mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5600
mod_vvisit_counterHôm Qua8689
mod_vvisit_counterTuần Này22869
mod_vvisit_counterTuần Trước75465
mod_vvisit_counterTháng Này210476
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9710042

We have: 154 guests online
Your IP: 54.198.108.19
 , 
Today: Nov 21, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Những Bài Về Đức Mẹ
NHUNG BAI VE DUC ME # 20 = DUC ME TRONG KINH CAU 2 PDF Print E-mail

 

ĐỨC MẸ TRONG KINH CẦU

BÀI 2

RẤT THÁNH ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI.

Đức Mẹ Chúa Trời! Đức Mẹ Thiên Chúa tối cao! Đó là lời tán tụng lớn nhất , giá trị nhất người ta có thể dâng lên Đức Trinh Nữ Maria. Khi chọn Đức Maria làm Mẹ Người, tất nhiên Thiên Chúa phải chọn người xứng đáng nhất, phải giữ gìn để Mẹ Người không vướng mắc một tì ố và tội lỗi gì. Vua Cả trời đất chuẩn bị và trang hoàng cung điện của mình: Người cho Đức Maria được tham dự công cuộc cứu chuộc loài người và cuối cùng Người đưa cả linh hồn và xác mẹ lên trời, đặt Mẹ làm Nữ Vương trời đất muôn vật.

Thiên Chúa đã quyết định mặc lấy xác phàm loài người để cứu rỗi chúng ta, Người muốn sinh ra bởi một người nữ và Đức Maria đã được lựa chọn trong muôn vàn người. Thiên thần Gabriel đã được Thiên Chúa sai đến gặp Maria, người Trinh nữ vô vàn diễm phúc, để loan báo: "|Đấng Thánh do Người sẽ mang thai cách lạ lùng và sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế" (Lc1:35)

Trong suốt cuộc đời, Đức Maria đã làm nhiệm vụ một Người Mẹ đối với Chúa Giê-su: Người dưỡng dục, săn sóc và âu yếm Chúa với cả tình mẫu tử. Và đến ngày đã định, Người đã ưng thuận để Con đi thực hiện sứ mạng Cứu thế. Trong những ngày vinh hiển của Con, Đức Mẹ náu mình để khỏi tiết lộ huyền nhiệm "Mẹ Thiên Chúa" của mình, song khi con chịu đau khổ, chịu các nhục hình, thì Người có mặt dưới chân Thánh Giá. Người có mặt để chia phần đau khổ với Con, để làm nhiệm vụ "Đồng công cứu chuộc".

Giáo Hội đề cao tước vị "Mẹ Thiên Chúa" của Đức Trinh Nữ Maria, vì đó là cội nguồn, là căn nguyên của tất cả mọi đặc ân khác của Người. Khi bổ túc Kinh Kính Mừng, Giáo Hội đã không quên tước vị ấy, để ngày ngày muôn triệu người tín hữu khắp thế gian dâng lên lời ca tụng: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời!". Và lễ kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, trước đây được mừng vào ngày 11 tháng 10, đã được Giáo Hội dịch lại mừng vào ngày đầu năm Dương lịch, trong Tuần Bát Nhật Lễ Giáng Sinh, không ngoài mục đích nhắc nhở Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chùa nhập thể làm người, đã sinh ra bởi Nữ đồng trinh Maria.

LỜI NGUYỆN:

Lạy Mẹ Maria, đã hiển nhiên rằng tước vị cao cả nhất của Mẹ là tước vị làm "Mẹ Thiên Chúa".

Khi trở nên Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đã thay đổi hẳn lịch sử của đời chúng con. Chúng con không còn phải mồ côi nữa, bởi vì qua mầu nhiệm Nhiệm-thể Chúa Kitô, qua lời trối trăn của Chúa từ trên Thánh Giá và qua sự "đồng công cứu chuộc" của Mẹ, Mẹ đã trở thành Mẹ của chúng con.

Chúng con biết rằng Mẹ thương yêu Đức Giê-su do Mẹ sinh ra thế nào, thì Mẹ cũng thương yêu chúng con như vậy, và chúng con càng hèn yếu đau khổ, thì Mẹ càng dành cho nhiều tình thương.

