/home/content/51/8374851/html/chiaseloichua/administrator/components/com_vvisit_counter/helpersPlease reinstall [Vinaora Visitors Counter] component53

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Những Bài Về Đức Mẹ
NHỮNG BÀI VỀ ĐỨC MẸ - LỄ ME THĂM VIÊNG PDF Print E-mail

Ngày 31 tháng 5

Lễ Ðức Mẹ Thăm Viếng

Lễ Kính

Bài Ðọc I: Xp 3, 14-18a

"Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi".

Trích sách Tiên tri Xôphônia.

Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và hãy nhảy mừng hết tâm hồn! Chúa đã rút lại lời kết án ngươi, và đã đẩy lui quân thù của ngươi. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa.

Trong ngày đó, ở Giêrusalem thiên hạ sẽ nói rằng: "Hỡi Sion, đừng sợ! Tay đừng bủn rủn! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Với ngươi, Người làm mới lại tình yêu của Người. Vì ngươi, Người nhảy mừng trong tiếng reo vui, như thuở tao phùng".

Ðó là lời Chúa.

Hoặc đọc: Rm 12, 9-16

"Hãy giúp đỡ các thánh khi họ thiếu thốn, và ân cần tiếp khách đỗ nhà".

Trích thư của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, đức ái không được giả hình: Hãy chê ghét điều ác và trìu mến điều lành. Hãy thương yêu nhau trong tình bác ái huynh đệ. Hãy nhân nhượng tôn kính nhau. Hãy siêng năng, chớ biếng nhác: Hãy sốt mến trong tâm hồn và phụng sự Chúa. Hãy hân hoan trong niềm cậy trông, nhẫn nại trong gian truân và kiên tâm cầu nguyện. Hãy giúp đỡ các thánh khi họ thiếu thốn, và ân cần tiếp khách đỗ nhà.

Hãy chúc phúc cho những kẻ bắt bớ anh em: Hãy chúc phúc, chứ đừng chúc dữ. Hãy vui mừng với kẻ vui mừng, và khóc lóc với kẻ khóc lóc. Hãy đồng tâm hiệp ý với nhau: đừng tự cao tự đại, một hãy ưa thích những sự hèn kém. Ðừng tự đắc cho mình là khôn.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6

Ðáp: Ðấng Thánh cao cả của Israel ở giữa ngươi (c. 6b).

Xướng: 1) Này là Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi, tôi sẽ tin tưởng hành động và không sợ hãi: vì Chúa là sức mạnh và là sự ngợi khen của tôi, và Người đã đem lại cho tôi ơn cứu độ. - Ðáp.

2) Hãy tuyên xưng Chúa và kêu cầu thánh danh Người; hãy làm cho các dân tộc biết việc Chúa sáng tạo; hãy nhớ rằng danh Người thật cao sang. - Ðáp.

3) Hãy ca mừng Chúa, vì người đã làm những việc trọng đại; hãy công bố việc đó trong khắp hoàn cầu. Hỡi dân thành Sion, hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì Ðấng Thánh cao cả của Israel ở giữa ngươi. - Ðáp.

Alleluia: Lc 1, 45

Alleluia, alleluia! - Hỡi Trinh Nữ Maria, phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 1, 39-56

"Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Giacaria và chào bà Elisabeth. Và khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng:

"Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, thì hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện".

Và Maria nói: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen rằng tôi có phước, vì Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa.

"Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa đã săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời".

Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà mình.

Ðó là lời Chúa.

Viếng Thăm Là Dạo Khúc Cho Sứ Vụ Của Chúa Giêsu

1- Trong đoạn trình thuật về Cuộc Viếng Thăm, Thánh Luca cho chúng ta thấy, sau khi tràn đầy hồng ân Nhập Thể, Đức Maria đã mang ơn cứu độ và niềm vui đến cho gia đình bà Êlizabét ra sao. Đấng Cứu Thế nhân trần, được cưu mang trong lòng Mẹ mình, đã tuôn đổ Thánh Linh xuống, qua việc tỏ mình ra ngay từ lúc mới vào trần gian của mình.

Khi diễn tả việc khởi hành của Đức Maria lên đường đi xuống Giuđêa, Thánh Ký đã dùng động từ “anistemi”, nghĩa là “chỗi dậy”, là “bắt đầu di chuyển”. Nếu động từ này được các Phúc Âm sử dụng để nói đến việc Phục Sinh của Chúa Giêsu (Mk 8:31, 9:9,31; Lk 24:7,46), hay những tác động thể lý ám chỉ nỗ lực về tâm linh (Lk 5:27-28, 15:18,20), chúng ta có thể cho rằng Thánh Luca muốn dùng cách diễn tả này để nhấn mạnh đến cái nhiệt tình mạnh mẽ, theo ơn soi động của Thánh Linh, đã thúc đẩy Đức Maria ban tặng cho thế giới Vị Cứu Tinh của nó.

2- Bản văn Phúc Âm cũng trình thuật rằng Đức Maria “vội vàng” (Lk 1:39) lên đường. Ngay cả ghi chú về việc Người “đến một miền đồi núi”, Phúc Âm Thánh Luca cũng cho thấy một ý nghĩa sâu xa của nó, hơn là chỉ cố ý nói đến một địa dư vậy thôi, vì nó gợi lại cho chúng ta thấy hình ảnh một vị sứ giả loan báo tin mừng trong Sách Tiên Tri Isaia: “Đẹp thay trên các núi đồi bước chân của người loan báo tin vui, của người rao truyền an bình, của người mang tin thiện phúc, của người rao truyền ơn cứu độ, của người nói với Sion rằng: ‘Thiên Chúa của các người hiển trị’” (Is 52:7).

Như Thánh Phaolô, vị nhìn nhận đoạn sách tiên tri này đã được nên trọn ở việc loan truyền phúc âm (Rm 10:15), Thánh Luca hình như cũng muốn mời gọi chúng ta hãy nhìn nơi Đức Maria như là “vị truyền bá phúc âm” tiên khởi, vị loan truyền “tin mừng”, khai mào các cuộc hành trình thừa sai cho Người Con thần linh của Người.

Sau hết, hướng đi trong cuộc hành trình của Đức Trinh Nữ cũng có một ý nghĩa đặc biệt, ở chỗ, Người đi từ Galilê xuống Giuđêa, giống như cuộc hành trình truyền giáo của Chúa Giêsu vậy (x 9:51).

Thật thế, cuộc viếng thăm bà Eâlizabét của Đức Maria là một dạo khúc cho sứ vụ truyền giáo của Chúa Giêsu, và ngay từ ban đầu, với vai trò làm mẹ cộng tác vào công cuộc cứu chuộc của Con mình, Người đã trở nên một mẫu gương cho những ai thuộc về Giáo Hội muốn ra đi mang ánh sáng của Chúa Kitô và niềm vui đến cho con người ở mọi thời và khắp mọi nơi.

3- Cuộc gặp gỡ bà Elizabét có tính cách của một biến cố cứu độ vui mừng, vượt lên trên những cảm xúc tự nhiên của tình nghĩa gia đình. Nơi đang ở vào hoàn cảnh bối rối về hành động thiếu tin tưởng, được tỏ hiện qua tình trạng bị câm lặng của ông Zacaria, thì Đức Maria đã làm bừng lên niềm vui của một đức tin mau mắn và cởi mở của Người: “Người đã vào nhà ông Zacaria và chào bà Elizabét” (Lk 1:40).

