mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5989
mod_vvisit_counterHôm Qua8536
mod_vvisit_counterTuần Này52904
mod_vvisit_counterTuần Trước50260
mod_vvisit_counterTháng Này130386
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11582472

We have: 98 guests online
Your IP: 54.198.41.76
 , 
Today: Aug 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Những Bài Về Đức Mẹ
NHUNG BAI VE DUC ME # 15 = LICH SU KINH MAN COI PDF Print E-mail

 

Lịch sử Kinh Mân Côi và lễ Đức Mẹ Mân Côi

Trong số các lễ nhớ Đức Maria, ngoài lễ Đức Mẹ Lộ Đức và lễ Đức Bà Camêlô, còn có lễ Đức Mẹ Mân Côi, do Đức Giáo Hoàng Gregorio XIII thành lập năm 1573. Nhưng để biết nguồn gốc của lễ này trước hết phải tìm hiểu lịch sử Kinh Mân Côi "Rosario". Từ Rosario phát xuất từ chữ Latinh "Rosarium" có nghĩa là vườn hồng, khóm hồng, tràng hoa hồng, hoặc chuỗi hoa hồng, và cũng còn gọi là Kinh Mân Côi.

Sở dĩ gọi là "chuỗi hoa hồng" hay "tràng hoa hồng" là vì nó bao gồm nhiều hạt. Mỗi một hạt là một kinh Kính Mừng. Khi đọc nó giống như một đóa hồng tín hữu dâng kính Mẹ Thiên Chúa. Rồi nó cũng được gọi là Kinh Mân Côi, vì Mân là tên của một loại ngọc, Côi là một thứ ngọc tốt, ngọc quí lạ. Kinh Mân Côi là "Kinh Ngọc", là "chuỗi ngọc Mân và ngọc quí lạ". Mỗi một kinh Kính Mừng dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Đấng đầy ơn phước, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, là ngọc Mân, ngọc đẹp quí lạ tín hữu dâng lên Đức Trinh Nữ Maria.

Từ thế kỷ XIII trở đi Tràng hạt chuổi hạt, hay Kinh Mân Côi mang ý nghĩa một vòng hoa hồng thiêng liêng dâng lên để ca tụng Mẹ Thiên Chúa và xin Mẹ bầu cử cho trước ngai tòa Thiên Chúa Tối Cao, Đấng đã tuyển chọn và chuẩn bị cho Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.

Các đan sĩ Certosino và các tu sĩ dòng Đa Minh đã có công phổ biến Kinh Mân Côi trong Giáo Hội. Để phổ biến thói quen đạo đức đơn sơ bình dân này các đan sĩ Certosino thường kể lại hai thị kiến. Một câu chuyện đã được biết tới ngay hồi thế kỷ XIII. Chuyện kể rằng một ngày kia có một đan sĩ Certosino phải du hành. Tới một cánh rừng, vị tu sĩ dừng ngựa lại để đọc 50 kinh kính Đức Mẹ như đan sĩ có thói quen làm mỗi ngày. Đang khi đan sĩ ấy sốt sắng lần hạt kính Đức Mẹ, thì có một tên cướp từ trong rừng nhào ra cướp lấy ngựa và mọi thứ, rồi toan tính giết vị đan sĩ. Nhưng anh ta bỗng trông thấy một Bà rất xinh đẹp cầm trên tay một sợi dây dùng để làm chuỗi hạt. Vào mỗi kinh Kính Mừng vị đan sĩ đọc, thì Bà hái lấy trên môi vị đan sĩ một đóa hoa hồng và gắn vào sợi dây. Sau khi tràng chuỗi đủ 50 hoa hồng, Bà đội vòng hoa hồng lên đầu rồi biến mất. Tên cướp tới gần vị đan sĩ và hỏi người Đàn Bà đó là ai. Vị đan sĩ kể lại cho anh ta biết là mình đang đọc kinh kính Đức Mẹ và bảo đảm với anh là đã không trông thấy ai cả. Tên cướp liền hiểu rằng Bà đep ấy chỉ có thể là chính Đức Trinh Nữ Maria. Anh ta liền trả lại cho vị đan sĩ mọi sự đã lấy và bỏ đi.

Câu chuyện thứ hai là thị kiến mà một đan sĩ Certosino khác là thầy Adolfo thành Essen đã nhận được vào năm 1492. Trong khi lần hạt kính Đức Mẹ, thầy Adolfo trông thấy Đức Trinh Nữ được triều thần thiên quốc vây quanh và hát Kinh Mân Côi với các câu kết mà tập sinh Domenico Helian, cũng gọi là Domonico người Phổ, năm 1409 đã thêm vào mỗi lời chào của sứ thần Garbiel sau tên Giêsu. Trong thị kiến thầy Adolfo trông thấy khi hát tới tên Maria, thì toàn triều thần thiên quốc đều cúi đầu, nhưng tới tên Giêsu, thì mọi người qùy gối. Sau cùng là kết thúc việc hát Halleluia thêm vào câu kết. Kể từ đó đan sĩ Adolfo thành Essen cũng thêm Halleluia sau chữ Amen của mỗi suy tư kết thúc.

Trong tự sắc "Consueverunt romani Pontifices" công bố ngày 17 tháng Chín năm 1569, Đức Giáo Hoàng Pio V định nghĩa Kinh Mân Côi như sau: "Chuỗi Mân Côi hay sách thánh vịnh của Đức Trinh Nữ Maria rất diễm phúc là một kiểu cầu nguyện rất đạo đức và là lời cầu dâng lên Thiên Chúa, một kiểu dễ dàng trong tầm tay của tất cả mọi người, bao gồm việc ca ngợi chính Đức Trinh Nữ rất diễm phúc bằng cách lập lại lời chào của sứ thần 50 lần, giống như 50 thánh vịnh của vua Đavít, trước mỗi chục có lời kinh Lậy Cha của Chúa, với các suy niệm xác định minh giải toàn cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

Định nghĩa trên đây của Đức Giáo Hoàng Pio V tóm tắt nòng cốt và hình thể chính của Kinh Mân Côi. Tài liệu nói trên của Đức Pio V là một chặng ghi dấu và là điểm quy chiếu trên con đường lịch sử dài và phức tạp của lòng sùng kính này và nó là môt chặng nền tảng. Thật ra, lịch sử Kinh Mân Côi đã không nảy sinh với tự sắc này, nhưng tìm thấy nơi đó một loại thánh hiến chính thức từ phía giáo quyền, và trong đó có xác định các hình thái tựu trung giống các hình thái Kinh Mân Côi chúng ta đọc ngày nay.

Thế Kinh Mân Côi đã nảy sinh như thế nào?

