mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5016
mod_vvisit_counterHôm Qua8485
mod_vvisit_counterTuần Này13501
mod_vvisit_counterTuần Trước32590
mod_vvisit_counterTháng Này71452
mod_vvisit_counterTháng Trước182520
mod_vvisit_counterTất cả11934093

We have: 120 guests online
Your IP: 54.156.39.245
 , 
Today: Oct 15, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Các Bài Độc Giả Gửi Tới
CAC BAI DOC GIA GOI TOI = PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 17)

Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 16.05.2012.

CẦU NGUYỆN TRONG CÁC THƯ THÁNH PHAOLỒ.

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong những bài giáo lý cuối cùng, chúng ta đã suy tư về cầu nguyện trong Sách Tông Đồ Công Vụ, hôm nay tôi muốn được khởi sự đề cập đến cầu nguyện trong các Thư Thánh Phaolồ, Vị Tông Đồ dân ngoại.

Trước hết tôi muốn được lưu ý không phải chỉ một trường hợp, mà các Thư đều được khởi đầu và kết thúc bằng những phương thức nói lên lời cầu nguyện. Lúc khởi đầu là lời tạ ơn và chúc tụng, và sau cùng lời chúc ước cho những gì ơn Chúa hướng dẫn lối đi của cộng đồng, mà bức Thư được gởi đến.

Giữa công thức khởi đầu:

- " ...tôi tạ ơn Chúa của tôi, nhờ Chúa Giêsu Kitô " ( Rom 1, 8)

và lời cầu chúc cuối cùng:

- " Cầu chúc anh em đầy tràn ơn sủng Chúa Giêsu Kitô " ( 1 Cor 16, 23),

nội dung của các Thư của Vị Tông Đồ được khai triển.

Lời cầu nguyện của Thánh Phaolồ là một lời cầu nguyện được diễn ra dưới hình thức

- từ cám ơn đến chúc phúc, t

- từ ngợi khen đến lời van xin và xin can thiệp,

- từ thánh ca đến lời khẩn cầu nguyện xin.

Nhiều cách diễn tả khác nhau cho thấy lời cầu nguyện có liên hệ và thẩm thấu vào tất cả các hoàn cảnh của cuộc sống, đời sống cá nhân cũng như đời sống cộng đồng đang được đề cập đến.

1 - Yếu tố thứ nhứt và Vị Thánh Tông Đồ muốn làm cho chúng ta hiểu được, đó là cầu nguyện không nên được coi như là một động tác tốt đẹp mà chúng ta thực hiện hướng về Chúa, một hành động của chúng ta.

Đúng hơn đó là một ân huệ, kết quả của sự hiện diện sống động, ban sự sống của Chúa Cha và Chúa Giêsu nơi chúng ta.

Trong Thư gởi các tín hữu Roma, ngài viết:

- " Cũng vậy, lại có Thánh Thần giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thánh Thần cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả " ( Rom 8, 26 ).

Và chúng ta biết những gì Vị Tông Đồ nói:

- " Chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào cho thích hợp ".

Chúng ta muốn cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa ở xa, chúng ta không có lời nói, ngôn từ, để nói với Chúa, kể cả tư tưởng.

Chúng ta chỉ có thể mở rộng chúng ta ra, dành thời giờ chúng ta cho Chúa, đợi Người gíúp đỡ chúng ta đi vào được trong cuộc đối thoại với Người.

Vị Tông Đồ nói lên việc thiếu ngôn từ đó, việc thiếu tiếng nói đó, nhưng chính lòng ước muốn được vào tiếp xúc với Chúa, chính là lời cầu nguyện mà không những Chúa Thánh Thần hiểu được, mà Người còn đem đến và giải thích bên Chúa.

Chính sự yếu hèn của chúng ta, nhờ Chúa Thánh Thần, trở nên lời cầu nguyện đích thực, tiếp xúc đích thực với Chúa.

Chúa Thánh Thần gần như là người thông dịch làm cho chúng ta hiểu được và cho Chúa biết những gì chúng ta muốn nói với Người.

Trong cầu nguyện, chúng ta kinh nghiệm được,đúng hơn không phải những tầm kích khác nhau của cuộc sống, cho bằng sự yếu đuối, sự nghèo khó, thực trạng tạo vật của chúng ta. Bởi vì chúng ta bị đặt trước sự toàn năng và tối thượng của Thiên Chúa.

Và chúng ta càng tiến thêm vào việc lắng nghe và đối thoại với Chúa, bởi vì cầu nguyện trở thành hơi thở hằng ngày của linh hồn chúng ta, chúng ta càng khám phá ra ý nghĩa sự giới hạn của chúng ta, không những đối với các thực trạng hằng ngày, mà cả trong chính mối tương quan với Chúa.

Từ đó phát sinh ra nơi chúng ta lòng tin cậy, luôn phó thác chúng ta cho Người. Chúng ta hiểu được rằng:

- " chúng ta không biết phải cầu nguyện sao cho xứng đáng " ( Rom 8, 26).

Và Chúa Thánh Thần là Đấng trợ lực cho tình trạng thiếu khả năng của chúng ta, soi sáng tâm trí chúng ta và hâm nóng con tim chúng ta, hướng dẫn chúng ta hướng về nói với Chúa.

Đối với Thánh Phaolồ cầu nguyện là động tác nhứt là của Chúa Thánh Thần trong nhân loại chúng ta, để đảm nhận lấy sự yếu đuối của chúng ta và chuyển đổi chúng ta từ những con người bị gắn bó với thực tại vật chất thành những con người gắn bó với thiêng liêng. Trong Thư I gởi các tín hữu Corinto ngài nói:

- " Giờ đây, chúng ta không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thánh Thần phát xuất từ Thiên Chúa , để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Để nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thánh Thần.Chúng tôi dùng những lời lẽ được Thánh Thần linh ứng để diễn tả thực tại thuộc về Thánh Thần " ( 1 Cor 2, 12-13).

Với việc Người cư ngụ trong sự mỏng dòn của chúng ta, Chúa Thánh Thần thay đổi chúng ta, làm trung gian cho chúng ta, hướng dẫn chúng ta hướng về sự cao cả của Thiên Chúa ( cfr. Rom 8, 6).

