mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5446
mod_vvisit_counterHôm Qua7708
mod_vvisit_counterTuần Này13154
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này115961
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11330650

We have: 70 guests online
Your IP: 54.81.254.212
 , 
Today: Jul 16, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Những Bài Về Đức Mẹ
NHUNG BAI VE DUC ME # 39 = KINH MUNG MARIA PDF Print E-mail

 

Kính Mừng Maria

Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai

Radio Veritas Asia, Philippines

Mở đầu kinh Kính Mừng là lời chào của Thiên Thần Gabriel cho Mẹ Maria, trong biến cố truyền tin. Ðây là một lời chào cô đọng lại tất cả truyền thống Cựu Ước về sự chờ đợi Lời Hứa cứu rỗi được thực hiện.

Kính mừng Maria. Ave Maria.

Nguyên văn bằng tiếng Hy lạp nơi Phúc âm theo thánh Luca, chương 1, câu 28, là từ ngữ Kairê! Một lời chào, nhưng còn hơn là một lời chào tầm thường. Ðây là một loan báo và một mệnh lệnh: Hãy vui mừng lên! Hỡi Maria, hãy vui mừng lên! Hơn ai hết, Mẹ Maria hiểu lời chào và mệnh lệnh "Hãy Vui Mừng Lên" với trọn đầy đủ ý nghĩa của nó trong truyền thống thánh kinh.

Kairê! Ave Maria. Hãy vui lên, hỡi Maria!

Lời nầy nhắc đến những lời tiên tri trong Cựu Ước, mời gọi thiếu nữ Sion, hãy vui mừng lên vì Thiên Chúa ngự đến giữa dân Ngài và thực hiện lời hứa ban ơn cứu rỗi.

Chúng ta có thể đọc lại nơi đây đoạn tiêu biểu của sách tiên tri Sophonia, chương 3, câu 14-17, như sau:

"Hãy vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hãy nhảy mừng, hỡi Israel, hãy mừng lên hết tâm hồn, hỡi thiếu nữ Giêrusalem!... Thiên Chúa, Vua của Israel... đang ngự giữa ngươi. Vào ngày đó, người ta sẽ nói với Giêrusalem: Nầy Sion, đừng sợ, đừng ngã lòng xuôi tay; Chúa là Thiên Chúa ngự giữa ngươi. Ngài là Ðấng cứu rỗi quyền năng!"

Nghe lời Thiên Sứ chào bằng từ ngữ truyền thống kinh thánh "Hãy vui lên", Mẹ Maria hiểu rằng đã đến giờ Thiên Chúa ngự đến thực hiện ơn cứu rỗi, và thiếu nữ Sion được loan báo xa xưa kia, nay là chính Mẹ: mẹ được mời gọi chu toàn phần của mình, phần đặc biệt hơn mọi người khác trong chương trình thực hiện ơn cứu rỗi. Và mẹ đã khiêm tốn chấp nhận thưa vâng: "Nầy tôi là tôi tớ của Thiên Chúa, xin vâng như lời Ngài truyền!"

Ave Maria, Kairê! Hãy vui lên, hỡi Maria.

Niềm vui mà Mẹ Maria được mời gọi để chia sẻ là niềm vui của ơn cứu rỗi, niềm vui vì được Thiên Chúa ngự đến hiện diện trong cuộc đời mình!

Khi chúng ta đọc lên lời kinh Kính Mừng Maria, chúng ta vừa chúc tụng Mẹ vừa muốn chia sẻ niềm vui mừng với Mẹ; chúng ta khiêm tốn mong muốn được Thiên Chúa ngự đến trong cuộc đời, được Thiên Chúa ban ơn cứu rỗi như Mẹ Maria ngày xưa.

Kính mừng Maria, đầy ơn phước. Thiên Chúa ở cùng Bà!

Lời kinh nhắc chúng ta nhớ rằng, nếu không có Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời thì con người không thể nào có được niềm vui. Mẹ Maria đã được Thiên Chúa chọn bước vào hưởng niềm vui của ơn cứu rỗi. Giờ đây, đến phiên mỗi người Kitô chúng ta nhờ qua bí tích thánh tẩy, chúng ta cũng đã được Thiên Chúa chọn bước vào hưởng niềm vui ơn cứu rỗi.