Hầu như trong mọi tôn giáo tín hữu đều có thói quen dùng chuỗi hạt để cầu nguyện. Ấn giáo có chuỗi Japa mala, Phật giáo có chuỗi Mala. Mala trong tiếng Phạn có nghĩa là vòng hoa. Còn Japa là đọc hay hát hoặc lập lại một mantra hay tên hoặc các tên của một vị thần. Có loại Mala gồm 16, 27, 54 hoặc 108 hạt. Phật giáo Tây Tạng dùng loại 108 hạt. Cũng có loại 21 hay 28 hạt tín hữu dùng để phủ phục sát đất. Hồi giáo có chuỗi Tasbeeh hay Tespih, Misbaha, Sebha hay Subha tùy theo thổ ngữ A rập thuộc các quốc gia khác nhau. Nó gồm loại 99 hạt cộng với 1 hạt, hay loại 33 cộng với một hạt. Loại giản lược gồm 34 hạt. Tín hữu đọc nó bằng cách xướng lên 99 tên gọi đẹp của Allah để chỉ nhớ tới Thiên Chúa và không nghĩ tới những gì không phải là Thiên Chúa. Tín hữu chính thống có chuỗi Comvoschini. Và tín hữu công giáo có tràng hạt Mân Côi.

Kiểu lập đi lập lại một lời kinh này có nguồn gốc đông phương. Có thuyết cho rằng các đạo binh Thập Tự quân tiếp xúc với người Hồi đã du nhập chuỗi hạt cạu họ rồi thích ứng lời kinh Kitô. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng thói quen lần hạt đã có từ thời các vị ẩn tu trong sa mạc thuộc các thế kỷ thứ III thứ IV, tức trước thời các Thập tự quân rất lâu. Các vị ẩn tu dùng các hòn sỏi nhỏ trơn tru, hay các hạt, hoặc bất cứ vật dụng nào gọn nhẹ để đếm kinh. Rồi tín hữu dùng dây thắt nút lại, và từ từ đi tới giai đoạn dùng các hạt bằng gỗ, hay bằng các chất liệu khác nhau như thấy ngày nay.

Người ta đã tìm thấy các tràng hạt, rất gống như tràng hạt ngày nay, thuộc thánh nữ Gertrude viện mẫu tu viện Biển Đức Nivelles, qua đời năm 664. Sự kiện này chứng minh cho thấy thói quen lập lại lời sứ thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ Maria đã có từ thế kỷ thứ VII hay trước đó nữa.

Tuy nhiên cũng có thể nói rằng nguồn gốc thói quen lần hạt phát xuất từ Ailen trong môi trường của các đan viện, nơi các tu sĩ kiếm tìm sự hiệp thông với Thiên Chúa qua đời cầu nguyện với việc đọc 150 thánh vịnh của vua Đavít, tức toàn sách Thánh Vịnh của Thánh Kinh Cựu Ước. Nhưng chung quanh các đan viện cũng có các nhóm giáo dân ngày càng ước ao lời cầu nguyện chiêm niệm liên tục. Nhưng vào các thế kỷ xa xưa ấy ít có giáo dân biết đọc biết viết, và việc học thuộc lòng 150 thánh vịnh bằng tiếng Latinh cũng là điều rất khó. Vì thế để giúp các giáo dân này thỏa mãn ước vọng của họ, cần phải tìm ra hình thức nào thích hợp với các nhu cầu, mức độ văn hóa và tiết nhịp cuộc sống của họ. Vào khoảng năm 850 một đan sĩ Ailen gợi ý là cho các giáo dân này đọc 150 kinh Lậy Cha thay cho 150 Thánh Vịnh, cũng chia thành ba phần, mỗi phần 50 kinh, tương đương với ba lần đọc kinh Thần Vụ trong ngày của các đan sĩ.

Thói quen này lan sang các nước Âu châu khác. Ít lâu sau đó hàng giáo sĩ và giáo dân trong các vùng khác của Âu châu, chẳng hạn như trong vùng sông Rhein Flamand, bắt đầu thay thế kinh Lạy Cha bằng lời sứ thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ Maria "Ave Maria", là phần đầu của kinh Kính Mừng hiện nay. Nhưng để cho lời cầu nguyện duy trì được tính cách chiêm niệm của nó và tránh cho việc đọc kinh trở thành máy móc, 150 kinh gọi là thánh vịnh Lạy Cha Pater Noster hay thánh vịnh của Đức Maria tùy theo công thức sử dụng, người ta giảm xuống còn 50 kinh. Đó là hình thức của Tràng hạt Mân Côi ngày nay.

Có thể nói rằng việc đọc Kinh Mân Côi đã phát triển giữa các thế kỷ XII và XVI. Vào đầu thế kỷ XII đã được phổ biến bên Tây Phương thói quen đọc kinh Kính Mừng, hay đúng hơn lời sứ thần Gabriel chào Đức Trinh Nữ trong ngày truyền tin, tức phần đầu của Kinh Kính Mừng. Dĩ nhiên, lời sứ thần Gabriel chào Đức Maria đã được các tín hữu kitô biết từ lâu trước đó, vì nó đã được ghi lại trong các Phúc Âm và cho tới thế kỷ thứ VII đã được dùng như điệp khúc hát trong lúc dâng lễ vật trong Thánh Lễ Chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng, là Chúa Nhật nêu bật vai trò của Mẹ Maria.

Nhưng ở đây trong Kinh Mân Côi người ta muốn nhận ra sự mới mẻ của việc sùng mộ lập lại lời kinh Kính Mừng, giống như đã có với Kinh Lậy Cha được lập lại 150 lần. Lời Kinh Kính Mừng chỉ có câu chào của sứ thần Gabriel và lời chúc tụng của bà Elidabét. Tên Chúa Giêsu và từ Amen đã chỉ được thêm vào khoảng cuối thế kỷ XV, khi câu "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen" trở thành thói quen phổ biến năm 1483.

(Thánh Mẫu Học bài 345)

Linh Tiến Khải


__,_._,___

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 14 = TEN ME MARIA PDF Print E-mail

NGƯỜI CON GÁI TÊN MARIA.

Tháng Mẹ về.

Tôi muốn gom tất cả mọi giai điệu, mọi vần thơ trần thế dâng về Mẹ.

Tôi muốn dâng về Mẹ con tim nhỏ bé của tôi và con tim của mọi người đang đập cho một nhịp sống khổ đau, trĩu nặng.

Lý lịch.

Maria, con ông Gioakim và bà Anna,

Cư ngụ tại làng Nadaret, Xứ Galilê.

Bông hoa nhỏ

Trong Tin Mừng Gioan, khi Philipphê gặp Nathanaen và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia, là Giêsu thành Nadaret..."

Nathanaen nói: "Nadaret nào có gì hay đâu!"

Ông lầm to!

Ở Nadaret, một thôn làng nhỏ bé, vô danh, nhưng có một kho tàng quí báu tuyệt vời, một bông hoa nhỏ tên Maria, một bông hoa kín đáo, âm thầm mọc, không ai thấy, không ai để ý, nhưng ánh mắt của Thiên Chúa đã say mê ngắm nhìn, ngay từ buổi rạng đông của một kiếp người.

