầu mỗi tuần. Ðây là giờ tôi dùng để tâm sự, để than thở, và nhất là để đem mọi thắc mắc của tôi đến để trình bày với Chúa Giêsu. Trong giờ này, có khi tôi chỉ đọc kinh, đọc sách, nhưng phần nhiều thì tôi chỉ ngắm nhìn Thánh Thể Chúa và suy nghĩ về những điều trong Thánh Kinh mà tôi không hiểu. Rồi bạn có biết không? Chính những lúc đó, những lúc mà tôi để hồn đắm chìn trong những đoạn Thánh Kinh khó hiểu, là lúc mà tôi hiểu được, tìm được câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Bạn cứ thử xem. Chúa Giêsu đã không hiện ra bằng xương bằng thịt để nói chuyện với tôi, chắc Ngài cũng không hiện ra như vậy với bạn đâu, nhưng tôi dám chắc là ban sẽ được ơn thông hiểu Lời Chúa đúng với đấng bậc của mình. Tôi đã hiểu được gì? Tất nhiên là tôi vẫn chưa hiểu hết được những gì viết trong Kinh Thánh, nhưng những hiểu biết tôi được ban cho thì cũng nhiều lắm. Tôi muốn được chia xẻ với bạn tất cả, nhưng trong phạm vi ngắn gọn của bài này; tôi chỉ có thể chia xẻ với bạn một chút, một chút nhỏ nhoi thôi để bạn có thể thấy được kho tàng tình yêu vô tận tàng ẩn trong Kinh Thánh. Khi thấy được kho tàng tình yêu này, tôi bảo đảm, bạn sẽ ghiền đọc Kinh Thánh.

Bạn thân mến, theo sách Sáng Thế Ký Chương 1 và 2 thì trong sáu ngày đầu, Chúa tạo dựng tất cả trời đất, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, biển cả sông ngòi, chim muông, cầm thú, cùng mọi sự, và Người nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, có đúng không? Đặc biệt là ngày thứ sáu, trong ngày thứ sáu Chúa tạo dựng cái gì là đặc biệt, đố bạn đó.

Thưa bạn, trong ngày thứ sáu Chúa tạo dựng con người. Khi tạo dựng con người; Chúa cũng tạo dựng cách rất là đặc biệt. Rất đặc biệt ở chỗ là khi tác tạo muôn loài, bất cứ sự gì, Chúa cũng chỉ phán có một lời. Hãy có mặt trời, là có mặt trời. Hãy có chim muông cầm thú, là có chim muông cầm thú. Nhưng khi tạo dựng con người thì Chúa lại đã không phán một lời để có con người. Vậy Thiên Chúa tạo dựng con nguời như thế nào? Kinh Thánh nói cách rất đơn giản, đó là "The Lord God formed man out of the clay of the ground..." Câu này tuy đơn giản nhưng lại tiềm ẩn một công trình tạo dựng rất phức tạp, vĩ đại, và quy mô. Ðể hiểu được chút nào những gì tiềm ẩn trong câu này, trước hết chúng ta hãy để ý đến chữ "The". Chữ "The" là chỉ định từ xác định (definite article), chứ không phải là chỉ định từ bất định (indefinite article), tức là không phải Chúa đã dùng bất cứ cục đất nào mà phải là cục đất "được chỉ định này" mới được, và như thế là có sự định đoạt, có sự an bài. Nói theo cách làm việc của chúng ta là có kế hoạch.