Mẹ đã ban tặng Thiên Chúa cho loài người, xin hãy tiếp tục ban tặng Người cho chúng con. Thế gian bệnh hoạn đau khổ, chín là vì thiếu Thiên Chúa. Xin Mẹ hãy tỏ mình cho chúng con, nhất là cho những kẻ bé mọn, tội lỗi và đau khổ, hãy tỏ mình ra cho chúng con với Chúa Giê-su ẵm bồng trên tay, và chúng con thiết tha ước mong chờ ngày thể hiện lời cầu: "Đến khi khỏi chốn lưu đầy này, xin cho chúng con được thấy Chúa Giêsu, Con của Mẹ, ôi khoan thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen"

Chuyển từ :

http://www.cungmedonghanh.com/me-maria-trong-kinh-cau-_-bai-2/

Hồng

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 19 = KEU CAU AI LUC NGUY BIEN? PDF Print E-mail

 

PHÚT TÂM GIAO 37

KÊU CẦU AI TRONG CƠN NGUY HIỂM?

Có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa bao giờ gặp những hoàn cảnh gọi là nguy hiểm đến tánh mạng, nên không thể hình dung ra được trong lúc nguy cơ, mình phải chạy đến cùng ai.

Là người có đức tin, tôi nghĩ rằng chắc chắn là phải chạy đến cùng Chúa, có người chạy đến cùng các thánh, tùy theo lòng sùng kính cá nhân, nhưng nói cho cùng thì cũng là chạy đến cùng Chúa. Vì tất cả mọi ơn tôi lãnh nhận, cho dù là sau khi cầu nguyện với một thánh nào đó, thì cũng là đến từ Chúa, và qua sự cầu bầu của các thánh.

Tuy nhiên có một người mà khi chúng ta kêu cầu thì người này có thể ban ơn trực tiếp cho tôi, người đó là Mẹ Maria. Phải, vì Mẹ được Chúa ban cho quyền phép vô cùng. Tôi thường chạy đến cùng Mẹ mỗi khi buồn phiền, lo lắng, hoặc trong những lúc hầu như ngã lòng, và cả những khi vui nữa. Phải mất một thời gian dài tôi mới quen gọi tên "Maria," tên Mẹ Thiên Quốc của tôi.

Ôi! Thật ngọt ngào biết bao khi gọi tên Mẹ Maria, lòng tôi cảm thấy thật gần gũi với Mẹ, cho dù tôi còn ở trên dương thế này, còn Mẹ thì đã về Trời từ hơn 2000 năm trước. Sở dĩ tôi cảm thấy gần gũi với Mẹ là vì tôi thường lần hạt Mân Côi. Lời kinh nguyện tuy đơn sơ, lập đi lập lại, nhưng lại có một sức mạnh vạn năng. Khi cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi, tràng chuỗi trên tay, mân mê từng hạt Kinh Kính Mừng, tôi tưởng tượng như đó là lời kêu cầu Mẹ ghé mắt xuống tôi, và lắng nghe con trẻ thỏ thẻ lời yêu thương.

MỜI XEM TIẾP

http://www.cungmedonghanh.com/ptg-37-keu-cau-ai-trong-con-nguy-hiem/

GOD BLESS YOU!

God's Child

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 18= HAY LUA CHON CUNG ME MARAI PDF Print E-mail

 

From

Anthony Quang Dinh

Pope Francis: With Mary, free to make good choices

by vatican

Freedom is not simply doing what you want, "throwing everything you don't like out the window. Freedom is given so that we might know to make good choices in life," as Mary did. Pope Francis was speaking on Saturday night in the Papal Basilica of Saint Mary Major, where he prayed the rosary after taking possession of the church with the kissing of the Crucifix. The icon of Mary Salus Populi Romani, which Pope Francis venerated had already venerated on March 14 -- just hours after his election -- was placed on the altar for the occasion. After the recitation of the Joyful Mysteries, the Pope recalled that Mary is a mother that "helps us to grow, to confront life, to be free." She helps us, he continued, ...