Maria, vầng hồng diễm lệ!

Bông hoa nhỏ ấy là mẹ tôi, sinh ra tôi trong trời chiều ảm đạm Canvê.

Hạnh phúc của tôi là đây, là được làm con của một bà mẹ trinh vẹn tuyệt vời!Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội.

Tôi nhìn về bông hoa nhỏ ấy và tâm hồn tôi vang ca khúc hát tạ ơn...

Tôi say sưa nhìn ngắm thật lâu...thật lâu... chiếc hoa âm thầm ở Nadaret:

"Chúa đã làm cho tôi những điều trọng đại,Danh Ngài chí thánh chí tôn..."

Bông hoa nhỏ ấy tươi nở trong ánh vàng ân sủng: " Thánh Thần Chúa sẽ đến với Bà..." Chỉ cần một bông hoa nhỏ đó thôi, Chúa thay đổi thế giới.

Tại sao chúng ta không là những bông hoa nhỏ của Chúa? Vì thế mà thế gian đã ra tồi tệ và con người trở thành hiểm họa cho con người.

Như một đứa trẻ lần giở lại quyển album cũ của gia đình, tìm lại những khuôn mặt yêu dấu, tôi lần tìm dấu vết của Mẹ, gợi lại trong tâm hồn khuôn mặt mà tôi vẫn yêu mến.

Những tấm hình bất động trong quyển album cũ, đột nhiên mang lấy sự sống và một thế giới ngủ yên trong dĩ vãng đã trở thành hiện tại.

Đây, hình ảnh của Mẹ lúc mười hai tuổi.

Cái tuổi hồn nhiên tươi sáng ấy. Mẹ như thế nào?

Không gì khác lạ, một cô gái quê bình dị. Một bông hoa nhỏ thôi. Maria vẫn vui tươi cười đùa với bạn bè hàng xóm, vui tươi giúp đỡ mọi người, nhưng... có lúc trầm tư suy nghĩ...

Những lời Kinh Thánh được chăm chú lắng nghe ở Hội đường mỗi ngày sabbát, nàng khắc ghi trong lòng từng câu, từng đoạn và suy nghĩ.Chờ đợi Đấng Cứu Thế được loan báo.

Maria như bao nhiêu thiếu nữ khác, hằng ngày vẫn đi kín nước ở giếng đầu làng, vẫn ngồi quay tơ, làm việc nhà, giặt giũ...

Cuộc sống hằng ngày cũng bao nhiêu đó thôi, nhưng là cả một kho tàng quí giá mà không ai khám phá.

Nhìn Mẹ trong ánh sáng trinh trong vô nhiễm nguyên tội, tôi nhìn thấy tình yêu Chúa tràn ngập trên khắp thế giới khốn khổ tội lụy của chúng ta.

Nhìn Mẹ, tôi cảm thấy hừng đông của ơn cứu độ tỏa sáng trong tăm tối của trần gian.

Vô Nhiễm nguyên tội.

Năm 1854, Đức Giáo Hoàng Piô IX tuyên tín : Mẹ Maria đã được Thiên Chúa giữ gìn vẹn toàn ngay từ khi mới tượng thai trong lòng mẹ. Mẹ được gọi là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Giáo Hội lại thêm một tín điều. Trước khi Giáo Hội tuyên tín, ngay từ xa xưa, Mẹ Maria đã được giáo dân khắp thế giới công nhận và tôn kính như Đấng vô nhiễm nguyên tội. Và đến thế kỷ XIX mới được chính thức tuyên tín..

Maria, người con gái quê, đơn sơ trong sáng đã được tuyển chọn.

Vô tỳ tích, tuyền vẹn hồn xác, Mẹ mới đem lại cho Con Thiên Chúa nhập thể một thân thể toàn vẹn.

Vô nhiễm nguyên tội !

Một hồng ân có một không hai. Hãy nhìn Mẹ thật lâu... thật lâu, bạn sẽ thấy tâm hồn bạn ngời sáng.

Chiêm niệm là đó, là nhìn ngắm lâu giờ, say mê...

Nhìn Mẹ trong hồng ân vô nhiễm, chúng ta sẽ cảm thấy dâng tràn trong ta một ước vọng vô biên, ước vọng được biến đổi, được tinh tuyền. Chúng ta sẽ bay cao trong vùng trời yêu thương của Chúa, và trần gian sẽ lui bước nhường chỗ cho tình yêu ngự trị. Những xa hoa trần gian sẽ sẽ không còn hấp dẫn.

Vô Nhiễm nguyên tội!

Tôi muốn thành cô bé Bênađêta, đứng sững sờ trước hang đá Lộ-Đức, trước vẻ đẹp của một nàng trinh nữ đang mỉm cười.

Bênađêta, một thiếu nữ quê mùa, dốt nát, bệnh hoạn (suyển) nhưng trong sáng đã được nhìn thấy Mẹ... và suốt đời không thể quên được khuôn mặt rực rỡ trinh trong và đáng yêu, và sau cùng đã nghe được lời ru ngọt ngào vinh hiển: "Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội".

Vô Nhiễm nguyên tội, Mẹ là "đền vàng" để Chúa có thể đến với chúng con, đến với thế gian tội lụy nầy.

Đính hôn.

Đến tuổi phải lấy chồng. Giuse được chọn để làm bạn đời của Maria và thánh Matthêu gọi ngài là "người công chính". Thật là thích hợp. Qua những biến cố sau nầy, Giuse chứng tỏ sự công chính của mình.

Trước mắt hai họ và mọi người, Maria đã được đính hôn chờ ngày rước về nhà chồng.

Được đính hôn, Mẹ có vui không?

Thiếu nữ Do thái, được đính hôn là một vinh dự, vinh dự được chọn , vinh dự sẽ được làm mẹ. Một cô gái không chồng là một nỗi nhục, là một khốn khổ ê chề.

Son giá cũng là một sự khốn nạn vì đó là dấu bị Chúa ruồng bỏ.

Mẹ có vui không?

Theo thông thường, cô gái được đính hôn sẽ rộn vui, sẽ ngợp thở vì hạnh phúc, nhưng Maria bình thản, chấp nhận nhưng chắc không vui gì, vì tâm hồn nàng đang ước mong một cái gì đó đẹp hơn. Nàng chỉ muốn trọn vẹn cho Thiên Chúa của nàng.

Chắc nàng cũng không xa lạ gì với những vần thơ yêu thương của Diễm Ca, nghe đọc trong Hội đường.

Nàng chỉ mong một người yêu duy nhất, thuộc trọn về người yêu duy nhất, đó là Thiên Chúa của nàng.

" Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng mau bước.

Quân vương đã mời thiếp vào cung nội.

Ngài là nguồn hoan lạc vui sướng của chúng em.

Ân ái của Ngài chúng em quí hơn rượu.

Thương yêu Ngài phải lẽ biết bao!"