Nguyện xin Mẹ Maria khẩn cầu cùng Chúa cho chúng ta được khiêm tốn trung thành với ơn cứu rỗi và như thế, hưởng được niềm vui ngay trong giây phút hiện tại mặc cho những khó khăn, thử thách.

Lạy Mẹ Maria, chúng con kính chào Mẹ, và mừng Mẹ đầy ơn phước. Xin Mẹ thương giúp chúng con đến với Chúa, nguồn mạch tình yêu và an bình thật. Amen.

Kính chuyển

Hồng

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 38 = CAC LE VE ME PDF Print E-mail

 

Le Me Nu Vuong va Lien He Cac Le Ve Me

Ngày 22/8, Giáo Hội hoàn vũ mừng lễ Đức Mẹ Nữ Vương. Trước Công Đồng Chung Vaticanô II (1962-1965), tức trước khi phụng vụ được canh tân theo công đồng này, kể từ đầu thập niên 1970, ngày 22/8 hằng năm là ngày Lễ Trái Tim Đức Mẹ. Lý do Giáo Hội chuyển đổi ngày 22/8 vốn mừng lễ Trái Tim Mẹ theo lịch phụng vụ cũ để mừng lễ Đức Mẹ Nữ Vương theo phụng vụ mới là vì ý nghĩa hợp tình hợp lý của nó. Ở chỗ, sau Lễ Trọng Buộc Mẹ Mông Triệu 15/8 thì phải tới lễ Đức Mẹ Nữ Vương, lễ kính vương quyền trời đất của Mẹ sau khi Mẹ được Thiên Chúa đưa cả hồn lẫn xác của Mẹ về trời.

Lễ Đức Mẹ Nữ Vương trước Công Đồng Chung Vaticanô II được cử hành vào ngày 31/5 cuối Tháng Hoa cũng có ý nghĩa đấy, nhưng ngày này sau công đồng đã được đổi thành Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng, một lễ vốn được cử hành vào ngày 2/7 trước công đồng, không hợp với ý nghĩa với biến cố Mẹ Thăm Viếng là biến cố phải xẩy ra trước biến cố Sinh Nhật của Thánh Gioan Tẩy Giả vốn được mừng vào ngày 24/6 hằng năm, trước Lễ Giáng Sinh đúng 6 tháng, hợp với thời điểm theo Phúc Âm Thánh Luca (1:36).

Trong phụng niên Đức Mẹ được Giáo Hội cử hành tất cả là 17 lễ, thứ tự như sau: Tháng 1:1 - Lễ Mẹ Thiên Chúa ngày 1/1; Tháng 2:2 - Lễ Mẹ Dâng Con ngày 2/2 và Lễ Mẹ Lộ Đức 11/2; Tháng 3:1 - Lễ Mẹ Thai Lời 25/12; Tháng 4:0; Tháng 5:2 - Lễ Mẹ Fatima 13/5 và Lễ Mẹ Thăm Viếng 31/5; Tháng 6:1 - Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ; Tháng 7:1 - Lễ Mẹ Carmelô 16/7; Tháng 8:3 - Lễ Cung Hiến Đền Thờ Đức Bà Cả cũng là Lễ Mẹ Xuống Tuyết 5/8, Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8 và Lễ Mẹ Nữ Vương 22/8; Tháng 9:3 - Lễ Sinh Nhật Mẹ 8/9, Lễ Thánh Danh Mẹ 12/9 và Lễ Mẹ Đau Thương / Đồng Công 15/9; Tháng 10:1 - Lễ Mẹ mân Côi 7/10; Tháng 11:1 - Lễ Mẹ Dâng Mình 21/11; Tháng 12:1 - Lễ Mẹ Vô Nhiễm; Lễ Mẹ Guađalupê 12/12 chưa được cử hành chung Giáo Hội.

