mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4350
mod_vvisit_counterHôm Qua6418
mod_vvisit_counterTuần Này40314
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này209019
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13579196

We have: 63 guests online
Your IP: 54.227.76.35
 , 
Today: May 23, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Những Bài Về Đức Mẹ
NHUNG BAI VE DUC ME # 71= LOI XIN VANG PDF Print E-mail

LỜI XIN VÂNG
Lm. Giuse Trần Đình Long
Dòng Thánh Thể

Với lời "Xin Vâng", Đức Maria được làm Mẹ Thiên Chúa như lời Sứ Thần đáp lời Mẹ : "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (Lc1, 35). Bà Elizabet tự hỏi : "Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" (Lc 1,43). Còn Mẹ Maria thưa với sứ thần : "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" (Lc 1,34). Thực ra không ai trong loài người có thể lý luận tại sao ? Vì Kinh Thánh nói : "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." (Lc 1,37). Tất cả những việc Thiên Chúa làm chỉ vì yêu thương con người. Nhưng đúng hơn là mỗi người chúng ta phải nói lên được rằng : Việc Đức Maria đáp tiếng "Xin Vâng" để làm Mẹ Thiên Chúa là bởi vì Thiên Chúa yêu tôi. Vì yêu tôi mà Ngài đã phải hạ mình nhờ cậy một người phụ nữ hèn mọn, do chính tay Ngài tạo dựng nên, để làm Mẹ Ngài, để nhờ người nữ này mà Con Thiên Chúa có được một thân xác hữu hình ở giữa trần gian giống như tôi, để tôi được gặp gỡ Ngài, nhìn thấy Ngài chết thay tôi chỉ vì yêu mến tôi.
Đức Maria, một tôi tớ hèn kém mà tin, tin tuyệt đối, không lý luận. Mẹ cậy nhờ tất cả vào Thiên Chúa, để mặc cho Thiên Chúa muốn dẫn đưa đến đâu, tùy ý của Ngài. Mẹ chỉ biết đáp lời "Xin Vâng"!
Mọi chuyện xảy ra trong đời Mẹ, dù vui mừng, dù buồn đau, đau đến xé nát cả cõi lòng, đau đến như gươm thâu qua tim óc, Mẹ chỉ giơ tay đón nhận, giữ lấy suy niệm trong lòng, và nhắm mắt tin tưởng vào Thiên Chúa với lời "Xin Vâng". Chính như thế mà Thần khí Thiên Chúa đã dễ dàng đưa Đức Maria từ Belem nghèo hèn tới chân thập giá cô đơn. Nơi đây Mẹ thấy Con của mình trong ngày Truyền Tin được gọi là "Con Đấng Tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavid...và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận" (Lc 1,32) vậy mà giờ đây coi như bị thất bại hoàn toàn! Con của Mẹ đang bị hành hình, tả tơi nhục nhã, bị lột trần bêu xấu trước đám quần chúng kiêu căng ngạo mạn.
Trước thảm cảnh ấy, Đức Maria không kêu gào than khóc, chỉ đứng yên đối diện với đau khổ, tim vỡ ra từng mảnh mà nhìn vào thánh ý của Thiên Chúa trong giây phút bi thảm này. Mẹ vẫn chỉ một lời "Xin Vâng". Kinh Thánh nêu một câu rất ngắn, để chứng tỏ Thiên Chúa yêu mến Đức Maria thế nào. Câu ấy là : "Phúc cho Bà là kẻ đã tin" (Lc 1,45).
Lòng tin của Mẹ không rơi vào vô vọng. Lời hứa của Thiên Chúa đã thành sự. Từ trong tối tăm đau thương của thập giá, mầm sống bừng lên. Đức Giêsu đã phục sinh, và Thiên Chúa tôn vinh Giêsu Kitô là Chúa muôn loài.
Đức Maria, kẻ đã bám vào lòng tin mà chết lên chết xuống nơi thập giá cũng được phục sinh và được tôn lên làm Mẹ Thiên Chúa.
Còn tôi, kẻ đứng ngoài chầu rìa, vì lãnh đạm với ơn cứu độ, lại luôn sống thù nghịch với thập giá Đức Kitô mà cũng được nhờ ơn phục sinh của Đức Giêsu mà trở thành con Thiên Chúa, và được gọi Đức Maria, Mẹ của Ngài là Mẹ của tôi.
Khi các bà mẹ trần gian với con mắt tự nhiên muốn xếp Đức Maria ngang hàng với mình, thì Đức Giêsu nhìn họ, và qua họ, Người nhìn tất cả các bà mẹ trên thế gian và nói : "Ai là Mẹ Ta?"
Sự thật duy nhất chỉ có một Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Tất cả các bà mẹ thế gian chỉ muốn cho con mình nên danh nên phận theo ý của mình. Còn Đức Maria thì đặt tất cả vận mệnh của con mình và của cả bản thân mình trong ý của Thiên Chúa. Nên Đức Giêsu đã ca ngợi Đức Mẹ : "Mẹ và anh em Ta là kẻ nghe và làm theo ý Cha Ta".
Cả cuộc đời Đức Maria chỉ có một mong ước là bỏ ngỏ đời mình cho Thiên Chúa, là đáp tiếng "Xin Vâng". Thế nên suốt đời Mẹ chẳng cố gắng tập tành đạo đức giống như các bậc hiền nhân quân tử thế gian, mà chỉ trông nhìn vào Thiên Chúa, để đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa ban cho. Nhờ đó Đức Maria được tràn đầy nhân đức, vượt trên tất cả loài người và trên tất cả các thần thánh trên trời.