Người yêu của tôi lên tiếng bảo: "Dậy đi em, bạn tình của anh,

Người đẹp của anh, bạn tình của anh,

Người đẹp của anh , hãy ra đây nào!" (Diễm ca).

Nàng đã nghe tiếng gọi của trên cao. Tình yêu trần gian mờ nhạt.

Đính hôn ở trần gian mà hồn như bay đâu...xa vời.

Mối tình đầu đã bám vào con tim, mối tình nào sẽ tách ra được?Nàng đã thuộc về Thiên Chúa của nàng thì chàng trai trần gian nào có thể chinh phục nàng?

Nàng sẽ mãi mãi trọn tình với Đấng đã yêu nàng từ thuở khai nguyên: "Người yêu của tôi thuộc trọn về tôi, và tôi thuộc trọn về chàng". (Diễm ca").

Truyền tin.

Nhưng mọi sự không như con người đặt định.Thiên Thần Chúa được sai đến với Maria, nghiên mình kính cẩn chào: "Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ơn phước. Thiên Chúa ở cùng Bà..."

Một cô gái quê được sứ thần kính cẩn nghiên mình bái chào!

Một lời chào rất lạ khiến cô gái ngạc nhiên và bối rối. Sứ Thần Chúa không gọi tên cô bé là Maria mà gọi nàng là "Đầy ơn phước".

Lời chào là một thông báo: "Hãy vui lên!"

Hãy vui lên!Không phải chỉ có Maria rộn vui mà hôm nay chúng ta cũng rộn vui, vì qua tiếng nói của Sứ Thần, Thiên Chúa đã ngỏ lời với con người.Từ nay không còn khoản cách, không còn sợ sệt. Cửa địa đàng đã khép kín từ xa xưa, hôm nay rộng mở.Thiên Chúa đã đến cầu hôn với con người. Thiên Chúa đã đi bước trước. Tình yêu của Ngài đã tỏ hiện. Ngài đã tìm được "người yêu lý tưởng" để trao phó Con Một của Ngài.

Nàng chỉ là một cô gái quê, vô danh, nhưng Ngài đã chọn và gìn giữ đến hôm nay.

Chúng ta làm sao hiểu được giây phút đó trong sáng, tuyệt diệu như thế nào!

Trời đất đã thông hiệp. Niềm vui thiên quốc đã đến thắp sáng trần gian u tối của chúng ta. Chỉ cần một lời chào! Chỉ cần một tiếng nói! Thiên Chúa đã nói lên ý định của Ngài khi chọn Maria mà Ngài đã cho "đầy ơn phước". Một người con của trần gian đã được Thiên Chúa để ý đến. Sau nầy, chúng ta mới nghe Mẹ Maria nói: "Ngài đã nhìn đến phận hèn tớ nữ". Nàng "đầy ơn phước nghĩa là được Thiên Chúa tràn ngập: "Thiên Chúa ở cùng Bà".

Lời chào nầy, chúng ta thường lặp đi lặp lại trên môi miệng nhơ bẩn của chúng ta...Hãy vui mừng lặp lại lời chào linh thiêng ấy với tất cả niềm vui và biết ơn. Hạnh phúc của chúng ta sẽ tràn trề, vì từ nơi Mẹ, hồng ân của Chúa sẽ tràn ngập trên chúng ta. "Kính mừng Maria đầy ơn phước. Đức Chúa Trời ở cùng Bà".

Tiên tri Gioen đã báo trước niềm vui nầy: "Hỡi con cái Xion, hãy vui mừng hoan hỉ...Các ngươi sẽ biểt rằng giữa Itraen, có Ta hiện diện. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi"...

Ngài hứa khôi phục lại tất cả, nhờ một thiếu nữ Xion.

Sứ Thần vừa chào, Maria chưa vui mà băn khoăn tự hỏi: "Thế là sao?"

Sứ Thần trấn an: "Maria đừng sợ, vì Bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và nầy đây, Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, đặt tên là Giêsu... Ngài là Con Đấng Tối Cao"...

Thụ thai? Con Đấng Tối Cao? Tất cả dồn dập trong tâm trí của Maria. Nàng vẫn chưa hết thắc mắc.: "Làm thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?" Maria đã đính hôn. Vài tháng nữa sẽ được rước về nhà chồng, sao lại "không biết đến việc vợ chồng?"

Làm sao có thể như thế?

Trong xã hội Do thái, người nữ hoàn toàn lệ thuộc vào người nam. Người nam có thể từ chối không nhận người con gái được đính hôn với mình và có thể "trả tự do cho nàng". Người nữ chỉ có quyền ưng thuận mà thôi. Sao Maria có thể nói là sẽ không có chồng?

Thánh Luca đã nói rõ: "được đính hôn với một thanh niên tên là Giuse".Quyền của phái nữ chỉ là "năn nỉ". Maria, dù đã được đính hôn vẫn nuôi trong lòng ước vọng là sống độc thân và chắc sẽ phải năn nỉ Giuse trả tự do cho nàng.Nàng biết Giuse là một người tốt, có thể chấp nhận yêu cầu của nàng.

Thiên Thần Chúa giải thích: Không, vấn đề vợ chồng là một chuyện, đây là một chuyện khác, đây là ý định của Thiên Chúa, Ngài sẽ trực tiếp can thiệp: "Thánh Thần Chúa sẽ ngự xuống trên Bà và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa".

Maria có hiểu những lời đó không? Không gì rõ rệt hơn. Maria, tuy còn trẻ nhưng chắc chắn không là một thiếu nữ kém thông minh, vã lại nàng đã được nuôi dưỡng bằng Thánh Kinh từ nhỏ, không lẽ không hiểu?

Những từ "Thánh Thần Chúa, Đấng Tối Cao, Con Thiên Chúa" đập mạnh vào tâm trí của nàng, không lẽ nàng không hiểu?

Nhưng Sứ Thần nói rõ hơn:" Kìa, bà Êlisabet, chị họ của Bà, tuy già rồi mà cũng được cưu mang một đứa con trai... nay đã có thai được sáu tháng". Một tin vui cho Maria đồng thời là một bằng chứng. Và sau cùng là một câu xác quyết mạnh mẽ: " Đối với Thiên Chúa, không có gì mà không thể làm được".Sau nầy, Maria nói với bà Êlisabet: "Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều trọng đại, Danh Người thật chí thánh chí tôn."

Trong giây phút ấy, những gì Maria đã học biết trong Kinh Thánh, những kỳ công của Thiên Chúa trong lịch sử vụt xuất hiện dồn dập trong tâm trí nàng. Nàng cúi đầu vâng phục: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói".

Maria đã trở thành nữ tỳ của Chúa, hoàn toàn là của Chúa, hoàn toàn phó thác trong tay Đấng Toàn Năng mà nàng đã tin tưởng.Nàng được bảo đảm về mọi mặt. Nàng không cần phải suy nghĩ gì cả, nàng chỉ vâng phục, một sự vâng phục tự do, đầy tin tưởng.

