mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3632
mod_vvisit_counterHôm Qua7693
mod_vvisit_counterTuần Này42569
mod_vvisit_counterTuần Trước62721
mod_vvisit_counterTháng Này173278
mod_vvisit_counterTháng Trước193615
mod_vvisit_counterTất cả12767201

We have: 91 guests online
Your IP: 3.82.52.91
 , 
Today: Feb 22, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Các Bài Độc Giả Gửi Tới
CAC BAI DOC GIA GOI TOI = THICH TOI HON SANG PDF Print E-mail


CHIA SẺ CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY - NĂM B

                     THÍCH TỐI HƠN SÁNG

Cúp điện bất ngờ là điều gây khó chịu. Trong bóng tối, người ta đi tìm hộp quẹt, tìm ánh sáng để thắp lên một ngọn nến, một cái đèn dầu. Nói chung chẳng ai thích bóng tối, vì bóng tối là dấu hiệu của lạc hậu, thiếu văn minh.

 

Ấy thế mà cũng có những người mê bóng tối: bóng tối của của quán cà phê đèn mờ, của bia ôm, của karaokê, của sàn nhảy... Phải bỏ tiền ra để mua được bóng tối. Bóng tối đồng lõa, che đậy, lấp liếm, làm mặt nạ. Bóng tối trong tâm hồn cần có bóng tối ở bên ngoài. Nó sợ ánh sáng làm lộ chân tướng.

"Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa." (Ga.3:20). Thích tối hơn sáng: đó là thảm kịch nơi lòng con người, bởi lẽ con người được sinh ra để sống cho ánh sáng.

Lắm khi người ta từ chối tin vào Đức Kitô, từ chối đến với ánh sáng và sự thật, chỉ vì đời họ chìm trong bóng tối và giả trá. Cần thay đổi cuộc sống để đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô, để can đảm đến với ánh sáng dù biết mình đang chìm trong bóng tối. Nói cho đúng hơn, vì biết mình nô lệ cho bóng tối mà ta khao khát vươn tới ánh sáng.

Đừng trốn chạy ánh sáng như Ađam, Evà. Hãy để cho ánh sáng vén mở chính mình, bắt ta đối diện với sự thật trần trụi về mình, để rồi ta được rực rỡ trong niềm vui vì được ánh sáng chiếu soi.

Chỉ có một cách ra khỏi bóng tối đó là trở lại với ánh sáng, bằng cách ngước nhìn lên cao...Dân Do Thái xưa kia trong sa mạc đã được chữa lành nhờ tin tưởng nhìn lên con rắn đồng treo trên cây gỗ. Ngày nay, chúng ta được cứu độ, được sự sống đời đời nhờ tin tưởng nhìn lên Đức Giêsu bị treo trên thập giá. Thập giá là tột cùng của nhục nhã đớn đau, nhưng cũng là biểu hiện tuyệt vời của một tình yêu.

Người Kitô không phải là người tôn thờ đau khổ, nhưng là người say mê tình yêu: tình yêu của Cha khi trao ban người Con yêu dấu, tình yêu của Con khi hiến tặng mạng sống mình.

Ngày nay, nhiều nhà thờ đã đặt tượng Chúa Phục Sinh thay cho thập giá, nhờ đó bầu khí nhà thờ tươi vui hơn. Nhưng ta vẫn không được quên nhìn lên thân xác bầm tím nát tan của Đức Giêsu trên Núi Sọ.

***

Cầu nguyện : Lạy Chúa Giêsu,

Tạ ơn Chúa đã cho con ánh sáng mặt trời, mặt trăng, và ánh sáng từ những nguồn năng lượng trên mặt đất.

Tạ ơn Chúa vì Chúa đã gọi con là ánh sáng. Đó là vinh dự và cũng là một trách nhiệm nặng nề Chúa trao ban cho con.

Xin ban ơn giúp sức cho con để con biết đẩy lui bóng tối của hận thù; của bất công; của buồn phiền và thất vọng.

Xin cho con biết giữ gìn ngọn lửa mà Chúa đã thắp lên trong lòng con, và nhất là biết trở lại với Ánh Sáng, để Ánh Sáng dẫn đưa con đi vào sâu thẳm trong Tình Yêu. Amen

Trích trong "Manna"

(BĐ1:2Sb.36:14-16 &19-23 - BĐ2:Ep.2: 4-10 - PA:Ga 3,14-21)

__._,_.___



 
NHUNG BAI DOC GIA GOI TOI = MAY CU GIAM MUC PDF Print E-mail

Fwd: MẤY CỤ GIÁM MỤC THẬT LÀ BUỒN CƯỜI !

BCC: You

Show Details

MẤY CỤ GIÁM MỤC

THẬT LÀ BUỒN CƯỜI !

LTCG (16.03.2012)

"Khi ấy, Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng: 'Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại'. Nhưng các ông không hiểu lời đó, và các ông sợ không dám hỏi lại Người. Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Capharnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: 'Dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy?' Các ông làm thinh, vì khi đi đường các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi nhóm Mười hai lại mà nói: 'Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người'" (Mc 9, 31-35).

Người giáo dân sẽ nghĩ như thế nào, khi Đức Giáo hoàng và các Đức Giám mục cãi nhau?! Thế mà HĐGM đầu tiên trên thế giới đã cãi nhau! Các đấng cãi nhau ngay ngoài đường về vấn đề quyền bính trước mặt Đức Giêsu, nhưng Ngài đã nín nhịn. Về tới nhà Ngài mới hỏi: "Dọc đường anh em bàn tán với nhau chuyện gì thế?" Chúa hỏi là 'bàn tán' cho nó nhẹ nhàng thôi, chứ thực ra là các cụ nhà mình vừa cãi nhau một trận cũng tương đối đấy!

Cụ Giám mục Giacôbê đã có kinh nghiệm về sự cãi nhau, ghen tương là không tốt, là nguy hiểm, nên trong thư cụ viết cho bà con ta như sau: "Đâu có ghen tương và tranh chấp, đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa... Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải bởi điều này sao: là chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em: anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ghen ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột nhau, gây chiến với nhau" (x. Gc 3,16; 4,1-2).

Tại sao các Thánh Tông đồ lại cãi nhau để tranh giành quyền bính, vai vế cao thấp, mà lại không ai dám tranh nhau về việc phục vụ? Mạnh Tử cho rằng: "nhân chi hoạn, tại hiếu vi nhân sư", nghĩa là: cái bệnh của người đời là hay thích làm thầy thiên hạ. Cha Henri Nouwen đã nói: "Chúng ta đã không ngừng bị cám dỗ dưới quyền lực thay thế cho tình yêu. Chúa Giêsu đã trải qua cơn cám dỗ ấy một cách vô cùng đau thương, từ sa mạc đến thập giá. Còn lịch sử dài và đau thương của Giáo Hội là lịch sử của những con người chọn lựa quyền lực thay cho tình yêu, chọn lựa thống trị thay cho thập giá, chọn lựa làm lãnh đạo thay cho được lãnh đạo". Thánh Phaolô đã có kinh nghiệm và mời gọi người môn đệ thân yêu của mình là Timôthê hãy can đảm: "Con hãy làm việc lao nhọc và chịu đựng như là một người lính tốt của Chúa Kitô" (2 Tm 2,3).

Nhưng theo Chúa Giêsu, quyền bính và phục vụ phải gắn liền với nhau làm nên bản chất người môn đệ. Chúa Giêsu luôn phải vất vả dạy lại bài học và môn học khó nhất trên đời, nhưng lại là môn học phổ thông nhất (giống như văn hoá phổ cập), đó là môn học yêu thương phục vụ: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người". Thánh Phêrô đã ngỡ ngàng vì Thầy quỳ xuống rửa chân cho mình và tất cả anh em. Nhưng Chúa đã nói trước rằng: "Thầy sống giữa anh em như người đầy tớ". Môn học này người ta phải học cả đời mà không có ngày ra trường, mãn khoá; vì thực sự học tới chết mà vẫn không xong, không đạt kết quả để đến khi vào thiên đàng vẫn bị loại ra cả đống! Quả thật đây là môn khó học, khó dạy và khó thực hành nhất trên đời. Nó nằm trong chương trình quy hoạch tổng thể bao trùm mọi công việc của người môn đệ mà Chúa Giêsu luôn đòi hỏi gay gắt, quyết liệt.

Theo Chúa, bao gồm cả sự cho đi tận tuyệt, trọn vẹn. Chúa không đòi hỏi chúng ta phải là con người siêu việt. Điều đòi hỏi đơn giản là người ta trước hết phải nhận biết những yếu đuối của mình để được cứu chuộc: "Sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (2 Cr 12,9).

Để hiểu được Chúa Giêsu thì cần phải chịu đau khổ với Ngài, theo Ngài bằng sự từ bỏ con người của mình. Ai thực sự hiểu được Chúa Giêsu, người đó chính là vị tử đạo, tử đạo không chỉ bằng lời nói mà còn bằng những hành động nữa, người đó đã quảng diễn cuộc đời của mình cho đến cuối cùng. Chúng ta sẽ được hoà nhập vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu trong chiều kích chúng ta sẵn sàng chịu đau khổ với Ngài, và lúc đó chúng ta sẽ không hổ thẹn về Ngài và về những lời Ngài.

Chính vì người ta quên mất mình là môn đệ Chúa Kitô nên cứ mải mê phấn đấu đạt được những tiêu chuẩn kiểu thời đại thực dụng. Chính vì đánh mất hương vị của tình yêu đích thực nên người ta ra sức tìm những vỏ bọc hời hợt, giả tạo để che lấp. Dáng dấp của sự phục vụ hôm nay có mang theo nhiều thứ tinh vi khôn lường của ma quỷ. Có khi người ta còn hy sinh nhiều hơn cho kế hoạch ấy mà lại cứ tưởng là đang phụng sự Chúa! Biết bao nhiêu sự tranh đấu, tranh chấp, dấn thân sai mục tiêu. Đức hồng y Carlo Martini nói: "Điều cơ bản là không phải đấu tranh tới chỗ đổ máu, mà là tìm được sự hoà thuận và những đường lối thích hợp".

"Nguy cơ cho giáo hội ngày nay không phải là vì bách hại mà là đánh mất hương vị của mình, thiếu những người làm chứng rõ rằng thánh giá, toàn thánh giá trong Chúa Kitô có thể nên vinh hiển, nguồn mạch cứu độ" (ĐHY. Josef Tomko giảng tại Đài Loan 23/11/2009). Chúng ta đánh mất hương vị của mình khi chối từ đau khổ; khi không dám ghé vai vác thập giá được trao ban ngoài ý muốn.