2 - Với sự hiện diện nầy của Chúa Thánh Thần sự kết hợp của chúng ta với Chúa Giêsu được thực hiện, bởi vì Người là Thánh Thần của Con Thiên Chúa, mà qua Người chúng ta được trở thành con cái.

Thánh Phaolồ nói đến Thánh Thần của Chúa Kitô ( cfr. Rom 8, 9), chớ không phải chỉ là Thánh Thần của Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, nếu Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, Thánh Thần của Người cũng là Thánh Thần của Thiên Chúa. Và như vậy, nếu Thánh Thần của Thiên Chúa, Thánh Thần của Chúa Kitô, trở thành thật gần gũi với chúng ta trong Con Thiên Chúa và Con Người, Thánh Thần của Thiên Chúa cũng trở thành tinh thần con người và động chạm đến chúng ta: bởi đó chúng ta có thể hội nhập vào thông hiệp với Chúa Thánh Thần.

Điều đó có nghĩa là không những Chúa Cha làm cho mình thấy được trong sự Nhập Thể của Chúa Con, nhưng cả Chúa Thánh Thần cũng thể hiện ra trong đời sống và động tác của Chúa Giêsu, của Chúa Kitô, Đấng đã sống, đã chịu đóng đinh, chết và sống lại.

Vị Tông Đồ nhắc nhớ rằng:

- " không ai có thể nói Chúa Giêsu là Chúa, nếu người ấy không ở trong Thánh Thần " ( 1 Cor 12,3).

Như vậy, Chúa Thánh Thần hướng dẫn tâm hồn chúng ta hướng về Chúa Giêsu Kitô, khiến cho

- " Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi " ( Gal 2, 20).

Trong những bài Giáo Lý về các Phép Bí Tích, khi suy nghĩ về Phép Thánh Thể, Thánh Ambrogio xác nhận

- " Ai đắm say trong Chúa Thánh Thần, là người đâm gốc rễ vào Chúa Kitô " ( Catechesi sui Sacramenti, 5, 3, 17: PL 16, 450).

Giờ đầy tôi muốn được làm thể hiện rõ ba hậu quả trong đời sống Kitô giáo chúng ta, khi chúng ta không để cho tinh thần thế tục tác động nơi mình, mà Thánh Thần Chúa Kitô như là nguyên lý nội tại của tất cả động tác chúng ta:

a) Trước tiên với lời cầu nguyện được Chúa Thánh Thần năng động hóa, chúng ta được đặt trong điều kiện bỏ qua và vượt lên trên mọi hình thức sợ hãi hay nô lệ, bằng cách sống tự do đích thực của con cái Thiên Chúa.

Không có cầu nguyện nuôi dưỡng mỗi ngày cuộc sống của chúng ta trong Chúa Kitô, trong thân tình mỗi ngày càng lón thêm lên, chúng ta ở trong tình trạng mà Thánh Phaolồ diễn tả ra trong Thư gởi các tín hữu Roma: đó là chúng ta không làm điều thiện mà chúng ta muốn, trái lại làm điều ác mà chúng ta không muốn ( cfr Rom 7, 19).

Đó là phương thức diễn tả ra sự băng hoại của phẩm giá con người, tiêu diệt tự do của chúng ta, do hoàn cảnh sống của chúng ta vì nguyên tội gây nên: chúng ta muốn điều thiện mà chúng ta không làm và chúng ta làm điều mà chúng ta không muốn: đó là điều dữ.

Vị Tông Đồ muốn làm cho chúng ta biết rằng trước tiên không phải là ý chí của chúng ta giải thoát chúng ta khỏi những điều kiện nầy và cũng không phải Lề Luật, nhưng chính là Chúa Thánh Thần. Và bởi vì ở đâu có Thánh Thần Thiên Chúa, ở đó có tự do ( 2 Cor 3, 17).

Với cầu nguyện chúng ta kinh nghiệm được tự do được Chúa Thánh Thần ban cho: một nền tự do chân chính, đó là tự do khỏi điều ác và tội lỗi để có được điều thiện tốt lành và đời sống, có được Thiên Chúa.

Tự do của Thánh Thần, Thánh Phaolồ nói tiếp, không bao giờ đồng nhứt với phóng đảng, cũng không đồng nhứt với việc có thể lựa chọn điều ác, mà đúng hơn

- " hoa quả của Thánh Thần là yêu thương, hoan lạc bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà và tự chủ " ( Gal 5, 22).

Đó là tự do đích thực: tức là có thể thực sự theo đuổi lòng ước muốn điều thiện, niềm hân hoan thục sự, sư thông hiệp với Thiên Chúa và không bị áp chế bởi các hoàn cảnh hướng dẫn chúng ta đi theo các chiều hướng khác.

b) Hậu quả thứ hai xảy ra trong đời sống chúng ta, khi chúng ta để cho Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta, đó là chính mối tương giao với Chúa trở thành thực sự sâu đậm, khiến không có thực tại hay hoàn cảnh nào có thể làm xức mẻ đi được.

Như vậy chúng ta biết rằng qua cầu nguyện không phải chúng ta được giải thoát khỏi các cơn thử thách hay các nỗi đau khổ, mà là sống hiệp nhứt với Chúa Kitô, với các đau khổ của Người, trong viễn ảnh được tham dự vào vinh quang của Người ( cfr Rom 8, 17).

Nhiều lần trong lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi sự đau đớn thể xác hay tinh thần, và chúng ta xin với lòng tin cậy to lớn. Tuy nhiên, thường xuyên chúng ta có cảm tưởng là không được lắng nghe và từ đó có cái nguy là chúng ta nản lòng và không còn bền chí.

Trên thực tế, không có tiếng la thét nào của con người mà không được Chúa lắng nghe. Và chính trong càu nguyện kiên trì và trung tín, chúng ta hiểu được với Thánh Phaolồ rằng

- " những đau khổ chúng ta chịu bây giờ không cản trở vinh quang trong tương lai sẽ được mạc khải cho chúng ta " ( Rom 8, 18).

Cầu nguyện không miễn chuẩn cho khỏi cơn thử thách và các đau khổ, trái lại, như Thánh Phaolồ nói

- " chúng ta rên siết trông nội tâm, trong khi đợi chờ được chấp nhận làm con cái, cuộc cứu độ thân thể chúng ta " ( Roma 8, 26).