Lời của Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô : Cùng với Đức Maria, hãy dành những lựa chọn hảo hạng

Sự tự do không phải chỉ đơn giản là hành động điều anh em muốn, "quăng hay ném mọi thứ anh

Em không thích ra ngoài qua cửa sổ. Được tự do vậy chúng ta có thể biết để dành những chọn lựa hảo hạng cho đời sống," như Đức Maria đã làm. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô nói vào đêm thứ bảy tại nhà thờ Đức Maria Major thuộc Đức Giáo hoàng, nơi mà Ngài đọc kinh lần hạt Mân côi sau khi đi vào nhà thờ hôn kính tượng Chuộc tội. Bức ảnh Đức Maria chaò đón dân thành Roma, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã tôn kính rồi hôm 14 tháng ba – đúng mấy giờ trước lúc bầu cử của Người—được đặt trên hương án vì một lễ đặc biệt. Sau khi lần hạt mầu nhiệm Năm sự mừng, Đức Giáo hòang hồi tưởng rằng Đức Maria là một người mẹ "giúp chúng ta khôn lớn, chạm trán với cuộc đời, sống tự do" Đức Maria giúp đỡ chúng ta...

 

__._,_.___

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 17 = NHAP THE / NGUOI CON GAI TEN MARIA PDF Print E-mail

 

NGƯỜI CON GÁI TÊN MARIA

Bài 2

NHẬP THỂ

Tiếng "Xin vâng" của Mẹ là một lời mời gọi tha thiết và Thiên Chúa vui mừng lắng nghe. Ngài vui mừng đến nỗi dám trao phó trong tay Mẹ, Người Con Một yêu quí của Ngài, vì Ngài tin tưởng Mẹ.

Giáo Hội gọi là Mầu Nhiệm Nhập Thể.

Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa Hằng Hữu. Đấng vượt quá thời gian đã chấp nhận đi vào thời gian. Đấng Tự Hữu đã trở thành tùy thuộc. Làm sao hiểu được một việc vượt quá trí tưởng tượng hạn hẹp của con người?

Thánh Gioan đã nói vắn tắt: "Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta".

Làm người, mang lấy kiếp người! Có vực thẳm nào sâu hơn như thế không? Đấng tạo thành con người đã trở thành tạo vật!Thiên Chúa đã rơi vào một vực thẳm vô biên. Ngài trở thành nhỏ bé, vô danh, một con

người giữa bao nhiêu con người.

Và Mẹ đã trở thành nơi trú ngụ đầu tiên của Ngài. Ngài phải nhờ Mẹ để thực hiện giấc mộng yêu thương của Ngài.

Mẹ sẽ trao cho Ngài một xác thịt, một hình hài. Mẹ là Mẹ của Ngài.

Trong mầu nhiệm không thể hình dung nầy, tạo vật đã trở thành ân nhân của Thiên Chúa, và Thiên Chúa mắc nợ con người. Con người được nâng cao và Thiên Chúa tự hủy mình đến tận cùng.

Mẹ đã khiêm tốn "xin vâng", Thiên Chúa biến thành "xin vâng" trong lòng Mẹ.

Chúng ta chỉ có thể chiêm ngắm "sự lạ" nầy và ngợi khen cùng với thánh Phaolô: "Sự giàu sang khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người ai dò cho thấu?

Đường lối của Người, ai theo dõi được!...Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời .Amen."

XIN VÂNG.

Tiếng nói mà cả thiên đàng chờ đợi: "Xin hãy thực hiện nơi tôi như sứ thần đã nói".

Nàng mang tâm trạng của một nữ tỳ.Người được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng nàng vẫn cảm thấy mình nhỏ bé. Nàng biết nàng là ai và Thiên Chúa là ai: "không có gì mà Thiên Chúa không làm được".

Nàng chỉ cần phó thác.

Chúng ta dịch câu trả lời của Maria bằng tiếng "xin vâng", ngắn gọn nhưng chưa diễn tả được ý nghĩa thực sự của lời nói: "Xin Chúa cứ thực hiện nơi tôi như lời sứ thần đã nói".

Tiếng "xin vâng" diễn tả một thái độ vừa tích cực vừa tiêu cực, là một hành động mà tôi là chủ thể. Câu trả lời của Maria có tính cách hoàn toàn thụ động, chỉ có Thiên Chúa hành động, còn tôi chỉ nhận lãnh như

chiếc hoa nhỏ, nở tươi để đón sương trời và khép lại để giữ kín mầm sống thần linh. Maria hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.

"Xin vâng".

Một tiếng nói ngắn ngủi đơn sơ, nhưng các thiên thần xếp cánh lắng nghe.

"Xin vâng".