Nếu lưu ý, chúng ta thấy các Lễ về Mẹ được Giáo Hội sắp xếp rất kỹ lưỡng theo ý nghĩa liên hệ mật thiết của các lễ này. Chẳng hạn, Lễ Mẹ Dâng Con 2/2 sau lễ Giáng sinh 40 ngày. Lễ Mẹ Thai Lời (Mẹ thụ Thai Lời nhập thể hay Lễ Truyền Tin cho Đức Mẹ) bao giờ cũng trước Lễ Giáng sinh 25/12 chín tháng. Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12 bao giờ cũng trước Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ ngày 8/9 đúng 9 tháng. Lễ Thánh Danh Mẹ ngày 12/9 bao giờ cũng sau Lễ Sinh Nhật Mẹ 8/9 nhưng trước Lễ Mẹ Đau Thương (vì một trong những ý nghĩa của tên Maria là "cay đắng"). Lễ Mẹ Nữ Vương 22/8 tất nhiên phải sau lễ Mẹ Mông Triệu 15/8. Lễ Trái Tim Đức Mẹ (trước công đồng là ngày 22/8 nhưng sau công đồng) bao giờ cũng phải gắn liền với Lễ Thánh Tâm Chúa thường trong Tháng 6: Lễ Thánh Tâm Chúa, theo yêu cầu của Chúa Giêsu với Chị Thánh Margarita Maria Alacoque, được cử hành vào Thứ Sáu sau tuần bát nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa (một lễ được cử hành vào Thứ Năm sau Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi) thì Lễ Trái Tim Mẹ được cử hành vào Thứ Bảy ngay hôm sau.

Chưa hết, nếu trong phụng niên có tất cả 5 Lễ Trọng Buộc (không rơi vào Chúa Nhật) thì có 1 Thánh, 2 Chúa và 3 Mẹ. 1 Thánh đó là Lễ Các Thánh 1/11. 2 Chúa đó là lễ Thăng Thiên, Thứ Năm trong Tuần Thứ 6 Phục Sinh, và Lễ Giáng Sinh 25/12. 3 Mẹ đó là Lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1, Lễ Mẹ Mông Triệu 15/8 và Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8/12. Sở dĩ Mẹ Maria có 3 Lễ Trọng Buộc là vì 3 lễ này có liên quan đến 3 Tín Điều Thánh Mẫu rất quan trọng liên quan đến phần rỗi của Kitô hữu, đó là Tín Điều Mẹ Thiên Chúa được Công Đồng Chung Êphêsô tuyên bố năm 431, Tín Điều Mẹ Vô Nhiễm được Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố ngày 8/12/1854, và Tín Điều Mẹ Mông Triệu được ĐTC Piô XII tuyên bố ngày Lễ Các Thánh 1/11/1950.

Ngoài ra, còn một số Lễ Trọng trong phụng niên nhưng không buộc, trong đó cũng có 1 Lễ về Đức Mẹ. Chẳng hạn Lễ Thánh Giuse 19/3, Lễ Mẹ Thai Lời 25/3, Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả 24/6, Lễ Thánh Phêrô Phaolô 29/6, Lễ Thánh Tâm Chúa (thường trong Tháng 6).

Nhân ngày Lễ Mẹ Nữ Vương 22/8/2013, chúng ta hãy cùng nhau nguyện Kinh Lạy Nữ Vương để xin Mẹ đồng hành với chúng ta trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta qua "thung lũng châu lệ" là "chốn khách đầy" đầy chông gai thử thách này bằng tinh thần tôi tớ FIAT của Mẹ và bằng tâm tình MAGNIFICAT của Mẹ, nhờ đó, chúng ta "được sống, được vui, được cậy" cho đến khi "được thấy Đức Chúa Giêsu Con Lòng Bà gồm phúc lạ". Amen.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 37 = MARIA NIEM HY VONG PDF Print E-mail

 

MẸ MARIA, NIỀM HY VỌNG CỦA NHÂN LOẠI

Bài giảng lễ Đức Mẹ lên trời

Khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta suy ngắm mầu nhiệm thứ bốn của Mùa mừng: "Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời; ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ". Như thế, nhắc đến sự kiện Đức Mẹ được cất về trời là nhắc đến việc Đức Mẹ kết thúc cuộc đời trần thế một cách thánh thiện, trong sự trung tín với Chúa, đồng thời là lời nhắc bảo chúng ta hãy sống tốt lành để chết thánh thiện trong tay Đức Mẹ.