Ngài nói rằng cầu nguyện không làm cho chúng ta khỏi đau khổ, nhưng cho phép chúng ta sống đau khổ đó và đối đầu lại với nó bằng sức mạnh mới, bằng chính sự tin cậy của Chúa Giêsu, là Đấng, theo Thư gởi cho các tín hữu Do Thái,

- " trong những ngày cuộc sống trần gian của Người, Người dâng lời cầu nguyện và van xin cùng với những tiếng kêu la và nước mắt, kêu lên Chúa là Đấng có thể cứu Người khỏi cái chết, và qua động tác hoàn toàn phó thác nơi Người, Chúa Giêsu được lắng nghe " ( Heb 5, 7).

Đáp ứng lại của Chúa Cha đối với Chúa Con , trước những lời thét lớn và nước mắt, không phải là sự giải thoát khỏi các cơn đau đớn, khỏi thập giá, khỏi cái chết, nhưng là một đáp ứng rất lớn hơn nhiều, một đáp ứng sâu đậm hơn nhiều: đó là qua thập giá và cái chết, Thiên Chúa đã trả lời bằng cuộc sống lại của Chúa Con , bằng đời sống mới.

Lời cầu nguyện được Chúa Thánh Thần năng động cũng đem chúng ta mỗi ngày sống cuộc hành trình đời sống với những thử thách và những cơn đau khổ, trong niềm hy vọng hoàn toàn, trong niềm tin tưởng vào Chúa là Đấng đáp ứng lại, như đã đáp ứng cho Chúa Con.

c) Và thứ ba, lời cầu nguyện của người tín hữu mở ra cho các chiều kích nhân loại và cả tạo vật, bằng cách đảm nhận lấy nơi mình

- " Muôn loài tho tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người " ( Rom 8, 19).

Điều đó có nghĩa là lời cầu nguyện được Thánh Thần của Chúa Giêsu nâng đỡ, Đấng nói lên trong nội tâm thân thiết của chúng ta , lời cầu nguyện đó không bao giờ vẫn đóng kín nơi mình, không bao giờ chỉ là lời cầu nguyện cho một mình chúng ta, mà mở rộng ra chia xẻ những đau thương của thời đại chúng ta, của những người khác.

Trở thành sự can thiệp cho người khác, và như vậy giải thoát khỏi tôi, cầu nguyện trở thành nguồn mạch hy vọng cho cả tạo vật, phương thức diễn tả tình yêu Thiên Chúa đã đổ vào các trái tim của chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, mà Người đã ban cho chúng ta ( crf Rom 5, 5).

Và đó chính là dấu chỉ của một lời cầu nguyện đích thực, không phải chỉ kết thúc nơi chúng ta, mà còn mở rộng ra cho những người khác và như vậy lời cầu nguyện đó giải thoát tôi, như vậy giúp cứu độ thế giới.

Anh Chị Em thân mến, Thánh Phaolồ dạy chúng ta rằng trong lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta cần phải mở rộng chúng ta ra cho Chúa Thánh Thần, Đấng cầu nguyện cho chúng ta bằng những tiếng thét không thể diễn tả được., để đem chúng ta đến gắn chặt vào Chúa với tất cả con tim và với tất cả sự sống của chúng ta.

Thánh Thần của Chúa Giêsu trở thành

- sức mạnh của lời cầu nguyện " yếu đuối " của chúng ta,

- ánh sáng của lời cầu nguyện " tắt ngũm ",

- ngọn lửa của lời cầu nguyện " khô khan " của chúng ta, bằng cách ban cho chúng ta sự tự do nội tâm, dạy chúng ta sống bằng cách đương đầu với các cơn thử thách của cuộc sống, trong niềm tin chắc chắn rằng mình không phải một mình trơ trọi, trong khi mở rộng ra những chân trời của nhân loại và của tạo vật

- " đang rên siết và quằn quại như sắp sinh nở " ( Rom 8, 22),

Cám ơn Anh Chị Em.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican,va, 16.05.2012).

 
NHUNG BAI DOC GIA GOI TOI = CAC KITO HUU SONG GIUA THE GIAN PDF Print E-mail

Các Ki tô Hữu sống giữa Thế gian

Trích thư gửi cho Đi-ô-nhê-tô (Diognetus)

Các Ki tô hữu không khác người ta về xứ sở, ngôn ngữ và tập quán trong dời sống. Họ không ở trong một thành phố riêng biệt, không dùng ngôn ngữ lạ thường, cũng không sống một nếp sống khác biệt. Giáo lý của họ không phải do một sự suy tư nào đó, hay do mối bận tâm của những con người ham tìm hiểu nghĩ ra. Họ không bảo trợ một hệ thống triết lý nào do loài người chủ xướng như một số người kia.

Họ ở trong các thành phố văn minh cũng như bán khai, tùy theo số phận mỗi người đưa đẩy. Họ theo tập quán của dân địa phương trong cách ăn mặc và trong lối sống, mà vẫn cho thấy một nếp sống lạ lùng và ai cũng phải nhận là khó tin. Họ sống ở quê fhương mình mà như những khách kiều cư. Họ có chung mọi thứ như một công dân, nhưng phải gánh chịu đủ thứ như khách lữ hành. Miền đất lạ nào cũng là quê hương của họ, nhưng quê hương nào cũng là đất khách đối với họ. Họ lập gia đình và sinh con đẻ cái như mọi người, nhưng không phá thai. Họ ăn chung với nhau một bàn, nhưng không chồng chung vợ chạ.

Họ sống trong một xác thịt, nhưng không theo xác thịt. Họ sống ở trần gian nhưng họ là công dân Nước Trời. Họ tuân hành luật pháp, nhưng cách sống của họ vượt trên những đòi hỏi của luật pháp. Họ yêu thương mọi người, nhưng mọi người ngược đãi họ. Họ không được nhìn nhận, lại còn bị kết án. Họ bị giết mà vẫn được sống. Họ là những người hành khất, nhưng lại làm cho nhiều người nên giầu có. Họ thiếu thốn mọi thứ, nhưng lại dư dật mọi sự. Họ bị sỉ nhục, nhưng giữa những sỉ nhục, họ lại được vinh quang. Danh thơm của họ bị chà đạp, nhưng bằng chứng về đời sống công chinh của họ lại được phô bầy. Bị nguyền rủa, họ chúc lành; bị đối xử nhục nhã , họ tỏ lòng kính trọng. Khi làm điều thiện, họ lại bị trừng phạt như những kẻ bất lương. Khi bị trừng phạt, họ vui mừng như được sống. Người Do thái giao chiến với họ như ngoại bang, còn dân ngoại thì ngược đãi họ, và những kẻ ghét họ không thể nói lý do tại sao sao lại căm thù họ.