Thánh Luca cho thấy mối liên hệ này là: “Khi bà Elizabét nghe lời chào của Đức Maria thì con trẻ trong lòng bà liền nhẩy mừng” (Lk 1:41). Lời chào của Đức Maria đã khiến cho người con trai của bà Elizabét nhẩy lên vui sướng, ở chỗ, qua việc làm của Đức Maria, việc Chúa Giêsu vào nhà của bà Elizabét đã mang đến cho vị tiên tri thai nhi này một niềm vui được Cựu Ước tiên báo như là dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của Đấng Thiên Sai.

Với lời chào của Đức Maria, niềm vui cứu độ đã đến với cả bà Elizabét nữa, để rồi, “được đầy Thánh Linh... bà đã lớn tiếng kêu lên rằng ‘Người có phúc hơn mọi phụ nữ, và phúc cho hoa trái trong lòng của Người’ (Lk 1:41-42).

Nhờ được ơn soi sáng từ trên cao, bà hiểu được sự cao trọng của Đức Maria, vị còn hơn cả Jael và Judith là những nhân vật tiền thân của Người trong Cựu Ước, Người có phúc hơn mọi người nữ bởi quả phúc trong lòng Người là Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai.

4- Lời bà Elizabét hô lên ấy, hô một cách “lớn tiếng”, chứng tỏ cho thấy cả một tấm lòng nhiệt thành sốt sắng chân tình, một tấm lòng nhiệt thành sốt sắng chân tình sẽ được tiếp tục vang vọng trên môi miệng của tín hữu qua kinh “Kính Mừng”, một kinh nguyện như một bài ca của Giáo Hội chúc tụng những việc trọng đại được Đấng Tối Cao thực hiện nơi Người Mẹ của Con Ngài.

Trong việc tuyên tụng Người “có phúc hơn mọi người nữ”, bà Elizabét muốn nói đến đức tin của Đức Maria là lý do đã làm cho Người được diễm phúc: “Phúc cho Người vì đã tin rằng những gì Chúa nói cùng Người sẽ được thực hiện” (Lk 1:45). Sự cao cả và niềm vui của Đức Maria phát xuất từ việc Người là một con người tin tưởng.

Thấy được vai trò tuyệt hạng nơi Đức Maria, bà Elizabét cảm thấy cái vinh dự mình được Người đến viếng thăm: “Tôi làm sao lại có diễm phúc là được Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi?” (Lk 1:43). Bằng lời xưng tụng “Chúa tôi”, bà Elizabét đã nhìn nhận phẩm vị hoàng tộc, đúng hơn, phẩm vị thiên sai nơi Người Con của Đức Maria. Trong Cựu Ước, lời này quả thực được dùng để xưng tụng đức vua (x 1Kgs 1:13,20,21 v.v.) cũng như để nói về Vị Vua Thiên Sai (Ps 110:1). Thiên Thần đã nói về Chúa Giêsu rằng: “Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của Đavít tổ phụ của Người” (Lk 1:32). “Được đầy Thánh Thần”, bà Elizabét cũng có cùng một minh thức như thế. Cuộc vinh hiển vượt qua của Chúa Kitô sau này mới tỏ cho thấy ý nghĩa cần phải hiểu về danh hiệu này, một ý nghĩa siêu việt (x Jn 20:28; Acts 2:34-36).

Bằng việc vang lên lời chúc tụng ấy, bà Elizabét mời gọi chúng ta hãy cảm nhận tất cả những gì do sự hiện diện của Đức Maria mang đến như là một ân phúc cho đời sống của mọi tín hữu.

Qua việc Viếng Thăm này, Người Trinh Nữ đã mang Chúa Giêsu đến cho mẹ của Vị Tẩy Giả, một Chúa Kitô là Đấng tuôn đổ Thánh Linh. Vai trò trung gian môi giới này phát xuất từ chính những lời của bà Elizabét: “Này, khi tai tôi vừa nghe thấy tiếng Người chào thì con trẻ trong lòng tôi liền nhẩy mừng” (Lk 1:44). Với tặng ân Thánh Linh được ban phát bấy giờ, sự hiện diện của Đức Maria đóng vai trò như một dạo khúc cho Cuộc Hiện Xuống, một Cuộc Hiện Xuống xác nhận việc hợp tác, được bắt đầu từ Biến Cố Nhập Thể, cần phải được thể hiện nơi toàn cục diện cứu độ thần linh.

(ĐTC Gioan Phaolô II, Thứ Tư 2/10/1996,
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch từ
Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ ngày 9/10/1996)

Le Me Tham Vieng.mp3

---------------------------------

 
NHỮNG BÀI VỀ ĐỨC MẸ - LỄ TRUYỀN TIN PDF Print E-mail

LỄ TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MẸ

Hienco Tran chuyển

Mỗi khi đọc kinh Kính Mừng, tôi lặp lại lời sứ thần Gabriel chào Ðức Maria khi mở đầu cuộc truyền tin: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Ðức Chúa Trời ở cùng Bà. Mừng vui lên hỡi Ðấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.” Ðây chính là lời chúc phúc có ý nghĩa nhất và cũng là lời chúc phúc có giá trị nhất của con người.

Quả thế, không có mối phúc nào lớn hơn mối phúc của người được Thiên Chúa ở cùng, của người được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Con Thiên Chúa. Theo sau lời chúc phúc cũng là lời loan báo cho Ðức Maria biết tình trạng ân sủng tuyệt vời của Mẹ. Sứ thần cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai Con Thiên Chúa.

Ðây quả là một tin hết sức trọng đại khiến Mẹ phải bối rối. Hơn nữa, Mẹ sẽ thụ thai thế nào đây khi mà Mẹ chưa hề chung chăn gối với ai. Thắc mắc của Ðức Maria được sứ thần giải đáp bằng một câu trả lời đầy thuyết phục một cách tuyệt đối nhân danh quyền năng của Ðấng Tối Cao, kèm theo là một chứng cớ cụ thể đang xảy ra cho người chị họ của Mẹ.

Ðối chiếu với các câu Thiên Chúa trả lời cho tổ phụ Abraham, cho ông Môisen hay cho thánh Giuse, chúng ta thấy Thiên Chúa rất tế nhị khi giao tiếp với từng đối tượng để giải đáp thắc mắc của người thiếu nữ. Người đã chọn cách trả lời giản dị mà có hiệu quả nhất. Câu trả lời này mang lại cho Ðức Maria sự bình an sâu thẳm. Mẹ đã sẵn sàng lãnh nhận sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa trao phó cho Mẹ. Mẹ đã tiếp nhận được điều chính yếu trong sứ điệp Truyền Tin, Mẹ đã tin tưởng tuyệt đối vào sứ điệp đó và Mẹ sẽ cống hiến hết mình cho điều mình xác tín.

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa gởi sứ điệp có liên quan đến công cuộc cứu độ của Người. Trong cái đại dương thông tin mênh mông đang ùa tới với chúng ta mỗi ngày, Thiên Chúa vẫn không ngừng nói với chúng ta bằng tiếng nói của con người hôm nay, cung cách giao tiếp của Thiên Chúa vẫn luôn tế nhị, thích ứng với từng đối tượng mà Người muốn ngỏ lời. Nếu chịu khó lắng nghe, chúng ta sẽ thấy sứ điệp mà Thiên Chúa gửi đến cho mình cũng có những nét tương tự như sứ điệp Truyền Tin cho Ðức Maria.

Thay cho lời chào của sứ thần, chúng ta có thể cảm thấy có một cái gì đó lay động linh hồn chúng ta và tạo cho chúng ta một cảm giác thiêng liêng huyền nhiệm. Trước cảm giác linh thiêng này, có thể chúng ta sẽ bối rối xao xuyến vì không biết chuyện gì đang xảy ra cho tâm hồn mình, chúng ta có thể lờ đi không lưu tâm đến nó nữa. Và trong trường hợp này, chúng ta sẽ không nhận được phần tiếp theo của sứ điệp.

