mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay9181
mod_vvisit_counterHôm Qua10602
mod_vvisit_counterTuần Này66813
mod_vvisit_counterTuần Trước122203
mod_vvisit_counterTháng Này339455
mod_vvisit_counterTháng Trước303578
mod_vvisit_counterTất cả21811913

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Thiên Chúa Là Cha Của Tôi
THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI -CẦU HÒA BÌNH CHO GIÊ-RU-SALEM PDF Print E-mail

Huong Bui
Wed, May 12 at 3:58 PM
"HÃY CẦU NGUYỆN HOÀ BÌNH CHO JERUSALEM VÌ TẠI ĐÓ CÁC NGAI XÉT ĐOÁN ĐƯỢC THIẾT LẬP , ĐÓ LÀ CÁC NGAI CỦA NHÀ DA - VÍT. "
‭‭Nguyện những ai yêu mến ngươi được thịnh vượng. Nguyện bình an ở phía trong tường ngươi. Nguyện giàu sang phú quý ở trong các cung điện ngươi." Nay vì cớ anh chị em ta và các bạn hữu ta, Ta cầu chúc ngươi rằng, "Chúc ngươi luôn được bình an thịnh vượng." Vì cớ nhà CHÚA, THIÊN CHÚA chúng ta, Ta cầu phước cho ngươi."
‭‭Thánh Vịnh 122:5-9‬ ‭

Dt 12:22 Nhưng anh em đã tới núi Xi-on, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui,23 dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện.

* Lạy THIÊN CHÚA là CHA ! Chúng con yêu Jerusalem, chúng con hiệp thông cầu nguyện cho ý CHA được nên, cho an ninh tại Israel , Jerusalem mảnh đất NGÀI chọn.
Chúng con cùng với các Hội Thánh khắp nơi trong dân thánh NGÀI, cùng với những người được ghi tên trên trời, những người sẽ được dự tiệc vui cùng với CON đầu lòng của CHA là CHÚA JESUS KITÔ.
Chúng con huớng lòng về nơi núi Xi-on , nơi thành Jerusalem mới sẽ đáp xuống trên đất như lời CHÚA đã hứa cho dân NGÀI, cho con cái NGÀI. Amen.

"Tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới từ THIÊN CHÚA, từ trời hạ xuống, và đã được chuẩn bị sẵn như một cô dâu trang sức sẵn để đón chồng nàng."
‭‭Khải‬ Huyền ‭21:2‬ ‭
H. H Tin Mừng Vương Quốc.

-------------------------------------------

 
THIÊN CHÚA LÀ CHA CUA TÔI - CHÚA KHÔNG CÓ NHÀ PDF Print E-mail

Không Tìm Được Chỗ Trong Quán Trọ - Lễ Chúa Giáng Sinh - Lễ Đêm 24/12

Tin Mừng Luca 2:1-14

Ngày xưa, có một chú bé Phi Châu tên là Emmanuel. Chú ta luôn luôn tò mò thắc mắc. Một ngày nọ chú hỏi thầy giáo: "Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?"

Thầy giáo chỉ biết gãi đầu và nói: "thú thực là thầy cũng không biết". Sau đó Emmanuel đi hỏi các nhà trí thức trong làng nhưng họ cũng chẳng biết. Thế là chú ta càng ngày càng thắc mắc hơn. Chú dạo quanh khắp vùng dọ hỏi các bậc thức giả ở những làng khác: "Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?" Nhưng họ cũng chỉ biết lắc đầu mà thôi. Tuy nhiên, Emmanuel vẫn tin chắc rằng có một ai đó biết được điều này, vì thế chú lên đường đến những quốc gia và cả những đại lục khác để tìm hỏi, nhưng chú cũng chẳng nhận được một câu trả lời nào.