Đức Maria đã sống như vậy, và đang là gương mẫu cho mọi xác phàm muốn sống như vậy. Đức Maria là mẫu mực và là người chúng ta phải nhờ cậy để gặp gỡ được Con Thiên Chúa. Vì tất cả những gì Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài, đó là : "Chức vị làm con, chức vị thừa hưởng phúc lộc của Cha, chức vị đồng trị với Đức Giêsu" (2Tim 2,12), dù có cố gắng lắm chúng ta cũng không nhận được trọn vẹn, chưa nói chúng ta còn có khả năng từ chối. Nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho một người có khả năng nhận được, đó là Đức Maria, để nhờ Mẹ dẫn dắt mà chúng ta đón nhận được Đức Giêsu.
Đức Maria, một con người xác phàm từ đất mà ra như chúng ta, không phải từ trời mà đến như Đức Giêsu Kitô, đã sống trọn vẹn cuộc sống ân nghĩa trong vinh quang Thiên Chúa bằng lời "Xin Vâng". Mẹ đã chứa đựng trong thân xác linh hồn mình cả một Đấng quyền năng tạo thành vũ trụ, cùng với một đại dương mênh mông của lòng mến, mà vẫn sống được cuộc sống bình thường như mọi người, trong nhân ái yêu thương như mọi người, và còn trổi xa hơn mọi người. Như vậy Đức Mẹ phải là con người duy nhất mà chúng ta có thể tín nhiệm và phải cậy trông. Muốn không bị lạc nẻo giữa đường trần gian này, chúng ta phải chạy đến nhờ Mẹ đưa đến gặp gỡ được Đức Giêsu con Mẹ, để sống kết hiệp với Ngài. Sống kết hiệp không phải trên mây trên gió, mà ngay trong mọi nỗi đau buồn, khấp khểnh, đói no, bất trắc của cuộc sống hôm nay, trong xã hội này, giữa thế giới đầy xao xuyến bất an chúng ta đang ở.
Bản thân Đức Maria chẳng có công nghiệp gì để đáng được như vậy. Và phần chúng ta không bao giờ có thể đặt một tạo vật như Đức Maria ngang hàng với Đức Giêsu Kitô. Tất cả chỉ là ơn, như chính Đức Maria đã nói trong kinh Magnificat. Mẹ chẳng có công gì nhưng tất cả đều là ơn huệ của Thiên Chúa : "Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Tòn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả..." (Lc 1,48-49).
Đức Maria được nên cao trọng như vậy, bởi vì Mẹ đã đặt cả đời mình vào trong ý của Cha trên trời và kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô.
Hôm nay nhìn vào Đức Maria, Mẹ của tôi hiện đang ở trên thiên quốc cả hồn lẫn xác, và cũng đang ở bên tôi. Mỗi người tự đặt câu hỏi : Tôi phải yêu mến Đức Maria thế nào ?
Thưa, tôi phải yêu mến Đức Maria như người con thảo đối với mẹ hiền. Đừng bao giờ sợ lòng yêu mến Đức Maria là quá mức hay quá đáng. Vì thật sự tất cả thần thánh trên trời cũng như những người tốt lành dưới đất có yêu mến Đức Maria đến đâu cũng không thể sánh bằng lòng yêu mến của Đức Giêsu Kitô đối với Mẹ của Ngài được.
Hơn nữa, nếu tôi càng yêu mến Đức Mẹ, thì chắc chắn tôi lại càng gắn bó mật thiết với Đức Giêsu. Vì chính Đức Mẹ sẽ giúp tôi làm việc ấy, và cũng chính là lòng khao khát của Đức Mẹ như vậy. Đức Mẹ sẽ có con đường ngắn nhất và đúng nhất để dẫn dắt tôi vào trong tình yêu của Con Thiên Chúa.
Suy niệm như thế, tôi phải cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi một người Mẹ, đã thấm cuộc đời mình vào trong đau khổ thập giá Đức Kitô mà được nên tinh tuyền cao trọng và có một tấm lòng yêu thương tôi vô bờ bến.
Chính Đức Giêsu đã ban cho tôi ân huệ này. Ngài nói với tôi : "Này là Mẹ con". Và Đức Giêsu hằng mong ước mọi người luôn chạy đến nhờ cậy Mẹ của Ngài. Khi tôi chạy đến cùng Đức Maria thì Đức Mẹ ban cho tôi những ơn gì ?
Riêng tự mình Đức Mẹ, thì Mẹ chẳng có ơn gì để cho tôi cả, nhưng khi tôi chạy đến cùng Mẹ, thì chắc chắn tôi sẽ được Đức Maria ban cho Đức Giêsu Kitô, Con của Mẹ.
Do đó hàng ngày tôi siêng năng đọc kinh lần hạt sùng kính Đức Mẹ mà tôi thấy lòng tôi vẫn lạnh nhạt với Đức Giêsu Kitô, thì tôi phải xem lại cách kính mến Đức Mẹ của tôi. Vì nơi nào tôi thấy bóng dáng Đức Maria mà không thấy Đức Giêsu thì có thể tôi đã yêu mến một bà nào, mà tôi tưởng là Đức Mẹ, mà thực sự không phải là Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa. Vì hai trái tim của Đức Maria và Chúa Giêsu đã nên một với nhau trong Thần khí Chúa, không bao giờ tách rời phân cách.
Lạy Đức Maria, xin cho con biết đáp tiếng "Xin vâng" như Mẹ trong mọi biến cố cuộc đời, để ý Chúa được thể hiện trong con, để con không bắt người khác lúc nào cũng phải làm theo ý con, để con không lấy ý con làm trên hết, nhờ đó những người khác đỡ khổ vì con, và con được sống bình an trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ con. Amen
Lễ Truyền Tin 25-03