Nhưng nếu chúng ta để ý lắng nghe, chúng ta sẽ nhận được những sứ mạng mà Thiên Chúa muốn trao cho chúng ta. Ða số các sứ mạng này là những công việc bình lặng trong cuộc sống thường ngày với mục đích đem ơn cứu độ đến cho những người khác. Nhưng cũng có lúc đó là những công việc có tầm ảnh hưởng lớn hơn, khó thực hiện hơn, và đôi khi vượt quá khả năng của chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta sẽ cảm thấy e ngại vì không biết mình sẽ làm sao để thực hiện lời Thiên Chúa gợi ý.

Nhưng nếu chúng ta tin tưởng và tiếp tục đối thoại với Thiên Chúa, thì Người sẽ đưa ra cho ta lời giải đáp, và có thể Người sẽ đưa ra cho ta một vài bằng chứng cụ thể để củng cố lòng tin. Ðến đây, Thiên Chúa chờ đợi lời thưa "Xin Vâng" của chúng ta như Người đã chờ đợi lời thưa "Xin Vâng" của Mẹ Maria ngày xưa.

*SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG: Lạy Mẹ Maria, có những lúc con đã nghe được tiếng Chúa gọi gợi ý cho biết những công việc phải làm, nhưng khi nhìn lại bản thân, con thấy mình chỉ là một con người bé nhỏ, bình thường như bao nhiêu người khác, vì thế, con ngần ngại không dám tiến thân.

Hôm nay, khi suy niệm về biến cố Truyền Tin, con hiểu ra rằng đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được, cũng không có gì là bé nhỏ tầm thường vô giá trị. NHỜ ƠN CHÚA GIÚP từ nay TÔI biết lắng nghe và thực hiện ý Chúa với tâm tình đơn sơ phó thác như Mẹ ngày xưa.

Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu

------------------------------------

 
NHỮNG BÀI VỀ ĐỨC MẸ - DTC GIÃNG LỄ CHO BỆNH NHÂN LỘ ĐỨC PDF Print E-mail

ĐTC Biển Đức XVI Giảng Lễ cho Thành Phần Bệnh Nhân ở tiền đường Đền Thờ Đức Mẹ Mân Côi Lộ Đức

(Có thể nói đây là những ý tưởng chính yếu cho cả chuyến tông du của ĐTC đến Pháp quốc và Lộ Đức lần này, vì liên quan đến mầu nhiệm Lộ Đức và thành phần bệnh nhân, nên có thể vì thế ngài đã chọn vào Lễ Mẹ Đau Thương Thứ Hai 15/9 để đến viếng thăm Linh Địa này và kết thúc chuyến tông du của ngài ở đây)

Quí Huynh thân mến trong hàng giáo phẩm và linh mục,

Quí Bạn bệnh nhân, chăm sóc viên và hỗ trợ viên thân mến,

Anh Chị em thân mến!

Hôm qua, chúng ta đã cử hành Thánh Giá Chúa Kitô, dụng cụ cho ơn cứu độ của chúng ta, một dụng cụ cho thấy tình thương của Thiên Chúa chúng ta ở tất cả mức độ tràn đầy nhất. Thập Giá thực sự là nơi bộc lộ tuyệt hảo của lòng thương xót Chúa đối với thế giới của chúng ta. Hôm nay, khi chúng ta cử hành lễ nhớ Đức Mẹ Sầu Bi, chúng ta chiêm ngưỡng việc Mẹ Maria thông phần vào lòng cảm thương của Con Mẹ với thành phần tội nhân. Như Thánh Bênađô đã tuyên xưng, Người Mẹ của Chúa Kitô ấy đã tiến vào Cuộc Khổ Nạn của Con Mẹ bằng lòng cảm thương của Mẹ (cf. Homily for Sunday in the Octave of the Assumption). Ở dưới chân Thánh Giá, lời tiên tri của ông Simêon đã được nên trọn: tâm hồn bà sẽ bị đâm thâu (cf Lk 2:35) bởi cực hình giáng xuống trên Đấng Vô Tội được sinh ra từ xác thịt của Mẹ. Như Chúa Giêsu đã kêu lên (cf. Jn 11:35), Mẹ Maria chắc chắn cũng đã kêu lên trước thân mình bị hành hạ của Con Mẹ. Tuy nhiên, việc Mẹ cầm mình đã không cho chúng ta thấy được tình trạng sầu thương thăm thẳm của lòng Mẹ; tất cả những gì đớn đau Mẹ chịu chỉ được cho thấy bởi biểu hiệu truyền thống với 7 thanh gươm mà thôi. Như nơi trường hợp của Chúa Giêsu Con Mẹ, người ta có thể nói rằng cả Mẹ nữa cũng được nên trọn hảo nhờ cuộc khổ đau này (cf. Heb 2:10), nhờ đó, làm cho Mẹ có khả năng lãnh nhận một sứ vụ thiêng liêng mới do Con Mẹ ủy thác chon gay trước khi Người ‘trút hơi thở của mình’ (x Jn 19:30), đó là sứ vụ trở nên Mẹ của Chúa Kitô nơi các phần thể của Người. Vào giờ phút ấy, qua hình ảnh của người môn đệ dấu yếu, Chúa Giêsu đã trao tặng cho mỗi một người môn đệ của mình Người Mẹ của Người khi nói cùng Mẹ rằng: Đó là Con của Mẹ (cf. Jn 19:26-27).

Ngày nay, Mẹ Maria đang ở trong cõi hoan lạc và vinh quang của Cuộc Phục Sinh. Những giọt nước mắt đổ ra dưới chân Thánh Giá đã được biến thành một nụ cười không gì có thể xòa mờ, ngay cả lòng cảm thương từ mẫu của Mẹ đối với chúng ta cũng vẫn không hề đổi thay. Việc can thiệp của Đức Trinh Nữ Maria để ra tay cứu giúp suốt giòng lịch sử chứng tỏ cho thấy điều này, và không ngừng kêu gọi, nơi thành phần dân Chúa, một lòng tin tưởng không lay chuyển nơi Mẹ: lời nguyện Memorare đã cho thấy rất rõ cảm thức này. Mẹ Maria yêu thương từng người con cái Mẹ, chú ý đặc biệt đến những ai, như Con Mẹ ở vào giây phút khổ nạn của Người, bị khổ đau hành hạ; Mẹ yêu thương họ chỉ vì họ là con cái của Mẹ theo ý muốn của Chúa Kitô trên Thánh Giá.

Thánh vịnh gia, khi thấy từ xa mối liên hệ từ mẫu này, một mối liên kết Người Mẹ của Chúa Kitô với thành phần dân đức tin, đã nói tiên tri liên quan tới Đức Trinh Nữ Maria rằng ‘thành phần giầu sang nhất trong dân ... sẽ tìm kiếm nụ cười của Mẹ’ (44 [45]:13). Như thế, được tác động bởi lời Thánh Kinh linh ứng này, Kitô hữu bao giờ cũng tìm kiếm nụ cười này của Đức Mẹ, một nụ cười đã được các nghệ sĩ thời trung cổ cho thấy một cách tài tình và duyên dáng. Nụ cười này của Mẹ Maria là những gì giành cho tất cả mọi người; thế nhưng nó đặc biệt hoàn toàn giành cho những ai đau khổ, nhờ đó họ có thể tìm thấy niềm ủi an và khuây khỏa trong ấy. Việc tìm kiếm nụ cười của Mẹ Maria không phải là một tác động có tính cách hâm mộ hay lỗi thời, mà là bầy tỏ thích hợp của mối liên hệ sống động và sâu xa liên kết chúng ta với Mẹ là Vị được Chúa Kitô trao ban cho chúng ta như là Người Mẹ của chúng ta.