Rồi một đêm kia, sau khi kiệt sức vì phải đi quá nhiều nơi, Emmanuel đến được một ngôi làng nọ, tên là Belem. Chú cố tìm chỗ nghỉ đêm trong quán trọ, nhưng tất cả các quán đều đã đầy người. Vì thế chú quyết định tìm một cái hang ngoài thành để trú đêm.

Cuối cùng, đến quá nửa đêm, chú mới tìm được một cái hang. Nhưng khi bước vào hang, chú nhận ra chiếc hang đá có một đôi vợ chồng và một hài nhi đang trú ngụ.

Nhìn thấy chú, bà mẹ trẻ liền nói: "hân hạnh đón chào Emmanuel, chúng ta đang mong chờ con".

Chú bé quá sửng sốt, làm sao bà này biết được tên của mình chứ? Và chú càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghe bà ấy nói: "đã từ lâu, con đi khắp thế gian để hỏi xem Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào. Giờ đây, cuộc hành trình của con kể như đã kết thúc. Đêm nay, chính mắt con sẽ thấy Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào. Ngài nói bằng ngôn ngữ của tình yêu: "Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban cho thế gian Con Một của Ngài" (Ga 3,16).

Trái tim Emmanuel trào dâng niềm xúc động, chú vội quì gối xuống trước hài nhi và mừng rỡ bật khóc. Giờ đây chú đã biết rằng Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu, thứ tiếng mà mọi người thuộc bất kỳ dân tộc hay thời đại nào cũng đều có thể hiểu được.

Quả thật Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu. Thiên Chúa không chỉ nói nhưng còn thể hiện bằng chính con tim của Thiên Chúa. Thiên Chúa Cha đã yêu thương chúng ta. Ngài đã hy sinh chính Con Một Ngài để nói lên tình thương của Ngài đối với chúng ta, nên đã sai Con Một xuống thế để cứu chuộc chúng ta. Chính vì thế Chúa Giêsu đã rời bỏ thiên cung để đến với con người chúng ta, mặc lấy thân phận yếu đuối của con người để có thể đồng cảm với thân phận hèn yếu của chúng sinh, nhưng đồng thời Người cũng là Thiên Chúa, nên với quyền năng của một Thiên Chúa, Người luôn ở bên cạnh chúng ta để từng giây từng phút nâng đỡ chúng ta.

Quả thật không có một tôn giáo nào lại có một Đấng Thần Minh đến ở với con người, chấp nhận mang lấy hình hài yếu đuối của con người. Chỉ có Thiên Chúa chúng ta mới dám đến với con người như thế vì danh hiệu của Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Nhưng chúng ta đón tiếp Người như thế nào?

Có thể chúng ta trách móc dân thành Bêlem đã từ chối Chúa, nên Người đã phải sinh ra nơi hang bò lừa. Coi chừng chúng ta cũng lại tiếp tục thái độ hững hờ của dân thành Bêlem ngày xưa!

Có thể lắm chứ! Bởi vì nếu chúng ta mở cửa đón Chúa vào tâm hồn chúng ta, chắc chắn Chúa đã biến đổi toàn bộ con người của chúng ta, làm cho cuộc đời của chúng ta luôn an bình hạnh phúc.

Nhưng thực tế như thế nào? Chúng ta vẫn còn băn khoăn lo lắng và có khi kêu trách Chúa, tại sao Chúa để con khổ cực như thế này, tại sao Chúa cứ gởi đến cho con những thánh giá quá nặng nề như thế, tại sao con cứ gặp phải những tai ương khốn khó và còn nhiều và rất nhiều những câu tại sao khác nữa... Tại Chúa hay tại ta?

Chúa đã xuống thế làm người để nhắn nhủ chúng ta: "hỡi những ai gồng gánh nặng nề hãy đến với Ta, Ta sẽ bổ sức cho, vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng"

Chúng ta có đến với Chúa không?