Tôi xin nói đơn giản như sau : linh hồn ở trong thân xác thế nào, thì các Kito hữu ở giữa thế gian cũng thế. Linh hồn ở khắp các chi thể thế nào thì các Ki tô hữu cũng ở mọi thành thị trên thế giới như vậy. Linh hồn ở trong thân xác nhưng không do thân xác, thì các tín hữu cũng ở trong thế gian nhưng không bởi thế gian. Linh hồn vô hình được gìn giữ trong thân xác hữu hình, thì người ta nhìn thấy các ki-tô hữu sống trong thế gian, nhưng không trông thấy lòng đạo đức của họ. Xác thịt thù ghét và gây chiến với linh hồn, dù linh hồn không làm hại gì đến thể xác, mà chỉ ngăn không cho nó hưởng lạc thú; thế gian cũng ghét các Ki tô hữu như vậy, dù họ không gây thiệt hại gì cho nó, mà chỉ chống lại các lạc thú.

Linh hồn yêu thân xác, nhưng thân xác và các chi thể lại ghét linh hồn; các Ki tô hữu cũng yêu thương những kẻ ghét mình. Linh hồn bị giam giữ trong thân xác, nhưng thực ra chinh linh hồn lại chứa đựng thân xác; caác Ki tô hữu cũng bị giam giữ trong thế gian như trong tù, nhưng chinh họ lại chứa đựng thế gian. Linh hồn bất tử trong nhà tạm phải chết; các ki tô hữu sống giữa những thực tại hay hư nát như khách lữ hành, đang khi chờ đợi sự bất hoại trên thiên quốc . Nhờ ăn uống kham khổ, linh hồn nên tốt hơn; nhờ chịu cực hình; các Ki tô hữu ngày thêm đông số. Thiên Chúa đã đặt họ vào tình trạng như thế, thì họ không nên trốn tránh.

Xin Thiên Chúa Toàn năng ban muôn phước lành cho họ. Amen. Alleluia

(Không biết tác giả bức thư này / Chép lại trong sách phụng vụ giờ kinh)

 
NHUNG BAI DOC GIA GOI TOI = TRUONG TU TRONG TAO VAT MOI PDF Print E-mail

Trửơng tử trong tạo vật mới

Trích bài giảng của thánh Gregory, giám mục Nicaea.

Triều đại của sự sống tới thì vương quyền của sự chết tiêu tan. Thật thế, đã xuất hiện một cuộc tái sinh khác, một cuộc đời khác, một cách sống khác, một sự thay đổi chinh bản tính của chúng ta. Vậy sinh ra thế nào? Sinh ra không phải do khí huyết, cũng không phải do ý muốn của nhục thể, hoặc do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa.

Có khi bạn hỏi :"Việc đó xẩy ra cho ai ?" Tôi xin giải thích vắn tắt cho bạn nghe. Ở đây, bào thai được cưu mang nhờ đức tin, được đưa ra ánh sang nhờ phép rửa tái sinh, được Hội Thánh là Mẹ dung lời giảng huấn và luật lệ mà dưỡng nuôi bú mớm; lương thực là bánh bởi trời; tuổi trưởng thành là tác phong hoàn hảo; hôn phối là chung sống với đức khôn ngoan; con cháu là niềm hy vọng; nhà cửa là Nước Trời; gia tài và hạnh phúc là Thiên đàng; chung kiếp không phải là cái chết nhưng là cuộc sống vĩnh cửu chứa chan hạnh phúc, Chúa đã dọn sẵn cho những ai xứng đáng. Đây là ngày Chúa đã làm ra, khác xa với những ngày đã được thiết lập từ thuở khai thiên lập địa, là những ngày vẫn trôi theo dòng thời gian. Còn ngày này là khởi đầu một cuộc sáng tạo khác. Quả vậy, trong ngày này, Thiên Chúa đã làm ra trời mới, đất mới như vị Ngôn sứ nói. Trời nào đây? Thưa là bầu trời của lòng tin vào Đức Ki-tô. Và đất nào đây? Thưa là tâm hồn thiện hảo, như Chúa nói : tựa thửa đất thấm nhuần mưa từ trời rơi xuống, làm trổ sinh nhiều bông lúa trĩu hạt.

Trong cuộc sáng tạo này, mặt trời là đời sống trong sạch, tinh tú là các nhân đức, khí trời là cách ăn nết ở quang minh chinh đại, biển khơi là sự giầu có, khôn ngoan, thông biết sâu thẳm. Cỏ xanh và mầm non là giáo lý lành mạnh và Lời Chúa dậy mà dân được chăn dắt, tức là đàn chiên của Thiên Chúa lấy đó làm của ăn nuôi dưỡng mình, còn cây mang trái là tuân giữ các mệnh lệnh của Thiên Chúa.

Trong ngày này, con người đích thật được sáng tạo giống hình ảnh của Thiên Chúa. Bạn không thấy câu "Đây là ngày Chúa đã làm ra" không phải là khởi đầu của thế giới mới hay sao? Ngày đó chẳng phải là ngày vị ngôn sứ bảo là không giống những ngày khác, cũng không phải là đêm như những đêm khác hay sao?

Những điều lạ lùng trong ngày hồng phúc ấy, chúng tôi lại chưa giải nghĩa. Đây là ngày làm tiêu tan mọi nỗi đau đớn do cái chết gây ra, đây là ngày đã sinh ra vị Trưởng tử trong số những kẻ chết.

Người nói :"Thầy lên cùng cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em. Ôi "tin mừng trọng đại biết bao ! Đấng vốn là con Một Thiên Chúa, mà đã làm người vì chúng ta, nên đã làm cho chúng ta thành anh em của mình. Người đã đưa con người của mình lên cùng Cha đích thực, để lôi kéo họ hjàng than thích của mình lên theo> Amen.