Rồi để bổ túc cho sự định đoạt này là sự lựa chọn được diễn tả trong mệnh đề "out of the clay of the ground". Sự lựa chọn này rất là quan trọnng, vì khi đã lựa chọn thì ai cũng chọn cho hợp ý mình, đúng không? Thiên Chúa cũng vậy, khi tác tạo chúng ta Người cũng đã lựa chọn một cục đất sét cho hợp với ý Người, chứ Người đã không dùng bất cứ cục đất sét nào, và Người làm như vậy để chúng ta thấy được sự quan tâm đặc biệt của Người dành cho chúng ta. Một điểm quan trọng nữa, đó là Chúa đã chọn đất sét. Tại sao vậy? Tại sao Chúa không chọn cát, bùn, hay sỏi đá? Bạn biết khi còn ướt, đất sét mềm, dẻo, dễ nắn nót nói lên sự yếu đuối, uyển chuyển, dễ uốn nắn của con người. Khi đã khô, nhất là sau khi được nung nấu, đất sét rất cứng và bền nói lên sự bền bỉ, sức chịu đựng có chút nào cứng đầu và ương ngạnh của chúng ta. Ðất sét còn có đặc tính nối kết (cohesiveness) gắn bó với nhau nói lên sự gắn bó giữa con người với nhau và với Chúa. Cho nên khi chưa tác tạo chúng ta, thì Chúa đã làm nên đất sét cho mục đích này; để từ đó Người đã chọn làm công việc như một người thợ gốm, công việc được Tiên Tri Isaia diễn tả trong chương 64:8 của ông như sau : "Yet, O LORD, thou art our Father; we are the clay, and thou art our potter; we are all the work of thy hand." Lý do nữa mà Chúa dùng đất sét là để nhắc nhở chúng ta hãy sống theo đường lối của Chúa; bằng không Chúa sẽ đối xử với chúng ta như Người tuyên phán qua Tiên Tri Jeremiah chương 18:2-4 như sau: (2) "Arise, and go down to the potter's house, and there I will let you hear my words." (3) So I went down to the potter's house, and there he was working at his wheel. (4) And the vessel he was making of clay was spoiled in the potter's hand, and he reworked it into another vessel, as it seemed good to the potter to do. Thành ra từ nguyên thủy, từ lúc tạo dựng chúng ta, Người đã chuẩn bị tất cả để sau này Người lại dùng các tiên tri mà nhắc nhở cho chúng ta thân phân của mình.

Chữ quan trọng nữa là động từ form. Form tức là nắn nót cho đúng với hay theo với một khuôn khổ nào, và theo Sách Sáng Thế Ký, chương 1 câu 26 thì Chúa formed, nắn nót chúng ta theo như hình ảnh Người. Sau cùng thì Chúa còn phải thở hơi của Người vào lỗ mũi của chúng ta, lúc đó chúng ta mới có sự sống. Con cá có sự sống không? Có chứ! Con chó có sự sống không? Có chứ! Nhưng Chúa có thở hơi của Người vào con cá hay con chó hay bất cứ một sinh vật nào khác không? Thưa không! Bạn thấy chưa, tôi đã nói sự tạo dựng con người của Thiên Chúa là một công trình phức tạp và quy mô chứ đâu có đơn giản. Nhưng tại sao vậy? Bạn có bao giờ đắp tượng hay nhờ ai đắp tượng của chính bạn chưa? Chắc là chưa vì ít có người làm như vậy lắm. Nhưng giả sử như bạn muốn đắp tượng của chính bạn thì bạn có bỏ công bỏ sức, bỏ hết mọi nỗ lực vào công việc này để cho pho tượng đó giống bạn và hợp ý bạn không? Nhất định là có rồi, phải không? Khi đã đắp được pho tương giống như bạn, pho tượng mà bạn rất hài lòng thì bạn có yêu thích, có trân quý, có đặt vào một chỗ thích hợp nhất trong nhà của bạn không? Tôi dám chắc là không riêng gì bạn, mà ai cũng làn như thế, và ngay cả Thiên Chúa cũng vậy, vì khi tác tạo chúng ta nên như hình ảnh Người, thì đó là lúc Người tạc pho tượng của chính Người, cho nên Người mới yêu thương chúng ta hơn mọi loài thụ tạo khác. Và cũng chính vì quá yêu thương chúng ta nên thay vì chỉ phán một lời để chúng ta có sự sống, thì Người lại cúi xuống thở hơi vào chúng ta để chúng ta có sự sống. Người thở hơi vào chúng ta như thế nào? Bạn có biết làm hô hấp nhân tạo theo phương pháp mouth to mouth không? Theo tôi thì Chúa thở hơi vào chúng ta như vậy đó, và như vậy là Chúa hôn chúng ta thì đúng hơn. Tôi nói Chúa hôn chúng ta vì Chúa yêu chúng ta qúa độ, mà hôn là một cách để biểu lộ tình yêu nên tôi mới nói Chúa hôn chúng ta, chứ tôi không có ý nói là Thánh Kinh sai. Xin đừng hiểu lầm. Bạn thân mến, bây giờ thì bạn thấy được tình yêu nồng nàn, tình yêu tuyệt vời mà Thiên Chúa dành cho bạn rồi chứ? Bạn có vui không? Có cảm thấy sự có mặt của bạn trên đời này là một hồng ân cao cả không? Chưa hết đâu bạn ạ. Bạn có biết sau khi đã tác tạo và ban sự sống cho chúng ta thì Thiên Chúa làm gì không? Ðố bạn một lần nữa đó.