Những thứ chủ nghĩa và các mối quan hệ công chúng trong xã hội hiện đại hôm nay đang làm chao đảo và điên đảo con người. Tính 'hợp pháp tinh vi' của quyền hành và sự hưởng thụ cá nhân đang lôi kéo chúng ta xa rời tâm tình dấn thân phục vụ và sự hy sinh vô vụ lợi của người tông đồ. Những sự bao che, ngụy biện của một 'lương tâm có vấn đề' đang lấn lướt cuộc sống bình an của chúng ta từ hành vi cử chỉ nhỏ nhặt cho tới những ứng xử hằng ngày. Thánh Augustinô nhận định: "Trong đời sống người kitô hữu, có một cuộc chiến đấu giữa hai thứ tình yêu: yêu Thiên Chúa cho đến từ bỏ bản thân mình và yêu bản thân cho đến nỗi chối bỏ Thiên Chúa". Đó là sự thật luôn được chứng minh cụ thể.

Thánh Têrêsa Avila nói: "Chúa không cần việc làm của chúng ta, Người chỉ muốn tình yêu thúc đẩy những công việc ấy". Còn Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu thì nói: "Thiên Chúa chẳng cần đến việc làm của chúng ta nhưng Người khát tình yêu của chúng ta". Thiên Chúa không chờ đợi nơi chúng ta những việc làm, những hoạt động, sản phẩm của một việc lành nếu không làm vì tình yêu. Thánh Gioan Thánh Giá bảo: "Tình yêu luôn biết lợi dụng tất cả, điều lành cũng như điều dữ". Tình yêu biết lợi dụng những cảm động cũng như những khô khan, những tư tưởng cũng như những trống rỗng, nhân đức cũng như tội lỗi.

Thực trạng của đời sống tu trì hôm nay, cái làm cho người ta ngại sống không phải là nếp sống khó nghèo mà là những chuyện khác. Chuyện khác đó là những đối diện trực tiếp trong các mối tương giao con người trong một thời đại đang quan niệm tự do dân chủ, tự do nhân quyền; khiến mình dù trong bậc tu cỡ nào cũng phải đòi cho bằng được một chút quyền mà quên mẫu gương Thầy Giêsu: "Dù là Thiên Chúa nhưng không nhất thiết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa... đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá". Đó là điều chính yếu trong đời dâng hiến phải có, nếu không chỉ là lối sống vô nghĩa hay sống để lừa đảo, tranh giành hơn thua với nhau mà thôi.

Giáo dân càng ngày càng đòi hỏi sự phục vụ của chúng ta ở mức độ cao. Và xem ra tương quan cuộc sống con người hôm nay nhiều khi được nhìn như một siêu thị để mà chọn lựa và bình phẩm hàng hoá. Do đó, đôi khi người giáo dân cắm cúi đi tìm nơi người tu hành một sự nâng đỡ vật chất và chỉ coi đó là tiêu chuẩn cao để đánh giá bậc tu hành. Đó là điều sai lầm. Cần phải chỉnh đốn và giáo dục cho họ ý thức lại cho đúng. Bởi nó sẽ dẫn tới hậu quả không tốt cho họ và cho chính nhà tu hành. Quả thật, cũng có phần đáng sợ khi cuộc sống chỉ coi nhau như món hàng hay sự giá trị về mặt kinh tế: khi nào còn tốt thì sử dụng khi hết hạn thì vất đi. Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II chia sẻ: "Sự ác trong thời đại chúng ta trước hết hệ tại ở chỗ hạ giá và tầm thường hoá tính độc đáo duy nhất nền tảng của mỗi một con người. Cái ác này không chỉ ở trên bình diện đạo đức nhưng sâu xa hơn, trên bình diện hữu thể. Đối diện với cái ác này, cái ác mà những hệ tư tưởng vô thần cổ súy, chúng ta phải chống lại, không chỉ bằng những tranh biện vô bổ nhưng phải tìm cách 'khôi phục' huyền nhiệm về con người như một ngôi vị" (Hiệp Thông số 64/2011, tr.171).

"Giáo Hội phục vụ tất cả những gì làm nên cuộc sống con người, trong lao động, trong gia đình, trong xã hội, để tất cả được hoàn thành trọn vẹn cho lợi ích của con người. Đó không phải là một chiến thuật để lôi kéo họ về với Giáo Hội. Nhưng đó là một dịch vụ Kitô giáo (service Chrétien) để cho con người được sống và được hạnh phúc tràn đầy. Với danh hiệu đó, người kitô hữu, giáo dân và linh mục phải có mặt và hoạt động trọn vẹn và chân thành trong chính cuộc sống của thế giới" (Hồng y François Marty).

Đức Giám mục Tổng thư ký xuất sắc của HĐGM tiên khởi là thánh Gioan Tông đồ đã dám viết về người bạn của mình là ông Giám mục Giuđa đang giữ chức Chủ tịch Uỷ Ban Bác Aí Xã Hội trong câu chuyện xức dầu thơm tại Bêtania như sau: "Y (Giuđa) giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung chứ không phải là để lo cho người nghèo" (Ga 12, 5-6). Cũng may Giuđa chết trước Gioan, chứ nếu ông mà đọc được điều này thì Gioan cũng bị khốn khổ đấy!

Hãy bắt chước thánh Phaolô mà thú nhận rằng: "Thật vậy, tất cả chúng ta nữa, xưa kia chúng ta cũng ngu xuẩn, không vâng lời, lầm lạc, làm nô lệ cho đủ thứ đam mê và khoái lạc, sống trong gian ác và ganh tị, đáng ghét và ghen ghét lẫn nhau. Nhưng Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần để chúng ta được tái sinh và đổi mới" (Tt 3,3-5). Thánh nhân còn lặp lại điều ấy trong thư gửi tín hữu Êphêsô: "Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành những ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn. Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, như những người khác. Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã Người cũng cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ" (Ep 2,3-6).

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Nguồn: Công Giáo Việt Nam

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI= BAI GIAO LY NGAY THU TU(8A 9) PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 9)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.03.2012.

CẦN CÓ THINH LẶNG ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong một loạt các bài giáo lý trước đây, tôi đã đề cập đến động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu và tôi không muốn kết thúc sự suy niệm nầy mà không ngắn ngủi dừng lại trên chủ đề sự thinh lặng của Chúa Giêsu, rất quan trọng trong mối tưong quan với Thiên Chúa.

Trong Huấn Dụ Tông Đồ Verbum Dei sau Thượng Hội Đồng, tôi đã đề cập đến vai trò của việc thinh lặng trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhứt là trên đồi Golgota:

- " Ở đây chúng ta được đặt trước Ngôi Lời trên thập giá " ( 1 Cọr 1, 18). Ngôi Lời giữ thinh lặng, trở thành sự thinh lặng của cái chết, bởi vì Người đã " nói hết " về mình, trước khi trở nên thinh lặng. Người không còn giữ lấy một điều gì nữa về những gì cần phải thông báo " ( n. 12).

Trước cái thinh lặng đó của thập giá,Thánh Maximo vị Thầy Cáo Giải đặt trên môi Mẹ Thiên Chúa cách diễn tả sau đây:

- " Không có lời nói, Lời của Chúa Cha, Đấng đã làm nên mọi tạo vật có tiếng nói; không có sự sống

đôi mắt nhắm lại của Đấng bằng lời nói và chỉ cần một dấu hiệu là làm cho cử động tất cả những gì có sự sống " ( La vita di Maria, n. 89. Testi mariani del primo millennio, 2, Roma 1989, p. 253).

1 - Thập giá của Chúa Ki Tô không những nói lên sự thinh lặng của Chúa Giêsu như là lời nói sau cùng của Người với Chúa Cha, nhưng còn mạc khải rằng Thiên Chúa nói bằng thinh lặng:

- " Sự thinh lặng của Thiên Chúa, cảm tưởng kinh nghiệm sự xa vời của Đấng Toàn Năng và Cha là giai đoạn quyết định trên con đường trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên gỗ của thập giá, Người đã than van vì cơn đau đớn đã tạo nên cho Người do việc thinh lặng đó: " Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con " ( Mc 15, 34; Mt 27, 46)-

- " Tiếp tục tiến thêm lên trong đức vâng lời cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, trong cơn tối tăm của cái chết, Chúa Giêsu đã kêu lên Chúa Cha. Người phó thác cho Chúa Cha, trong thời điểm chuyển tiếp, qua cái chết đến cuộc sống đời đời:" Lạy Cha, trong tay Cha, con phó thác hồn con " ( Lc 23, 46) ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini, 21).

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải sâu xa trạng thái con người đang cầu nguyện và thượng đỉnh của lời cầu nguyện.

Sau khi lắng nghe và nhận biết được Lời Chúa, chúng ta cũng phải biết đo lường chúng ta với sự thinh lặng của Chúa, đó cũng là cách diễn tả của chính Lời Chúa.

Tiến trình diễn biến lời nói và thinh lặng của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhứt là trên thập giá, cũng có liên hệ đến cuộc đời cầu nguyện của chúng ta theo hai chiều hướng.

a) Chiếu hướng thứ nhứt là những gì có liên quan đến việc đón nhận Lời Chúa.

Chúng ta cần có sự thinh lặng nội tâm cũng như bên ngoài, để cho Lời Chúa có thể được lắng nghe . Đây là một điểm đặc biệt khó khăn đối với chúng ta trong thời đại nầy. Thật vậy, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó không có gì dễ dàng cho việc đón nhận; đúng hơn, nhiều khi chúng ta có cảm tưởng mình phải lo sợ, khi phải tách rời dầu một giây lát khỏi dòng sông tràn ngập lời nói và hình ảnh ấn dấu và đầy ứ các ngày tháng của chúng ta.

Bởi đó trong Huấn Du Verbum Dei được đề cập, tôi đã nhắc đến việc cần thiết phải huấn luyện chúng ta hiểu biết giá trị của thinh lặng:

- " Khám phá ra trở lại tầm mức trọng tâm Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng có nghĩa là khám phá ra lại ý nghĩa của việc tập trung tư tưởng và sự yên lặng nội tâm.