[Đức Chúa Cha] + [Đức Chúa Con] + [người Kitô hữu = 1 [?]

(Phụng vụ giờ kinh)

 
NHUNG BAI DOC GIA GOI TOI = NHUNG PHUONG CACH GAY THIEN CAM PDF Print E-mail

                      NHỮNG PHƯƠNG CÁCH GÂY THIỆN CẢM

                 THỰC TẬP SỐNG NHÂN BẢN KITÔ GIÁO

1.LỜI CHÚA:

Thánh Phaolô khuyên tín hữu Cô-lô-xê: "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh em phải có lòng bác ái: Đó là mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3, 12-14).

2.CÂU CHUYỆN: ĐI TÌM MỘT CON NGƯỜI HOÀN HẢO.

NASRUDDIN là hiện thân của những anh chàng độc thân khó tính. Trong một buổi họp vui với bè bạn, khi được hỏi tại sao đến tuổi này mà chưa chịu lấy vợ, anh đã trả lời như sau :

"Tôi đã dành trọn thời gian tuổi thanh niên để đi tìm cho mình một người phụ nữ hoàn hảo: Tại Cairô thủ đô Ai cập, tôi đã gặp một người đàn bà vừa đẹp người lại vừa thông minh, với đôi mắt đen huyền như hạt ô-liu. Nhưng người phụ nữ này lại ăn nói cộc cằn không chút dịu dàng. Tôi đành bỏ Cairô để đến thành Baghdad thủ đô Irắc, hy vọng tìm được một người phụ nữ như lòng mong ước. Tại đây, tôi đã may mắn sớm tìm được một phụ nữ hoàn hảo đẹp người đẹp nết và thông minh. Nhưng khi tiếp súc, tôi thấy hai người chúng tôi lại khắc khẩu vì không đồng quan điểm về bất cứ điều gì. Rồi bỏ cô này tôi tìm đến cô khác: cô thì chấm được về điểm này nhưng lại thiếu mất điều quan trọng kia và ngược lại... Đến một ngày tôi thất vọng và nghĩ mình sẽ không bao giờ có thể tìm được một con người lý tưởng làm vợ, thì một hôm tôi rất mừng khi gặp được một người phụ nữ toàn vẹn mọi bề: Nàng vừa đẹp, vừa bao dung nhân hậu và còn luôn biết cách ứng xử tế nhị thông minh... Nàng đúng là một mẫu người vợ lý tưởng. Nhưng các bạn có biết tại sao đến giờ này tôi vẫn còn độc thân hay không?... Vì khi nghe tôi ngỏ lời cầu hôn, nàng đã thẳng thắn từ chối vì nàng cũng như tôi: đang đi tìm một mẫu người chồng hoàn hảo, và tôi được nàng đánh giá là người đàn ông quá nhiều khuyết điểm!!!".

3. SUY NIỆM:

1. Nhân vô thập tòan: Thực tế cho thấy: Con người không ai là người hòan hảo, bởi vì ai cũng có tội, ai cũng sai lỗi hoặc lớn hoặc nhỏ, nên không ai có thể tự hào mình là người hoàn hảo, ngòai một mình Thiên Chúa là Đấng hoàn hảo tuyệt đối. Do đó, thay vì đánh giá người khác cách khắt khe theo lăng kính của mình, thì chúng ta hãy chấp nhận người khác với cả ưu lẫn khuyết điểm của họ như thánh Gioan viết: "Nếu chúng ta nói là chúng ta đã không phạm tội, thì chúng ta coi Người là kẻ nói dối, và lời của Người không ở trong chúng ta" (1 Ga 1,10).

2. Không thể làm vừa lòng mọi người ?

Chúng ta không thể tìm thấy trong xã hội một người nào hoàn thiện có thể làm vừa lòng được mọi người. Chính Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa làm người, luôn quên mình vị tha bác ái, xót thương phục vụ những người nghèo khổ, bệnh tật và bất hạnh... thế mà Người cũng bị dân Do thái thù ghét và đòi đóng đinh vào thập giá như một tử tội đai gian đại ác. Còn chúng ta, là con người vốn yếu đuối mỏng dòn, chắc sẽ không bao giờ có thể làm vừa lòng hết mọi người được.

3. Các phương cách gây thiện cảm:

Chúng ta khó có thể thay đổi được lòng người khác. Tuy nhiên điều có thể làm được là mỗi người hãy thay đổi bản thân bằng cách tập sống như một con người dễ thương. Sau đây là một số phương cách đề nghị thực hành để gây thiện cảm và sống vui vẻ hòa hợp với mọi người:

1) Nghĩ đến người khác: Cần luôn quên mình để nghĩ đến người khác. Hãy tập thành thói quen biết quan tâm đến người bên cạnh và sẵn sàng giúp đỡ hết mình.

2) Đến với tha nhân: Cần chủ động bắt chuyện làm quen với người mới gặp trên tàu xe, nơi công viên, tại nhà thờ hay trong các buổi sinh họat họp mặt. Nên tế nhị tìm hiểu về tên tuổi, địa chỉ, số điện thọai, gia cảnh nghề nghiệp... tùy theo từng trường hợp và mức độ tình cảm thân thiện.

3) Lắng nghe cảm thông: Nên gợi chuyện để người khác trình bày về họ và lắng nghe với sự cảm thông. Đây là phương pháp gây thiện cảm hữu hiệu. Tuy nhiên cần tránh thái độ tọc mạch, tò mò khi muốn biết các điều bí mật mà người kia không muốn tiết lộ.

4) Đáp ứng nhu cầu: Tìm hiểu nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần để đáp ứng theo kinh "Thương người" như: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống... Vì yêu thương phục vụ là dấu chỉ môn đệ đích thực của Chúa Giê-su.

5) Cho phúc hơn nhận (x Cv 20,35): Cần thực hành theo lời Chúa dạy. Những ai đã từng tham gia các chuyến đi công tác bác ái đều có thể cảm thấy hạnh phúc khi biết chia sẻ cơm áo cho người nghèo.