Mẹ Maria,

Con nhìn Mẹ. Mẹ trong sáng làm sao! Mẹ xuất hiện trước mắt con như một ánh sáng dịu êm, tỏa mát. Thái độ, những lời thân thưa khôn ngoan, rõ rệt của Mẹ, khiến con rộn vui.

Những hồng ân Chúa ban cho Mẹ làm con sung sướng.

Con muốn nhảy mừng khi nhìn Mẹ tuyệt vời trong sáng. Con muốn nép mình bên Mẹ để thì thầm một lời nói yêu thương: con yêu Mẹ.

Cùng với Sứ Thần, cùng với bao nhiêu tâm hồn yêu Mẹ, con muốn nói:

Kính mừng Maria đầy ơn phước,

Đức Chúa Trời ở cùng Bà".

Con muốn hòa tiếng với thi hào trứ danh Paul Claudel để nói lên với Mẹ những lời ân tình chan chứa:

Mười hai giờ trưa.

Con thấy nhà thờ mở cửa,

Phải bước vào thôi.

Lạy Mẹ Chúa Giêsu –Kitô,

Con đến không phải để cầu xin.

Con không có gì để dâng, và không có gì để xin.

Con chỉ đến, thưa Mẹ, Chỉ để nhìn Mẹ thôi.

Nhìn Mẹ, khóc lên vì sung sướng,

Biết rằng con là con của Mẹ, và Mẹ đang ở đây.

Chỉ cần một khoảnh khắc thôi khi mọi sự đều dừng lại.

Mười hai giờ trưa!

Ở với Mẹ trong nơi Mẹ đang có mặt,

Không nói gì, nhìn khuôn mặt Mẹ thôi,

Để cho con tim hát lên những khúc hát của riêng nó.

Không nói gì, nhưng chỉ hát thôi, vì trái tim con quá đầy.

Như con chim sáo cứ hát những giai điệu bất chợt theo ngôn ngữ của nó.

Vì Mẹ đep,

Vì Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội.

Người nữ rồi cũng được phục hồi trong Ân Thánh,

Tạo vật, trong vinh dự đầu tiên và trong sự tươi nở cuối cùng của nó,

Như thuở ban đầu xuất hiện từ bàn tay Thiên Chúa,

Trong ánh ban mai của sự rực rỡ khai nguyên.

Vẹn toàn khôn tả,

Vì Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu,

Trong tay Mẹ, Ngài là chân lý và là nguồn hy vọng duy nhất, và cũng là quả phúc độc nhất(...).

Lạy Mẹ Chúa Giêsu,

Con cám ơn Mẹ.

Paul Claudel ( La Vierge à midi ).

Lm Trầm Phúc.

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 13 =THONG DIEP ME MARIA PDF Print E-mail

 

Re: GOD'S CHILD GROUP _ THƯ TƯ LỄ TRO _ LỜI MẸ MARIA QUA CHA GOBBI



From: HN Lucy ThaoNhi

Date: 2013/2/8

Subject: THƯ TƯ LỄ TRO _THONG DIEP ME MARIA (PHONG TRAO LINH MUC DUC ME)

To:

Thân chào các Hồn Nhỏ,

Thứ tư tới này là bước vào Mùa Chay, Lễ Tro.

HN Thảo Nhi xin gởi đến quý HN Thông Diep Mẹ Maria gởi qua Cha Gobbi trong Phong Trào Linh Mục Đức Mẹ.

Thong Diep này có đăng trên dongcong.net

.

THÔNG ĐIỆP MẸ MARIA GỞI QUA CHA DON GOBBI

(PHONG TRÀO LINH MỤC ĐỨC MẸ)

Dongo (Como) 4 tháng 3, 1987

Thứ tư Lễ Tro, đầu Mùa Chay

"Các con yêu dấu, rất được Mẹ che chở và bênh đỡ, các con hãy theo Mẹ trên con đường Mẹ vạch ra cho các con. Đó là con đường trở lại và ăn năn sám hối.

Con đường trở lại mà Mẹ đòi hỏi đây cũng là con đường mà Chúa Giêsu đã truyền trong Phúc Âm. Các con hãy từ bỏ con đường xấu xa độc ác, kiêu căng, ích kỷ và tội lỗi.

Trong thế giới các con đang sống, người ta đang truyền bá tinh thần nổi loạn, chống lại Thiên Chúa và luật yêu thương của Người, táng dương và đề cao chúng như gương mẫu của đời sống mới. Hằng ngày biết bao con cái đáng thương của Mẹ đã thành nạn nhân của tội lỗi, hận thù, bạo lực và trụy lạc, ích kỷ và dâm ô. Tội nặng là tội khiến các con xa lìa Thiên Chúa, phá hủy sự sống và ơn thánh quí báu của Người, biến các con thành nô lệ của dục vọng và nết xấu, làm các con suy yếu, không còn sức chống lại cám dỗ, mở đường cho Satan hành động. Bởi vậy càng ngày Satan càng chiếm đoạt đời sống các con, biến các con thành những dụng cụ truyền bá ích kỷ vô cương, kiêu căng, hận thù và chia rẽ, dâm ô và vô đạo.

Nếu các con can đảm mạnh mẻ chống lại thế gian để tiến bước trên đường sự thiện và ơn sủng, trên đường tình yêu và thánh thiện, các con đã thực hiện việc trở lại nơi các con. Ngày nay tất cả những con cái Mẹ phải trở lại và tin vào Phúc Âm, sống theo Tin Mừng và chỉ để sự khôn ngoan của Phúc Âm hướng dẫn. Đây là những ngày thuận tiện cho việc trở lại. Đây là những ngày ân sủng và thương xót, hy vọng và cậy trông.

Đây là những ngày chuẩn bị dành cho các con để các con đương đầu với những gì sắp xảy ra, với những biến cố vĩ đại Mẹ đã nói trước cho các con. Bởi thế Mẹ cũng xin các con phải làm việc hy sinh và đền tội hằng ngày.

Các con có thể dâng việc đền tội lên cho Mẹ bằng ba cách.

Thứ nhất là việc đền tội bề trong. Các con hãy thực hành việc đền tội này bằng cách tập làm chủ chính mình, làm chủ các dục vọng để thực sự các con được nên ngoan ngoãn, khiêm tốn và nhỏ bé, sẵn sàng cho những chương trình của Mẹ. Đôi khi Trái Tim Mẹ đau khổ vì thấy các con chống lại những lời kêu gọi tử mẫu của Mẹ. Như thế các con không đạt tới mức độ ngoan ngoãn, khiêm nhượng, bỏ mình mà Mẹ mong muốn. Và đó là điều thiết yếu để Mẹ xử dụng các con hầu thực hiện chương trình cứu rỗi và thương xót của Mẹ.