Việc muốn chiêm ngưỡng nụ cười này của Vị Trinh Nữ ấy, không có nghĩa là để cho mình bị thu hút bởi óc tưởng tượng quá trớn. Chính Thánh Kinh đã tỏ nó cho chúng ta thấy qua môi miệng của Mẹ Maria khi Mẹ xướng lên ca vịnh Ngợi Khen: ‘Linh hồn tôi tôn vinh Chúa, thần trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ tôi’ (Lk 1:46-47). Khi Vị Trinh Nữ này dâng lời tạ ơn Chúa Mẹ kêu gọi chúng ta chứng dự. Mẹ Maria chia sẻ với chúng ta là thành phần con cái sau ấy của Mẹ, một cách ngưỡng vọng, niềm vui ở trong lòng của Mẹ, nhờ đó nó có thể trở thành của chúng ta. Lúc nào chúng ta dọc ca vịnh Ngợi Khen này là chúng ta trở thành những người chứng dự vào nụ cười của Mẹ. Ở Lộ Đức đây, trong lần hiện ra vào ngày Thứ Tư 3/3/1858, Bernadette đã chiêm ngưỡng thấy nụ cười này của Mẹ Maria một cách hết sức đặc biệt. Đó là đáp ứng đầu tiên mà Người Nữ Tuyệt Đẹp ấy đã cống hiến cho con người trẻ thụ khải này đang muốn biết Mẹ là ai. Trước khi giới thiệu mình là Đấng ‘Hoài Thai Vô Nhiễm’ vào những ngày sau đó, Mẹ Maria trước hết đã dạy cho Bernadette biết được nụ cười của Mẹ, một dấu chỉ thích đáng nhất cho việc tiến vào sự mạc khải về mầu nhiệm của Mẹ.

Trong nụ cười của một tạo vật siêu việt nhất trong tất cả mọi tạo vật khi nhìn xuống chúng ta ấy là những gì phản ảnh phẩm vị của chúng ta là thành phần con cái của Thiên Chúa, một phẩm vị không bao giờ loại trừ thành phần bệnh nhân. Nụ cười này, một phản ảnh chân thực cho lòng từ ái của Thiên Chúa, là mạch nguồn của một niềm hy vọng mạnh mẽ. Tiếc thay, chúng ta quá rõ là việc chịu đựng khổ đau có thể làm đảo lộn tình trạng quân bình bền vững nhất của đời sống; nó có thể làm rung chuyển cả những nền tảng mãnh liệt nhất của niềm tin tưởng, thậm chí đôi khi có thể đẩy con người đến chỗ tuyệt vọng về ý nghĩa và giá trị của cuộc đời. Có những cuộc đối chọi chúng ta không thể nào một mình tồn tại nếu không có ơn trợ giúp thần linh. Khi không còn biết diễn tả ra sao bằng ngôn từ thì con người cần đến một sự hiện diện yêu thương nào đó, ở chỗ, bấy giờ chúng ta chẳng những tìm kiếm sự gần gũi của những ai có cùng máu huyết hay có liên hệ về thân hữu với chúng ta, mà còn tìm kiếm sự gần gũi của những ai liên hệ sâu xa với chúng ta trong đức tin nữa. Còn ai thân thiết với chúng ta bằng Chúa Kitô và Mẹ của Người, Đấng Vô Nhiễm Tội chứ? Hơn bất cứ một ai khác, các Ngài có khả năng hiểu được chúng ta và thấu biết tình trạng chúng ta khốn khó là chừng nào trong việc chiến đấu với sự dữ và khổ đau. Bức Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái nói về Chúa Kitô rằng Người ‘không phải là không thể cảm thông với những nỗi yếu hèn của chúng ta; vì Người đã bị thử thách đủ thứ như chúng ta’ (4:15). Tôi thành khẩn nói cùng những ai đang đau khổ và những ai đang đối chọi với khuynh hướng chán chường trong cuộc sống là hãy quay về với Mẹ Maria! Nơi nụ cười của Vị Trinh Nữ này chất chứa một cách kỳ diệu sức mạnh để chiến đấu với bệnh tật và chiến đấu cho cuộc sống. Cũng thế, nơi Mẹ, chúng ta tìm thấy ân sủng để can đảm hay vui lòng chấp nhận ra khỏi đời này vào thời giờ Chúa muốn.

Thật là chí lý biết bao cái minh thức của vị đại tác giả về tu đức người Pháp là Dom Jean-Baptiste Chautard, vị trong cuốn Hồn Tông Đồ đã đề nghị với người Kitô hữu đạo hạnh hãy năng nhìn ‘vào ánh mắt của Trinh Nữ Maria’! Phải, việc tìm kiếm nụ cười của Trinh Nữ Maria không phải là một thứ đạo hạnh kiểu con nít, mà là một cảm hứng, như Thánh Vịnh 44 [45] nói, của những ai là ‘thành phần giầu sang nhất trong dân’ (câu 13). ‘Thành phần giầu sang’ ở đây nói về cấp trật đức tin, những ai đạt tới mức độ cao nhất về sự trưởng thành thiêng liêng và biết thực sự biết được tình trạng hèn yếu của mình cùng với thân phận bần cùng của mình trước nhan Thiên Chúa. Nơi cái bộc lộ rất đơn sơ của sự dịu dàng êm ái được chúng ta gọi là một nụ cười, chúng ta thấu hiểu được cái giầu sang duy nhất của chúng ta chính là tình yêu Thiên Chúa ấp ủ chúng ta, một tình yêu thương truyền đến chúng ta qua trái tim của Đấng đã trở nên Mẹ của chúng ta. Việc tìm kiếm nụ cười này trước hết là việc thấu hiểu được tính chất nhưng không của tình yêu thương; việc tìm kiếm này cũng là để có thể làm nở ra nụ cười này qua những nỗ lực của chúng ta sống theo lời lẽ của Người Con Yêu Dấu Mẹ, như một con trẻ làm cho mẹ mình mỉm cười khi làm những gì hài lòng bà vậy. Và chúng ta biết những gì làm cho Mẹ Maria hài lòng, qua những lời Mẹ đã nói với thành phần phục vụ ở Cana: ‘Hãy làm những gì Người bảo’ (Jn 2:5).

Nụ cười của Mẹ Maria là suối nước sự sống. ‘Chúa Giêsu phán: ‘ai tin Tôi thì từ lòng họ sẽ vọt lên những giòng sông chảy nước sự sống’ (Jn 7:38). Mẹ Maria là người đã tin tưởng, và từ cung lòng của Mẹ, những giòng sống chảy nước sự sống đã chảy ra tưới dội lịch sử loài người. Giòng suối mà Mẹ Maria chỉ cho Bernadette ở Lộ Đức đây là một dấu hiệu đơn sơ về thực tại thiêng liêng này. Từ trái tim tin tưởng của Mẹ, từ tấm lòng từ mẫu của Mẹ, chảy ra nước sự sống để thanh tẩy và chữa lành. Bằng việc dìm mình vào những bể tắm ở Lộ Đức, rất nhiều người đã khám phá ra và đã cảm nghiệm được tình yêu thương từ mẫu dịu dàng êm ái của Vị Trinh Nữ Maria này, bằng việc tỏ ra gắn bó với Mẹ để liên kết mình chặt chẽ hơn với Chúa! Trong bài tiếp liên của phụng vụ cho Lễ Mẹ Sầu Bi, Mẹ Maria được tôn kính với tước hiệu là Fons amoris, ‘mạch nguồn yêu thương’. Từ trái tim của Mẹ Maria vọt lên một tình yêu thương nhưng không kêu gọi việc đáp ứng của tình yêu thương con cái, một tình yêu thương con cái được kêu gọi tinh luyện cao cả hơn bao giờ hết. Như hết mọi người mẹ, và hơn hết mọi người mẹ, Mẹ Maria là thày dạy yêu thương. Đó là lý do tại sao có rất nhiều bệnh nhân đến Lộ Đức đây để được giãn cơn khát của mình nơi ‘nguồn mạch yêu thương’ này, và để cho mình được Mẹ dẫn đến với nguồn cứu độ duy nhất là Chúa Giêsu Cứu Thế Con Mẹ.