Thưa bạn, sau khi đã tác tạo và ban sự sống cho chúng ta thì Thiên Chúa nghỉ ngơi, và đó là ngày thứ bảy. Bạn trả lời có đúng không? Cám ơn bạn, nhưng câu đố kế tiếp này thì tôi chắc là bạn không có câu trả lời. Ðố bạn tại sao Chúa lai nghỉ vào ngày thứ bảy? Chúa mệt à? Không, nhất định là không! Bởi vì Thiên Chúa đâu có bị lệ thuộc vào môi trường, thời gian, không gian, hay bất cứ một đìêu kiện sinh hóa nào đâu mà mệt? Vậy thì tại sao Chúa nghỉ? Bạn có biết là tôi phải chầu Thánh Thể bao nhiêu lần mới có được câu trả lời không? Bây giờ tự nhiên tôi lại cho bạn câu trả lời được sao? Ðâu có dễ như vậy! Nhưng thôi, tôi sẵn sàng chia xẻ với bạn; chỉ xin bạn đọc một kinh Sáng Danh, đọc ngay bây giờ, để tán tụng, để ngợi khen, và để cảm tạ tình yêu cao vời của Thiên Chúa, rồi xin bạn đọc tiếp.

Bạn thân mến, trở lại chuyện đắp tượng ở trên. Khi bạn đắp tượng của bạn, nếu bạn thấy gì sai thì tất nhiên là bạn phải sửa; chỗ nào thiếu thì bạn thêm vào, chỗ nào thừa thì bạn bớt ra. Và giả như bạn không đồng ý với pho tượng chút nào hết, thì bạn có thể đập đi và làm lại, y như người thợ gốm ở trên vậy. Cứ như thế cho đến lúc bạn thấy thật hài lòng với pho tượng; đến lúc bạn thấy pho tượng của bạn không còn gì cần phải sửa chữa nữa, thì bạn ngưng, bạn nghỉ, không tiếp tục nữa vì công việc đã hoàn thành, có đúng không? Thiên Chúa cũng vậy, công trình tạo dựng vũ trụ của Người bắt đầu từ ngày thứ nhất, chưa ưng ý, Người tiếp tục sang ngày thứ hai..., thứ ba..., thứ tư..., thứ nam..., và sau cùng đến ngày thứ sáu, sau khi tạo dựng con người thì Người cảm thấy quá hài lòng với công việc của mình, Người đã thấy là công trình của Người đến đây là hoàn tất, nên Người ngưng, Người nghỉ. Bạn thấy chưa, Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến độ sau khi tạo dựng chúng ta rồi, thì Người không còn mưốn tạo dựng thêm một loài thụ tạo nào nữa. Người đặt chúng ta vào vị trí độc nhất vô nhị trong trái tim của Người. Bạn còn chờ gì nữa mà không đáp trả lại tình yêu cao vời này. Hãy học hỏi Kinh Thánh, bạn sẽ còn thấy nhiều điều lạ lùng khác.