Mở rộng một chân trời bao la rực sáng mà Evà đã cố tình khép lại.

"Xin vâng"

Một điệu nhạc du dương thánh thót làm rộn vui cả thiên đàng và trần thế.Nàng vẫn hồn nhiên không hay biết.Nàng nhẹ nhàng bước đi trong sự nhỏ bé của mình. Nàng không cần tự hỏi gì nữa. Bàn tay Chúa sẽ dẫn dắt nàng. Như một trẻ thơ nắm lấy tay người Cha ân cần và để cho cha dìu đi trong nắng sớm. Nàng chỉ biết nhìn vào nụ cười âu yếm của Cha.

"Xin vâng",

Như tinh tú trên trời, như trái đất cứ xoay. Nó không tự nó, nó xoay như một xin vâng đều đặn, âm thầm, quay tít như một vũ nữ quay theo tiếng nhạc.

"Xin vâng",

Cánh cửa mở toang đón nhận ánh sáng Mặt Trời Công Chính.

Tất cả đều sáng lên huy hoàng.

Bóng tối đã thất trận.

Giờ đây là tiếng hát hân hoan đón chào ân sủng.

"Xin vâng",

Như một lời thề ước êm đềm. Tiếng nói ưng thuận để suốt đời thuộc về...Và suốt đời yêu thương.

Mẹ Maria,

Xin dạy con phó thác. Tâm hồn con vẫn tê cứng trong sự khôn ngoan phù phiếm trần gian, trong sự tự mãn dại khờ của mình.

Cho con tìm lại được sự trong sáng tuổi thơ,

Cho hồn con ngập tràn tiếng hát bí bo của em bé hồn nhiên thơ dại, chỉ biết tin yêu.

Cho con biết nói "xin vâng" sáng rực như tiếng kèn ban mai đầy hứa hẹn tin vui.

Cho con biết nói "xin vâng" khi bão tố đen nghịch chân trời và tâm hồn bủn rủn.

Cho con biết "xin vâng" khi cuộc đời đanh ác và quanh con là sa mạc cô đơn.

Xin vâng và mãi mãi xin vâng...

Nhìn Mẹ xin vâng, con thấy Mẹ như một chiếc hoa sen trong nắng sớm, rực rỡ và khiêm nhu, vươn mình trên chiếc ao nhầy nhặn, ghê tởm của thế giới đang đổ nát của chúng con.

Mẹ là Đấng vô song tuyệt mỹ, con say mê nhìn ngắm, nhìn ngắm để trở nên giống Mẹ.

Giống Mẹ trong thái độ xin vâng tuyệt hảo, bất cứ giá nào, bất cứ lúc nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào. Đó là ước mơ, một ước mơ cao đẹp mà chắc Mẹ sẽ không khinh thường.

Mẹ đã đi theo con đường của tổ phụ Abraham đã đi.

Abraham đã nghe tiếng gọi và ông đã vâng theo. Ra đi mà không biết mình đi đâu. Ông tin rằng Đấng đã gọi ông sẽ dẫn ông đi, đến đâu tùy ý.

Tin là thế đấy, là để cho người khác dẫn dắt mà không đặt vấn đề. Ông chỉ biết rằng, ông không cô đơn.Mẹ Maria cũng thế.

Đã nói "xin vâng" rồi thì không còn đắn đo. Nàng biết nàng là của ai đó. Nàng không còn là Maria mà là của Đấng đã trao cho nàng kho tàng tuyệt hảo là Con của Ngài.

XIN DÂNG.

Mẹ Maria đã vâng phục tiếng gọi của Chúa. Mẹ tiến xa hơn vào vùng đất trong lành "xin dâng".

Xin dâng như một bông hoa xinh đẹp trong nắng mai mà không biết mình đẹp.

Dâng trong nét hồn nhiên trong trắng, không vẩn đục vì đo lường tpính toán,... vô tư.

Nét đẹp của hiến dâng như nét đẹp của ánh sáng, chạm đến đâu là sáng ngời đến đó, và mọi vật đều tươi nở trong sự thật của mình.

Xin cho con biết hiến dâng như Mẹ.

Cho con biết hiến dâng nhiều hơn,

Cho bàn tay con luôn buông bỏ hơn là chiếm hữu.