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 70 = ONG KHACH LA PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] FW: Ong khach la ( Thanh ca Giuse )
Anthony Quang Dinh

From: Duy Am [mailto: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it ]
Sent: Sunday, March 02, 2014 10:58 AM

Ông Khách Lạ

Tu hội "Đức Mẹ Mân Côi" ở Palestina, do Mẹ Alfonsine Ghattas sáng lập, là một Tu hội toàn người bản xứ. Tu hội sống đời sống đơn sơ, thanh bần, rất ít liên lạc không những với người ngoại quốc mà cả với người bản xứ.

Mẹ Alfonsine Ghattas lập nhà đầu tiên ở Belem. Mẹ đã sống nhiều năm ở đó với nữ tu tiên khởi là Sơ Franziska. Tuy khó nghèo, Mẹ cũng đã sớm nhận chăm sóc, nuôi nấng 6 trẻ mồ côi và sẵn sàng giúp đỡ tuỳ khả năng, khi có người túng thiếu đến gõ cửa. Tuy đơn nghèo túng thiếu, cả hai mẹ con Alfonsine và Franziska và các người liên hệ đều bằng lòng, hân hoan được noi gương bắt chước Chúa Hài Nhi đã sinh ra ở Belem giữa cảnh thanh bần trong đêm đông giá lạnh.

Thánh Giuse xưa đã tận tâm lo cho Thánh Gia thế nào, nay Ngài cũng đặc biệt phù giúp Tu hội Đức Mẹ Mân Côi như thế, bởi lẽ cả hai mẹ con Alfonsine và Franziska đều có lòng tôn sùng đặc biệt Thánh Giuse và đồng lòng chọn Thánh Giuse làm Đấng chở che, hộ phù Tu hội và hằng chạy đến với Người mỗi khi gặp túng thiếu hay gian nan, thử thách...

Tháng 3 năm 1904, xảy ra một chuyện lạ: Trước lễ Thánh Cả Giuse, hai mẹ con với đám trẻ côi cút và các người liên hệ cùng nhau làm tuần Cửu Nhật kính Thánh Giuse, đồng thời xin Người phù giúp cách nào vì tiền bạc, kho lẫm, thóc gạo trong nhà đều cạn cả... Đúng ngày áp lễ (18 tháng 3) thì tuần Cửu Nhật kết thúc và chút ít bánh gạo dự trù cho ngày lễ cũng cạn sạch. Cả ngày 18 qua đi mà vẫn chẳng thấy một sự cứu giúp nào từ trời. Tuy không biết ngày mai (19 tháng 3) phải lấy gì dọn cho đám trẻ tội nghiệp, cả Mẹ Alfonsine lẫn sơ Franziska đều vững lòng cậy trông và nhắc nhở nhau:

- Thánh Giuse - Cha Nuôi Chúa Giêsu và Bạn Thanh Sạch Đức Mẹ Đồng Trinh - sẽ giúp. Người không quên chúng ta đâu.

Trời bắt đầu tối. Mưa gió thình lình nổi lên... Rồi bất thần có tiếng gõ cửa. Sơ Franziska vội vàng ra xem ai. Vừa mở cửa, Sơ ngỡ ngàng thấy một người lạ đứng đó, trên lưng mang một đống đồ nặng trĩu. Sơ chưa kịp chào hỏi, ông khách lạ đã nhã nhặn nói:

- Đây là chút quà cho mấy trẻ em.