Bạn thân mến, tôi vừa chia xẻ với bạn lý do tại sao tôi học hỏi Kinh Thánh. Tôi cũng đã trình bày với bạn những khó khăn và phương pháp tôi dùng để tìm câu giải đáp cho những gì tôi không hiểu khi học hỏi Kinh Thánh. Sau cùng tôi cũng đã chia xẻ với bạn một chút hiểu biết về Thiên Chúa mà tôi được ban cho. Trong sự chia xẻ này, tôi hy vọng bạn đã nhận ra là những gì viết trong Kinh Thánh thường là rất đơn giản nhưng lại khó hiểu. Nhưng bạn có biết không ? Sự đơn giản của Kinh Thánh chính là cái cửa của một lâu đài nguy nga cổ kính, nếu bạn không mở thì không bao giờ bạn có thể khám phá được những kho tàng chứa đụng bên trong. Sự khó hiểu của Kinh Thánh chính là lời mời: Hãy tìm kiếm Thiên Chúa. Nếu bạn không tìm thì làm sao bạn gặp được đây? Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân xuống cho bạn để bạn có thể gặp gỡ Người, và nếu được xin bạn hãy phổ biến bức thư này. Khi phổ biến bức thư này xin bạn đừng sửa chữa gì. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi sửa sai, mọi ý kiến xây dựng, và nếu bạn muốn góp ý, xin bạn ghé thăm trang blog: http://tongdobacai.blogspot.com/ hay

http://cauchuyenhangngay.blogspot.com/

Thân ái mến chào trong tình yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria,

Giuse Phạm Văn Tuyến

Viết xong tại Charlotte, NC

Ngày 2 tháng 2, năm 2012

Ðể thân tặng người vợ mà tôi yêu quý

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI: BAC AI PDF Print E-mail

Bác ái

Bạn thân mến,

Tôi chắc chắn 100% là trong đời bạn, cho đến nay, bạn đã làm rất nhiều việc bác ái. Bạn đã thăm viếng những người bệnh tật cô đơn. Bạn đã tham gia vào những công cuộc ủy lạo các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân thiên tai bão lụt, hỏa hoạn, động đất. Bạn đóng góp cho giáo xứ. Bạn gởi tiền giúp đỡ các cơ quan từ thiện, các tu hội, các linh mục già yếu, các tu sĩ nam nữ, các trẻ em mồ côi. Bạn xin lễ cầu cho linh hồn những người quá cố. Có lần đi ngang qua một người hành khất, vì vội vã bạn đã ngoảnh mặt bước đi, nhưng chỉ được vài bước thì lòng từ tâm của bạn thúc đẩy và bạn đã quay lại cho người ấy ít tiền. Bạn có nhớ không? Còn nhiều nữa, tôi biết là còn rất nhiều việc bác ái khác mà bạn đã làm. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình lại làm những việc lành này; có bao giờ bạn bỏ chút thời giờ để xét xem mình đã làm những việc này như thế nào và với mục đích gì không? Chắc là không rồi, phải không bạn? Không sao đâu bạn ạ! Tôi cũng thế, mà chắc là gần như ai cũng thế. Khi làm việc bác ái, có khi chúng ta chỉ làm vì nể nang, vì danh dự, vì để cho được an tâm, để cho có qua có lại, chứ không mấy ai trước khi làm một việc thiện lại tự hỏi tại sao, hay phải làm như thế nào, đúng không bạn? Nhưng cho dù bạn có tự vấn trước khi làm những việc này hay không; tất cả những việc lành bạn làm đều là tốt. Chỉ có điều là khi làm việc, việc gì cũng vậy, nếu chúng ta làm mà không có mục đích, không biết cách thức làm việc, thì chúng ta sẽ rất dễ bị lạc hướng, đôi khi mất cả tinh thần làm việc, và rất dễ để cho chúng ta bỏ cuộc, bạn đồng ý chứ?