Như vậy đủ tố cáo rằng chúng ta chưa cho phép Chúa vào cõi lòng chúng ta. Đây là một xúc phạm vô cùng lớn, bởi vì chúng ta là tạo vật mà lại dám ngăn cản không cho Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên chúng ta, thực hiện tình thương của Ngài trên chúng ta. Một sự xúc phạm vô cùng lớn!

Chúa còn phải chờ đợi đến bao giờ?

Có câu chuyện kể rằng: trong một cuộc triển lãm tranh của những họa sĩ nổi tiếng, khách thưởng ngoạn đặc biệt chú ý tới một bức tranh về hình Chúa Giêsu đứng trước cửa một căn nhà tồi tàn.

Người ta rất thích thú khi khám phá ra rằng trên cửa lại không có nắm cửa để mở.

Chẳng lẽ họa sĩ lại quên đi một chi tiết tầm thường nhưng lại rất quan trọng như vậy sao? Chỉ khi mọi người xì xầm thắc mắc, tiếp tục ngắm nghía cẩn thận và ngẫm nghĩ một hồi lâu, họ mới "ngộ" ra được cái dụng ý tuyệt diệu của bức họa, đó là: Thiên Chúa luôn luôn kiên nhẫn chờ đợi bên ngoài cánh cửa lòng chúng ta, dù tuyết rơi, mưa đổ, gió bão, phong ba thi nhau ập tới, Ngài cũng không nề hà. Nhưng Ngài không thể vào nhà được vì nắm cửa nằm ở bên trong. Điều đó có nghĩa là: quyền quyết định ở trong tay chúng ta, Ngài chỉ có thể bước vào và ngự trị trong tâm hồn chúng ta nếu chúng ta mở cửa cho Ngài.

Vậy hãy mở cửa cho Ngài.

Vào năm 1994, hai nhà giáo Mỹ được bộ giáo dục Nga mời sang dạy. Nhân mùa Giáng Sinh họ đến thăm một trại mồ côi, và kể chuyện Chúa Sinh Ra cho các em. Các em mồ côi cũng như ban quản đốc sung sướng ngồi nghe họ kể chuyện Giáng Sinh. Sau đó, họ phát cho các em vật dụng thủ công để làm Máng Cỏ.

Trong khi đi tới đi lui trông các em làm Máng Cỏ, họ ngạc nhiên khi thấy Máng Cỏ của bé Misha, chừng 6 tuổi, có đến hai bé sơ sinh nằm trong máng cỏ.

Phải chăng Đức Mẹ lại sinh đôi? Không, không thể được!

Bỡ ngỡ, nhưng bình thản, họ mời Misha kể lại đầu đuôi câu chuyện Chúa Sinh Ra. Misha kể rất thông suốt, rành mạch, đúng với Tin Mừng, từ lúc Truyền Tin cho đến khi hai ông bà không tìm được chỗ trong quán trọ. Nhưng khi đến phần Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu và đặt trong Máng Cỏ, thì em bắt đầu thêm mắm thêm muối.

Misha kể tiếp: Khi Đức Mẹ đặt Bé Giêsu vào trong Máng Cỏ, thì Giêsu nhìn em và hỏi: em có chỗ ở chưa?

- Em thưa: con đâu có cha, con đâu có mẹ, con đâu có nhà!

- Vậy thì em ở với Ta nhé!

- Em ngập ngừng nói: con đâu có quà gì để tặng Chúa! Nhưng em rất mong được ở với Giêsu. Em nghĩ em có thể tặng Chúa tất cả những gì em có: hay là con ôm Chúa cho Chúa bớt lạnh được không?

- Tuyệt, thật là tuyệt, món quà quý giá đó chưa có ai cho Ta cả.

Thế là em nhảy ngay vào trong Máng Cỏ và nằm ôm Chúa cho Chúa bớt lạnh.

Chúa Giêsu cũng giang tay ôm lấy em và bảo: em có thể ở với Ta luôn mãi.