Thấy ông khách lạ nhã nhặn, tử tế, lại đem quà cho đám trẻ, Sơ Franziska vững dạ gọi Mẹ Alfonsine, mở cửa mời ông khách lạ vào phòng khách, giúp ông gỡ đống đồ nặng trên lưng. Đó là cái áo choàng (Abaije) của người Ả Rập, ông khách lạ dùng để bọc các thứ quà ông mang đến. Một điều hơi lạ là cả Mẹ Alfonsine lẫn Sơ Franziska đều để ý: Sơ Franziska chỉ qua lại mấy phút ở ngoài sân để đón khách mà mình bị ướt đẵm (vì trời mưa lớn), còn ông khách lạ: cả người lẫn áo quần và đồ mang trên lưng vẫn khô ráo, sạch sẽ như thường... Hai mẹ con mời ông khách lạ an toạ, rồi Mẹ Alfonsine hỏi ông:

- Xin lỗi, ai đã nhờ ông mang quà đến cho chúng tôi? Có phải các Sư huynh ở Tantur không?

- Không.

- Có phải các Sơ ở Hortas không?

- Không

- Hay cha sở Schukri ở Betschala?

- Không.

Mẹ hỏi câu nào, ông khách lạ đều đáp là "Không."

Đang lúc Mẹ Alfonsine và Sơ Franziska chuyện trò với ông khách lạ, thì đám trẻ nghe có người đến cho quà bánh, chúng reo mừng hớn hở chạy đến, túm vào cùng với Sơ Franziska khiêng đống quà xuống bếp. Khi đã tháo gỡ tất cả đồ bọc trong đó: bánh trái, hoa quả, rau lá đủ thứ. Sơ Franziska và các người có mặt thấy cái áo choàng Ả Rập (Abaije) hết sức đẹp đẽ, vải còn mới tinh, mầu sắc tuyệt vời linh động... Sơ Franziska thầm nghĩ trong đầu: "Thật uổng quá, cái áo đẹp và còn mới như vậy mà đem bọc rau cỏ, hoa quả, bánh trái... Nhưng lúc nhìn kỹ lại thì cái áo vẫn mới tinh, sạch sẽ, không chút nhớp nhúa, dơ bẩn tì tích gì... Ai cũng bỡ ngỡ thì thầm...

Nãy tới giờ, Mẹ Alfonsine và ông khách lạ vẫn thích thú nhìn Sơ Franziska và đám trẻ hớn hở, tíu tít khui bọc quà... Mẹ Alfonsine cũng thầm khen phục ông khách lạ: Tuy người ông có gầy ốm chút ít, nhưng tầm thước thật cân đối, mặt mũi hiền lành, bình thản, nhất là con người ông thấy như toả giãi một phong cách khác thường... Sau khi đã khui xong bọc quà, Sơ Franziska đem chiếc áo choàng lại cho ông khách với lời cám tạ nồng nhiệt về bọc quà vừa nhiều vừa quý và lạ. Ông khách lạ đỡ lấy cái áo nhưng không quàng vào mình như thường lệ khi trời mưa. Ông gấp lại, đeo trên cánh tay và xin từ biệt Mẹ Alfonsine. Mẹ vội vã hỏi ông:

- Thưa ông, chúng tôi phải trả thù lao cho ông chút gì chứ? Hay ông có muốn chút chi để ăn uống trên đường về không?

Ông khách đáp lại:

- Xin cám ơn, xin cám ơn. Tôi không cần chi cả, bà cũng không phải trả thù lao cho tôi.

Nói xong, ông chào biệt rồi ra về trong đêm mưa gió. Khi ông khách lạ đi rồi, cả Mẹ Alfonsine lẫn Sơ Franziska tự nhiên thấy mình như người mê mới tỉnh lại, vừa ngỡ ngàng trước diễn tiến sự việc mới xảy ra vừa la lên cùng một câu nói giống như nhau:

- Lạy Chúa, ông khách lạ chắc là Thánh Giuse rồi.

Lúc ấy, cả hai mới sực nhớ và cùng nuối tiếc đã quên không hỏi quý danh và xuất xứ của ông khách lạ. Và cả hai đều đồng lòng qủa quyết: Trực tiếp hay gián tiếp thì chính Thánh Giuse đã cứu giúp chúng ta trong cơn túng quẫn...

Ngay sáng hôm sau, Mẹ Alfonsine đã cho người liên lạc đến các ân nhân ở các địa điểm trên đây (Tantur, Hortas, Betschala), hỏi xem có phải họ đã cho người mang quà đến cho mình không? Tất cả đều trả lời "Không". Họ vừa mừng cho Mẹ vừa ngạc nhiên suy nghĩ...

Vậy là cả tuần lễ ấy, các Sơ và đám trẻ em vẫn còn thưởng thức món quà ông khách lạ mang đến. Mỗi lần ngồi vào bàn ăn, Mẹ Alfonsine luôn nhắc nhở đám trẻ:

- Hỡi các con, đây là quà Chúa ban và Thánh Giuse mang từ trời xuống. Các con cứ vui vẻ ăn uống, thưởng thức, nhưng đừng bao giờ quên ơn Chúa và Thánh Cả...