6) "Mau nghe chậm nói khoan giận" (x Gc 1,19): Trong cuộc sống cần quan tâm thực hành lời thánh Gia-cô-bê nói trên. Đây là phương cách hữu hiệu để gây thiện cảm với người chung quanh.

7) Nụ cười kết thân: Nên mỉm cười khi tiếp xúc với người khác. Mỉm cười là cách tốt nhất để làm quen và rút ngắn khỏang cách giữa hai người xa lạ và là điều kiện để xích lại gần nhau hơn.

8) Biết tên và ngày sinh của người khác: Biết tên và ngày sinh của ai là dấu tỏ ra sự quan tâm và là phương thế hữu hiệu để đạt được thiện cảm của người khác.

9) Xét đóan ý tốt: Cần luôn xét đóan ý tốt và nói tốt cho người khác. Tránh nghĩ xấu cho người mình không ưa. Vì từ nghĩ xấu sẽ dẫn đến nói xấu và quan hệ giữa hai bên ngày một xấu đi. Trước khi phê bình người nào, cần xét lại bản thân để tự sửa lỗi trước rồi mới đủ tự tin để giúp sửa lỗi anh em cách tế nhị khoan dung (x Mt 7,1-5). Nên khiêm tốn tự phê trước khi phê bình người khác

10) Khen ngợi thành thật: Nên rộng rãi về lời khen như người ta thường nói: "Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Lời khen phải thành thật chứ đừng khen giả dối hình thức, không đúng lúc đúng chỗ, vì sẽ dẫn tới kết quả trái ngược.

11) Tôn trọng tha nhân: Cần có thái độ tôn trọng tha nhân khi tiếp xúc nói chuyện. Sự tôn trọng biểu lộ qua cách xưng hô xứng hợp địa vị và thân sơ, lắng nghe người khác khi nói chuyện... Sự tôn trọng của ta chắc sẽ được đáp lại và quan hệ giữa hai bên ngày một tốt đẹp hơn.

12) Nhiệt tình dấn thân: Cần nhiệt tình trong mọi việc, sẵn sàng đi bước trước đến với người khác, nhất là người mới tiếp xúc để chủ động làm quen, sẵn sàng dấn thân phục vụ quét dọn, lau nhà, dọn bàn và rửa chén bát sau bữa liên hoan nội bộ... Tuy nhiên cũng cần động viên mọi người cùng làm, tránh bị hiểu lầm đó là nhiệm vụ của ta.

13) Khiêm tốn phục vụ: Sẵn sàng phục vụ tha nhân cách khiêm tốn. Không làm việc để tìm tiếng khen. Ánh sáng phục vụ sẽ có sức mạnh chiếu tỏa giúp tha nhân nhìn thấy việc lành chúng ta làm mà ngợi khen Chúa Cha trên trời.

14) Chia sẻ niềm vui: Nên chia vui sẻ buồn với nhau như lời thánh Phao-lô: "Vui với người vui khóc với người khóc" (Rm 12,15). Hãy noi gương Mẹ Ma-ri-a đem thai nhi Giê-su đến chia sẻ cho gia đình Gia-ca-ri-a làm cho thai nhi Gio-an nhảy mừng (x Lc 1,39-45). Tuy nhiên khi gặp gỡ nhau, cần tránh nói về những chuyện kín đáo trong nội bộ.

15) Cho phúc hơn nhận: Cần luôn sống quên mình vị tha. Tập quảng đại cho đi hơn nhận lãnh (x Cv 20,35). Tránh đòi tha nhân phải làm gì cho mình, nhưng luôn tự hỏi mình đã làm gì cho tha nhân?

16) Trạng sư chữa lỗi: Khi nghe một lời phê phán chỉ trích về một người khác, cần tránh nói thêm như "đổ dầu vào lửa", nhưng nên phản ứng bằng sự im lặng và chuyển sang đề tài khác. Nhất là tích cực làm trạng sư bào chữa cho người bị chỉ trích, để minh oan hoặc ít là để giảm nhẹ sự kết án, noi gương Chúa Giê-su đã bênh vực người đàn bà cô thế bị bắt quả tang phạm tội ngọai tình (x Ga 8,1-11).

17) Viên thuốc bọc đường: Cần tế nhị khôn ngoan khi phải sửa lỗi tha nhân. Cần "khen trước chê sau" để lời chê giống như viên thuốc được bọc đường, sẽ làm cho kẻ có lỗi dễ dàng đón nhận và ít bị chạm tự ái hơn.

18) Thảo luận hơn tranh luận: Thảo luận là khi trao đổi nói chuyện người này biết tôn trọng người kia bằng cách chú ý lắng nghe, dù đó là ý kiến khác biệt để tìm ra chân lý. Còn tranh luận là thái độ của kẻ háo thắng, thể hiện qua sự không lắng nghe lý lẽ mà chỉ muốn "lấy thịt đè người", thể hiện qua thái độ cướp lời người đang nói và nói to tiếng để lấn át đối phương.

19) Sứ giả hòa bình: Cần năng đọc "Kinh Hòa Bình" của thánh Phan-xi-cô để xin Chúa giúp chu tòan sứ mệnh làm chứng nhân Nước Trời, đem bình an và niềm vui của Chúa đến mọi người. Học cách giải hòa tranh chấp giữa hai người đang thù ghét nhau.

20) Công khai tài chánh: Cần làm các việc chung tập thể với tinh thần công minh chính trực. Khi quyên góp cần đi hai ba người, mang theo sổ sách và sớm báo cáo kết quả với cấp trên.

4. LỜI CẦU:

Lạy Chúa. Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Cô-lô-xê cũng là khuyên chúng con: "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh em phải có lòng bác ái: Đó là mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3, 12-14). Xin Chúa đổ Thần Khí giúp mỗi người chúng con biết sống tinh thần "Hiệp Sống- xin vâng và phục vụ" noi gương Chúa Giêsu như Mẹ Maria xưa, để chúng con có thể gây được thiện cảm với người khác là điều kiện để chu tòan sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho mọi người.- AMEN.

LM ĐAN VINH

www.hiephoithanhmau.com

Tác giả: Lm. Đan Vinh

 

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 13 = CONG NGHIEP CUU CHUOC... PDF Print E-mail

CÔNG NGHIỆP CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ ĐÃ ĐỦ CHO TA ĐƯỢC CỨU RỖI CHƯA ?