Các tín hữu từ thuở Giáo Hội sơ khai vẫn tin rằng thân xác Đức Mẹ không hề hư nát trong huyệt mộ. Bởi lẽ thân xác ấy đã được chọn là ngai tòa cho Đấng Cứu thế. Hơn nữa, Đức Mẹ đã được Chúa yêu thương gìn giữ để khỏi vương tội tổ tông. Nhưng phải đợi 19 thế kỷ sau, điều các tín hữu vẫn tin này mới được chính thức định tín. Ngày 1-11-1950, Đức Giáo Hoàng Piô thứ XII long trọng tuyên bố tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma: "Chúng tôi công bố, tuyên xưng và định tín giáo lý đã được Thiên Chúa mạc khải này: Đức Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, đã được đưa lên trời hiển vinh cả hồn lẫn xác".

Trong lời tuyên tín long trọng trên đây, Đức Giáo Hoàng đã nhắc tới cả 4 đặc ân mà Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ, tức là ơn vô nhiễm nguyên tội; ơn trọn đời đồng trinh, ơn làm Mẹ Thiên Chúa và ơn được về trời cả hồn và xác. Lời tuyên tín cũng nhấn mạnh đến khái niệm "cả hồn lẫn xác" để cho thấy việc Đức Mẹ được Chúa đưa về trời khác với việc các thánh được hưởng phúc thiên đàng. Bởi lẽ các thánh hay những người công chính, sau khi chấm dứt cuộc đời này thì thân xác bị hư nát trong lòng đất. Thỉnh thoảng ta thấy một số vị thánh sau nhiều chục năm an táng mà thân xác vẫn còn nguyên vẹn, nhưng thân xác ấy vẫn tồn tại trong huyệt mộ mà không được về trời. Việc khẳng định rõ "cả hồn lẫn xác" nhằm diễn tả đó là một ơn ban đặc biệt, vì theo Giáo lý Công giáo, chỉ mình Chúa Giêsu được lên trời kèm theo một thân xác trần thế, vì màu nhiệm nhập thể đã gắn liền thần tính với nhân tính nơi Đức Giêsu. Như thế, sau Chúa Giêsu, chỉ có Đức Mẹ được tiến vào vinh quang trong tình trạng có cả xác và hồn.

Lời Chúa trong ngày lễ Đức Mẹ lên trời diễn tả vai trò của Mẹ trong công cuộc cứu độ và vẻ đẹp mà Thiên Chúa trang điểm cho Mẹ. Phụng vụ thánh lễ Vọng của chiều ngày 14-8, nhắc lại việc di chuyển Hòm Bia Thiên Chúa từ nhà ông Ôvết Êđôm về Giêrusalem (Bài I) và lời khen ngợi của Chúa Giê-su dành cho ai "lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa" (Tin Mừng). Khi đọc đoạn sách trích trong cuốn Sử biên niên, chúng ta liên hệ với lời tuyên xưng trong Kinh Cầu Đức Bà: "Đức Bà là Hòm Bia Thiên Chúa vậy". Hòm Bia trong Cựu Ước chứa đựng mười Điều Răn của Thiên Chúa, một chút Manna và cây gậy nở hoa của Ông Aaron. Đức Mẹ là Hòm Bia vì đã cưu mang Lời Chúa đã thành xác thịt và thành của ăn nuôi dưỡng muôn người. Vì thế, lời ca tụng của Chúa Giêsu như muốn nhắc những người hiện diện: "Đức Maria – người phụ nữ đã cưu mang và sinh hạ Chúa – rất vinh dự vì cưu mang Đấng Cứu Thế, nhưng còn vinh dự hơn vì Mẹ luôn biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong cuộc đời.

Phụng vụ trong thánh lễ chính ngày giới thiệu vẻ đẹp của Đức Mẹ. Người phụ nữ được diễn tả trong sách Khải Huyền là hình ảnh Đức Maria. Mẹ được trang điểm bằng mặt trời, mặt trăng và muôn vì tinh tú. Mẹ được giới thiệu như Nữ Vương trời đất để cùng với Đức Giêsu cai trị vũ trụ. Bài ca tạ ơn mà Đức Mẹ cất lên như một lời tôn vinh quyền năng của Chúa, đồng thời cảm tạ tình thương của Ngài dành cho cả nhân loại. Đức Maria đã đại diện cho cả loài người để tạ ơn Chúa, đồng thời tuyên bố thời đại mới đã đến. Đó là thời của ân sủng và tình yêu thương. Đây cũng là thời mà Chúa thực hiện lời hứa đối với ông Abraham và hậu duệ của ông, tức là những ai tin tưởng và cậy trông nơi lòng từ bi của Chúa.