Sơ Franziska còn cho biết:

- Trong số các thứ bánh trái, hoa quả và rau, có nhiều thứ Sơ chưa hề thấy bao giờ và cũng không phải là thổ sản của xứ Palestine. Hương vị đều tuyệt vời, không biết xuất xứ từ đâu!

Mọi người trong nhà đều mừng vui hoan hỷ. Và từ ngày ấy, lúc nào trong nhà có hai người gặp nhau là luôn vang lên bản hoà âm vắn tắt: "Tạ ơn Chúa, cám ơn Thánh Giuse."

(Theo NS. Trái Tim Ðức Mẹ - Hoa Kỳ)

__._,_.___

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 69 = TAM TINH NGUOI NGOAI PDF Print E-mail

2014-02-24 10:50 GMT-08:00 Giang Lam :

TÂM TÌNH NGƯỜI NGOẠI ĐẠO

TRƯỚC HANG ĐÁ LỘ ĐỨC.

( Tặng nữ sĩ Việt Dương Nhân * )

Con quỳ gối chấp hai tay cầu nguyện

Nữ Đồng Trinh Mẹ Thiên Chúa Ngôi Hai.

Mẹ nhân từ hằng cứu giúp loài người

Đang quằn quại trong ngục đời máu lửa.

Con biết Mẹ đứng chờ con trước cửa

Hang đá nghèo* để nâng đỡ đời con .

Mẹ đứng hoài chờ đón kẻ cô đơn

Đang lạc bước đường trần gian muôn ngả .

Con đã đến với hình hài tơi tả ,

Bệnh nan y và thân xả xác rời,

Nhiều đau thương, bất hạnh lằm Mẹ ơi.

Sao kể xiết vết thương đời nghiệt ngã.

Con quỳ lạy khấn van xin cứu chữa

Một lần thôi, con quyết trả ơn đời .

Mẹ giúp con tạo dựng lại tương lai

Và cam kết sẽ thành người hữu thệ. **

Con ngoại đạo không thuộc lời kinh kệ,

Chẳng biết gì, ngoài giọt lệ cầu xin

Thật đơn sơ. Mẹ âu yếm đứng nhìn

Và tuôn đổ muôn hồng ân đại xá.

Ôi phép lạ, trời đất ơi phép lạ .

Thật phi thường Mẹ đã chữa đời con.

Con la lên để minh chứng đức tin***

Quyền uy Mẹ đã cứu con lành bệnh.

NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT.

* Cảm tác qua bức hình Phật tử VDN quỳ trước Hang Đá Đức Mẹ hiện ra tại Lourdre ,Pháp quốc và căn cứ theo lời tường thuật của VDN thi VDN đã được phép lạ lành bệnh của đức mẹ lộ đức mà VDN chưa tiện nói ra. Hy vọng VDN sẽ là một trong hàng ngàn nhân chứng sống nói lên sự thật biết tạ ơn Dức Mẹ qua lời nhân chứng sống.

** Gia nhập đạo Công Giáo.

*** Phúc cho những ai không thấy mà tin. ( PA)

Kính chuyển
Hồng

 
NHỮNG BÀI VỀ ĐỨC MẸ # = ME LO DUC PDF Print E-mail

DTC GPII - Me Lo Duc Ngay Benh Nhan
Tinh Cao
Today Feb. 11-14 at 1:10 AM
Ngày Thế Giới Bệnh Nhân được ĐTC Gioan Phaolô II thiết lập từ ngày 13/5/1992 để cử hành vào Lễ Mẹ Lộ Đức hằng năm 11/2. Năm 2004, năm kỷ niệm 150 năm Tín Điều Thánh Mẫu Vô Nhiễm (1854-2004), Ngày Thế Giới Bệnh Nhân được tổ chức tại ngay Linh Địa Thánh Mẫu Lộ Đức như lần đầu tiên năm 1993, và là năm học hỏi cùng suy niệm chủ đề "Việc Hoài Thai Vô Nhiễm và Vấn Đề Chăm Sóc Sức Khỏe theo những căn gốc Kitô Giáo ở Âu Châu".

ĐTC GPII đã tông du Lộ Đức để mừng kỷ niệm 150 năm Tín Điều Mẹ Vô Nhiễm được Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX tuyên tín ngày 8/12/1854. Và chuyến tông du Thánh Mầu Lộ Đức này, 14-15/8/2004, là chuyến tông du thứ 104 trong giáo triều dài 26 năm rưỡi của ngài, đồng thời cũng là chuyến tông du cuối cùng của vị giáo hoàng lấy khẩu hiệu Thánh Mẫu "totus tuus".

Sau đây là một số đoạn tiêu biểu từ sứ điệp của ĐTC GPII cho Ngày Thế Giới Bệnh Nhân 11/2/2004, đặc biệt liên quan tới ý nghĩa việc chữa lành ở Lộ Đức và đau khổ của con người.