Truyền thống cao cả của các Giáo Phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Ki Tô được liên kết với sự thinh lặng và chỉ có trong thinh lặng Lời Chúa mới tìm được nơi cư ngụ trong chúng ta, như đã xảy ra cho Mẹ Maria, không thể so sánh được là người phụ nữ của Lời Chúa và của thinh lặng" ( n. 66).

Nguyên lý nầy - không có thinh lặng không thể nghe thấy được, không thể lắng nghe được, không thể đón nhận được một lời nói nào - có giá trị cho công việc cầu nguyện nhứt là cá nhân, mà cũng cho các công việc phung vụ của chúng ta: bởi vì để tạo điều kiện dễ dàng cho viêc lắng nghe chính đáng, các buổi phụng vụ cũng phải có được dồi dào những lúc thinh lặng và đón nhận không bằng lời nói.

Đó cũng là điều lưu ý có ý nghĩa của Thánh Augustino:

- " Verbo crescente, verbo deficunt " ( Khi Lời Chúa tăng trưởng lên, lời nói của con người bị giảm thiểu bớt đi )( cfr. Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677).

Các Phúc Âm thường trình bày cho chúng ta, nhứt là trong những lựa chọn quyết định, Chúa Giêsu lui về nơi vắng vẻ một mình, tách rời khỏi đoàn lũ dân chúng và cả khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng và sống mối liên hê con cái của mình với Thiên Chúa.

Sự thinh lặng có khả năng đào được một khoản không gian nội tâm trong sâu thẩm của chính chúng ta, để cho Thiên Chúa cư ngụ ở đó, để cho Lời Người ở lại với chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm sâu gốc rễ vào trong tâm thức chúng ta và trong con tim chúng ta, và làm sống động đời sống chúng ta.

Như vậy chiều hướng thứ nhứt là làm cho mình tràn ngập sự thinh lặng, mở rộng mình ra để lắng nghe , mở rộng chúng ta cho phía bên kia, cho Lời Chúa.

b) Nhưng cũng có một chiều hướng thứ hai, đó là sự quan trọng của thinh lặng cho việc cầu nguyện.

Thật vậy, không phải chỉ có sự thinh lặng của chúng ta khiến chúng ta sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa. Bởi lẽ thường khi trong việc cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta có cảm nhận dường như mình bị bỏ rơi , cảm nhận như mình không được Chúa lắng nghe và không trả lời lại.

Nhưng việc Chúa thinh lặng đó, như đã xảy ra ngay cả đối với Chúa Giêsu, không phải là dấu chứng sự khiếm diện của Người. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe , ngay cả trong tăm tối của đau khổ, khước từ và đơn độc lẻ loi.

Chúa Giêsu trấn an các mon đệ và mỗi người chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ những gì cần thiết cho chúng ta bất cứ lúc nào trong đời sống chúng ta. Người dạy các môn đệ:

- " Khi cầu nguyện, anh em đừng lai nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chưóc họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " ( Mt 6, 7-8).

Bởi đó một tâm hồn chăm chú, thinh lặng, rộng mở có giá trị hơn những lời nói.Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong thầm kín của chúng ta, biết rõ hơn cả chúng ta, và thương yêu chúng ta: biết đdược điều đó phải là những gì đủ rồi.

Trong Thánh Kinh, kinh nghiệm của Giob có ý nghĩa đặc biệt đối với những gì vừa kể. Con người đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi bị mất đi tất cả: các người thân trong gia đình, của cải, bạn bè, sức khoẻ: Chúng ta có cảm tưởng rằng thái độ của Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi, hoàn toàn thinh lặng.

Dầu vậy, Giob trong mối tương quan với Chúa, nói với Chúa, kêu van lớn tiếng lên Chúa. Trong lời cầu nguyện của ông, mặc cho tất cả sự việc xảy ra, ông vẫn còn giữ nguyên vẹn đức tin và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và thái độ thinh lặng của Chúa. Và như vậy, sau cùng, trong lúc van lên với Đấng Tạo Hoá, ông có thể kết luận:

- " Trước kia con chỉ biết về Ngài, nhờ người ta nói lai. nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến " ( Gb 42, 51).

Dường như hầu hết chúng ta biết được Chúa chỉ nhờ nghe nói lại .Nhưng bao nhiêu chúng ta rộng mở con người chúng ta ra cho sự thinh lặng của Người và cho sự thinh lặng của chúng ta, chúng ta càng được bắt đầu hơn bấy nhiêu thực sự biết được Người.Thái độ tin cậy thượng đỉnh đó mở rộng mình ra để tiép xúc được sâu đậm với Chúa là sự tin cậy trưởng thành trong thinh lặng.

Thánh Phanxicô Saverio cầu nguyện bằng cách nói với Chúa:

- " Con kính mến Chúa, không phải vì Chúa có thể cho con thiên đàng hay lên án phạt con xuống hoả ngục, mà bởì vì Chúa là Chúa của con. Con yêu mến Chúa, vì Chúa là Chúa ".

Trong khi khởi đầu kết thúc những dòng suy niệm về công cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu, tôi nhớ lại một vài điều huấn dạy của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo:

- " Biến cố cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta hoàn hảo nơi Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Tìm hiểu việc cầu nguyện của Người, qua những điều mà các nhân chứng của Người nói cho chúng ta trong Phúc Âm, là tiến gần đến Chúa Giêsu như bụi gai đang nóng cháy: trước hết chúng ta chiêm ngắm Người, trong khi Người cầu nguyện, kế đến chúng ta lắng nghe Người như Người dạy chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, sau cùng biết được Người nhậm lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào " ( n. 2598).

Trong Tổng Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( Compendio del Catechismo della Chiesa Cattolica)

chúng ta gặp được một câu trả lời rõ ràng:

- " Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bằng Kinh Lạy Cha ",

dĩ nhiên đó là động tác trung tâm điểm của lời huấn dạy phải cầu nguyện như thế nào.

Nhưng với động tác cầu nguyện đó, ngoài ra nội dung, Người tỏ ra cho chúng ta biết thái độ phải có cho một lời cầu nguyện đích thực: đó là

- sự trong sạch của con tim, đang tìm kiếm Vương Quốc của Thiên Chúa và sự tha thứ đối với kẻ thù địch;

- lòng tin cậy gan dạ và con cái vượt qua bên kia những gì chúng ta cảm nhận được và có thể hiểu biết được;

- sự tỉnh thức bảo vệ người môn đệ khỏi cơn cám dỗ ( n. 544).

Dọc theo các Phúc Âm, chúng ta đã thấy Chúa, đối với lời cầu nguyện của chúng ta,Người là Đấng đối thoại, thân hữu, chứng nhân và thầy dạy bảo cho chúng ta.

Nơi Chúa Giêsu điều mới mẻ cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa được mạc khải cho chúng ta: đó là lời cầu nguyện của con cái, mà Chúa Cha đang mong đợi ở con cái Người.

Và nơi Chúa Giêsu chúng ta

- biết được thế nào lời cầu nguyện bền bĩ giúp mình giải thích được cuộc sống của mình,

- biết được phải có thái độ lựa chọn nào , nhận biết và đón nhận ơn gọi của mình , khám phá ra được tài năng mà Chúa ban cho mình, biết chu toàn thánh ý Người mỗi ngày , là con đường duy nhứt để thực hiện được cuộc sống của mình.

Chúng ta thường lo lắng về hiệu năng của động tác và các kết quả thiết thực mà chúng ta đạt được, Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ dạy cho chúng ta phải biết dừng lại , phải biết sống những giây phút thân tình với Chúa, " bằng cách tách mình " ra khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt của mỗi ngày, để lắng nghe, để đi đến tận " cội rễ " nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống.

Một trong những giây phút đẹp nhứt trong công cuôc cầu nguyện của Chúa Giêsu, đó là khi, cần chạm trán với bệnh tật, âu lo và giới hạn của những kẻ đang đối thoại với Người, Người hướng về Cha người bằng lời cầu nguyện và như vậy dạy cho những ai đang ở chung quanh Người biết đâu là nơi phải tìm nguồn mạch để có được hy vọng và cứu độ. Tôi đã nhắc nhớ, như là mẫu gương cảm động, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước mộ của Lazzaro.Tác giả Phúc Âm Gioan thuật lại:

- " Rồi người ta đem phiến đá đi. Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: " Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong, Người kêu lớn tiếng: " Anh Lazzaro, hãy ra khỏi mộ " ( Jn 12, 41-43).

Nhưng điểm sâu đậm nhứt trong lời nguyện lên Chúa Cha, Chúa Giêsu đạt đến trong thời điểm cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn, trong đó Người thốt lên tiếng " xin vâng " đối với đồ án của Thiên Chúa và cho thấy làm thế nào ý muốn của con người đạt được đỉnh hoàn hảo của mình trong việc hội nhập hoàn toàn vào thánh ý của Chúa chớ không phải trong trạng thái đối ngược lại.

Trong lời nguyện của Chúa Giêsu, trong tiếng kêu thét trên thập giá lên Cha Người, đều quy tựu hội nhập vào " tất cả những âu lo của nhân loại ở mọi thời đại, con người đang là nô lệ của tội lỗi và cái chết, tất cả những lời van xin và can thiệp của dòng lịch sử cứu độ. Và kía Chúa Cha đón nhận và, vượt qua cả bên kia mọi hy vọng, Người làm cho Chúa Con sống lại. Như vậy biến cố cầu nguyện được kết thúc hoàn hảo trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ " ( Catechismo della Chiesa Cattolica).

Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy tin cậy xin Chúa cho chúng ta biết sống cuộc hành trình cầu nguyện con cái của chúng ta, học hỏi nơi Con Một, trở thành người cho chúng ta, phương thức như thế nào chúng ta phải hướng về về Chúa.

Những lời của Thánh Phaolồ nói vê đời sống Ki Tô hữu một cách tổng quát, cũng có giá trị cho lời cầu nuyện của chúng ta:

- " Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " ( Rom 5, 38-39).

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Nhật báo Avvenire, 08.03.2012, trg.21).

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 9)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.03.2012.

CẦN CÓ THINH LẶNG ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong một loạt các bài giáo lý trước đây, tôi đã đề cập đến động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu và tôi không muốn kết thúc sự suy niệm nầy mà không ngắn ngủi dừng lại trên chủ đề sự thinh lặng của Chúa Giêsu, rất quan trọng trong mối tưong quan với Thiên Chúa.