Vậy tại sao chúng ta làm việc bác ái? Bạn thân mến, đã là con người thì chúng ta ai cũng biết mủi lòng trước những cảnh huống đau lòng. Khi phải diện kiến những cảnh thương đau, dù nạn nhân là người xa lạ; chúng ta không ai là không khỏi phải chạnh lòng, xót xa. Những cảm xúc này, ai ai trong chúng ta cũng có thể, và sẵn sàng bộc lộ bất kể tình trạng cuộc đời chúng ta vào lúc ấy như thế nào. Tại sao vậy? Thưa vì chúng ta vốn bản thiện. Bản thiện là cái nhân, cái hạt yêu thương, khi gặp đúng môi trường thì nảy nở và trở thành động cơ thúc đẩy chúng ta làm việc lành, việc thiện, việc bác ái. Nhưng tuy bản thiện thúc đẩy, những việc bác ái mà chúng ta làm không phải chỉ là những phản ứng tự nhiên, mà còn là những hành động phát sinh từ lòng yêu thương được hướng dẫn bằng lý trí. Đây là một sự khác biệt rất lớn lao giữa chúng ta và các sinh vật không có linh hồn. Bản thiện của các sinh vật không có linh hồn chỉ cho chúng những phản ứng tự nhiên để đáp ứng với những gì xảy ra có liên hệ tới chúng, và không có sự hướng dẫn của lý trí. Tại sao lại có sự khác biệt lớn lao này? Thưa vì khi tạo dựng chúng ta nên như hình ảnh Người, Thiên Chúa cũng đã lấy hình ảnh bản chất thánh thiện, cũng là tình yêu vô hạn của Người mà in vào tâm hồn chúng ta như một ấn tín, ấn tín tình yêu; để nhờ ấn tín này, mọi việc lành, việc thiện phát xuất tự ấn tín đó, từ lòng yêu thương đó, giúp cho người ta có thể "Cứ dấu này mà thiên hạ nhận biết các con là môn đệ của Thầy, đó là các con yêu thương nhau". John 13:35 "By this all men will know that you are my disciples, if you have love for one another."

Vì vậy, dù biết hay không biết, cái hạt, cái nhân, cái bản thiện có sẵn trong chúng ta chính là ấn tín tình yêu của Thiên Chúa. Ðã mang ấn tín này, trách nhiệm của chúng ta là phải làm cho nó sinh sôi, nẩy nở ra những việc lành, việc thiện, việc bác ái, để nhờ đó thiên hạ có thể nhận biết Thiên Chúa. Mà đã là trách nhiệm thì chúng ta phải chu toàn chứ chúng ta không thể làm hay không làm tùy hứng được. Chu toàn bằng cách nào đây? Bằng cách trở nên như khí cụ tình yêu của Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta phải để mình cho Thiên Chúa xử dụng. Nhưng tại sao chúng ta lại phải trở nên khí cụ? Khí cụ là để giao chiến mà? Ðúng như vậy, nhưng cuộc chiến này là cuộc chiến chống lại những gì đi ngược với tình yêu. Mà muốn trở nên khí cụ tình yêu của Thiên Chúa, thì mọi việc lành, việc thiện, việc bác ái chúng ta làm, chúng ta phải làm như làm cho Chúa, làm vì Chúa, làm vì yêu thương, vì đức ái. Không như vậy, không có đức ái, thì mọi việc chúng ta làm sẽ không có giá trị gì, đúng như lời Thánh Phao Lô dạy trong thư thứ nhất của ngài gởi cho tín hữu Cô Rinh Tô chương 13:1-3 như sau: (1) Nếu tôi nói được mọi ngôn ngữ của cả nhân loại và của cả các thiên thần, nhưng thiếu đức ái, thì tôi chỉ là tiếng phèng la ồn ào hay tiếng goòng inh ỏi. (2) Và nếu tôi được ơn nói tiên tri, hiểu được mọi mầu nhiệm, có được mọi hiểu biết, và nếu tôi có đức tin đủ để chuyển dời núi non, nhưng không có đức ái, thì tôi chằng là gì cả. (3) Nếu tôi cho đi tất cả những gì tôi có, hiến dâng thân mình cho lửa thiêu đốt, nhưng không có đức ái, thì tôi cũng chẳng được gì. Corinthians 1 13:1-3 (1) If I speak in the tongues of men and of angels, but have not love, I am a noisy gong or a clanging cymbal. (2) And if I have prophetic powers, and understand all mysteries and all knowledge, and if I have all faith, so as to remove mountains, but have not love, I am nothing. (3) If I give away all I have, and if I deliver my body to be burned, but have not love, I gain nothing.