Đức Mẹ đã sống một cuộc đời thật đẹp. Trước hết, đó là ơn của Chúa, nhưng cũng là sự cộng tác của Mẹ. Trong muôn vàn phụ nữ, Chúa đã tuyển chọn Mẹ, một thiếu nữ đơn sơ và thánh thiện. Chúa đã mời gọi Mẹ cộng tác với Chúa để làm cho chương trình cứu độ được thực hiện. Lễ Đức Mẹ lên trời đem đến cho các tín hữu niềm hy vọng vào hạnh phúc vĩnh cửu. Chúa Giê-su đã lên trời để mở cánh cửa Nước Trời cho chúng ta. Đức Mẹ đã lên trời để khẳng định với chúng ta rằng, con người trần thế cũng có thể bước vào cánh cửa mà Chúa Giê-su đã mở, nếu biết lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa. Việc chiêm ngắm Đức Mẹ lên trời "cả hồn lẫn xác" cũng nhắc nhở chúng ta phẩm giá của thân xác con người. Thiên Chúa cứu chuộc con người trọn vẹn, cả hồn và xác. Sau này, Thánh Phaolô khẳng định, thân xác là đền thờ Chúa Thánh Thần. Vì thế, mọi xúc phạm đến thân xác con người cũng là xúc phạm Đấng Tối cao.

Các nghệ nhân thường trình bày Đức Mẹ lên trời bằng những pho tượng hay hình ảnh Đức Mẹ có đông đảo thiên thần vây xung quanh trong làn mây trắng cuồn cuộn, như một cuộc cung nghinh long trọng từ đất lên trời. Hôm nay mừng lễ Đức Mẹ, mỗi tín hữu chúng ta cũng như đang tham dự vào đoàn rước ấy, và chúng ta thầm cầu mong, xin cho chúng ta khi kết thúc cõi đời, được an bình thanh thản. "Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời; ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ". "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử". Ước gì những lời kinh đơn sơ ấy luôn được nhắc lại trong trái tim và môi miệng của mỗi người chúng ta. Amen

Gm. Vũ Văn Thiên

Kính chuyển

Hồng

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 36 = LE ME HON CAC LEN TROI PDF Print E-mail

Assumption feast speaks to Catholics in Japan, missionary says

By Antonio Anup Gonsalves

Nagoya, Japan, Aug 13, 2013 / 03:02 am (EWTN News/CNA)

Mikokoro Center, Nagoya, Japan. Credit: Mikokoro Center.

Trung tâm Mikokoro, Nagoya, Nhật bản

The Feast of the Assumption is an important celebration for Catholicism in Japan because of its link to both death and eternal life, according to an Australian missionary priest in Nagoya.

"The Catholic communities spend this day in paying tribute and attending Mass, and the names of all the deceased in the family are read aloud, causing the ceremony to sometimes go on for hours," said Fr. Keith Humphries, a member of the Missionaries of the Sacred Heart who operates the Mikokoro Center in Nagoya.

The feast of the Assumption, a holy day of obligation, falls on Aug. 15, this Thursday. The date coincides with the Japanese commemoration of the nation's announcement of surrender in World War II.

The Japanese surrender came after the U.S. used atomic bombs on two cities, Hiroshima and Nagasaki, killing as many as 246,000 people. The anniversary of surrender is observed in Japan as a day of mourning for war dead and praying for peace.

The Assumption has taken root in Japanese Catholicism because it correlates with "Japanese traditional culture in commemoration of death" as the Church celebrations the assumption of Mary into heaven, Fr. Humphries told EWTN News.

After Assumption Mass is said, Catholics in Japan hold a memorial program, and the faithful spend their day in praying, chanting, and table fellowship.

"This is a strong element of faith," Fr. Humphries said, adding that Japanese culture "correlates" the Assumption with eternal life.