Trong Huấn Dụ Tông Đồ Verbum Dei sau Thượng Hội Đồng, tôi đã đề cập đến vai trò của việc thinh lặng trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhứt là trên đồi Golgota:

- " Ở đây chúng ta được đặt trước Ngôi Lời trên thập giá " ( 1 Cọr 1, 18). Ngôi Lời giữ thinh lặng, trở thành sự thinh lặng của cái chết, bởi vì Người đã " nói hết " về mình, trước khi trở nên thinh lặng. Người không còn giữ lấy một điều gì nữa về những gì cần phải thông báo " ( n. 12).

Trước cái thinh lặng đó của thập giá,Thánh Maximo vị Thầy Cáo Giải đặt trên môi Mẹ Thiên Chúa cách diễn tả sau đây:

- " Không có lời nói, Lời của Chúa Cha, Đấng đã làm nên mọi tạo vật có tiếng nói; không có sự sống

đôi mắt nhắm lại của Đấng bằng lời nói và chỉ cần một dấu hiệu là làm cho cử động tất cả những gì có sự sống " ( La vita di Maria, n. 89. Testi mariani del primo millennio, 2, Roma 1989, p. 253).

1 - Thập giá của Chúa Ki Tô không những nói lên sự thinh lặng của Chúa Giêsu như là lời nói sau cùng của Người với Chúa Cha, nhưng còn mạc khải rằng Thiên Chúa nói bằng thinh lặng:

- " Sự thinh lặng của Thiên Chúa, cảm tưởng kinh nghiệm sự xa vời của Đấng Toàn Năng và Cha là giai đoạn quyết định trên con đường trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên gỗ của thập giá, Người đã than van vì cơn đau đớn đã tạo nên cho Người do việc thinh lặng đó: " Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con " ( Mc 15, 34; Mt 27, 46)-

- " Tiếp tục tiến thêm lên trong đức vâng lời cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, trong cơn tối tăm của cái chết, Chúa Giêsu đã kêu lên Chúa Cha. Người phó thác cho Chúa Cha, trong thời điểm chuyển tiếp, qua cái chết đến cuộc sống đời đời:" Lạy Cha, trong tay Cha, con phó thác hồn con " ( Lc 23, 46) ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini, 21).

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải sâu xa trạng thái con người đang cầu nguyện và thượng đỉnh của lời cầu nguyện.

Sau khi lắng nghe và nhận biết được Lời Chúa, chúng ta cũng phải biết đo lường chúng ta với sự thinh lặng của Chúa, đó cũng là cách diễn tả của chính Lời Chúa.

Tiến trình diễn biến lời nói và thinh lặng của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhứt là trên thập giá, cũng có liên hệ đến cuộc đời cầu nguyện của chúng ta theo hai chiều hướng.

a) Chiếu hướng thứ nhứt là những gì có liên quan đến việc đón nhận Lời Chúa.

Chúng ta cần có sự thinh lặng nội tâm cũng như bên ngoài, để cho Lời Chúa có thể được lắng nghe . Đây là một điểm đặc biệt khó khăn đối với chúng ta trong thời đại nầy. Thật vậy, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó không có gì dễ dàng cho việc đón nhận; đúng hơn, nhiều khi chúng ta có cảm tưởng mình phải lo sợ, khi phải tách rời dầu một giây lát khỏi dòng sông tràn ngập lời nói và hình ảnh ấn dấu và đầy ứ các ngày tháng của chúng ta.

Bởi đó trong Huấn Du Verbum Dei được đề cập, tôi đã nhắc đến việc cần thiết phải huấn luyện chúng ta hiểu biết giá trị của thinh lặng:

- " Khám phá ra trở lại tầm mức trọng tâm Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng có nghĩa là khám phá ra lại ý nghĩa của việc tập trung tư tưởng và sự yên lặng nội tâm.

Truyền thống cao cả của các Giáo Phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Ki Tô được liên kết với sự thinh lặng và chỉ có trong thinh lặng Lời Chúa mới tìm được nơi cư ngụ trong chúng ta, như đã xảy ra cho Mẹ Maria, không thể so sánh được là người phụ nữ của Lời Chúa và của thinh lặng" ( n. 66).

Nguyên lý nầy - không có thinh lặng không thể nghe thấy được, không thể lắng nghe được, không thể đón nhận được một lời nói nào - có giá trị cho công việc cầu nguyện nhứt là cá nhân, mà cũng cho các công việc phung vụ của chúng ta: bởi vì để tạo điều kiện dễ dàng cho viêc lắng nghe chính đáng, các buổi phụng vụ cũng phải có được dồi dào những lúc thinh lặng và đón nhận không bằng lời nói.

Đó cũng là điều lưu ý có ý nghĩa của Thánh Augustino:

- " Verbo crescente, verbo deficunt " ( Khi Lời Chúa tăng trưởng lên, lời nói của con người bị giảm thiểu bớt đi )( cfr. Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677).

Các Phúc Âm thường trình bày cho chúng ta, nhứt là trong những lựa chọn quyết định, Chúa Giêsu lui về nơi vắng vẻ một mình, tách rời khỏi đoàn lũ dân chúng và cả khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng và sống mối liên hê con cái của mình với Thiên Chúa.

Sự thinh lặng có khả năng đào được một khoản không gian nội tâm trong sâu thẩm của chính chúng ta, để cho Thiên Chúa cư ngụ ở đó, để cho Lời Người ở lại với chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm sâu gốc rễ vào trong tâm thức chúng ta và trong con tim chúng ta, và làm sống động đời sống chúng ta.

Như vậy chiều hướng thứ nhứt là làm cho mình tràn ngập sự thinh lặng, mở rộng mình ra để lắng nghe , mở rộng chúng ta cho phía bên kia, cho Lời Chúa.

b) Nhưng cũng có một chiều hướng thứ hai, đó là sự quan trọng của thinh lặng cho việc cầu nguyện.

Thật vậy, không phải chỉ có sự thinh lặng của chúng ta khiến chúng ta sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa. Bởi lẽ thường khi trong việc cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta có cảm nhận dường như mình bị bỏ rơi , cảm nhận như mình không được Chúa lắng nghe và không trả lời lại.

Nhưng việc Chúa thinh lặng đó, như đã xảy ra ngay cả đối với Chúa Giêsu, không phải là dấu chứng sự khiếm diện của Người. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe , ngay cả trong tăm tối của đau khổ, khước từ và đơn độc lẻ loi.

Chúa Giêsu trấn an các mon đệ và mỗi người chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ những gì cần thiết cho chúng ta bất cứ lúc nào trong đời sống chúng ta. Người dạy các môn đệ:

- " Khi cầu nguyện, anh em đừng lai nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chưóc họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " ( Mt 6, 7-8).

Bởi đó một tâm hồn chăm chú, thinh lặng, rộng mở có giá trị hơn những lời nói.Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong thầm kín của chúng ta, biết rõ hơn cả chúng ta, và thương yêu chúng ta: biết đdược điều đó phải là những gì đủ rồi.

Trong Thánh Kinh, kinh nghiệm của Giob có ý nghĩa đặc biệt đối với những gì vừa kể. Con người đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi bị mất đi tất cả: các người thân trong gia đình, của cải, bạn bè, sức khoẻ: Chúng ta có cảm tưởng rằng thái độ của Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi, hoàn toàn thinh lặng.

Dầu vậy, Giob trong mối tương quan với Chúa, nói với Chúa, kêu van lớn tiếng lên Chúa. Trong lời cầu nguyện của ông, mặc cho tất cả sự việc xảy ra, ông vẫn còn giữ nguyên vẹn đức tin và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và thái độ thinh lặng của Chúa. Và như vậy, sau cùng, trong lúc van lên với Đấng Tạo Hoá, ông có thể kết luận:

- " Trước kia con chỉ biết về Ngài, nhờ người ta nói lai. nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến " ( Gb 42, 51).

Dường như hầu hết chúng ta biết được Chúa chỉ nhờ nghe nói lại .Nhưng bao nhiêu chúng ta rộng mở con người chúng ta ra cho sự thinh lặng của Người và cho sự thinh lặng của chúng ta, chúng ta càng được bắt đầu hơn bấy nhiêu thực sự biết được Người.Thái độ tin cậy thượng đỉnh đó mở rộng mình ra để tiép xúc được sâu đậm với Chúa là sự tin cậy trưởng thành trong thinh lặng.

Thánh Phanxicô Saverio cầu nguyện bằng cách nói với Chúa:

- " Con kính mến Chúa, không phải vì Chúa có thể cho con thiên đàng hay lên án phạt con xuống hoả ngục, mà bởì vì Chúa là Chúa của con. Con yêu mến Chúa, vì Chúa là Chúa ".

Trong khi khởi đầu kết thúc những dòng suy niệm về công cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu, tôi nhớ lại một vài điều huấn dạy của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo:

- " Biến cố cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta hoàn hảo nơi Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Tìm hiểu việc cầu nguyện của Người, qua những điều mà các nhân chứng của Người nói cho chúng ta trong Phúc Âm, là tiến gần đến Chúa Giêsu như bụi gai đang nóng cháy: trước hết chúng ta chiêm ngắm Người, trong khi Người cầu nguyện, kế đến chúng ta lắng nghe Người như Người dạy chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, sau cùng biết được Người nhậm lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào " ( n. 2598).

Trong Tổng Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( Compendio del Catechismo della Chiesa Cattolica)

chúng ta gặp được một câu trả lời rõ ràng:

- " Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bằng Kinh Lạy Cha ",

dĩ nhiên đó là động tác trung tâm điểm của lời huấn dạy phải cầu nguyện như thế nào.

Nhưng với động tác cầu nguyện đó, ngoài ra nội dung, Người tỏ ra cho chúng ta biết thái độ phải có cho một lời cầu nguyện đích thực: đó là

- sự trong sạch của con tim, đang tìm kiếm Vương Quốc của Thiên Chúa và sự tha thứ đối với kẻ thù địch;

- lòng tin cậy gan dạ và con cái vượt qua bên kia những gì chúng ta cảm nhận được và có thể hiểu biết được;

- sự tỉnh thức bảo vệ người môn đệ khỏi cơn cám dỗ ( n. 544).

Dọc theo các Phúc Âm, chúng ta đã thấy Chúa, đối với lời cầu nguyện của chúng ta,Người là Đấng đối thoại, thân hữu, chứng nhân và thầy dạy bảo cho chúng ta.