"1. Ngày Thế Giới Bệnh Nhân, một biến cố được tổ chức hằng năm ở một Lục Địa khác nhau, có một ý nghĩa đặc biệt trong lần này. Thật vậy, nó sẽ diễn ra ở Lộ Đức, Pháp Quốc, địa điểm hiện ra của Đức Trinh Nữ vào ngày 11/2/1858, một địa điểm từ đó đã trở thành mục tiêu của nhiều người hành hương. Nơi miền đồi núi này, Đức Mẹ đã muốn bày tỏ tình yêu từ mẫu của mình, nhất là đối với thành phần khổ đau và bệnh nạn. Kể từ khi ấy, Mẹ tiếp tục hiện diện bằng lòng quan tâm của mình.... Đền Thánh Mẫu này được chọn là vì năm 2004 là năm kỷ niệm mừng 150 năm việc công bố Tín Điều Hoài Thai Vô Nhiễm....

"Bởi thế, việc Hoài Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội là rạng đông hứa hẹn cho một ngày quang sáng Chúa Kitô, Đấng đã phục hồi trọn vẹn mối hòa hợp giữa Thiên Chúa và nhân loại bằng cuộc tử nạn và Phục Sinh của Người. Nếu Chúa Giêsu là nguồn sống chiến thắng tử thần thì Mẹ Maria là người mẹ quan tâm đến để đáp ứng các nhu cầu của con cái mình, bằng việc giúp họ chiếm được sức khỏe phần hồn cũng như phần xác. Đó là sứ điệp được Đền Thánh Mẫu Lộ Đức liên lỉ lập lại cho thành phần sùng mộ cũng như cho các người hành hương. Đó cũng là ý nghĩa ẩn nấp bên trong các cuộc chữa lành về thân thể và tinh thần xẩy ra tại hang động Massabielle.

"Tại địa điểm này, từ ngày hiện ra với Bernadette Soubirous, Mẹ Maria đã 'chữa lành' đau thương và bệnh nạn, bằng cách phục hồi sức khỏe phần xác cho nhiều người con nam nữ của mình. Tuy nhiên, Mẹ đã thực hiện những phép lạ lạ lùng hơn nữa nơi linh hồn các tín hữu, sửa soạn cho họ gặp gỡ Chúa Giêsu Con Mẹ là giải đáp thực sự cho những mong đợi sâu xa nhất của tâm can con người. Chúa Thánh Thần, Đấng đã bao phủ Mẹ vào lúc Lời Nhập Thể, biến đổi linh hồn của vô số bệnh nhân chạy đến với Mẹ. Ngay cả khi họ không nhận được ơn về sức khỏe phần xác, họ cũng có thể lãnh nhận được một ơn khác còn quan trọng hơn thế nữa, đó là ơn hoán cải tâm hồn, nguồn mạch của sự an bình và niềm vui nội tâm. Tặng ân này biến đổi đời sống của họ và làm cho họ trở thành những tông đồ của Thập Giá Chúa Kitô, biểu hiệu của hy vọng, cho dù ngay giữa những con thử thách dữ dội nhất và khó khăn nhất.

"4. Trong Tông Thư 'Salvifici Doloris', Tôi đã nhận định rằng đau khổ là những gì thăng trầm của con người nam nữ trong suốt giòng lịch sử mà họ cần phải biết chấp nhận và thắng vượt nó (cf. No. 2: [11 February 1984]; L'Osservatore Romano English Edition [ORE], 20 February, p. 1). Tuy nhiên họ làm sao có thể thực hiện được điều này nếu không nhờ Thập Giá Chúa Kitô?

"Nơi cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đấng Cứu Chuộc, khổ đau của nhân loại tìm thấy được ý nghĩa sâu xa nhất của mình cùng với giá trị cứu độ của nó. Tất cả mọi gánh nặng của khổ ải và đau đớn của nhân loại được tóm lại nơi mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa, khi mặc lấy bản tính loài người, đã 'trở thành tội lỗi... vì chúng ta' (2Cor 5:21) một cách nhục nhã. Trên Golgotha Người đã gánh lấy tội lỗi của hết mọi con người tạo sinh, và Người đã kêu lên cùng Chúa Cha trong nỗi tủi thân và niềm phó thác là 'Tại sao Cha lại bỏ rơi con?' (Mt 27:46).

"Từ cái mâu thuẫn của Thập Giá đã phát xuất ra câu giải đáp cho những vấn đề rắc rối nhất của chúng ta. Chúa Kitô đã chịu khổ vì chúng ta. Người đã mang lấy nơi bản thân Người các thứ khổ đau của hết mọi người và cứu chuộc chúng. Chúa Kitô chịu khổ với chúng ta, cho chúng ta được thông phần đau khổ của chúng ta với đau khổ của Người. Liên kết với đau khổ của Chúa Kitô, đau khổ của nhân loại trở thành phương tiện cứu độ; đó là lý do tại sao tín hữu có thể cùng với Thánh Phaolô nói rằng 'Giờ đây tôi vì anh em vui mừng chịu đựng đau khổ của mình, và tôi hoàn tất nơi xác thịt của mình những gì còn thiếu nơi những đau thương của Chúa Kitô phải chịu vì thân thể của Người là Giáo Hội' (Col 1:24). Được chấp nhận bằng đức tin, đau đớn trở thành cửa ngõ tiến vào mầu nhiệm khổ đau cứu chuộc của Chúa Kitô; một khổ đau không còn làm mất đi sự bình an và hạnh phúc vì nó được chiếu tỏa bởi ánh quang của Cuộc Phục Sinh.