The Mikokoro - or Sacred Heart - Center hosts three Masses each Sunday, and about 500 people attend each Mass, he continued.

"A large group of the younger generation, as well as children, are visibly active with their families in the Church."

The Japanese are "wonderful, with a prayerful, meditative heart," Fr. Humphries reflected.

"Japanese people have the same spiritual needs as others ... and God is present in the midst of these people in their local culture."

Christianity was first introduced to Japan on Aug. 15, 1549, when the Jesuit missionary St. Francis Xavier landed at Kagoshima.

Despite its 450 year history in Japan, Christianity has never gained more than a toehold there, remaining a "Western" religion, with the Church trying to dialogue with the Japanese and to inculturate.

Only about one percent of Japanese are Christians. Most are Shinto or Buddhist, or have no religion. In the Diocese of Nagoya, Catholics represent only 0.2 percent of the population.

The Japanese "can't get over the thought in Christianity that God is a close friend," Fr. Humphries said. "But, when they encounter this reality, it hits them and their life changes."

LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI NÓI CHO NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO NHẬT, MỘT VỊ TRUỲÊN GIÁO KỂ

Lễ Đức Mẹ lên trời là một lễ quan trọng cho đạo Thiên Chúa ở nước Nhật bởi vì sự lien lạc của nó cho cả sự chết và sự sống đời dời, theo nhu vị linh mục truỳên giáo người Úc tại thành phố Nagoya.

"Cộng đồng công giáo dành trọn ngày này tỏ long kính trọng và tham dự Thánh Lễ (Mass) và nhân danh tất cả những người đã chết trong gia đình được xướng tên, lý do đôi khi lễ nghi lâu nhìêu giờ." Linh mục Keith Humphries, một thành viên Hội truỳên giáo Rất Thánh Trái Tim họat động tại trung tâm Mikokoro ở Nagoya.

Lễ Đức Mẹ Lên trời, một ngày lễ trọng, 15 tháng Tám, ngày Thứ năm này. Một ngày xẩy ra đồng thời với sự tưởng nhớ sự tuyên bố đầu hang của nước Nhật trong Thế Chíên Thứ II.

Sự đầu hang của Nhật sẩy ra sau khi U.S. thẻ bom nguyên tử hai thành phố, Hiroshima và Nagasaki, khíên cho 246,000 người chết. Kỷ nịêm sự đầu hang được quan sát ở Nhật như là một ngày tang tóc vì đã chết vi chíên tranh và cầu xin có hòa bình.

Lễ Đức Mẹ Lên Trời đã đâm rễ sâu trong đạo công giáo Nhật bởi vì nó có lien quan với "Van hóa truỳên thống của người Nhật trong sự tưởng nhớ người chết trong khi Hội Thánh sự cử hành lễ Đức Maria lên trời, Linh mục Humphries kể cho EWTN News.

Cha Humphries nói, sau Thánh lễ Đức Mẹ lên trời, những người công giáo ở Nhật giữ chương trình tưởng nịêm, và tín hữu dành một ngày cầu nguỵên, hát thánh ca, và dự tịêc .

"Đây là một ýêu tố đức tin vững vàng." Linh Mục Humphries kể, van hóa người Nhật "lien quan"với Lễ Đức Mẹ lên trời bằng sự sống vĩnh cửu.

Trung tâm Mikokoro – hay là Trái tim Cực thánh – Cử hành ba Thánh lễ mỗi Chúa Nhật – và khỏang 500 người tham dự trong mỗi Lễ.

"Một nhóm lớn thế hệ trẻ hơn, cũng như những trẻ nhỏ, đều sinh họat rõ ràng với gia đình ở trong Hội thánh."

Những người Nhật thật là "tuỵêt vời" với tâm hồn cầu nguỵên và suy nịêm, 'thìên' Cha phản ảnh

Người Nhật có cùng những nhu cầu tinh thần như những người khác...và Thiên Chúa hịên dịên ở giũa dân tộc này trong văn hóa địa phương.

Lần đầu tiên Kitô giáo được rao giảng cho Nhật vào ngày 15 tháng Tám, năm 1549, khi các vị truỳên giáo dòng Tên Thánh Phanxicô Sa-vi-e đặt chân lên bờ tại Kagosima.