Nhưng than ôi! Là một tạo vật yếu đuối và thấp hèn, việc gì tôi thấy cũng nói dễ mà khó làm. Những công việc bác ái cho đúng nghĩa lại càng khó làm hơn. Hôm nay chia xẻ với bạn những tâm tư này, viết những hàng chữ này; tôi cảm thấy thật là xấu hổ. Xấu hổ vì những việc lành tôi làm trong quá khứ, ngay cả những việc mà tôi làm cho những người tôi yêu, tôi cũng đã chưa bao giờ làm được trong yêu thương toàn vẹn. Chẳng những thế, tôi lại đã gieo sầu, gây khổ cho nhiều người. Tôi phải làm gì để có thể bù đắp được cho họ đây? Có nước mắt nào giúp tôi rửa sạch được những tội tình này không? Không! Tôi không thể vặn ngược kim đồng hồ! Tôi chỉ có thể nài xin sự tha thứ. Ðể trong thứ tha, tôi có thể cố gắng tiếp tục con đường còn lại theo như ý Chúa. Ðể tôi có thể cùng với Thánh Phanxico mà nguyện xin rằng: "Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Ðể con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu."

Thân ái kính chào trong tình yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria,

Giuse Phạm văn Tuyến

Viết xong tại Charlotte, NC

Ngày 19 tháng 2, năm 2012

Để thân tặng các anh chị trong nhóm Tông Đồ Bác Ái

http://tongdobacai.blogspot.com/

 
BAI DOC GIA GOI TOI ; THU GIAM MUC KONTUM PDF Print E-mail

 

From: TOA GIAM MUC KONTUM

Subject: Kinh gui Thu Muc Vu Mua Chay 2012 cua Duc Giam Muc Kon Tum

To:

 

TOÀ GIÁM MỤC KONTUM

Office of the Bishop - Diocese of Kontum

146 Trần Hưng Đạo - Kontum - Việt Nam

Số 18/VT/'12/Tgmkt

Kon Tum, ngày 03 tháng 03 năm 2012

THƯ MỤC VỤ MÙA CHAY 2012

Anh chị em trong gia đình Giáo phận Kon Tum thân mến,

Ngày 22.02, gia đình Giáo phận Kon Tum bước vào Mùa Chay; qua ngày 23.02, Cha Lu-Y Nguyễn Quang Hoa bị đánh trọng thương trên đường đi làm mục vụ về. Cả Giáo phận đều bàng hoàng. Để tránh những bức xúc quá đáng, chúng ta cần đón nhận biến cố này sao cho phù hợp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu mà chúng ta đang sống ?

1. Sự việc ngày 23.02.2012.

Trưa ngày 23.02.2012 vừa qua, sau khi dâng lễ an táng cho Bà Y Kun ở làng Turia Yốp (thôn 6, xã Đăk Hring, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum) trở về tới khúc đường qua vườn cao su gần hồ Kon Proh (thôn 9), Cha Lu-Y Nguyễn Quang Hoa, phó xứ Kon Hring, đã bị 3 thanh niên lạ mặt dùng cây sắt đánh trọng thương. Tạ ơn Chúa, dầu bị đánh nhiều nhát chí tử, nhưng Chúa cho cha sức mạnh chịu đựng thật đặc biệt. Nay sức khoẻ của Cha đang bình phục nhanh. Xin cám ơn tất cả bà con xa gần đã thương gọi điện thoại hoặc đến thăm hỏi ủi an, giúp đỡ và cầu nguyện.

Quãng đường từ chỗ dâng lễ về tới Kon Hring chỉ vỏn vẹn độ 10 cây số. Hai bên đường đều có dân sinh sống, chỉ trừ đoạn đường cao su dài độ hai cây số là có vẻ vắng. Sao lại có thể xảy ra chuyện đáng tiếc nhanh chóng và gọn nhẹ đến như thế giữa ban ngày? Nó gây đau thương cho nhiều người, cách riêng gia đình thân nhân và Giáo phận. Làm sứt mẻ tình cảm nhiều bên. Thêm lắm hiểu lầm. Sau nhiều phản ứng theo tính loài người, nay đến lúc phải nhìn sự việc dưới ánh sáng lòng tin vào mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô, để có cách ứng xử cho phải phép và phải đạo.