Nơi Chúa Giêsu điều mới mẻ cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa được mạc khải cho chúng ta: đó là lời cầu nguyện của con cái, mà Chúa Cha đang mong đợi ở con cái Người.

Và nơi Chúa Giêsu chúng ta

- biết được thế nào lời cầu nguyện bền bĩ giúp mình giải thích được cuộc sống của mình,

- biết được phải có thái độ lựa chọn nào , nhận biết và đón nhận ơn gọi của mình , khám phá ra được tài năng mà Chúa ban cho mình, biết chu toàn thánh ý Người mỗi ngày , là con đường duy nhứt để thực hiện được cuộc sống của mình.

Chúng ta thường lo lắng về hiệu năng của động tác và các kết quả thiết thực mà chúng ta đạt được, Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ dạy cho chúng ta phải biết dừng lại , phải biết sống những giây phút thân tình với Chúa, " bằng cách tách mình " ra khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt của mỗi ngày, để lắng nghe, để đi đến tận " cội rễ " nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống.

Một trong những giây phút đẹp nhứt trong công cuôc cầu nguyện của Chúa Giêsu, đó là khi, cần chạm trán với bệnh tật, âu lo và giới hạn của những kẻ đang đối thoại với Người, Người hướng về Cha người bằng lời cầu nguyện và như vậy dạy cho những ai đang ở chung quanh Người biết đâu là nơi phải tìm nguồn mạch để có được hy vọng và cứu độ. Tôi đã nhắc nhớ, như là mẫu gương cảm động, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước mộ của Lazzaro.Tác giả Phúc Âm Gioan thuật lại:

- " Rồi người ta đem phiến đá đi. Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: " Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong, Người kêu lớn tiếng: " Anh Lazzaro, hãy ra khỏi mộ " ( Jn 12, 41-43).

Nhưng điểm sâu đậm nhứt trong lời nguyện lên Chúa Cha, Chúa Giêsu đạt đến trong thời điểm cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn, trong đó Người thốt lên tiếng " xin vâng " đối với đồ án của Thiên Chúa và cho thấy làm thế nào ý muốn của con người đạt được đỉnh hoàn hảo của mình trong việc hội nhập hoàn toàn vào thánh ý của Chúa chớ không phải trong trạng thái đối ngược lại.

Trong lời nguyện của Chúa Giêsu, trong tiếng kêu thét trên thập giá lên Cha Người, đều quy tựu hội nhập vào " tất cả những âu lo của nhân loại ở mọi thời đại, con người đang là nô lệ của tội lỗi và cái chết, tất cả những lời van xin và can thiệp của dòng lịch sử cứu độ. Và kía Chúa Cha đón nhận và, vượt qua cả bên kia mọi hy vọng, Người làm cho Chúa Con sống lại. Như vậy biến cố cầu nguyện được kết thúc hoàn hảo trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ " ( Catechismo della Chiesa Cattolica).

Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy tin cậy xin Chúa cho chúng ta biết sống cuộc hành trình cầu nguyện con cái của chúng ta, học hỏi nơi Con Một, trở thành người cho chúng ta, phương thức như thế nào chúng ta phải hướng về về Chúa.

Những lời của Thánh Phaolồ nói vê đời sống Ki Tô hữu một cách tổng quát, cũng có giá trị cho lời cầu nuyện của chúng ta:

- " Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " ( Rom 5, 38-39).

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Nhật báo Avvenire, 08.03.2012, trg.21).

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 9)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.03.2012.

CẦN CÓ THINH LẶNG ĐỂ LẮNG NGHE LỜI CHÚA

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong một loạt các bài giáo lý trước đây, tôi đã đề cập đến động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu và tôi không muốn kết thúc sự suy niệm nầy mà không ngắn ngủi dừng lại trên chủ đề sự thinh lặng của Chúa Giêsu, rất quan trọng trong mối tưong quan với Thiên Chúa.

Trong Huấn Dụ Tông Đồ Verbum Dei sau Thượng Hội Đồng, tôi đã đề cập đến vai trò của việc thinh lặng trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhứt là trên đồi Golgota:

- " Ở đây chúng ta được đặt trước Ngôi Lời trên thập giá " ( 1 Cọr 1, 18). Ngôi Lời giữ thinh lặng, trở thành sự thinh lặng của cái chết, bởi vì Người đã " nói hết " về mình, trước khi trở nên thinh lặng. Người không còn giữ lấy một điều gì nữa về những gì cần phải thông báo " ( n. 12).

Trước cái thinh lặng đó của thập giá,Thánh Maximo vị Thầy Cáo Giải đặt trên môi Mẹ Thiên Chúa cách diễn tả sau đây:

- " Không có lời nói, Lời của Chúa Cha, Đấng đã làm nên mọi tạo vật có tiếng nói; không có sự sống

đôi mắt nhắm lại của Đấng bằng lời nói và chỉ cần một dấu hiệu là làm cho cử động tất cả những gì có sự sống " ( La vita di Maria, n. 89. Testi mariani del primo millennio, 2, Roma 1989, p. 253).

1 - Thập giá của Chúa Ki Tô không những nói lên sự thinh lặng của Chúa Giêsu như là lời nói sau cùng của Người với Chúa Cha, nhưng còn mạc khải rằng Thiên Chúa nói bằng thinh lặng:

- " Sự thinh lặng của Thiên Chúa, cảm tưởng kinh nghiệm sự xa vời của Đấng Toàn Năng và Cha là giai đoạn quyết định trên con đường trần thế của Chúa Con, Ngôi Lời nhập thể. Bị treo trên gỗ của thập giá, Người đã than van vì cơn đau đớn đã tạo nên cho Người do việc thinh lặng đó: " Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài lại bỏ con " ( Mc 15, 34; Mt 27, 46)-

- " Tiếp tục tiến thêm lên trong đức vâng lời cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, trong cơn tối tăm của cái chết, Chúa Giêsu đã kêu lên Chúa Cha. Người phó thác cho Chúa Cha, trong thời điểm chuyển tiếp, qua cái chết đến cuộc sống đời đời:" Lạy Cha, trong tay Cha, con phó thác hồn con " ( Lc 23, 46) ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini, 21).

Kinh nghiệm của Chúa Giêsu trên thập giá mạc khải sâu xa trạng thái con người đang cầu nguyện và thượng đỉnh của lời cầu nguyện.

Sau khi lắng nghe và nhận biết được Lời Chúa, chúng ta cũng phải biết đo lường chúng ta với sự thinh lặng của Chúa, đó cũng là cách diễn tả của chính Lời Chúa.

Tiến trình diễn biến lời nói và thinh lặng của Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhứt là trên thập giá, cũng có liên hệ đến cuộc đời cầu nguyện của chúng ta theo hai chiều hướng.

a) Chiếu hướng thứ nhứt là những gì có liên quan đến việc đón nhận Lời Chúa.

Chúng ta cần có sự thinh lặng nội tâm cũng như bên ngoài, để cho Lời Chúa có thể được lắng nghe . Đây là một điểm đặc biệt khó khăn đối với chúng ta trong thời đại nầy. Thật vậy, thời đại chúng ta là một thời đại, trong đó không có gì dễ dàng cho việc đón nhận; đúng hơn, nhiều khi chúng ta có cảm tưởng mình phải lo sợ, khi phải tách rời dầu một giây lát khỏi dòng sông tràn ngập lời nói và hình ảnh ấn dấu và đầy ứ các ngày tháng của chúng ta.

Bởi đó trong Huấn Du Verbum Dei được đề cập, tôi đã nhắc đến việc cần thiết phải huấn luyện chúng ta hiểu biết giá trị của thinh lặng:

- " Khám phá ra trở lại tầm mức trọng tâm Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng có nghĩa là khám phá ra lại ý nghĩa của việc tập trung tư tưởng và sự yên lặng nội tâm.

Truyền thống cao cả của các Giáo Phụ dạy chúng ta rằng các mầu nhiệm của Chúa Ki Tô được liên kết với sự thinh lặng và chỉ có trong thinh lặng Lời Chúa mới tìm được nơi cư ngụ trong chúng ta, như đã xảy ra cho Mẹ Maria, không thể so sánh được là người phụ nữ của Lời Chúa và của thinh lặng" ( n. 66).

Nguyên lý nầy - không có thinh lặng không thể nghe thấy được, không thể lắng nghe được, không thể đón nhận được một lời nói nào - có giá trị cho công việc cầu nguyện nhứt là cá nhân, mà cũng cho các công việc phung vụ của chúng ta: bởi vì để tạo điều kiện dễ dàng cho viêc lắng nghe chính đáng, các buổi phụng vụ cũng phải có được dồi dào những lúc thinh lặng và đón nhận không bằng lời nói.

Đó cũng là điều lưu ý có ý nghĩa của Thánh Augustino:

- " Verbo crescente, verbo deficunt " ( Khi Lời Chúa tăng trưởng lên, lời nói của con người bị giảm thiểu bớt đi )( cfr. Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677).

Các Phúc Âm thường trình bày cho chúng ta, nhứt là trong những lựa chọn quyết định, Chúa Giêsu lui về nơi vắng vẻ một mình, tách rời khỏi đoàn lũ dân chúng và cả khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng và sống mối liên hê con cái của mình với Thiên Chúa.

Sự thinh lặng có khả năng đào được một khoản không gian nội tâm trong sâu thẩm của chính chúng ta, để cho Thiên Chúa cư ngụ ở đó, để cho Lời Người ở lại với chúng ta, để cho tình yêu đối với Người đâm sâu gốc rễ vào trong tâm thức chúng ta và trong con tim chúng ta, và làm sống động đời sống chúng ta.

Như vậy chiều hướng thứ nhứt là làm cho mình tràn ngập sự thinh lặng, mở rộng mình ra để lắng nghe , mở rộng chúng ta cho phía bên kia, cho Lời Chúa.

b) Nhưng cũng có một chiều hướng thứ hai, đó là sự quan trọng của thinh lặng cho việc cầu nguyện.

Thật vậy, không phải chỉ có sự thinh lặng của chúng ta khiến chúng ta sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa. Bởi lẽ thường khi trong việc cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải đứng trước sự thinh lặng của Thiên Chúa, chúng ta có cảm nhận dường như mình bị bỏ rơi , cảm nhận như mình không được Chúa lắng nghe và không trả lời lại.