Mặc dù nước Nhật có 450 năm lịch sử. Đạo Kitô vẫn chưa thu được nhìêu hơn chỗ để bám đầu ngón chân ở đấy, vẫn còn đạo "Phương Tây" , mặc dù Hội Thánh cố gắng đối thọai với những người Nhật và gieo trồng đức tin

Vỏn vẹn chỉ có độ 1% người Nhật là Kitô giáo, Phần đông là Thần giáo (Shinto) hay Phật giáo, hoặc không tôn giáo. Ở giáo phận Nagoya, Công giáo có tỷ lệ 0.2 % dân số.

Người Nhật "không có thể vượt qua cái tư tưởng trong Kitô giáo là Thiên Chúa là một người bạn thân mật," Cha Humphries kể : "Nhưng khi nào họ chạm trán với sự thực tế này, nó hợp ý với họ và cuộc đời họ thay đổi."

QQ. phiên dịch 08-14-2013 -01:05 AM

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 35 = DUC TIN CỦA ME PDF Print E-mail

 

Đức Tin của Đức Mẹ

Trầm Thiên Thu

Đức Tin của Đức Mẹ chỉ là lời "Xin Vâng", đơn giản nhưng can đảm và dứt khoát.

Đức Mẹ luôn là mẫu gương về đức khiêm nhường và kiên nhẫn. Dù là Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ vẫn không hề muốn được đối xử đặc biệt hoặc khen ngợi. Điều đó cũng đủ Con của Mẹ được tôn vinh. Chúng ta còn nhớ tiệc cưới tại Cana? Rượu hết và gia chủ hoàn toàn lúng túng. Đủ nhạy cảm nên Đức Mẹ đã bảo Chúa Giêsu can thiệp.

Điều quan trọng ở đây không phải là phép lạ, mà là phụ nữ đã gợi mở cho sứ vụ của Chúa Giêsu. Đức Mẹ biết rất rõ nếu Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên này, nhà cầm quyền tôn giáo sẽ tức tối và ghen ghét. Đức Mẹ biết điều đó nguy hiểm. Nhưng Đức Mẹ nói rất đơn giản: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (Ga 2:5). Và chính Con Trai của mẹ đã làm phép lạ, nhưng nhờ Người Mẹ Tốt đã nói những lời giản dị. Điều này như thể là Đức Mẹ nói: "Con ơi, con bắt đầu sứ vụ đi!".

Lần khác, khi Con Trẻ Giêsu "lạc mất" trong Đền Thờ. Cha mẹ Ngài đi tìm suốt mấy ngày. Rồi khi cha mẹ thấy Ngài ngồi giữa mấy thầy thông luật, tranh luận sôi nổi. Tôi nghĩ lúc đó chắc hẳn Đức Mẹ bật khóc vì thấy Con Trẻ bình an vô sự.

Vì sự quan tâm và lo lắng của một người mẹ, Đức Mẹ đã phải thốt lên: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" (Lc 2:48). Đó là tiếng thở dài thoải mái. Đó là cử chỉ đơn giản của tình yêu thuần khiết của người mẹ muốn những điều tốt nhất cho Con. Sau câu trả lời của Chúa Giêsu, Đức Mẹ không nói gì thêm vì Đức Mẹ hiểu Chúa Giêsu muốn nói gì. Đó là sự đồng ý đơn giản, là lời "xin vâng" âm thầm theo Thánh Ý Chúa Cha. Đó là công việc của Chúa Cha.

Ngày nay, có thể một trong những lời đơn giản nhất của Đức Mẹ là Đức Tin. Chúng ta trở lại khi được truyền tin. Đó là một cô gái trẻ Maria, mạnh mẽ mà dịu dàng, được Thiên thần thăm viếng. Quý ông và quý bà trong Cựu ước hoặc chạy trốn hoặc sụp lạy tôn kính vị từ trời đến thăm viếng, nhưng cô gái Maria hiếu kỳ, hăng hái như thể vẫn chờ đợi Thiên thần vậy. Kế hoạch của Chúa Cha dành cho Đức Mẹ đã được sắp đặt. Không có sự hợp lý hóa, không có viện cớ, và cũng không lưỡng lự. Đức Mẹ nói lời giản dị: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1:38). Điều này đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại. Đấng tạo dựng thời gian đã vào thời gian; Đấng vô thủy vô chung đã chia sẻ tính hữu hạn. Đó là khoảnh khắc duy nhất trong lịch sử. Rất đơn giản, Đức Mẹ không bao giờ sợ hệ quả có thể xảy ra sau đó, hoặc sợ người đời dị nghị và đàm tiếu. Đức Mẹ chỉ biết rằng Chúa Cha dùng Mẹ vì lợi ích của nhân loại.