Chúa Kitô ban ơn cứu độ của Người bằng những bí tích, nhất là nơi trường hợp của những ai khổ đau bởi bệnh nạn hay tật nguyền, bằng tích sủng của phép xức dầu thánh. Đối với từng người thì khổ đau bao giờ cũng là những gì xa lạ. Nó không bao giờ có thể thuần thục. Đó là lý do tại sao khó có thể chịu đựng, và lại càng khó hơn – như một số vị đại nhân chứng cho sự thánh đức của Chúa Kitô đã thực hiện – trong việc đón nhận nó như là một yếu tố quan trọng trong ơn gọi của chúng ta, hay chấp nhận, như Bernadette đã diễn tả, ‘chịu đựng hết mọi sự cách âm thầm để làm vui lòng Chúa Giêsu’. Để có thể nói như thế, cần phải thực hiện một cuộc hành trình kết hiệp lâu dài với Chúa Giêsu. Tuy nhiên, vào lúc này đây, chúng ta vẫn có thể phó mình cho tình thương của Thiên Chúa, một tình thương được thể hiện qua tích sủng của phép xức dầu thánh. Chính Bernadette, trong đời sống cũng thường bị bệnh nạn, đã lãnh nhận lãnh nhận bí tích này 4 lần. Ân sủng của bí tích này là ở chỗ đón nhận Chúa Kitô là vị chữa lành vào đời sống của chúng ta. Tuy nhiên, Chúa Kitô không phải là một chữa lành viên theo kiểu thế gian. Để chữa lành chúng ta, Người không ở ngoài khổ đau là những gì đang được cảm nghiệm thấy; Người làm cho đau khổ trở nên nhẹ nhàng khi đến ở trong người bị bệnh nạn, chịu đựng đau khổ và sống đau khổ với họ. Sự hiện diện của Chúa Kitô đến là để phá vỡ cái lẻ loi cô độc gây ra bởi đớn đau. Con người không còn chịu đựng gánh nặng một mình nữa: là một phần tử đau đớn của Chúa Kitô, họ được tuân hợp Chúa Kitô nơi việc tự hiến của Người lên Chúa Cha, và họ tham dự với Người vào việc hạ sinh một cuộc tân tạo.

Không có ơn trợ giúp của Chúa thì cái ách bệnh tật và khổ đau là những gì đè nặng trên chúng ta một cách dữ dội. Nhờ lãnh nhận bí tích bệnh nhân, chúng ta tìm cách để gánh vác chính cái ách của Chúa Kitô, một cái ách được kiên cường bởi lời Người hứa với chúng ta rằng ánh của Người sẽ êm ái mang vác và gánh của Người thì nhẹ nhàng (cf. Mt 11:30). Tôi mời gọi những ai lãnh nhận bí tích bệnh nhân này trong Thánh Lễ đây hãy tiến vào một niềm hy vọng như thế.

Công Đồng Chung Vaticanô II đã cho thấy Mẹ Maria như hình ảnh gương mẫu cho tất cả mầu nhiệm của Giáo Hội (cf. Lumen Gentium, 63-65). Cuộc hành trình của Mẹ là những gì phác tả về hình ảnh của Giáo Hội, một Giáo Hội được kêu gọi sống như Mẹ trong việc chú trọng tới những ai đang khổ đau. (ĐTC tiếp theo ngỏ lời cám ơn thành phần phục vụ bệnh nhân).

Việc phục vụ bác ai anh chị em cống hiến là việc phục vụ Thánh Mẫu. Mẹ Maria trao phó nụ cười của Mẹ cho anh chị em, để chính anh chị em có thể trở nên, khi trung thành với Con Mẹ, những suối nước sự sống. Bất cứ anh chị em làm gì, anh chị em hãy làm nhân danh Giáo Hội, một Giáo Hội mà Mẹ Maria là hình ảnh tinh tuyền nhất. Chớ gì anh chị em mang nụ cười của Mẹ đến cho hết mọi người!

Để kết thúc, tôi muốn hợp lời cầu nguyện của những người hành hương và của người bệnh, và muốn cầu nguyện với anh chị em một đoạn từ lời nguyện cầu cùng Mẹ Maria được soạn cho dịp mừng kỷ niệm này:

‘Vì Mẹ là nụ cười của thiên Chúa, là phản ảnh ánh sáng của Chúa Kitô, là nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần.

‘Vì Mẹ đã chọn Bernadette là một con người thấp hèn, vì Mẹ là ánh sao mai, là cổng trời và là đệ nhất tạo vật cảm nghiệm được cuộc phục sinh.

‘Mẹ là Đức Mẹ Lộ Đức’, chúng con cầu cùng Mẹ cùng với những người anh chị em của chúng con đang cảm thấy đớn đau trong tâm hồn và nơi thể xác của họ.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh

http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2008/documents/hf_ben-xvi_hom_20080915_lourdes-malati_en.html

------------------------------

 
NHUNG BAI VE DUC ME - LE ME THIEN CHUA PDF Print E-mail

1/1/2016

Lễ Mẹ Thiên Chúa

HỌC HỞI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: Ds 6, 22-27

"Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng".

Trích sách Dân Số.

Chúa phán cùng Môsê rằng: "Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel; hãy nói với chúng thế này: "Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con". Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel, và Ta sẽ chúc lành cho chúng".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8

Ðáp: Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con (c. 2a).

Xướng: 1) Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con; xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ. - Ðáp.

2) Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu. - Ðáp.

3) Chư dân, hãy ca tụng Ngài; thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Gl 4, 4-7

"Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.

Anh em thân mến, khi đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho chúng ta được nhận làm dưỡng tử. Sở dĩ vì anh em được làm con, Thiên Chúa đã sai Thần Trí của Con Ngài vào tâm hồn chúng ta, kêu lên rằng: "Abba!", nghĩa là "Lạy Cha!" Thế nên, bạn không còn phải là tôi tớ, nhưng là con; mà nếu là con, tất bạn cũng là người thừa kế, nhờ ơn Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Dt 1, 1-2

Alleluia, alleluia! - Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 2, 16-21

"Họ đã gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi... và tám ngày sau người ta gọi tên Người là Giêsu".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, các mục tử ra đi vội vã đến thành Bêlem, và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này. Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.

Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và đã xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.

Khi đã đủ tám ngày, lúc phải cắt bì cho con trẻ, thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi trước khi con trẻ được đầu thai trong lòng mẹ.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa hôm nay, 1/1, ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, nhưng lại là ngày mở màn cho một tân niên, ngày đầu tiên của một năm mới, cũng là ngày Giáo Hội Công giáo cử hành như Ngày Thế Giới Hòa Bình - the World Day of Peace, bắt đầu từ 1/1/1968, dưới thời Giáo Hoàng Chân Phước Phaolô VI (1963-1978).