Cho con đừng bao giờ tiếc nuối "củ hành của tỏi Ai Cập", để bước chân con nhịp nhàng đi tới, đi tới đỉnh Canvê.

Cho bàn tay con luôn rộng mở để không còn gì là của con mà là của Ngài, Thiên Chúa của con.

Cho con chỉ nắm bàn tay con lại khi con biết Ngài đã đặt vào đó món quà ân sủng của Ngài,đó là chính Ngài. (còn tiếp).

Lm Trầm Phúc

Xin chuyển tiếp:

Hồng

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 15 = LICH SU KINH MAN COI PDF Print E-mail

 

Lịch sử Kinh Mân Côi và lễ Đức Mẹ Mân Côi

Trong số các lễ nhớ Đức Maria, ngoài lễ Đức Mẹ Lộ Đức và lễ Đức Bà Camêlô, còn có lễ Đức Mẹ Mân Côi, do Đức Giáo Hoàng Gregorio XIII thành lập năm 1573. Nhưng để biết nguồn gốc của lễ này trước hết phải tìm hiểu lịch sử Kinh Mân Côi "Rosario". Từ Rosario phát xuất từ chữ Latinh "Rosarium" có nghĩa là vườn hồng, khóm hồng, tràng hoa hồng, hoặc chuỗi hoa hồng, và cũng còn gọi là Kinh Mân Côi.

Sở dĩ gọi là "chuỗi hoa hồng" hay "tràng hoa hồng" là vì nó bao gồm nhiều hạt. Mỗi một hạt là một kinh Kính Mừng. Khi đọc nó giống như một đóa hồng tín hữu dâng kính Mẹ Thiên Chúa. Rồi nó cũng được gọi là Kinh Mân Côi, vì Mân là tên của một loại ngọc, Côi là một thứ ngọc tốt, ngọc quí lạ. Kinh Mân Côi là "Kinh Ngọc", là "chuỗi ngọc Mân và ngọc quí lạ". Mỗi một kinh Kính Mừng dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Đấng đầy ơn phước, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, là ngọc Mân, ngọc đẹp quí lạ tín hữu dâng lên Đức Trinh Nữ Maria.

Từ thế kỷ XIII trở đi Tràng hạt chuổi hạt, hay Kinh Mân Côi mang ý nghĩa một vòng hoa hồng thiêng liêng dâng lên để ca tụng Mẹ Thiên Chúa và xin Mẹ bầu cử cho trước ngai tòa Thiên Chúa Tối Cao, Đấng đã tuyển chọn và chuẩn bị cho Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.

Các đan sĩ Certosino và các tu sĩ dòng Đa Minh đã có công phổ biến Kinh Mân Côi trong Giáo Hội. Để phổ biến thói quen đạo đức đơn sơ bình dân này các đan sĩ Certosino thường kể lại hai thị kiến. Một câu chuyện đã được biết tới ngay hồi thế kỷ XIII. Chuyện kể rằng một ngày kia có một đan sĩ Certosino phải du hành. Tới một cánh rừng, vị tu sĩ dừng ngựa lại để đọc 50 kinh kính Đức Mẹ như đan sĩ có thói quen làm mỗi ngày. Đang khi đan sĩ ấy sốt sắng lần hạt kính Đức Mẹ, thì có một tên cướp từ trong rừng nhào ra cướp lấy ngựa và mọi thứ, rồi toan tính giết vị đan sĩ. Nhưng anh ta bỗng trông thấy một Bà rất xinh đẹp cầm trên tay một sợi dây dùng để làm chuỗi hạt. Vào mỗi kinh Kính Mừng vị đan sĩ đọc, thì Bà hái lấy trên môi vị đan sĩ một đóa hoa hồng và gắn vào sợi dây. Sau khi tràng chuỗi đủ 50 hoa hồng, Bà đội vòng hoa hồng lên đầu rồi biến mất. Tên cướp tới gần vị đan sĩ và hỏi người Đàn Bà đó là ai. Vị đan sĩ kể lại cho anh ta biết là mình đang đọc kinh kính Đức Mẹ và bảo đảm với anh là đã không trông thấy ai cả. Tên cướp liền hiểu rằng Bà đep ấy chỉ có thể là chính Đức Trinh Nữ Maria. Anh ta liền trả lại cho vị đan sĩ mọi sự đã lấy và bỏ đi.