"5. Đứng dưới chân Thập Giá, Mẹ Maria, trở thành mẹ của loài người, âm thầm chịu đựng, thông phần khổ đau của Con Mẹ, sẵn sàng cầu bầu để hết mọi người được ơn cứu độ (cf. John Paul II, Apostolic Letter "Salvifici Doloris" [11 February 1984], n. 25; ORE, 20 February 1984, p. 6).

"Ở Lộ Đức, thật là dễ dàng hiểu được việc Mẹ Maria đặc biệt tham dự vào vai trò cứu độ của Chúa Kitô. Ơn lạ Hoài Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội nhắc nhở tín hữu về một sự thật nồng cốt, đó là tín hữu có thể đạt được ơn cứu độ chỉ cần bằng việc chân thành tham dự vào dự án của Chúa Cha, Đấng muốn cứu độ thế giới bằng cuộc tử nạn và Phục Sinh của Người Con duy nhất của Ngài. Nhờ Phép Rửa, tín hữu trở nên thành phần của dự án cứu độ này và được giải thoát khỏi nguyên tội. Bệnh nạn và chết chóc, mặc dù hiện diện trong cuộc sống trần gian này, sẽ mất đi ý nghĩa tiêu cực của chúng, và theo ánh sáng đức tin, cái chết về phần xác, bị cuộc tử nạn của Chúa Kitô khắc chế (x Rm 6:4), trở thành một cửa ngõ cần thiết để tiến vào sự sống viên mãn vĩnh cửu".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/messages/sick/documents/hf_jp-ii_mes_20031203_world-day-of-the-sick-2004_en.html

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 68 = GIAO LY THANH MAU PDF Print E-mail

DTC GPII - Giao Ly Thanh Mau - bai 58
Tinh Cao
Feb 8 at 11:22 AM
Mẹ Maria là "kiểu mẫu và là mô phạm" của Giáo Hội

Bài 58 - 6/8/1997

1- Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium của Công Đồng Chung Vaticanô II, sau khi trình bày Mẹ Maria như là "một phần thể ưu việt và hoàn toàn đặc thù của Giáo Hội", đã tuyên bố Mẹ là "kiểu mẫu (type) và là mô phạm (model) tuyệt hạng về đức tin và đức ái" của Giáo Hội (số 53).

Các Nghị Phụ của Công Đồng qui cho Mẹ Maria chức năng "kiểu mẫu", tức là hình ảnh "của Giáo Hội", khi vay mượn từ ngữ của Thánh Ambrôsiô là vị đã diễn tả như thế trong bài chú giải về Biến Cố Truyền Tin: "Phải, Mẹ đã được đính hôn, nhưng Mẹ vẫn là một trinh nữ, vì Mẹ là một thứ kiểu mẫu của Giáo Hội vừa tinh tuyền vừa là một cô dâu: là một trinh nữ, Mẹ đã thụ thai chúng ta bởi Thần Linh; là một trinh nữ, Mẹ đã hạ sinh chúng ta không đớn đau gì" (In Ev. sec. Luc., II, 7, CCL, 14, 33, 102-106). Như thế Mẹ Maria là một thứ kiểu mẫu của Giáo Hội vì thánh đức tinh tuyền của Mẹ, vì đức đồng trinh của Mẹ, về tình trạng đính hôn của Mẹ và vì vai trò thân mẫu của Mẹ.

Thánh Phaolô sử dụng chữ "kiểu mẫu" để cống hiến cho một thực tại thiêng liêng một hình thức khả giác. Thật vậy, ngài thấy nơi cuộc vượt qua Biển Đỏ của Dân Do Thái là một "kiểu mẫu" hay hình ảnh về Phép Rửa Kitô giáo, và thấy nơi manna cũng nh7 nơi nước vọt ra từ tảng đá một "kiểu mẫu" hay hình ảnh về của ăn và của uống Thánh Thể (cf. 1 Cor 10:1-11).

Qua việc định nghĩa Mẹ Maria là một thứ kiểu mẫu của Giáo Hội, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta hãy nhìn ở nơi Mẹ hình ảnh hữu hình về thực tại thiêng liêng của Giáo Hội, cũng như nơi vai trò mẫu thân tinh tuyền của Mẹ lời loan báo về vai trò mẫu thân trinh trắng của Giáo Hội.