Nhưng việc Chúa thinh lặng đó, như đã xảy ra ngay cả đối với Chúa Giêsu, không phải là dấu chứng sự khiếm diện của Người. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe , ngay cả trong tăm tối của đau khổ, khước từ và đơn độc lẻ loi.

Chúa Giêsu trấn an các mon đệ và mỗi người chúng ta rằng Thiên Chúa biết rõ những gì cần thiết cho chúng ta bất cứ lúc nào trong đời sống chúng ta. Người dạy các môn đệ:

- " Khi cầu nguyện, anh em đừng lai nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chưóc họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " ( Mt 6, 7-8).

Bởi đó một tâm hồn chăm chú, thinh lặng, rộng mở có giá trị hơn những lời nói.Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong thầm kín của chúng ta, biết rõ hơn cả chúng ta, và thương yêu chúng ta: biết đdược điều đó phải là những gì đủ rồi.

Trong Thánh Kinh, kinh nghiệm của Giob có ý nghĩa đặc biệt đối với những gì vừa kể. Con người đó chỉ trong một thời gian ngắn ngủi bị mất đi tất cả: các người thân trong gia đình, của cải, bạn bè, sức khoẻ: Chúng ta có cảm tưởng rằng thái độ của Chúa đối với ông là thái độ bỏ rơi, hoàn toàn thinh lặng.

Dầu vậy, Giob trong mối tương quan với Chúa, nói với Chúa, kêu van lớn tiếng lên Chúa. Trong lời cầu nguyện của ông, mặc cho tất cả sự việc xảy ra, ông vẫn còn giữ nguyên vẹn đức tin và sau cùng khám phá ra giá trị kinh nghiệm của mình và thái độ thinh lặng của Chúa. Và như vậy, sau cùng, trong lúc van lên với Đấng Tạo Hoá, ông có thể kết luận:

- " Trước kia con chỉ biết về Ngài, nhờ người ta nói lai. nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến " ( Gb 42, 51).

Dường như hầu hết chúng ta biết được Chúa chỉ nhờ nghe nói lại .Nhưng bao nhiêu chúng ta rộng mở con người chúng ta ra cho sự thinh lặng của Người và cho sự thinh lặng của chúng ta, chúng ta càng được bắt đầu hơn bấy nhiêu thực sự biết được Người.Thái độ tin cậy thượng đỉnh đó mở rộng mình ra để tiép xúc được sâu đậm với Chúa là sự tin cậy trưởng thành trong thinh lặng.

Thánh Phanxicô Saverio cầu nguyện bằng cách nói với Chúa:

- " Con kính mến Chúa, không phải vì Chúa có thể cho con thiên đàng hay lên án phạt con xuống hoả ngục, mà bởì vì Chúa là Chúa của con. Con yêu mến Chúa, vì Chúa là Chúa ".

Trong khi khởi đầu kết thúc những dòng suy niệm về công cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu, tôi nhớ lại một vài điều huấn dạy của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo:

- " Biến cố cầu nguyện được mạc khải cho chúng ta hoàn hảo nơi Ngôi Lời nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Tìm hiểu việc cầu nguyện của Người, qua những điều mà các nhân chứng của Người nói cho chúng ta trong Phúc Âm, là tiến gần đến Chúa Giêsu như bụi gai đang nóng cháy: trước hết chúng ta chiêm ngắm Người, trong khi Người cầu nguyện, kế đến chúng ta lắng nghe Người như Người dạy chúng ta phải cầu nguyện như thế nào, sau cùng biết được Người nhậm lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào " ( n. 2598).

Trong Tổng Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( Compendio del Catechismo della Chiesa Cattolica)

chúng ta gặp được một câu trả lời rõ ràng:

- " Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bằng Kinh Lạy Cha ",

dĩ nhiên đó là động tác trung tâm điểm của lời huấn dạy phải cầu nguyện như thế nào.

Nhưng với động tác cầu nguyện đó, ngoài ra nội dung, Người tỏ ra cho chúng ta biết thái độ phải có cho một lời cầu nguyện đích thực: đó là

- sự trong sạch của con tim, đang tìm kiếm Vương Quốc của Thiên Chúa và sự tha thứ đối với kẻ thù địch;

- lòng tin cậy gan dạ và con cái vượt qua bên kia những gì chúng ta cảm nhận được và có thể hiểu biết được;

- sự tỉnh thức bảo vệ người môn đệ khỏi cơn cám dỗ ( n. 544).

Dọc theo các Phúc Âm, chúng ta đã thấy Chúa, đối với lời cầu nguyện của chúng ta,Người là Đấng đối thoại, thân hữu, chứng nhân và thầy dạy bảo cho chúng ta.

Nơi Chúa Giêsu điều mới mẻ cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa được mạc khải cho chúng ta: đó là lời cầu nguyện của con cái, mà Chúa Cha đang mong đợi ở con cái Người.

Và nơi Chúa Giêsu chúng ta

- biết được thế nào lời cầu nguyện bền bĩ giúp mình giải thích được cuộc sống của mình,

- biết được phải có thái độ lựa chọn nào , nhận biết và đón nhận ơn gọi của mình , khám phá ra được tài năng mà Chúa ban cho mình, biết chu toàn thánh ý Người mỗi ngày , là con đường duy nhứt để thực hiện được cuộc sống của mình.

Chúng ta thường lo lắng về hiệu năng của động tác và các kết quả thiết thực mà chúng ta đạt được, Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu chỉ dạy cho chúng ta phải biết dừng lại , phải biết sống những giây phút thân tình với Chúa, " bằng cách tách mình " ra khỏi cảnh ồn ào náo nhiệt của mỗi ngày, để lắng nghe, để đi đến tận " cội rễ " nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống.

Một trong những giây phút đẹp nhứt trong công cuôc cầu nguyện của Chúa Giêsu, đó là khi, cần chạm trán với bệnh tật, âu lo và giới hạn của những kẻ đang đối thoại với Người, Người hướng về Cha người bằng lời cầu nguyện và như vậy dạy cho những ai đang ở chung quanh Người biết đâu là nơi phải tìm nguồn mạch để có được hy vọng và cứu độ. Tôi đã nhắc nhớ, như là mẫu gương cảm động, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước mộ của Lazzaro.Tác giả Phúc Âm Gioan thuật lại:

- " Rồi người ta đem phiến đá đi. Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: " Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con. Nói xong, Người kêu lớn tiếng: " Anh Lazzaro, hãy ra khỏi mộ " ( Jn 12, 41-43).

Nhưng điểm sâu đậm nhứt trong lời nguyện lên Chúa Cha, Chúa Giêsu đạt đến trong thời điểm cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn, trong đó Người thốt lên tiếng " xin vâng " đối với đồ án của Thiên Chúa và cho thấy làm thế nào ý muốn của con người đạt được đỉnh hoàn hảo của mình trong việc hội nhập hoàn toàn vào thánh ý của Chúa chớ không phải trong trạng thái đối ngược lại.

Trong lời nguyện của Chúa Giêsu, trong tiếng kêu thét trên thập giá lên Cha Người, đều quy tựu hội nhập vào " tất cả những âu lo của nhân loại ở mọi thời đại, con người đang là nô lệ của tội lỗi và cái chết, tất cả những lời van xin và can thiệp của dòng lịch sử cứu độ. Và kía Chúa Cha đón nhận và, vượt qua cả bên kia mọi hy vọng, Người làm cho Chúa Con sống lại. Như vậy biến cố cầu nguyện được kết thúc hoàn hảo trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ " ( Catechismo della Chiesa Cattolica).

Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy tin cậy xin Chúa cho chúng ta biết sống cuộc hành trình cầu nguyện con cái của chúng ta, học hỏi nơi Con Một, trở thành người cho chúng ta, phương thức như thế nào chúng ta phải hướng về về Chúa.

Những lời của Thánh Phaolồ nói vê đời sống Ki Tô hữu một cách tổng quát, cũng có giá trị cho lời cầu nuyện của chúng ta:

- " Đúng vậy, tôi tin chắc rằng: cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương qủy lực, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẩm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta " ( Rom 5, 38-39).

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Nhật báo Avvenire, 08.03.2012, trg.21).

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI= NGUOI VO TOT PDF Print E-mail

 

NGƯỜI VỢ TỐT

Vợ tốt phải hội đủ những điều kiện sau đây:

1- Phải đẹp gái

2- Không kiêu sa

3- Thích ở nhà

4- Lo nội trợ

5- Không cắc cớ chửi chồng con

6- Không phấn son

7- Không nhiều chuyện

8- Không hà tiện

9- Không càm ràm

10- Phải siêng năng

11- Không lười biếng

12- Nói nhỏ tiếng

13- Biết chiều chồng

14- Giỏi nữ công

15- Và gia chánh.

16- Biết làm bánh

17- Nấu ăn ngon

18- Biết dạy con

19- Ứng xử tốt

20- Không quá dốt

21- Không quá khôn

22- Không ôm đồm

23- Không ủy mị

24- Không thiên vị

25- Không cầu kỳ

26- Không quá phì

27- Không quá ốm

28- Không dị hợm

29- Không chanh chua

30- Không se sua

31- Không bẻm mép

32- Không bép xép

33- Không phàn nàn...

34- Không có đâu!

35- Đừng có KIẾM!

__._,_.___



 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI: HOC HOI KINH THANH PDF Print E-mail

Học Hỏi Kinh Thánh

Bạn thân mến,

Nếu như tôi được khuyên bạn một điều, thì tôi xin được khuyên bạn là hãy học hỏi Kinh Thánh. Tại sao? Nếu bạn có hỏi thì thú thực, tôi không có lý lẽ gì cao siêu để giải thích cho bạn, mà tôi cũng chẳng biết làm sao để thuyết phục bạn cho được, nhưng tôi xin được chia xẻ với bạn lý do đã thúc đẩy tôi học hỏi Kinh Thánh.