Sau đó các con hãy dâng lên Mẹ việc đền tội thầm kín hằng ngày. Các con thực hiện việc đền tội này nếu các con thi hành Thánh Ý Chúa trong mọi hoàn cảnh, khiêm tốn và trung thành làm việc bổn phận. Suốt một ngày như vậy, các con sẽ có bao nhiêu việc quý báu để chịu đau khổ và hy sinh!

Một nụ cười giữ lòng thanh thản, trầm lặng, kiên nhẫn, chấp nhận và hy sinh, quả thực là những việc đền tội thầm lặng giá trị và sáng láng trong đời sống các con.

Mẹ cũng xin các con thực hiện việc đền tội bề ngoài. Đó là làm chủ giác quan, giữ gìn giác quan, đặc biệt là con mắt, miệng lưỡi, thính giác và vị giác.

Các con đừng ngó nhìn đến những điều xấu xa, những cảnh dâm ô trên các đường phố chung quanh. Các con hãy hãm mình không xem TV để giữ sự sáng linh hồn và để có nhiều thì giờ hồi tâm, suy niệm và cầu nguyện.

Các con hãy biết cách kiểm soát miệng lưỡi và giữ yên lặng bề trong bề ngoài, để chỉ nói những điều tốt, trong tình yêu thương và khiêm tốn phục vụ mọi người.

Các con hãy tránh những chỉ trích, cằn nhằn, truyện phím và những lời ác ý. Các con đừng mau xét đoán và kết án.

Các con hãy bịt tai cũng như trí khôn trước những tiếng huyên náo om xòm, ngày nay càng ngày càng làm điếc tai, nhức óc, hỗn độn và khô khan.

Các con hãy hãm dẹp miệng lưỡi bằng cách hy sinh những của ăn ngon miệng và bằng việc ăn chay. Trong Phúc Âm, Chúa Giesu đã đòi việc ăn chay thể xác này và hôm nay Mẹ lại yêu cầu.

Nếu các con tiến bước trên con đường Mẹ đã vạch ra cho các con đây, cuộc đời của các con sẽ là những chuỗi ngày được Chúa chúc phúc, sẽ đem lại bình an và sự trong sạch cho trái tim và linh hồn các con.

Chính các con sẽ trở nên lời nói sống động của Mẹ, các con sẽ chiếu tỏa sự hiện diện của Mẹ vào những bóng tối dầy đặc đang bao phủ thế giới.

Chính trên con đường trở lại và đền tội sáng láng này mà Mẹ hằng hướng dẫn các con, nhất là trong những ngày chuẩn bị này, để các con được đón nhận phép lạ lớn lao của lòng thương xót Chúa đang được thực hiện""

On 06/02/2013 11:44 AM, HN Lucy ThaoNhi wrote:

>

> Nhân dịp Xuân về, xin gởi đến các bạn lời nguyện cầu sau đây.

> Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta, bay giờ và mãi mãi.

>

>

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 12 = LE DUC MARIA, MẸ THIEN CHUA PDF Print E-mail

CHÚA GIÊSU, CON MẸ MARIA,

MẠC KHẢI TÌNH YÊU THIÊN CHÚA CHO MỌI NGƯỜI

SUY NIỆM PHÚC ÂM ( IV C 8 ); ( 01.01.2013); ( Lc 2, 16-21)

LỄ ĐỨC MẸ MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

NGUYỄN HỌC TẬP

1 - Trong bài Suy Niệm Phúc Âm đêm Giáng Sinh, chúng ta đã có dịp đề cập sơ qua các câu 15-20, chương 2 Phúc Âm Thánh Luca, là những câu kết thúc biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu với câu cuối cùng diễn tả cử chỉ hân hoan, mà các mục đồng ra về sau khi được gặp một " Trẻ Sơ Sinh nằm trong máng cỏ":

- " Rồi các mục đồng ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, cũng như đã được nói với họ " ( Lc 2, 20).

Câu 21 là câu chuyển tiếp, một đàng để kết thúc những gì đã được kể lại trong biến cố Giáng Sinh, đàng khác dẫn nhập đến sự việc Mẹ Maria và Thánh Giuse dâng hiến Chúa Giêsu trong Đền Thờ:

- " Khi Hài Nhi được tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ" ( Lc 2, 21).

Cấu trúc của câu 21 vừa được trích dẫn cho thấy Thánh Luca đặt trọng tâm của câu Phúc Âm vào

" tên " của Hài Nhi Giêsu, bởi vì " tên " đó đã được chính thiên thần, theo lệnh Chúa Cha, bảo đặt cho Chúa Giêsu trước khi Người được cưu mang:

- " Nầy đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và bà sẽ đặt tên là Giêsu " ( Lc 1, 31).

Và theo tục lệ Do Thái, lúc đặt tên chính thức cho đứa trẻ được thực hiện trong nghi lễ cắt bì, tám ngày sau khi được sinh ra, theo những gì Thiên Chúa truyền dạy cho tổ phụ Abraham:

- " Sinh được tám ngày, mỗi con trai của các ngươi phải chịu cắt bì, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi của ngươi " ( Gen 17, 12).

2 – Các yếu tố của câu 21 chúng ta đọc ở trên, đáng được đặc biệt chú ý, bởi vì là những yếu tố được cả hai bài đọc thứ nhứt và thứ hai trong Thánh Lễ hôm nay đề cập đến.

Đó là những lời chúc lành của các tư tế, trong đó " tên " hay " thánh danh " Thiên Chúa được nêu lên và giữ một vai trò hệ trọng tối thượng đối với cuộc sống còn của dân tộc Israel:

- " Nguyện Thiên Chúa ( YHWH, Yahvé) chúc lành và gìn giữ anh em!

Nguyện Thiên Chúa ( YHWH, Yahvé) tươi nét mặt nhìn đến anh em và dũ lòng thương anh em!

Nguyện Thiên Chúa ( YHWH, Yahvé) ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!

Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng " ( Nm 7, 24-27).

Và Thánh Phaolồ trong Thư gởi các tín hữu Galati đã cho chúng ta biết rằng Chúa Ki Tô "đã được sinh ra dưới Lề Luật ", nói cho mọi người biết rằng Người thuộc dân tộc Israel, trong đó cắt bì là dấu chứng rõ rệt và bắt buộc, như những gì chúng ta đã đọc trong sách Sáng Thế Ký Chúa đã truyền cho Abraham ( Gn 17, 12).

Bỏi đó Thánh Phaolồ viết cho các tín hữu Galati:

- " Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử " Gal 4, 4-5).

Bài Phúc Âm hôm nay, được trích cho chúng ta đọc chung với đoạn chúc phúc của sách Dân Số và đoạn thư cho các tin hữu Galati nói về việc Chúa Giêsu " sinh ra dưới Lề Luật ", Phụng Vụ có ý mời gọi chúng ta chú tâm đến biến cố cắt bì của Chúa Giêsu, tám ngày sau Lễ Giáng Sinh.