Chúa Giê-su Kitô đã đến trần gian cách nay trên 2000 năm làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu Chuộc nhân loại của Chúa Cha, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)

Chúa Kitô đã vâng phục Chúa Cha và đã hoàn tất Chương Trình Cứu Chuộc đó qua khổ hình thập giá, chết và sống lại để cho chúng ta có hy vọng được cứu rỗi và sống với Người vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu thực vô giá vì không có sự hy sinh nào, lễ vật nào cao quí đẹp lòng Chúa Cha và có giá trị cứu rỗi hơn hy tế cực trọng mà Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá năm xưa và còn tiếp tục dâng qua tác vụ của Giáo Hội, vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên Bàn Thờ , nhờ đó Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế, ( 1 Cor 5: 7 ) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." (x.Lumen Gentium số 3)

Nghĩa là, xưa kia một lần Chúa Kitô đã đổ máu thực sự trên thập giá để làm hy tế dâng lên Chúa Cha để xin ơn tha tội cho nhân loại thế nào thì nay trên Bàn Thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội, mỗi khi Thánh lễ Tạ Ơn ( Euchrist) được cử hành, thì Chúa Kitô lại hiện diện cách bí tích nơi các thừa tác viên con người ( Giám mục hay Linh mục) để diễn lại- hay làm sống lại cách bí tích- hy tế thập giá của Người cùng với mục đích và ích lợi thiêng liêng cho chúng ta ngày nay như xưa Chúa tự hiến tế trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi.

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thực đã quá đủ cho chúng ta được tha thứ tội lỗi và giao hòa lại với Thiên Chúa như Thánh Phêrô đã dạy:

" Chính Chúa Kitô đã chịu chết lần vì tội lỗi. Đấng công chính đã chết cho kẻ bất lương, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa." ( 1 Pr 3 :18)

Như thế , nếu không có công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, thì tuyệt đối con người không có hy vọng nào được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời với Chúa, sau khi phải chết trong thân xác của mỗi người một ngày nào đó.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào công nghiệp cứu chuộc này để không làm gì nữa về phía con người, thì ơn cứu chuộc ấy cũng không tự động sinh ích gì cho ai .

Sở dĩ thế, vì Công nghiệp cứu độ của Chúa Kitô- kể cả Phép Rửa- đều không tức khắc biến đổi con người thành hoàn hảo ngay và không còn biết gì là tội lỗi nữa.

Trái lại, dù Chúa đã chết cho tội lỗi con người và dù đã lãnh nhận Phép Rửa để được tái sinh trong sự sống mới, con người vẫn còn đầy rẫy thói hư tật xấu, vẫn còn khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự tội để cho ta phải chiến đấu để lập công.Thêm vào đó là ma quỉ, " thù địch của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế " ( 1 Pr 5 : 8-9).

Ngoài nguy cơ đến từ ma quỷ mà Thánh Phêrô cảnh giác trên đây, còn nguy cơ khác không kém hiểm nguy là thế gian nơi đầy rẫy gương xấu và dịp tội với tà thuyết vô thần chối bỏ Thiên Chúa, chủ nghĩa chuộng khoái lạc ( Hedonism) và tục hóa ( secularism, vulgarism) cổ võ tôn thờ tiền bạc , của cải vật chất và mọi vui thú vô luân vô đạo của "văn hóa sự chết" như bộ mặt của thế giới ở khắp nơi ngày nay.

Mặt khác, nơi bản thân mỗi người chúng ta, không ai có thể phủ nhận những thực tại sau đây còn tồn tại trong chúng ta như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa :

" Cái gì từ trong con người phát ra , cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong , từ lòng người phát xuất những ý định xấu : tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng.Tất cả những điều xấu đó đều từ bên trong xuất phát và làm cho con người ra ô uế".( Mc 7 :21-23)

Chính vì thực trạng trên đây còn đồn trú nơi mỗi người chúng ta cho nên đã làm phát sinh những sự dữ như giết người, giết thai nhi, hiếp dâm, trộm cướp, bất công , bóc lột hà khắc, nghèo đói, chiến tranh, bạo động, thủ tiêu, trả thù, kỳ thị...đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt ở các quốc gia độc tài cai trị, tự do dân chủ giả hiệu, cánh chung luận mơ hồ, xảo trá, thì thực trạng tha hóa, xuống cấp thê thảm về luân lý, đạo đức cũng như suy thoái về kinh tế phải là hậu quả tất nhiên, vì tập đoàn thống trị chỉ cai trị để vơ vết mọi của cải vật chất và gửi tiền ăn cướp được ra nước ngoài để phòng thân , trong khi nhắm mắt bịt tai trước mọi bất công xã hội và nghèo đói của đa số người dân đen, nạn nhân của chế độ cai trị hà khắc, bạo tàn.

Trước thực trạng trên đây, là người có niềm tin Thiên Chúa cực tốt cực lành, người tín hữu chúng ta phải sống cách nào để cho ơn cứu độ của Chúa Kitô không trở nên vô ích cho chính mình ?

Thât vậy,.như đã nói ở trên, Chúa Kitô chết trên thập giá và Phép Rửa đều không tức khắc thay đổi chúng ta thành những con người mới vẹn toàn và không bao giờ phạm tội nữa.

Sự thật trái lại là chúng ta vẫn yếu đuối trong nhân tính, với những khuynh hướng xấu còn để lại cho ta phải chiến đấu cho đến giây phút cuối cùng của đời mình. Ma quỷ , đich thù của chúng ta , triệt để khai thác bản chất yếu đuối trên với sự tiếp tay của thế gian để cố đẩy chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, và làm mất hy vọng được cứu độ nhờ công nghiệp của Chúa Kitô.

Mặt khác, sở dĩ con người ở khắp mọi nơi đã và đang làm những sự dữ, sự xấu như giết người, cướp của, dâm loạn, xảo trá, căm thù ... là vì con người vẫn còn có tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho xử dụng và phải chiu trách nhiệm trước Thiên Chúa giầu tình thương nhưng rất công bình khi phán xét con người.