Một cuối tuần, có lẽ cũng đã hơn hai mươi năm về trước, tôi thấy mình buồn chán vì rảnh rỗi không có gì làm. Tôi vốn là một người rất năng động, ngồi yên là không được, và cuối tuần này cũng vậy. Ði tới đi lui tìm việc, tôi đã quyết định là phải dọn lại cái tủ sách cho gọn ghẽ. Sau hơn hai tiếng đồng hồ sắp xếp, đứng nhìn tủ sách sạch sẽ gọn gàng, tôi cảm thấy rất hài lòng. Ðưa mắt nhìn từng ngăn tủ, từng cuốn sách, lòng tôi thấy vui. Những ý nghĩ miên man bắt đầu tới; từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác, óc tưởng tượng của tôi bắt đầu phiêu du. Rồi cứ thế, tối thả hồn đưa mình về những ngày đầu tiên trên đất Mỹ. Tôi nhớ lại những khó khăn vì ngôn ngữ bất đồng, những vụng dại trong cách cư xử do sự khác biệt trong các phong tục tập quán. Cái gì cũng xa lạ hết, vậy mà bây giờ tôi đã tốt nghiệp đại học. Có công ăn việc làm, có nhà, có xe, có mọi thứ cho những nhu cầu cần thiết. Tôi cảm thấy tự mãn, mà hình như còn hơn tự mãn nữa; tôi thấy như có một chút kiêu hãnh nhen nhúm trong lòng. Tôi tự khen mình, giỏi thật! Rồi như để chứng minh cái giỏi của mình, tôi bắt đầu đếm xem mình đã phải đọc, phải học bao nhiêu cuốn sách để có thể tốt nghiệp đại học. Từ những cuốn toán dầy cộm, đến những cuốn lý, hóa, khoa học vật liệu, tĩnh học, động học, thôi thì đủ các môn, các sách, nhưng tôi bỗng khựng lại, gần như giựt mình, khi tôi đếm đến cuốn Thánh Kinh. Phải rồi, tôi tự nghĩ, mình có đọc cuốn này bao giờ đâu mà đếm! Tôi mua cuốn Thánh Kinh này đã sáu bảy năm về trước; chẳng phải vì tôi muốn đọc, hay vì ngoan đạo, mà vì tôi muốn ủng hộ một cơ quan nào đó mà tôi quên mất, họ bán Sách Thánh để gây quỹ. Tôi đặt cuốn Thánh Kinh này ở ngay giữa tủ sách, ngăn cao nhất và có đèn chiếu sáng. Tôi thấy cuốn Thánh Kinh này gần như hằng ngày nhưng tôi chưa bao giờ đọc nó hết. Ðứng đó nhìn cuốn Thánh Kinh lòng tôi bỗng thấy nao nao. Niềm kiêu hãnh, lòng tự mãn, mọi ý nghĩ, mọi hình ảnh vừa tràn ngập óc tưởng tượng của tôi mấy phút trước tự dưng biến tan. Trong khoảnh khắc, hồn tôi bỗng như trống rỗng. Tôi tự hỏi sao mình chưa đọc cuồn sách này? Từ tiểu học, qua trung học, cho đến hết đại học, chỉ tính sách giáo khoa thôi, tôi đọc, không phải chỉ đọc mà còn phải học nữa, có tới ba trăm cuốn sách. Nếu tính các sách để tham khảo nữa thì có tới bốn trăm, cộng thêm sách vở báo chí để đọc cho vui, các tiểu thuyết vô bổ, tất cả có lẽ tôi đã đọc đến năm sáu trăm cuốn sách; thế mà Kinh Thánh thì tôi chưa đọc bao giờ! Tại sao vậy? Ðứng đó như cây chết, hồn tôi trầm ngâm, tư lự. Tôi thấy như lòng mình dấy lên chút xao xuyến, hơi bồi hồi. Không phải cái xao xuyến của thuở vừa biết yêu; cũng chẳng là sự bồi hồi lúc trông ngóng người tình. Phải rồi..., không phải xao xuyến, cũng chẳng bồi hồi, mà là một tâm tư khó tả. Tôi còn đang miên man với tâm tư mông lung khó tả này, thì một ý nghĩ khác vọt đến làm tôi cảm thấy luyến tiếc. Tôi tiếc cho đời người ngắn ngủi! Sống được trăm năm đã kể là lâu, mà thực ra có mấy người sống được trăm năm! Năm năm đầu là thời thơ ấu. Trong năm năm này, ngoài là nguồn vui cho những người xung quanh, nguồn vui mà chính mình cũng không biết, thì giá trị cuộc đời vào những năm này có gì đâu? Có ai làm gì được cho mình, cho đời? Hai mươi lăm năm kế là thời gian để học, để chuẩn bị cho những năm sắp tới. Ba mươi năm sau là thời gian để vật lộn, để ganh đua, để tìm kiếm. Rồi từ đó, những gì chúng ta tìm được, đạt được bắt đầu phai mờ, bắt đầu dần dần mất giá trị; vậy mà để đạt được những thứ chóng qua này, tôi đã phải đọc, phải học đến mấy trăm cuốn sách. Còn cho cuộc sống mai hậu, cuộc sống vĩnh cửu, thì chỉ có một cuốn Thánh Kinh thôi mà tôi chưa đọc bao giờ. Tôi dại thật! Từ đó tôi bắt đầu đọc và học hỏi Thánh Kinh.

Bạn thân mến, Thánh Kinh khó hiểu thật! Bạn có nhớ là tôi vừa tự khen mình là giỏi không? Tôi đã đọc, học và hiểu cả mấy trăm cuốn sách, thế mà cuốn Thánh Kinh thì tôi chịu không hiểu nổi. Tôi tưởng là tôi không không hiểu vì tôi đọc Kinh Thánh viết bằng Tiếng Mỹ, nhưng khi đọc Kinh Thánh viết bằng Tiếng Việt, tôi cũng chịu chết. Những chữ, những từ dùng trong Kinh Thánh thì tôi hiểu, nhưng ý nghĩa của những việc Chúa làm, những lời Chúa dạy, của những diễn biến, những sự việc xảy ra trong Kinh Thánh thì tôi đã đọc đi đọc lại, đọc đến nản lòng mà có rất nhiều điều tôi vẫn chưa hiểu được. Tôi đã định bụng là phải đầu hàng, nhưng ngay khi tôi nản chí, thì trong tôi như lóe lên một tia sáng. Phải rồi, những sách giáo khoa mà tôi vừa kể ra ở trên, đâu phải tôi đã đọc là hiểu liền được đâu! Tôi cũng đã phải hỏi người này, nhờ người kia giải thích mới hiểu nổi đấy chứ. Thánh Kinh cũng vậy, nếu không hiểu thì bạn phải hỏi. Nhưng hỏi ai đây? Có rất nhiều người được ơn hiểu biết Thánh Kinh để cho chúng ta hỏi, nhưng người có thể giải thích, bất cứ cuốn sách nào, cách đúng nhất, chính là tác giả của cuốn sách đó. Thành ra, ngoài học hỏi Kinh Thánh từ những vị có thẩm quyền về Kinh Thánh, chúng ta còn phải hỏi ngay chính Chúa Giêsu. Tới đây chắc bạn phải phì cười. Hỏi Chúa Giêsu! Làm sao để hỏi Chúa Giêsu? Ðể tôi chia xẻ với bạn nhé. Tôi được một hồng ân, đó là từ khi bắt đầu học hỏi Kinh Thánh thì tôi nhận ra là ỏ gần nhà tôi, trong khoảng 15 dậm, luôn luôn có nhà chầu Thánh Thể thường xuyên (Perpetual Adoration), và tôi đã chọn một giờ chầu mỗi tuần. Ðây là giờ tôi dùng để tâm sự, để than thở, và nhất là để đem mọi thắc mắc của tôi đến để trình bày với Chúa Giêsu. Trong giờ này, có khi tôi chỉ đọc kinh, đọc sách, nhưng phần nhiều thì tôi chỉ ngắm nhìn Thánh Thể Chúa và suy nghĩ về những điều trong Thánh Kinh mà tôi không hiểu. Rồi bạn có biết không? Chính những lúc đó, những lúc mà tôi để hồn đắm chìn trong những đoạn Thánh Kinh khó hiểu, là lúc mà tôi hiểu được, tìm được câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Bạn cứ thử xem. Chúa Giêsu đã không hiện ra bằng xương bằng thịt để nói chuyện với tôi, chắc Ngài cũng không hiện ra như vậy với bạn đâu, nhưng tôi dám chắc là ban sẽ được ơn thông hiểu Lời Chúa đúng với đấng bậc của mình. Tôi đã hiểu được gì? Tất nhiên là tôi vẫn chưa hiểu hết được những gì viết trong Kinh Thánh, nhưng những hiểu biết tôi được ban cho thì cũng nhiều lắm. Tôi muốn được chia xẻ với bạn tất cả, nhưng trong phạm vi ngắn gọn của bài này; tôi chỉ có thể chia xẻ với bạn một chút, một chút nhỏ nhoi thôi để bạn có thể thấy được kho tàng tình yêu vô tận tàng ẩn trong Kinh Thánh. Khi thấy được kho tàng tình yêu này, tôi bảo đảm, bạn sẽ ghiền đọc Kinh Thánh.

Bạn thân mến, theo sách Sáng Thế Ký Chương 1 và 2 thì trong sáu ngày đầu, Chúa tạo dựng tất cả trời đất, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, biển cả sông ngòi, chim muông, cầm thú, cùng mọi sự, và Người nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, có đúng không? Đặc biệt là ngày thứ sáu, trong ngày thứ sáu Chúa tạo dựng cái gì là đặc biệt, đố bạn đó.

Thưa bạn, trong ngày thứ sáu Chúa tạo dựng con người. Khi tạo dựng con người; Chúa cũng tạo dựng cách rất là đặc biệt. Rất đặc biệt ở chỗ là khi tác tạo muôn loài, bất cứ sự gì, Chúa cũng chỉ phán có một lời. Hãy có mặt trời, là có mặt trời. Hãy có chim muông cầm thú, là có chim muông cầm thú. Nhưng khi tạo dựng con người thì Chúa lại đã không phán một lời để có con người. Vậy Thiên Chúa tạo dựng con nguời như thế nào? Kinh Thánh nói cách rất đơn giản, đó là "The Lord God formed man out of the clay of the ground..." Câu này tuy đơn giản nhưng lại tiềm ẩn một công trình tạo dựng rất phức tạp, vĩ đại, và quy mô. Ðể hiểu được chút nào những gì tiềm ẩn trong câu này, trước hết chúng ta hãy để ý đến chữ "The". Chữ "The" là chỉ định từ xác định (definite article), chứ không phải là chỉ định từ bất định (indefinite article), tức là không phải Chúa đã dùng bất cứ cục đất nào mà phải là cục đất "được chỉ định này" mới được, và như thế là có sự định đoạt, có sự an bài. Nói theo cách làm việc của chúng ta là có kế hoạch.