2- Cũng cần phải giải thích thêm là không như các hình ảnh hay kiểu mẫu Cựu Ước chỉ là những gì tiền thân cho các thực tại mai hậu, thì nơi Mẹ Maria thực tại thiêng liêng đã hiện diện một cách ưu việt rồi vậy.

Cuộc vượt qua Biển Đỏ được Sách Xuất Hành diễn tả là một biến cố giải phóng cứu độ, thế nhưng chắc chắn nó không phải là một phép rửa có thể tha tội và ban sự sống mới. Cũng thế, manna, một tặng ân quí báu từ Giavê cho dân của Ngài đang lang thang trong sa mạc, đã chẳng chất chứa gì về tương lai mai hậu của Thánh Thể, của Thân Mình Chúa, hay nước vọt ra từ tảng đá cũng không chưa đựng Máu của Chúa Kitô đã đổ ra cho nhiều người.

Cuộc Xuất Hành là một công cuộc cả thể được Giavê hoàn thành cho dân của Ngài, thế nhưng nó không tạo nên việc cứu chuộc tối hậu thiêng liêng là những gì Chúa Kitô chiếm đạt nơi mầu nhiệm vượt qua.

Hơn nữa, khi đề cập đến các việc thực hành của dân do Thái, Thánh Phaolô nhắc nhở rằng: "Đó chỉ là một thứ bóng mờ về những gì sẽ tới; còn bản chất là những gì thuộc về Chúa Kitô" (Col 2;17). Điều này được âm vang trong Thư gửi Tín Hữu Do Thái, một bức thư, khai triển một cách hệ thống lời dẫn giải này, trình bày việc thờ phượng của Cựu Ước là "một thứ bản sao chép và bóng mờ của cung thánh thiên cung" (Do Thái 8:5).

3- Tuy nhiên, trong việc khẳng định Mẹ Maria là một thứ kiểu mẫu của Giáo Hội, Công Đồng không có ý coi mình như là các hình ảnh hay kiểu mẫu của Cựu Ước, mà khẳng định rằng nơi Giáo Hội thực tại thiêng liêng được loan báo và biểu hiệu hoàn toàn được nên trọn mà thôi.

Thật thế, Đức Trinh Nữ là một thứ kiểu mẫu của Giáo Hội, chứ không phải là một tiền thân bất toàn, mà là những gì trọn vẹn thiêng liêng sẽ được thấy qua những cách thức khác nhau nơi đời sống của Giáo Hội. Ở đây mối liên hệ đặc biệt này hiện diện giữa hình ảnh và thực tại được tiêu biểu là những gì dựa vào dự án thần linh, một dự án thiết định một mối liên hệ chặt chẽ giữa Mẹ Maria và Giáo Hội. Dự án cứu độ ấn định những tiền thân trong Cựu Ước được nên trọn trong Tân Ước cũng ấn định rằng Mẹ Maria sống một cách trọn hảo những gì sau này được nên trọn nơi Giáo Hội.

Sự trọn hảo Thiên Chúa ban cho Mẹ Maria bởi thế chiếm được cái ý nghĩa đích thực nhất của mình nếu nó được giải thích như là một dạo khúc cho sự sống thần linh trong Giáo Hội.

4- Sau khi nói rằng Mẹ Maria là "một kiểu mẫu của Giáo Hội", Công Đồng liền thêm rằng Mẹ là "mô phạm tuyệt hạng" của Giáo Hội, một mẫu gương về sự toàn hảo cần phải được noi theo và bắt chước. Thật vậy, Mẹ Maria là "một mô phạm tuyệt hạng" vì sự trọn hảo của Mẹ vượt trên sự trọn hảo của tất cả mọi phnầ tử khác trong Giáo Hội.

Công Đồng còn thêm cho rõ ràng đó là Mẹ thi hành vai trò này "về đức tin và đức ái". Lưu ý rằng Chúa Kitô là đệ nhất mô phạm, Công Đồng theo đó gợi ý rằng có những chuẩn bị nội tâm thích hợp với mô phạm được hiện thực nơi Mẹ Maria, những chuẩn bị giúp cho Kitô hữu tạo nên một mối liên hệ chân thực với Chúa Kitô. Thật thế, bằng việc nhìn vào Mẹ Maria, tín hữu học biết sống mối hiệp thông sâu xa hơn với Chúa Kitô, gắn bó với Người bằng một đức tin sống động và đặt niềm tin tưởng của mình cùng hy vọng của mình nơi Người, yêu mến Người bằng cả con người của mình.

Những chức năng làm "kiểu mẫu và mô phạm của Giáo Hội này liên hệ đặc biệt đến vai trò mẫu thân trinh nguyên của Mẹ Maria và làm sáng tỏ về vị thế đặc biệt của Mẹ trong công cuộc cứu độ. Cấu trúc căn bản này về con người của Mẹ Maria được phản ảnh nơi vai trò làm mẹ và tính chất trinh nguyên của Giáo Hội.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/audiences/1997/documents/hf_jp-ii_aud_06081997_en.html

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 Next > End >>

Page 23 of 30