Tuần Bát Nhật Giáng Sinh được Giáo Hội cố ý sắp xếp một số lễ có liên hệ đặc biệt với mầu nhiệm và biến cố Giáng Sinh. Chẳng hạn Lễ Thánh Stephanô Phó Tế Tử Đạo Tiên Khởi ngày 26/12, Lễ Thánh Gioan Tông Đồ ngày 27/12, Lễ Các Thánh Anh Hài ngày 28/12, và Lễ Thánh Gia vào Chúa Nhật trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh.

Lễ Mẹ Thiên Chúa hôm nay cũng thế. Trước Công Đồng Chung Vaticanô II Lễ Mẹ Thiên Chúa được cử hành vào ngày 11/10 hằng năm, nhưng sau công đồng được chuyển sang ngày 1/1 như hiện nay, ngày vừa kết thúc Tuần Bát Nhật Giáng Sinh vừa mở màn cho một năm mới. Đâu là ý nghĩa cho việc chuyển thời điểm Lễ Mẹ Thiên Chúa này?

Phải chăng, nếu mầu nhiệm và biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) không thể tách rời với mầu nhiệm Thánh Gia nói chung thế nào, ở chỗ Hài Nhi Giêsu giáng sinh từ một gia đình, hay Người đã vào trần gian qua cửa ngõ gia đình, thì mầu nhiệm và biến cố Giáng Sinh của Người cũng có một mối liên hệ mật thiết bất khả phân ly với mầu nhiệm Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa nói riêng như vậy, tức là Hài Nhi Giêsu phải được sinh ra bởi một người mẹ trần gian?

Thế nhưng tại sao, căn cứ vào ý nghĩa chặt chẽ và tầm quan trọng của mối liên hệ với Hài Nhi Giêsu như thế, Giáo Hội không sắp xếp ngay sau Lễ Giáng Sinh là Lễ Thánh Gia và Lễ Mẹ Thiên Chúa mà lại sắp xếp Lễ Thánh Stephano, Lễ Thánh Gioan Tông Đồ và Lễ Các Thánh Anh Hài?

Xin thưa, chính vì tính chất liên hệ mật thiết và quan trọng hơn 3 lễ vừa được kể ấy mà hai Lễ Thánh Gia và Lễ Mẹ Thiên Chúa mới được cử hành chẳng những ở bậc lễ trọng mà còn ở vào một thời điểm trọng thể nữa, như Lễ Thánh Gia được cử hành vào Chúa Nhật và Lễ Mẹ Thiên Chúa được cử hành vào ngay ngày đầu năm dương lịch.

Lễ Mẹ Thiên Chúa được Giáo Hội cử hành ngay vào ngày đầu năm dương lịch phải chăng là vì Mẹ Maria không thể tách biệt khỏi "Lời đã có từ nguyên thủy", như bài Phúc Âm cuối năm hôm qua cho biết. Nghĩa là từ thuở đời đời, "từ nguyên thủy" Mẹ Maria đã được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Lời Nhập Thể. Mẹ đã có trong thượng trí của Thiên Chúa cùng với Ngôi Lời ngay "từ nguyên thủy".

Tuy nhiên, theo bản tính là thần linh của mình, "Lời là Thiên Chúa", là Đấng tự hữu, hiện hữu và hằng hữu, Người chẳng những là nguyên thủy còn là cùng đích nữa (xem Khải Huyền 1:17), Người tiếp tục hiện hữu cho tới vô cùng bất tận dù thời gian và tạo vật có qua đi. Đó là lý do ngày tất niên 31/12 Giáo Hội đã chọn đọc bài Phúc Âm về Ngôi Lời, Đấng "đã có từ nguyên thủy".

Nhưng về phần mình, vì chỉ là một tạo vật thuần túy, Mẹ Maria không thể nào ở ngoài thời gian, và vì Mẹ là tạo vật đệ nhất về ân sủng không thể tách biệt với Ngôi Lời "đã có từ nguyên thủy" mà Mẹ phải được Thiên Chúa nghĩ đến đầu tiên, trước hết và trên hết mọi sự, trước và trên cả loài thần thiêng trên trời. Bởi thế, Mẹ phải được coi như mở màn cho thời gian hay thời gian được bắt đầu từ Mẹ. Phải chăng đó là lý do Lễ Mẹ Thiên Chúa được Giáo Hội thật chí lý cử hành vào ngày 1/1 đầu năm?

Ngày 1/1 là ngày thứ 8 từ Lễ Giáng Sinh, thời điểm theo Luật Moisen các bé trai Do Thái phải được cắt bì. Hài Nhi Giêsu cũng không ngoại lệ, vì Người thực sự mặc lấy bản tính của con người, có thân xác đàng hoàng, cho dù bản tính nhân loại của Người nói chung và thân xác của Người nói riêng, vì được ngôi hiệp với thiên tính vô cùng thiện hảo, hoàn toàn nguyên tuyền tốt đẹp, không mang một tì vết nào của nguyên tội, Người vẫn lãnh nhận phép cắt bì như mọi bé trai phàm nhân khác, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại: "khi đã đủ tám ngày, lúc phải cắt bì cho con trẻ, thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi trước khi con trẻ được đầu thai trong lòng mẹ".

Hài Nhi Giêsu chịu phép cắt bì như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại chứng tỏ Người thực sự mặc lấy nhân tính của loài người, một nhân tính có thân xác thật sự (real) chứ không phải là một thứ ảo tượng (virtual) nào đó, một thân xác đã thật sự được thụ thai, cưu mang và hạ sinh bởi một trinh nữ ở Nazarét đã đính hôn (xem Luca 1:26-27,34-35), và là một thân xác đã bắt đầu đổ máu cứu chuộc khi chịu phép cắt bì này, hình ảnh tiên báo phép rửa Người phải chịu sau này khi tới thời điểm của Người (xem Luca 12:50).

Đó là lý do, trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô đã viết cho Kitô hữu thành Galata và khẳng định rằng Chúa Kitô được sinh ra bởi một người nữ - là Trinh Nữ Maria Nazarét, và được sinh ra theo lề luật - như luật chịu phép cắt bì: "khi đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho chúng ta được nhận làm dưỡng tử".

Phải, Lễ Mẹ Thiên Chúa được cử hành vào ngay ngày đầu năm, tiêu biểu cho sự kiện thời gian bắt đầu, chẳng những ở chỗ Mẹ Maria là một tạo vật thuần túy đã có ngay từ ban đầu cùng với Ngôi Lời trong thượng trí của Thiên Chúa, mà còn ở sự kiện khi Mẹ bắt đầu hiện hữu trên trần gian này là dấu báo trước rằng "đã tới lúc thời gian viên mãn", thời điểm "Lời hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1;14).

Tuy Mẹ Maria chỉ sinh ra thân xác của Lời Nhập Thể, từ chính huyết nhục hoàn toàn trinh nguyên thánh hảo của Mẹ, nhưng thân xác được gọi là Thánh Thể này của Lời Nhập Thể thuộc về một nhân tính bất khả phân ly với thiên tính, và ngay từ giây phút hoài thai trong lòng Mẹ nhân tính ấy đã được ngôi hiệp với thiên tính, tức là đã được hiệp nhất nên một thần tính để trở thành một Ngôi Vị Thần Linh Con Thiên Chúa Làm Người, mà Mẹ Maria không phải chỉ là Mẹ của nhân vật lịch sử Giêsu mà còn là chính Mẹ của Thiên Chúa nữa, như Công Đồng Chung Epheso đã chính thức và công khai tuyên tín năm 431.