Trong sách Dân Số, công thức chúc phúc được lập lại ba lần và mỗi lần đều nhấn mạnh đến "thánh danh Thiên Chúa, YHWH ". Bởi vì chúc phúc như vậy, các tư tế "đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta " ( Nm 7, 27).

Thành ngữ "đặt dưới danh, đặt dưới quyền bảo trợ của danh tánh " khi nói về Thiên Chúa, Cựu Ước dùng liên tưởng đến Đền Thánh Giêrusalem, để nói lên là nơi Chúa chọn lựa một cách đặc biệt:

- " Ta đã thánh hoá ngôi đền nầy, mà ngươi đã xây để cho danh Ta ngự ở đó muôn đời; Ta sẽ nhìn xem và ưa thích ở đó mỗi ngày" ( 1 Re 9, 3).

Câu văn vừa kể của Sách I Các Vua,

- một mặt nói lên cho chúng ta mối liên hệ giữa Đền Thánh Giêrusalem và Thiên Chúa, " Ta đã thánh hoá ngôi đền nầy, là ngươi đã xây, để danh Ta ngự ở đó muôn đời ",

- mặt khác nói lên Thiên Chúa tối thượng và trổi vượt, không ai nghĩ rằng có thể xây được một đền đài nào nguy nga tráng lệ và rộng lớn đến đâu để có thể chứa đựng được Thiên Chúa, " Ta sẽ nhìn xem và ưa thích ở đó mỗi ngày ".

Trong sách Dân Số, các vị tư tế đã phó thác dân Israel trong thánh danh Thiên Chúa, nói lên Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài, Ngài chăm sóc dân Ngài, đại lượng tha thứ lỗi lầm, chúc phúc, ban bình an, bảo vệ cuộc sống và an toàn:

- " Chúc như vậy là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng" ( Nm 7, 27)

Quyền năng siêu việt và tự do của Thiên Chúa được làm sáng tỏ trong lời chúc phúc của các tư tế, bởi vì thể thức chúc phúc như vừa kể cho thấy không phải là do các vị đó chế biến ra, mà là chính lời của Thiên Chúa truyền cho, chính Chúa đã nói với các vị:

- " Chúc như vậy là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta...".

Dầu vậy,

- dầu dùng chính lời của Thiên Chúa để chúc phúc cho Israel, vai trò của các vị tư tế cũng chiếm một địa vị quan trọng trong dân chúng Israel,

- bởi vì chỉ có con cái chi tộc Aronne mới có quyền được trở thành tư tế và dùng lời Chúa chúc phúc cho dân chúng.

3 - Trở lại Phúc Âm Thánh Luca, về " tên của Hài Nhi ", chúng ta có thể để ý đến sự khác biệt giữa hai lần đề cập đến.

Ở lần truyền tin cho Mẹ Maria, thiên thần truyền cho Mẹ:

- " Và đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và bà sẽ đặt tên là Giêsu " ( Lc 1, 31).

(Đúng hơn mệnh đề ...bà sẽ đặt tên là Giêsu ( et tu lui donneras le nom de Jésus, Bible de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 13539) nên dịch là « bà hãy đặt tên là Giêsu », là một động từ ở thì tương lai, được dùng dưới hình thức thể mệnh lệnh tính lịch sự ( impératif de politesse).

Trong khi đó thì trong câu biến cố cắt bì hôm nay, động từ được Thánh Luca dùng ở thể thụ động, mà các nhà thần học cho là " thể thụ động thần học " ( passif théologique).

Do đó thay vì dịch như dịch giả Việt Ngữ:

3 " Khi Hài Nhi được tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hai Nhi là Giêsu" ( Lc 2, 21) ( Thánh Kinh Trọn Bộ, NXB TPHCM 1998, 1941).

Dịch động từ dưới thể " không xác định chủ thể " ( impersonnel ) như vừa kể : " người ta đặt tên" như dịch giả Việt Ngữ, người đọc không thấy được ai là chủ thể của động tác.

Chủ thể đó là ai cũng được, không cứ gì tên Giêsu là tên được Chúa Cha đặt cho Con mình và được thiên thần Gabriel truyền cho Mẹ Maria trong ngày Truyền Tin.

Trái lại chúng ta nên dịch theo " thể thụ động thần học " mà các bản văn dịch Ý Ngữ chúng tôi có đều dùng:

- " Khi Hài Nhi được tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, tên Giêsu được đặt cho Hài Nhi "

( ..., gli fu messo nome Gesù, ..., La Bibbia di Gierusalemme, EDB, Bologna 1986, 2199).

Dịch như vậy, chúng ta thấy rỏ ý nghĩa của " thể thụ động thần học", nói lên động tác của chính Thiên Chúa can thiệp vào biến cố.

Nói cách khác chính Thiên Chúa, Chúa Cha đã đặt tên cho Chúa Giêsu.

Và như vậy với cách dùng "thể thụ động thần học " trong câu văn, " ...tên Giêsu được đặt cho Hài Nhi ", Thánh Luca muốn cho chúng ta nhận ra chính Chúa Cha đã đặt tên Giêsu cho Con Ngài, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

Dùng lối dịch "không xác định chủ thể " ( impersonnel): " người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu ", vô tình hay hữu ý, dịch giả Việt Ngữ " vô thần hoá " bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu chăng?

" Thể thụ động thần học " như vừa kể, chúng ta cũng đã có dịp gặp ơ những lần khác,

- khi Chúa Giêsu "được biến dạng " (được Đức Chúa Cha biến dạng) trong biến cố Chúa Giêsu tỏ mình ra sáng láng : " Et il fut transfiguré devanti eux...( Và Người được biến dạng trước mặt họ..., Mt 17, 2 ) ( La Sainte Bible, École Biblique de Jérusalem Cerf, Paris 1961, 1312).

- Và trong biến cố « Chúa Giêsu sống lại » ( Chúa Giêsu được Chúa Cha làm cho sống lại) : - " Các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không còn ở đây, vì Người « đã được cho trổi dậy », như Người đã nói ( Mt 28, 6) ( Ne craignez point, vous ; je sais bien que vous cherchez Jésus, le Crucifié. Il n'est plus ici, car il est ressuscité, come il l'avait dit » ( La Sainte Bible, id., 1329).

Dịch như vậy, chúng ta thấy được sáng kiến và tự do của Thiên Chúa trong các biến cố khác thường của cuộc đời Chúa Giêsu.

Chúa Cha tác động trong chương trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, Chúa Cha can thiệp vào lịch sử cứu rỗi và vào đời sống con người chúng ta.

Việc chọn các bài đọc đặt bên cạnh bài Phúc Âm hôm nay cũng rất có ý nghĩa, đặt các lời chúc phúc nhân danh Thiên Chúa bên cạnh việc « Chúa Cha đặt tên cho Chúa Giêsu » qua « thể thụ động thần học » nói lên cho chúng ta một nhãn quang mới, Thiên Chúa hiện diện giữa con người trong tên Hài Nhi Giêsu.