Câu chuyện thứ hai là thị kiến mà một đan sĩ Certosino khác là thầy Adolfo thành Essen đã nhận được vào năm 1492. Trong khi lần hạt kính Đức Mẹ, thầy Adolfo trông thấy Đức Trinh Nữ được triều thần thiên quốc vây quanh và hát Kinh Mân Côi với các câu kết mà tập sinh Domenico Helian, cũng gọi là Domonico người Phổ, năm 1409 đã thêm vào mỗi lời chào của sứ thần Garbiel sau tên Giêsu. Trong thị kiến thầy Adolfo trông thấy khi hát tới tên Maria, thì toàn triều thần thiên quốc đều cúi đầu, nhưng tới tên Giêsu, thì mọi người qùy gối. Sau cùng là kết thúc việc hát Halleluia thêm vào câu kết. Kể từ đó đan sĩ Adolfo thành Essen cũng thêm Halleluia sau chữ Amen của mỗi suy tư kết thúc.

Trong tự sắc "Consueverunt romani Pontifices" công bố ngày 17 tháng Chín năm 1569, Đức Giáo Hoàng Pio V định nghĩa Kinh Mân Côi như sau: "Chuỗi Mân Côi hay sách thánh vịnh của Đức Trinh Nữ Maria rất diễm phúc là một kiểu cầu nguyện rất đạo đức và là lời cầu dâng lên Thiên Chúa, một kiểu dễ dàng trong tầm tay của tất cả mọi người, bao gồm việc ca ngợi chính Đức Trinh Nữ rất diễm phúc bằng cách lập lại lời chào của sứ thần 50 lần, giống như 50 thánh vịnh của vua Đavít, trước mỗi chục có lời kinh Lậy Cha của Chúa, với các suy niệm xác định minh giải toàn cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

Định nghĩa trên đây của Đức Giáo Hoàng Pio V tóm tắt nòng cốt và hình thể chính của Kinh Mân Côi. Tài liệu nói trên của Đức Pio V là một chặng ghi dấu và là điểm quy chiếu trên con đường lịch sử dài và phức tạp của lòng sùng kính này và nó là môt chặng nền tảng. Thật ra, lịch sử Kinh Mân Côi đã không nảy sinh với tự sắc này, nhưng tìm thấy nơi đó một loại thánh hiến chính thức từ phía giáo quyền, và trong đó có xác định các hình thái tựu trung giống các hình thái Kinh Mân Côi chúng ta đọc ngày nay.

Thế Kinh Mân Côi đã nảy sinh như thế nào?

Hầu như trong mọi tôn giáo tín hữu đều có thói quen dùng chuỗi hạt để cầu nguyện. Ấn giáo có chuỗi Japa mala, Phật giáo có chuỗi Mala. Mala trong tiếng Phạn có nghĩa là vòng hoa. Còn Japa là đọc hay hát hoặc lập lại một mantra hay tên hoặc các tên của một vị thần. Có loại Mala gồm 16, 27, 54 hoặc 108 hạt. Phật giáo Tây Tạng dùng loại 108 hạt. Cũng có loại 21 hay 28 hạt tín hữu dùng để phủ phục sát đất. Hồi giáo có chuỗi Tasbeeh hay Tespih, Misbaha, Sebha hay Subha tùy theo thổ ngữ A rập thuộc các quốc gia khác nhau. Nó gồm loại 99 hạt cộng với 1 hạt, hay loại 33 cộng với một hạt. Loại giản lược gồm 34 hạt. Tín hữu đọc nó bằng cách xướng lên 99 tên gọi đẹp của Allah để chỉ nhớ tới Thiên Chúa và không nghĩ tới những gì không phải là Thiên Chúa. Tín hữu chính thống có chuỗi Comvoschini. Và tín hữu công giáo có tràng hạt Mân Côi.

Kiểu lập đi lập lại một lời kinh này có nguồn gốc đông phương. Có thuyết cho rằng các đạo binh Thập Tự quân tiếp xúc với người Hồi đã du nhập chuỗi hạt cạu họ rồi thích ứng lời kinh Kitô. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng thói quen lần hạt đã có từ thời các vị ẩn tu trong sa mạc thuộc các thế kỷ thứ III thứ IV, tức trước thời các Thập tự quân rất lâu. Các vị ẩn tu dùng các hòn sỏi nhỏ trơn tru, hay các hạt, hoặc bất cứ vật dụng nào gọn nhẹ để đếm kinh. Rồi tín hữu dùng dây thắt nút lại, và từ từ đi tới giai đoạn dùng các hạt bằng gỗ, hay bằng các chất liệu khác nhau như thấy ngày nay.