Vẫn biết, theo lý luận trần gian, là một tạo vật vô cùng thấp hèn và hữu hạn, được tạo dựng nên trong thời gian, Mẹ Maria không thể nào có thể làm Mẹ sinh ra Đấng tự hữu, hiện hữu và hằng hữu, như thể Mẹ đã có trước Thiên Chúa, nhưng theo dự án thần linh vô cùng khôn ngoan và toàn năng, Mẹ Maria chỉ là dụng dụ hay phương tiện thuần túy được "Quyền Phép Đấng Tối Cao bao phủ" (Luca 1;35), nhờ đó Mẹ mới có thể thụ thai, cưu mang và hạ sinh "Con Đấng Tối Cao" (Luca 1:32), và vì thế "trẻ thánh được sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (Luca 1:35).

Khi mặc lấy nhân tính của con người, "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) đã trở thành một vị thượng tế của Thiên Chúa giữa loài người trong việc thánh hóa loài người cũng như các hoạt động và sự vật của loài người nơi chính bản tính nhân loại được ngôi hiệp với thiên tính vô cùng hoàn hảo thánh thiện của Người, một thiên chức và vai trò thượng tế đã được tiên báo nơi thiên chức và vai trò tư tế của Aaron cũng như của con cái vị này, như Bài Đọc 1 hôm nay trích từ Sách Dân Số cho thấy:

"Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel; hãy nói với chúng thế này: 'Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con'. Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel, và Ta sẽ chúc lành cho chúng".

Bài Đáp Ca hôm nay âm vang ý nghĩa và chiều hướng của Bài Đọc 1, ở chỗ, về phía của thành phần lãnh nhận, của riêng dân Do Thái cũng như của chung nhân loại và toàn thể vũ trụ, nơi mầu nhiệm nhập thể và giáng sinh của "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), tất cả đều như tích cực hưởng ứng lãnh nhận phúc lành của Thiên Chúa, qua vị thượng tế thánh hóa trần gian nơi nhân tính của Người, một nhân tính xuất phát từ Trinh Nữ Nazarét là Mẹ Thiên Chúa:

1) Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con; xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ.

2) Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu.

3) Chư dân, hãy ca tụng Ngài; thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài.

Thánh thi Kinh Sách Giờ Kinh Phụng Vụ Lễ Mẹ Thiên Chúa

Gốc tổ Giesê có một cành

Một cành trĩu nặng trái thơm xinh:

Một bà mẹ trẻ sinh Con Chúa,

Sau trước một bề vẫn đồng trinh.

Ðấng đã tác thành nên ánh sáng

Mà nay sinh xuống giữa hang lừa,

Cùng Cha tạo dựng trời vô hạn,

Giờ Mẹ đặt nằm quấn tã thưa.

Người đem luật pháp đến cho đời,

Huấn giới mười điều dạy khắp nơi,

Cam phận nhân sinh trong cõi thế,

Người vâng luật lệ mãi không thôi.

Hào quang cứu độ nay tràn tới

Quét sạch đêm đen, diệt tử thần,

Muôn nước, muôn dân, nào hội lại

Kính thờ Con Chúa xuống trần gian.

Giêsu Cứu Chúa, Con Trinh Mẫu,

Ngàn vạn lời ca chúc tụng Ngài,

Thánh Phụ, Thánh Thần, muôn nhân hậu,

Xin cùng thượng tiến nhạc thiên thai.

Lời nguyện cho các Giờ Kinh Phụng Vụ Ngày Lễ Mẹ Thiên Chúa

Lạy Thiên Chúa toàn năng, ngày Ðức Trinh Nữ Maria sinh hạ Ðấng Cứu Thế, Chúa đã tặng ban cho nhân loại kho tàng ơn cứu độ muôn đời. Xin cho chúng con được nhờ lời Ðức Mẹ nguyện giúp cầu thay, vì chính nhờ Ðức Mẹ chúng con mới đáng nhận lãnh nguồn sức sống vĩnh cửu là Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI - DUC ME GUADUATAPE PDF Print E-mail

4 ĐIỀU KỲ DIỆU VỀ ĐỨC MẸ GUADALUPE

Anh Nguyen

Vào ngày 12 tháng Mười Hai hàng năm, Giáo hội mừng lễ Đức Mẹ Guadalupe, đánh dấu ngày 9/12/1531, khi Đức Mẹ hiện ra ở Mexico với một nông dân 57 tuổi tên Juan Diego. Khi ấy Juan Diego đang đi bộ đến khu vực mà nay là thành phố Mexico (đồi Tepeyac), thì ông thấy Đức Mẹ hiện ra.

Để chứng minh cho Đức Tổng Giám mục những gì ông đã thấy, Đức Mẹ bảo ông leo lên đỉnh đồi để hái hoa. Khi lên tới nơi, Juan Diego tìm thấy những bông hoa hồng Castilian, vốn không nở vào mùa này và cũng không phải là loài sống được nơi đây.

Đức Mẹ đã sắp xếp số hoa tìm được vào chiếc áo tilma bằng sợi xương rồng của Juan. Và khi ông đến dinh thự của giám mục, mở chiếc áo choàng ra thì hoa rơi xuống sàn, trên bề mặt áo bỗng xuất hiện hình ảnh Đức Mẹ mà ngày nay được gọi là là “Đức Mẹ Guadalupe.” Chiếc áo tilma với hình ảnh Đức Mẹ chỉ trong vòng 7 năm đã tác động lên hàng triệu người, khiến họ chuyển sang đạo Công giáo.

Bên cạnh đó, chiếc áo hiện được trưng bày tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ Guadalupe ở thành phố Mexicô, Mexicô còn có nhiều điều lạ lùng mà các khoa học gia chưa thể giải thích.

Dưới đây là 4 sự thật đáng kinh ngạc về chiếc áo tilma in hình Đức Mẹ.
1) Chất liệu và màu sắc đặc biệt mà loài người không thể tái tạo

Chiếc áo tilma được làm chủ yếu từ sợi cây xương rồng, một chất liệu có chất lượng rất kém và bề mặt thô ráp. Vì thế rất khó để mặc chúng, và thậm chí còn khó hơn nếu muốn giữ được hình ảnh đã vẽ lên vải. Tuy thế, hình ảnh Đức Mẹ trên tấm áo tilma nói trên vẫn còn cho đến ngày nay. Các nhà khoa học nghiên cứu vải tấm nhấn mạnh rằng, bề mặt tấm vải đã không được xử lý bằng bất kỳ kỹ thuật nào. Bề mặt trên tấm tilma có in hình Đức Mẹ khi chạm vào thì mềm như lụa, trong khi những phần còn lại tilma vẫn thô ráp.

Hơn nữa, các chuyên gia nhiếp ảnh hồng ngoại nghiên cứu vào cuối những năm 1970 xác định rằng, trên chiếc tilma không có bất kỳ nét cọ nào (hoàn toàn không), như thể ảnh Đức Mẹ được sáp nhập vào làm một với tấm vải. Tiến sĩ Phillip Callahan, một nhà sinh lý học tại Đại học Florida phát hiện ra rằng, khi đưa bức ảnh ra xa một chút thì có sự khác biệt về diện mạo của kết cấu và màu da của Mẹ, mà con người không thể tái tạo được:

“Kỹ thuật đó không thể là do bàn tay con người làm nên. Nó chỉ thường xảy ra trong tự nhiên, như màu của lông chim hay cánh bướm và những màu tươi tắn trên bọ cánh cứng... Nếu từ từ lùi ra xa bức ảnh, đến một khoảng cách nhất định thì các sắc tố tự nhiên và bề mặt có in hình Đức Mẹ sẽ hòa quyện vào với nhau, vẻ đẹp tuyệt vời nơi chân dung Đức Trinh Nữ có màu của trái olive hiện ra như thể đó là ma thuật.”