Tôi không biết có bao nhiêu phụ nữ có thể chịu được sự kích động này. Đức Mẹ chia sẻ niềm vui này như thế nào với bạn bè và xóm giềng? Nhưng với Đức Mẹ, không thành vấn đề. Sự kiện đó không làm cho Mẹ được nổi bật – chính Chúa Giêsu mới được nổi bật, chứ chẳng ai khác.

Cứ nghĩ về cuộc sống của chúng ta thì sẽ nhận thấy chúng ta nói nhiều lắm. Luôn có điều gì đó chúng ta có thể nói, không nói không được. Chúng ta có thể viện cớ, tranh luận, và hợp lý hóa. Nhưng đôi khi chúng ta lại không thực sự lắng nghe. Lắng nghe là điều đơn giản, không cần cố gắng nhiều. Nhưng làm sao lắng nghe khi chúng ta luôn có điều gì đó để nói, để tranh luận, hoặc để la hét? Đức Mẹ không dạy chúng ta điều gì chăng? Chúng ta không nên nói nhiều, nhưng hãy nghe nhiều. Trong các đoạn Kinh Thánh vừa nêu trên, chúng ta thấy Đức Mẹ nói rất ít, thậm chí là không nói. Thật đơn giản. Tại sao? Vì Đức Mẹ biết lắng nghe, Đức Mẹ có thể hiểu. Đó là sự giản dị của Đức Mẹ. Hãy noi gương Đức Mẹ lắng nghe tiếng Chúa và làm theo cách Ngài tác động trong cuộc đời chúng ta. Đó là để Chúa Giêsu nói những gì liên quan kế hoạch của Thiên Chúa – không tranh luận, không theo ý mình, không viện cớ này cớ nọ, chỉ một lòng xin vâng Thánh Ý Chúa.

Vì Đức Mẹ lắng nghe và hiểu, cuộc đời Mẹ dù có những lúc đau buồn, nhưng Mẹ vẫn im lặng. Đức Mẹ còn sống đơn giản hơn. Khi Chúa Giêsu chịu chết trên Thập Giá, Thánh Gioan cho biết: "Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala" (Ga 19:25). Chính hành động lại "nói" nhiều nhất. Đức Mẹ chỉ "đứng lặng" dưới chân Thập Giá. Làm sao một người mẹ không đau lòng xé ruột, thậm chí còn ngất xỉu, khi tận mắt chứng kiến Con yêu vô tội của mình phải chết tang thương như thế? Tại sao Đức Mẹ không như vậy? Vì Đức Mẹ biết điều gì sẽ xảy ra. Đức Mẹ biết Con mình phải chịu mọi đau khổ và chết vì nhân loại tội lỗi. Đứng dưới chân Thập Giá là động thái giản đị nhưng mạnh mẽ và can đảm. Hình như Đức Mẹ thầm nhủ: "Vâng, tôi hiểu!".

Đó là Đức Tin của Đức Mẹ. Chúng ta học được gì ở Đức Mẹ? Có thể trong cuộc sống bận rộn cảu chúng ta, có hàng trăm hàng ngàn thứ cần làm, như thể đó là vì Chúa, chúng ta hãy nhớ tới một phụ nữ đã lắng nghe và hiểu biết bằng sự giản dị, phụ nữ đó là Đức Mẹ. Đối với Đức Mẹ, thế là đủ vì Thục nữ Maria là người giản dị. Đức Mẹ sẽ không cần danh vọng hay địa vị, mọi sự thuộc về Con Trai Giêsu.

Lm Nilo Lardizabal, OP

(chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com

)

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 Next > End >>

Page 24 of 28