Hằng ngày, hơn một lần, người Công giáo tuyên xưng: Lạy Cha chúng con! Tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa là CHA, mọi người là anh chị em con một cha. Do đó 3 em đánh Cha Hoa cũng là con cháu, là anh em của Cha Hoa, của mỗi chúng ta. Với cái nhìn đức tin đó, chúng ta dễ dàng cảm thông và quảng đại với các em, lại càng thương hơn cùng nhìn nhận ra phần trách nhiệm thiếu sót của mình. Phải chăng thiếu sót nghiêm trọng này là đã không nghiêm chỉnh thi hành sứ mạng được sai đi loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người trong đó có ba thanh niên này? Lệnh Chúa truyền vẫn còn đó. Hằng ngày Mẹ Hội Thánh vẫn nhắc lại lệnh truyền này sau mỗi thánh lễ! "Lễ xong, chúc anh chị em ra đi bình an". Ra đi xây dựng một xã hội bình an, một xã hội biết nhìn nhận và thương yêu nhau như Chúa yêu thương. Nếu 3 thanh niên hôm 23.02 đã được nghe Tin Mừng của Chúa Giêsu, hẳn các em sẽ không hành xử cách đau thương như thế và các em sẽ thuộc nằm lòng chân lý này: "Sự sống đời đời là nhận biết Cha Thiên Chúa độc nhất và chân thật và Đấng Cha đã sai, Đức Giêsu Kitô" (Ga 17,3). Chính bản thân chúng tôi phải tự đấm ngực thưa: "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng". Thật đúng như lời Thánh Phaolô đã nói: "Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng!" yêu thương này. (1Cr 9,16).

2. Những suy nghĩ tiếp.

Anh chị em thân mến,

Chiều 29.02.2012, chúng tôi đã đến thăm anh chị em giáo dân tại vùng Cha Lu-Y Hoa bị đánh. Phần để an ủi và trấn an anh chị em; phần để tìm hiểu thêm chuyện đáng tiếc đã xảy ra. Chúng tôi cũng đã gặp anh em công an Huyện. Tất cả chúng tôi đều cảm thông và trao đổi chân thành với nhau về chuyện mới xảy ra, về chuyện đạo chuyện đời. Chẳng ai muốn thế! Anh em công an đã nhiệt tình đón nhận và khích lệ các ý kiến của chúng tôi. Tới đây chúng tôi thấy gì?

2.1. Về đời sống vật chất.

Dân vùng này còn nghèo. Từ ăn mặc cho đến nhà cửa. Đường xá còn giới hạn. Cách làm ăn còn thấp. Chuyện học hành của con cái còn chưa cao. Không có sức bật đi lên. Mong được chính quyền quan tâm nhiều hơn. Mong có nhiều nhà hảo tâm giúp những "phương tiện phát triển" hơn là miếng cơm manh áo, đặc biệt giúp việc giáo dục đào tạo con em nên những người có đầu có tim phát triển hài hòa, thống nhất. Mong Giáo hội có điều kiện đóng góp phần mình.

2.2. Về đời sống tinh thần và tâm linh.

Anh chị em ở đây đa phần là Công giáo. Anh chị em ý thức sâu xa: "Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống bằng Lời từ miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt 4,4). Mặc dầu vật chất còn thấp, nhưng niềm khát khao được thể hiện niềm tin lại thật cao. Vì thế, anh chị em ở đây vẫn cảm thấy "chưa có tự do tôn giáo". Lý luận của anh chị em thật đơn giản: vì "chưa có ba thứ" (1) chưa có nhà thờ, (2) chưa có linh mục tu sĩ, (3) chưa có các sinh hoạt tôn giáo bình thường. Dẫu vậy anh chị em vẫn một lòng gắn bó với Tin Mừng bác ái yêu thương. Anh chị em vẫn có tâm hồn bình an và quảng đại, cụ thể anh chị em đã đón nhận biến cố vừa xảy ra cách rất Tin Mừng, mặc dầu không thoát khỏi cảnh đau xót! Được sống và thể hiện niềm tin tôn giáo là một nhu cầu bức thiết của người tin, cho nên họ tìm mọi cách để "được sống Đạo như được thở". Cần xin phép, người công giáo không quản ngại. Nhưng xin mãi không được, thì phải "chui". Cầu nguyện chui! Cử hành phụng vụ chui! In sách đạo chui! Mua đất để làm nơi thờ phượng chui! Làm nhà thờ nhà nguyện chui! Không chui như thế thì chết mất! Chui thì phải chấp nhận thiệt thòi. Biến cố 23.02 tại Turia Yốp có đúng là câu trả lời cho cái chuyện "chui" không? Có đúng như Văn Thư ký ngày 21.02.2012 của UBND Xã Đăk Hring gửi cho Tòa Giám Mục chúng ta không? Chúng ta chưa dám tin như thế! Mong rằng ở những trường hợp như vậy sẽ không ai chụp cho chúng ta cái mũ "phản động", "diễn tiến hòa bình" hay "chống đối chính quyền" .v.v...