Rồi để bổ túc cho sự định đoạt này là sự lựa chọn được diễn tả trong mệnh đề "out of the clay of the ground". Sự lựa chọn này rất là quan trọnng, vì khi đã lựa chọn thì ai cũng chọn cho hợp ý mình, đúng không? Thiên Chúa cũng vậy, khi tác tạo chúng ta Người cũng đã lựa chọn một cục đất sét cho hợp với ý Người, chứ Người đã không dùng bất cứ cục đất sét nào, và Người làm như vậy để chúng ta thấy được sự quan tâm đặc biệt của Người dành cho chúng ta. Một điểm quan trọng nữa, đó là Chúa đã chọn đất sét. Tại sao vậy? Tại sao Chúa không chọn cát, bùn, hay sỏi đá? Bạn biết khi còn ướt, đất sét mềm, dẻo, dễ nắn nót nói lên sự yếu đuối, uyển chuyển, dễ uốn nắn của con người. Khi đã khô, nhất là sau khi được nung nấu, đất sét rất cứng và bền nói lên sự bền bỉ, sức chịu đựng có chút nào cứng đầu và ương ngạnh của chúng ta. Ðất sét còn có đặc tính nối kết (cohesiveness) gắn bó với nhau nói lên sự gắn bó giữa con người với nhau và với Chúa. Cho nên khi chưa tác tạo chúng ta, thì Chúa đã làm nên đất sét cho mục đích này; để từ đó Người đã chọn làm công việc như một người thợ gốm, công việc được Tiên Tri Isaia diễn tả trong chương 64:8 của ông như sau : "Yet, O LORD, thou art our Father; we are the clay, and thou art our potter; we are all the work of thy hand." Lý do nữa mà Chúa dùng đất sét là để nhắc nhở chúng ta hãy sống theo đường lối của Chúa; bằng không Chúa sẽ đối xử với chúng ta như Người tuyên phán qua Tiên Tri Jeremiah chương 18:2-4 như sau: (2) "Arise, and go down to the potter's house, and there I will let you hear my words." (3) So I went down to the potter's house, and there he was working at his wheel. (4) And the vessel he was making of clay was spoiled in the potter's hand, and he reworked it into another vessel, as it seemed good to the potter to do. Thành ra từ nguyên thủy, từ lúc tạo dựng chúng ta, Người đã chuẩn bị tất cả để sau này Người lại dùng các tiên tri mà nhắc nhở cho chúng ta thân phân của mình.

Chữ quan trọng nữa là động từ form. Form tức là nắn nót cho đúng với hay theo với một khuôn khổ nào, và theo Sách Sáng Thế Ký, chương 1 câu 26 thì Chúa formed, nắn nót chúng ta theo như hình ảnh Người. Sau cùng thì Chúa còn phải thở hơi của Người vào lỗ mũi của chúng ta, lúc đó chúng ta mới có sự sống. Con cá có sự sống không? Có chứ! Con chó có sự sống không? Có chứ! Nhưng Chúa có thở hơi của Người vào con cá hay con chó hay bất cứ một sinh vật nào khác không? Thưa không! Bạn thấy chưa, tôi đã nói sự tạo dựng con người của Thiên Chúa là một công trình phức tạp và quy mô chứ đâu có đơn giản. Nhưng tại sao vậy? Bạn có bao giờ đắp tượng hay nhờ ai đắp tượng của chính bạn chưa? Chắc là chưa vì ít có người làm như vậy lắm. Nhưng giả sử như bạn muốn đắp tượng của chính bạn thì bạn có bỏ công bỏ sức, bỏ hết mọi nỗ lực vào công việc này để cho pho tượng đó giống bạn và hợp ý bạn không? Nhất định là có rồi, phải không? Khi đã đắp được pho tương giống như bạn, pho tượng mà bạn rất hài lòng thì bạn có yêu thích, có trân quý, có đặt vào một chỗ thích hợp nhất trong nhà của bạn không? Tôi dám chắc là không riêng gì bạn, mà ai cũng làn như thế, và ngay cả Thiên Chúa cũng vậy, vì khi tác tạo chúng ta nên như hình ảnh Người, thì đó là lúc Người tạc pho tượng của chính Người, cho nên Người mới yêu thương chúng ta hơn mọi loài thụ tạo khác. Và cũng chính vì quá yêu thương chúng ta nên thay vì chỉ phán một lời để chúng ta có sự sống, thì Người lại cúi xuống thở hơi vào chúng ta để chúng ta có sự sống. Người thở hơi vào chúng ta như thế nào? Bạn có biết làm hô hấp nhân tạo theo phương pháp mouth to mouth không? Theo tôi thì Chúa thở hơi vào chúng ta như vậy đó, và như vậy là Chúa hôn chúng ta thì đúng hơn. Tôi nói Chúa hôn chúng ta vì Chúa yêu chúng ta qúa độ, mà hôn là một cách để biểu lộ tình yêu nên tôi mới nói Chúa hôn chúng ta, chứ tôi không có ý nói là Thánh Kinh sai. Xin đừng hiểu lầm. Bạn thân mến, bây giờ thì bạn thấy được tình yêu nồng nàn, tình yêu tuyệt vời mà Thiên Chúa dành cho bạn rồi chứ? Bạn có vui không? Có cảm thấy sự có mặt của bạn trên đời này là một hồng ân cao cả không? Chưa hết đâu bạn ạ. Bạn có biết sau khi đã tác tạo và ban sự sống cho chúng ta thì Thiên Chúa làm gì không? Ðố bạn một lần nữa đó.

Thưa bạn, sau khi đã tác tạo và ban sự sống cho chúng ta thì Thiên Chúa nghỉ ngơi, và đó là ngày thứ bảy. Bạn trả lời có đúng không? Cám ơn bạn, nhưng câu đố kế tiếp này thì tôi chắc là bạn không có câu trả lời. Ðố bạn tại sao Chúa lai nghỉ vào ngày thứ bảy? Chúa mệt à? Không, nhất định là không! Bởi vì Thiên Chúa đâu có bị lệ thuộc vào môi trường, thời gian, không gian, hay bất cứ một đìêu kiện sinh hóa nào đâu mà mệt? Vậy thì tại sao Chúa nghỉ? Bạn có biết là tôi phải chầu Thánh Thể bao nhiêu lần mới có được câu trả lời không? Bây giờ tự nhiên tôi lại cho bạn câu trả lời được sao? Ðâu có dễ như vậy! Nhưng thôi, tôi sẵn sàng chia xẻ với bạn; chỉ xin bạn đọc một kinh Sáng Danh, đọc ngay bây giờ, để tán tụng, để ngợi khen, và để cảm tạ tình yêu cao vời của Thiên Chúa, rồi xin bạn đọc tiếp.

Bạn thân mến, trở lại chuyện đắp tượng ở trên. Khi bạn đắp tượng của bạn, nếu bạn thấy gì sai thì tất nhiên là bạn phải sửa; chỗ nào thiếu thì bạn thêm vào, chỗ nào thừa thì bạn bớt ra. Và giả như bạn không đồng ý với pho tượng chút nào hết, thì bạn có thể đập đi và làm lại, y như người thợ gốm ở trên vậy. Cứ như thế cho đến lúc bạn thấy thật hài lòng với pho tượng; đến lúc bạn thấy pho tượng của bạn không còn gì cần phải sửa chữa nữa, thì bạn ngưng, bạn nghỉ, không tiếp tục nữa vì công việc đã hoàn thành, có đúng không? Thiên Chúa cũng vậy, công trình tạo dựng vũ trụ của Người bắt đầu từ ngày thứ nhất, chưa ưng ý, Người tiếp tục sang ngày thứ hai..., thứ ba..., thứ tư..., thứ nam..., và sau cùng đến ngày thứ sáu, sau khi tạo dựng con người thì Người cảm thấy quá hài lòng với công việc của mình, Người đã thấy là công trình của Người đến đây là hoàn tất, nên Người ngưng, Người nghỉ. Bạn thấy chưa, Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến độ sau khi tạo dựng chúng ta rồi, thì Người không còn mưốn tạo dựng thêm một loài thụ tạo nào nữa. Người đặt chúng ta vào vị trí độc nhất vô nhị trong trái tim của Người. Bạn còn chờ gì nữa mà không đáp trả lại tình yêu cao vời này. Hãy học hỏi Kinh Thánh, bạn sẽ còn thấy nhiều điều lạ lùng khác.

Bạn thân mến, tôi vừa chia xẻ với bạn lý do tại sao tôi học hỏi Kinh Thánh. Tôi cũng đã trình bày với bạn những khó khăn và phương pháp tôi dùng để tìm câu giải đáp cho những gì tôi không hiểu khi học hỏi Kinh Thánh. Sau cùng tôi cũng đã chia xẻ với bạn một chút hiểu biết về Thiên Chúa mà tôi được ban cho. Trong sự chia xẻ này, tôi hy vọng bạn đã nhận ra là những gì viết trong Kinh Thánh thường là rất đơn giản nhưng lại khó hiểu. Nhưng bạn có biết không ? Sự đơn giản của Kinh Thánh chính là cái cửa của một lâu đài nguy nga cổ kính, nếu bạn không mở thì không bao giờ bạn có thể khám phá được những kho tàng chứa đụng bên trong. Sự khó hiểu của Kinh Thánh chính là lời mời: Hãy tìm kiếm Thiên Chúa. Nếu bạn không tìm thì làm sao bạn gặp được đây? Nguyện xin Thiên Chúa tuôn đổ mọi hồng ân xuống cho bạn để bạn có thể gặp gỡ Người, và nếu được xin bạn hãy phổ biến bức thư này. Khi phổ biến bức thư này xin bạn đừng sửa chữa gì. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi sửa sai, mọi ý kiến xây dựng, và nếu bạn muốn góp ý, xin bạn ghé thăm trang blog: http://tongdobacai.blogspot.com/ hay

http://cauchuyenhangngay.blogspot.com/

Thân ái mến chào trong tình yêu Thiên Chúa và Mẹ Maria,

Giuse Phạm Văn Tuyến

Viết xong tại Charlotte, NC

Ngày 2 tháng 2, năm 2012

Ðể thân tặng người vợ mà tôi yêu quý

 
<< Start < Prev 71 72 73 74 75 Next > End >>

Page 71 of 75