Ngoài ra, tấm vải có in hình Đức Mẹ còn thay đổi nhẹ màu sắc tùy vào góc nhìn của người xem. Màu sắc của bức ảnh cũng không thể tìm thấy nơi các loài động vật hay trong các nguyên tố khoáng chất (vào năm 1531, chưa có màu tổng hợp), khiến nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp.

2) Mọi người cho đây chỉ là một bức vẽ, nhưng chiếc áo tilma ấy đã đánh bại mọi bức vẽ bản sao cả về thời gian lẫn chất lượng

Mỗi khi có ai muốn tạo ra một bản sao để thay thế bức ảnh gốc, thì kết quả là bản sao ấy sẽ nhanh chóng phai mờ, trong khi bản gốc dường như không bao giờ phai. Miguel Cabrera, một nghệ sĩ sống giữa thế kỷ 18, người đã sao chép ra ba trong số những bản sao nổi tiếng nhất (một dành tặng Tổng giám mục, một dành tặng Đức giáo hoàng và một cho chính ông) đã từng viết về sự khó khăn trong việc sao chép bức ảnh, dù là với những chất liệu tốt nhất:

Ông nói: “Tôi tin rằng dù một họa sĩ tài năng và cẩn thận nhất đi chăng nữa, nếu anh ta sao chép bức ảnh thánh thiêng này trên tấm vải vẽ có chất lượng kém [như chiếc áo tilma gốc], thì dẫu anh có cố gắng khó nhọc đến mấy để họa lại 4 chất liệu trên bức ảnh, thì cuối cùng cũng phải mệt mỏi thừa nhận rằng mình không thể làm được. Điều này có thể được chứng minh rõ ràng qua rất nhiều bản sao đã được tạo nên, nhờ vào lợi thế của việc sử dụng véc-ni, tấm vải vẽ được chuẩn bị cẩn thận nhất và chỉ sử dụng một chất liệu là dầu – môi trường thuận lợi nhất cho việc vẽ tranh...”

Tiến sĩ Adolfo Orozco, nhà nghiên cứu và nhà vật lý học tại Đại học Quốc gia Mêxicô, vào năm 2009 đã so sánh việc chiếc áo tilma được bảo quản quá hoàn hảo so với những bản sao của nó.. Ví dụ, một bản sao năm 1789 được vẽ trên một bề mặt tương tự với các kỹ thuật tốt nhất vào thời điểm đó, sau đó bản sao được bọc kính và lưu trữ bên cạnh chiếc áo tilma gốc. Lúc đầu, trông bản sao thì đẹp khi mới sơn, nhưng chỉ 8 năm sau với khí hậu nóng ẩm của Mêxicô, người ta đã phải gỡ bỏ bản sao này bởi màu sắc đã phai mờ và có những vết nứt.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Orozco cho biết, không có bất kỳ lời giải thích khoa học nào lý giải cho sự thật là “chiếc áo tilma gốc đã được trưng bày ngoài trời trong gần 116 năm mà không có bất kỳ biện pháp bảo vệ nào. Tấm áo đã hấp thu tất cả những tia hồng ngoại và tia cực tím từ phát ra từ hàng chục ngàn ngọn nến gần đó, đồng thời tiếp xúc với không khí ẩm ướt và mặn trong ngôi đền.”

3) Chiếc áo tilma giống như một cơ thể sống

Năm 1979, khi Tiến sĩ Callahan phân tích áo tilma bằng công nghệ hồng ngoại, ông cũng phát hiện ra rằng chiếc áo luôn duy trì một nhiệt độ không đổi là 98,6 độ F (tương đương 36,6 – 37 độ C), giống như nhiệt độ của một cơ thể sống.

Khi bác sĩ Carlos Fernandez de Castillo, một bác sĩ phụ khoa Mêxicô, kiểm tra áo tilma, đầu tiên ông thấy một bông hoa bốn cánh nằm ở vị trí là dạ con của Mẹ Maria. Người Aztec gọi loài hoa này là Nahui Ollin, đây là biểu tượng của mặt trời và còn là biểu tượng của sự sung túc. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, tiến sĩ Castillo kết luận rằng kích thước của cơ thể Đức Mẹ Guadalupe trong bức ảnh, tương tự với kích thước của một bà mẹ mang thai. (ngày 9/12, ngày Đức Mẹ hiện ra với Juan, chỉ hai tuần lễ trước Giáng sinh...).

Cuối cùng, một trong những phát hiện nổi tiếng nhất, đó là những khám phá nằm trong đôi mắt của Đức Mẹ trong bức ảnh. Tiến sĩ Jose Alte Tonsmann, một bác sĩ nhãn khoa người Peru đã tiến hành một nghiên cứu, và một trong những thí nghiệm của ông là phóng đại 2.500 lần hình ảnh đôi mắt Đức Mẹ. Với hình ảnh phóng đại này, nhà khoa học này phát hiện có hình ảnh 13 người ở cả hai mắt với các tỷ lệ khác nhau, giống như mắt của con người khi nhìn sự vật gì đó. Đôi mắt dường như đã chụp lại cảnh tượng khi thánh thánh Juan Diego trải chiếc áo tilma của mình ra trước mắt vị Tổng giám mục.

4) Bức ảnh dường như không thể bị phá hủy
Qua nhiều thế kỷ, có hai sự kiện đã đe dọa sự nguyên vẹn của chiếc áo tilma. Một xảy ra vào năm 1785 và một vào năm 1921. Năm 1785, khi một công nhân đang lau dọn bề mặt kính của bức ảnh, ông đã vô tình làm tràn 50% dung dịch a-xít nitric lên phần lớn bức ảnh. Vì thế, hình ảnh Đức Mẹ và những nơi còn lại của áo tilma ngay lập tức bị dung dịch ăn mòn gần hết. Tuy nhiên sau 30 ngày, bức ảnh tự phục hồi và còn nguyên vẹn cho đến này nay, ngoại trừ các vết bẩn nhỏ trên tấm vải không in hình Đức Mẹ.

Năm 1921, một nhà hoạt động chống giáo sĩ đã giấu một quả bom có chứa 29 thanh thuốc nổ trong một lọ hoa hồng, và đặt nó trước bức ảnh bên trong Vương cung thánh đường ở Gadalupe. Khi quả bom phát nổ, hầu như tất cả mọi thứ từ bàn thờ bằng đá cẩm thạch, sàn nhà cho tới cửa sổ cách đó 150m đều bị vỡ... nhưng bức ảnh và khung kính xung quanh vẫn không ảnh hưởng gì. Thiệt hại duy nhất xảy ra gần với áo tilma là một cây thánh giá bằng đồng thau bị xoắn và uốn cong bởi vụ nổ.
Anna Huê (theo Church Pop)

Story of Our Lady of Guadalupe and Saint Juan Diego

Story of Our Lady of Guadalupe and Saint Juan Diego
A dramatization of the story of Our Lady of Guadalupe who appeared to Saint Juan Diego near the hill of Tepeyac,...

Where it all happened. "LA VILLA DE GUADALUPE", Mexico City. Our Lady, St. Juan Diego, Tepeyac Hill

Where it all happened. "LA VILLA DE GUADALUPE", Mexico City. Our ...
Best viewed in 720p HD. Music by "Music from the Vatican--Alma Mater" The Blessed Virgin Mary appeared...

__._,_.___

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 30