Người ta đã tìm thấy các tràng hạt, rất gống như tràng hạt ngày nay, thuộc thánh nữ Gertrude viện mẫu tu viện Biển Đức Nivelles, qua đời năm 664. Sự kiện này chứng minh cho thấy thói quen lập lại lời sứ thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ Maria đã có từ thế kỷ thứ VII hay trước đó nữa.

Tuy nhiên cũng có thể nói rằng nguồn gốc thói quen lần hạt phát xuất từ Ailen trong môi trường của các đan viện, nơi các tu sĩ kiếm tìm sự hiệp thông với Thiên Chúa qua đời cầu nguyện với việc đọc 150 thánh vịnh của vua Đavít, tức toàn sách Thánh Vịnh của Thánh Kinh Cựu Ước. Nhưng chung quanh các đan viện cũng có các nhóm giáo dân ngày càng ước ao lời cầu nguyện chiêm niệm liên tục. Nhưng vào các thế kỷ xa xưa ấy ít có giáo dân biết đọc biết viết, và việc học thuộc lòng 150 thánh vịnh bằng tiếng Latinh cũng là điều rất khó. Vì thế để giúp các giáo dân này thỏa mãn ước vọng của họ, cần phải tìm ra hình thức nào thích hợp với các nhu cầu, mức độ văn hóa và tiết nhịp cuộc sống của họ. Vào khoảng năm 850 một đan sĩ Ailen gợi ý là cho các giáo dân này đọc 150 kinh Lậy Cha thay cho 150 Thánh Vịnh, cũng chia thành ba phần, mỗi phần 50 kinh, tương đương với ba lần đọc kinh Thần Vụ trong ngày của các đan sĩ.

Thói quen này lan sang các nước Âu châu khác. Ít lâu sau đó hàng giáo sĩ và giáo dân trong các vùng khác của Âu châu, chẳng hạn như trong vùng sông Rhein Flamand, bắt đầu thay thế kinh Lạy Cha bằng lời sứ thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ Maria "Ave Maria", là phần đầu của kinh Kính Mừng hiện nay. Nhưng để cho lời cầu nguyện duy trì được tính cách chiêm niệm của nó và tránh cho việc đọc kinh trở thành máy móc, 150 kinh gọi là thánh vịnh Lạy Cha Pater Noster hay thánh vịnh của Đức Maria tùy theo công thức sử dụng, người ta giảm xuống còn 50 kinh. Đó là hình thức của Tràng hạt Mân Côi ngày nay.

Có thể nói rằng việc đọc Kinh Mân Côi đã phát triển giữa các thế kỷ XII và XVI. Vào đầu thế kỷ XII đã được phổ biến bên Tây Phương thói quen đọc kinh Kính Mừng, hay đúng hơn lời sứ thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ trong ngày truyền tin, tức phần đầu của Kinh Kính Mừng. Dĩ nhiên, lời sứ thần Gabriel chào Đức Maria đã được các tín hữu kitô biết từ lâu trước đó, vì nó đã được ghi lại trong các Phúc Âm và cho tới thế kỷ thứ VII đã được dùng như điệp khúc hát trong lúc dâng lễ vật trong Thánh Lễ Chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng, là Chúa Nhật nêu bật vai trò của Mẹ Maria.

Nhưng ở đây trong Kinh Mân Côi người ta muốn nhận ra sự mới mẻ của việc sùng mộ lập lại lời kinh Kính Mừng, giống như đã có với Kinh Lậy Cha được lập lại 150 lần. Lời Kinh Kính Mừng chỉ có câu chào của sứ thần Gabriel và lời chúc tụng của bà Elidabét. Tên Chúa Giêsu và từ Amen đã chỉ được thêm vào khoảng cuối thế kỷ XV, khi câu "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen" trở thành thói quen phổ biến năm 1483.

(Thánh Mẫu Học bài 345)

Linh Tiến Khải


__,_._,___

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 Next > End >>

Page 24 of 26