Nếu con người không có tự do, thi vấn đề thưởng phạt sẽ không được đặt ra, vì Thiên Chúa không phán xét loài vật sống thuần với bản năng mà chỉ phán đoán con người có lý trí và ý muốn tự do ( intelligence and free will) mà thội. Có tự do nên người ta có thể chọn sống theo đường lối của Chúa để được cứu độ hay khước từ Chúa để sống theo thế gian, theo văn hóa của sự chết chổi bỏ Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Đó là thực trạng của con người ở khắp nơi nói chung và của rất nhiều tín hữu ngày nay nói riêng. Đó là những người chỉ có tên là Kitô hữu hay Công giáo, nhưng thực chất lại sống phản lại danh xưng đó.

Phản lại vì đã chọn lựa sống theo đường lối gian tà của thế gian, chạy theo những quyến rũ của tiền bạc, danh lợi phù phiếm, làm tay sai cho tập đoàn cai trị để hưởng tư lợi, đánh mất lương tâm vì không dám bênh vực cho chân lý, cho luân lý đạo đức, cho công bằng bác ái và cho phúc lợi của mọi công dân.

Chính vì con người còn có tự do để chọn lựa yêu mến Chúa hay yêu mến thế gian và buông mình chiều theo những quyến rũ của xác thịt, ma quỷ và trần thế , nên xưa kía Thiên Chúa đã nói với dân Do Thái qua miệng ông Môisê như sau;

" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em mà tôi truyền cho anh em hôm nay. Anh em sẽ bị nguyền rủa nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, nếu anh em bỏ con đường hôm nay tôi truyền cho anh em phải đi, mà theo những thần khác anh em không biết." ( Đnl 12 : 26-28)

Nhưng vì dân Do Thái đã tự do chọn bất tuân mệnh lệnh của Chúa để sống theo ý riêng của họ nên Thiên Chúa đã nổi giận trách mắng họ như sau :

" Bốn mươi năm trường, dòng giống này làm Ta chán ngán

Ta đã nói : đây là dân tâm hồn lầm lạc

Chúng nào biết đến đường lối của Ta

Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng

Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta". ( Tv 95 (94) : 10-11)

Tuy Chúa nổi giận với họ, nhưng khi họ biết sám hối ăn năn, Chúa lại tha thứ, vì " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương thương suốt cả đời."( Tv 30 (29) :6)

Sau này khi đến trần gian để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nói với các môn đệ Người như sau :

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa , Lậy Chúa là được vào nước Trời cả đâu, ! nhưng chỉ những ai thi hành muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 :21)

Thi hành "ý muốn của Cha Thầy"có nghĩa là tự ý chọn sống theo đường lối của Chúa Cha là đường ngay chính dẫn đến sự sống đời đời.Chúa Giêsu chính là con Đường đó như Người đã nói với các môn đệ : Chính Thầy là con đường , là sự thật và là sự sống." ( Ga 14: 6)

Do đó, bước đi theo Chúa Giêsu và quay lưng lại với thế gian, là bảo đảm chắc chắn cho phần rỗi của mọi người chúng ta.Chúa đã hy sinh chịu chết trên Thánh giá để cứu chuộc cho mọi người và cho chúng ta hy vọng chắc chắn về ơn cứu độ như lời Chúa trong thư Do Thái sau đây:

"Chúng ta có niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn chìm sâu vào bên trong bức màn Cung Thánh. Đó là nơi Đức Kitô đã vào như người tiên phong mở đường cho chúng ta, sau khi trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê". ( Dt 6:19-20)

Nhưng cho được chắc chắn bước vào " Cung Thánh" với Chúa Kitô, nghĩa là được cứu độ để vào Nước Trời thì trước hết chúng ta phải cậy nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, vì nếu không có công nhiệp này thì không ai có thể được cứu rỗi.

Nhưng , như đã nói ở trên, cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không thôi chưa đủ mà còn phải cộng tác với ơn cứu độ bằng quyết tâm bước đi theo Chúa là đường là sự thật và là sự sống.Phải quyêt tâm từ bỏ tội lỗi và mọi gian tà thì mới có thể đi theo Chúa và được cứu độ. Đây là một cuộc chiến rất cam go cho những ai muốn chọn Chúa và khước từ thế gian và ma quỷ, là những thế lực luôn tìm cách ngăn cản con người đến với Thiên Chúa và hạnh phúc Nước Trời. Chúa Giê su đã căn dặn các Tông Đồ " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24).

Công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô có thể tạm ví như một dòng suối nước chảy liên lỉ và vô tận.Nhưng ai khát nước, thì phải cúi xuống múc lấy nước mà uống , vì nước kia không có chức năng phải nhẩy lên từ dòng suối để chẩy vào miệng kẻ khát đang nằm bên bờ suối nước.

Nếu không có suối nước thì con người phải chết khát vì không tìm được nước ở đâu mà uống.Nhưng nằm bên dòng nước cuồn cuộn chảy kia mà không cúi xuống múc lấy nước để uống thì vẫn chết khát như thường, vì nước không khi nào nhẩy lên bờ để chảy vào miệng ai..

Như vậy, " cúi xuống để múc nước từ dòng suối" là nỗ lực của mỗi cá nhân cộng tác với ơn Chúa để được cứu độ. Không có nỗ lực này thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ vô ích cho những ai ỷ có công nghiệp này rồi cứ sống buông thả theo những đòi hỏi bất chính của xác thịt, cám dỗ của ma quỷ và gương xấu của thế gian, thay vì phải chiến đấu với ơn Chúa nâng đỡ để chống lại mọi khuynh hướng xấu , mọi cám dỗ của ma quỷ và mời mọc quyến rũ của thế gian với đầy rẫy gương xấu và dịp tội. Không thể miệng nói Lậy Chúa, lậy Chúa mà tay lại chém. giết người, chân lại bước đi vào nhưng nơi tội lỗi như sòng bài, nhà điếm, nơi ăn chơi thác loạn...

Tóm lại, công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá (invaluable) và quá đủ cho con người được cứu độ.Tuy nhiên Chúa vẫn đòi hỏi con người phải có thiện chí muốn nhận ơn cứu độ của Người bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, yêu mến Người trên hết mọi sự và xa lánh mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới ngăn cách ta với Thiên Chúa của tình thương, khoan dung và tha thứ.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 Next > End >>

Page 67 of 73