2.3. Vài đề nghị thiết thực cụ thể.

Để phần nào xoa dịu nỗi đau của anh chị em cũng là của chính chúng tôi, chúng tôi có một vài đề nghị cụ thể như sau.

* Tuần Thánh và đại lễ Phục Sinh 2012.

Chúng tôi có ý đích thân đến cử hành phụng vụ Tuần Thánh và đại lễ Phục Sinh 2012 ngay tại vùng này. Chương trình chi tiết cụ thể, các linh mục tại địa sở Kon Hring sẽ trình bày với chính quyền huyện Đăk Hà và xã Đăk Hring. Đây được coi như một nghĩa cử xoa dịu, an ủi anh chị em Vùng Đăk Hring. Đây cũng được coi như một hình thức thể hiện quyền sống đạo.

* Thăm viếng, ủy lạo và giúp đỡ.

Nhân dịp này, chúng tôi mong có nhiều tổ chức bác ái từ thiện – dĩ nhiên là cần được chính quyền địa phương tạo mọi điều kiện dễ dàng – quan tâm và giúp đỡ nâng cao cuộc sống của anh chị em, đặc biệt là việc học hành của con em trong vùng, để không một em nào thất học, tất cả đều được học đến nơi đến chốn, được tiếp nhận một nền giáo dục phát triển toàn diện.

Anh chị em thân mến,

Đây không còn là lúc ngồi than trách ai, mà là sống. Sống mầu nhiệm mùa chay, mùa sám hối và sống theo Tin Mừng yêu thương. Chỉ có Thánh Thần Chúa soi sáng và đổi mới mỗi chúng ta thực sự trở nên những anh em của nhau và với nhau, để ai nấy đều sống chan hoà yêu thương nhau. Hãy chuyển biến cố hôm 23.02 tại Turia Yốp thành cơ hội giúp mọi người bình tĩnh ngồi lại với nhau, nhìn nhận ra nhau đều là con dân Việt, đều là anh em của nhau và mau chóng quên đi những tiêu cực vừa xảy ra, để cùng nhau hợp lực xây dựng xã hội ngày càng phát triển và tươi đẹp. Sống Mùa chay thiết thực như thế cũng là sống yêu quê hương, yêu đất nước, yêu đồng bào thật cụ thể và thiết thực. Với người Công giáo đích thực, yêu Chúa yêu người yêu quê hương là một, bằng một tình yêu thống nhất và hài hòa. Mong nhờ biến cố hôm 23.2 , vùng này được công khai sinh hoạt tôn bình thường.

"Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, xin hãy đến! Xin hãy đến canh tân bộ mặt trái đất và lòng trí chúng con!"

(đã ký và đóng dấu)

+ Micae Hoàng Đức Oanh

Giám mục Giáo phận Kontum.

===================================================

Toà Giám M c Kon Tum

Office of The Bishop - Diocese of Kontum

146 Tr n H ng o, Kon Tum, Viet Nam

* Home Phone : 84-60-3862372 - Fax: 84-60-3862372.

* New e-mail: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

* Email of Bishop Michael: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

* Websites http://www.giaophankontum.com

-----------------------------------------------------

 
<< Start < Prev 61 62 63 64 65 Next > End >>

Page 62 of 65