Hài Nhi Giêsu của Mẹ Maria và Thánh Giuse làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta và chúc phúc cho chúng ta như đã hiện diện và chúc phúc cho dân Israel trong Cựu Ước.

Trong Hài Nhi Giêsu, tình thương của Thiên Chúa hiện diện,

- không những cho Israel như trong Cựu Ước, được sách Dân Số kể lại cho chúng ta ở trên,

- mà là cho tất cả mọi người, như lời loan báo của thiên thần cho các mục đồng :

- « Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương » ( Lc 2, 14).

4 – Trong Thư Thánh Phaolồ gởi các tin hữu Galati, trước tiên Ngài nhấn mạnh đến bản tính nhân loại của Chúa Giêsu, với thành ngữ « sinh làm con một người phụ nữ », nói lên sự mỏng dòn yếu đuối của bản tính nhân loại, liên tưởng đến biến cố Nhập Thể của Ngôi Lời Con Thiên Chúa :

- « Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ,...» ( Gal 4, 4-5).

Kế đến Thánh Phaolồ cho chúng ta biết Chúa Giêsu,

-« và sống dưới Lề Luật, để cứu chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử » ( id.)

Viết như vậy, chắc chắn khi viết, Thánh Phaolồ liên tưởng đến biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu bằng động từ " cứu chuộc", bởi vì qua sự chết và sống lại của Chúa Giêsu, Ngài đã giải thoát mọi con người khỏi tội lỗi và cái chết.

Nhưng với việc cắt bì được Phúc Âm Luca kể lại hôm nay, là dấu chỉ " sống dưới Lề Luật " , và sống trong giao ước:

- " Sinh đươc tám ngày,mọi con trai các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ nầy, qua thế hệ khác...Giao ước Ta ghi dấu trong thân xác các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cữu" ( Gn 17, 12.13),

chúng ta có thể hiểu được trong ngụ ý của Thánh Phaolồ là biến cố khổ hình thánh giá đã được bắt đầu ngay từ lúc tám ngày sau khi Chúa Giêsu được sinh ra.

Cùng với cắt bì hôm nay và cuộc tử nạn thập giá trong tương lai, Chúa Giêsu đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, để ban cho chúng ta địa vị con Thiên Chúa:

- " Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con minh đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con, thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa " ( Gl 4, 6-7).

Và chúng ta có được những điều vừa kể, nhờ công sức đóng góp của Mẹ Maria vào chương trình cứu rổi của Mẹ. Mẹ đã cưu mang, sinh ra và nuôi dưỡng Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ và làm cho chúng ta trở thành nghĩa tử đầy ân phúc của Chúa.

 
NHUNG BAI VE DUC ME # KÍNH MUNG MARIA PDF Print E-mail

 

KÍNH MỪNG MARIA

 

Kính Mừng Maria

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Đức Giêsu đã vào trong trần thế và lời kinh chúc tụng Maria được xướng lên trong âm thanh đầm ấm của Màu nhiệm Giáng Sinh: "Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương". Vinh danh Thiên Chúa trong Đức Maria là lời kinh đẹp nhất của nhân loại tán tụng hồng ân Thiên Chúa.

Lời kinh kính mừng của thiên sứ gửi tới Mẹ, cũng là lời kinh chào chúc của toàn thể nhân loại dâng lên Mẹ và qua Mẹ dâng lên Thiên Chúa. Mẹ là người diễm phúc, bởi vì tâm hồn Mẹ là Đền Thờ Con Thiên Chúa ngự trị. Sẽ không là lời hoa mỹ khi ca ngợi Mẹ, bởi vì chính mẹ đã là Lời tán tụng đẹp nhất nhân loại dâng lên Thiên Chúa. Ca ngợi Thiên Chúa, không là để làm vinh danh Thiên Chúa hơn nhưng lời ca tụng lại là hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho loài người.

Con người biết ca tụng vẻ đẹp của thiên nhiên, con người cũng biết ca tụng những tâm hồn thánh thiện, những lời ca tụng đó làm cho nhân loại không ngừng mến yêu những vẻ đẹp mà Thiên Chúa đã dựng nên và ban cho loài người. Lời Kinh Kính Mừng ấy cho nên quy hướng về Thiên Chúa, để cảm tạ, để tri ân. Lòng cảm tạ và niềm tri ân cũng đượm sắc, hương thơm của tâm hồn nhân loại, mang trong mình những dấu ấn của thân xác và tâm hồn mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Trong nhân loại, có một con người hoàn toàn dâng lên Thiên Chúa để thuộc về Người và từ đây nhân loại cũng có nhiều tâm hồn muốn quy thuộc về Thiên Chúa.

Lời kinh rất đẹp, bởi lời kinh mang sự hoan hỷ của triều thần thiên quốc và cũng mang niềm hỷ hoan của nhân loại. Niềm mừng vui ấy minh chứng rằng, công trình tạo dựng của Thiên Chúa là một công trình đi lên, luôn hướng về phía trước, cho dù tội lỗi có ngút ngàn, cho dù tội lỗi có làm mờ lối, tình thương yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ thất bại. Nhân loại nhờ đó vẫn ngẩng cao đầu tiến về phía trước, nơi ngọn nguồn ánh sáng của Tình Yêu đưa dẫn. Nơi chốn của tội lỗi nảy sinh một màu hoa trắng diễm lệ, không mang tỳ ố, không mang nét nhơ, không có dấu vết trầy xước của tội lỗi, bởi vì tất cả những mãnh lực của tội lỗi đều chào thua, khuất phục trước tình yêu thương của Thiên Chúa. Công trình tạo dựng là công trình yêu thương, Thiên Chúa yêu thương nhân loại và trở thành niềm vui xác tín: "Đấng toàn năng đã làm cho tôi, biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn." Thiên Chúa đã yêu thương và từ ấy, giữa những hoang mạc vẫn nảy lên những chồi non xuân sắc: "Trong đầm gì đẹp bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng, nhị vàng bông trắng lá xanh, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"; được Thiên Chúa yêu thương, cuộc đời trở nên diễm phúc, được Thiên Chúa nâng niu giữ gìn, nên từ ấy có một đoá sen hồng nảy lên giữa bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

"Kính mừng Maria" là lời kinh ca khen kỳ công của Thiên Chúa. Kỳ công mà Người đã thực hiện bằng yêu thương, vẻ đẹp tinh tuyền thánh thiện của trinh nữ Maria, Maria được nên tráng lệ như Đền Thờ của Người trong trần gian. Trong lời kinh ấy có: lời tán tụng của Mẹ, lời chào chúc của Thiên sứ, niềm cảm mến tri ân của nhân loại, vẫn đang không ngừng trôi chảy trong suối nguồn ân phúc. Thiên Chúa yêu thương loài người.

 

GC chuyển 19-12-12

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 Next > End >>

Page 27 of 28