Vừa nói Misha vừa lấy tay lau nước mắt. Đôi giòng lệ tuôn rơi trên gò má hốc hác của em bé mồ côi. Ôi những giòng lệ thật hạnh phúc. Những giòng lệ thật tuyệt vời. Những giòng lệ của một đêm Giáng Sinh.Amen.

Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy
Kính chuyển:
Hồng

-------------------------------------

 
THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI - CN34TN-A PDF Print E-mail

Tinh Cao

Chúa Nhật 34TN-A

LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

(Lễ trọng)

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Ed 34, 11-12. 15-17

"Phần các ngươi là những đoàn chiên của Ta, Ta xét xử giữa chiên với chiên".

Bài trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: "Này chính Ta săn sóc đoàn chiên của Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng. Như một mục tử kiểm điểm đoàn chiên trong ngày chúng bị tản mát, thì Ta cũng kiểm điểm đoàn chiên Ta như vậy. Ta sẽ giải thoát chúng khỏi mọi nơi mà chúng đã bị phân tán, và trong ngày mây mù đen tối.

"Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ, Chúa là Thiên Chúa phán như thế. Ta sẽ tìm con chiên đã mất, sẽ đem con chiên lạc về, sẽ băng bó con chiên bị thương tích, sẽ lo chữa con chiên bị ốm đau, con nào mập béo, Ta sẽ chăm sóc, và sẽ chăn dắt nó trong sự công chính.

"Còn các ngươi, hỡi chiên của Ta, Chúa là Thiên Chúa phán thế này: Này Ta sẽ phân xử giữa con này với con khác, giữa cừu đực với dê đực".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 22, 1-2a. 2b-3. 5. 6

Ðáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).

Xướng: 1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Trên đồng cỏ xanh rì Người thả tôi nằm nghỉ. - Ðáp.

2) Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. - Ðáp.

3) Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa. - Ðáp.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. - Ðáp.

Bài Ðọc II: 1 Cr 15, 20-26. 28

"Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, để Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi sự".

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, Ðức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Ðức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Ðức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Ðức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực.

Nhưng Người còn phải cai trị cho đến khi Người đặt mọi quân thù dưới chân Người. Kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết. Khi mọi sự đã suy phục Người, bấy giờ chính Con cũng sẽ suy phục Ðấng đã bắt mọi sự suy phục mình, để Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi sự.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Mc 11, 10

Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến: chúc tụng nước Ðavít tổ phụ chúng ta đã đến. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 25, 31-46

"Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người, và sẽ phân chia họ ra".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái.

"Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta".

"Khi ấy người lành đáp lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?" Vua đáp lại: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta".

"Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: "Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng. Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc; Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!"

"Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: "Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu?" Khi ấy Người đáp lại: "Ta bảo thật cho các ngươi biết: những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta". Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu".

Ðó là lời Chúa.

SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Điểm then chốt để được cứu độ trong cuộc chung thẩm đó là

con người không thấy mà làm hay không làm, thế thôi

Chúa Nhật XXIV Thường Niên cũng là Chúa Nhật Lễ Trọng Kính Chúa Kitô Vua, Chúa Nhật cuối cùng cũng là Chúa Nhật kết thúc phụng niên, mang ý nghĩa đó là mầu nhiệm cứu độ của Chúa Kitô đã lên đến tột đỉnh về phụng vụ trong cả một phụng niên, thời điểm mà suốt một năm trời trong giòng lịch sử của nhân loại Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô, bao gồm những biến cố của Người: "Hóa Thành Nhục Thể" (Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh mở màn cho phụng niên), Mầu Nhiệm "ở cùng chúng sinh" (Mùa Thường Niên sau Mùa Giáng Sinh), Khổ Nạn và Vượt Qua (Mùa Chay, Tuần Thánh và Mùa Phục Sinh), "ở cùng Giáo Hội cho đến tận thế" nhờ Thánh Linh Hiện Xuống (Mùa Thường Niên sau Mùa Phục Sinh).

Về ý nghĩa liên quan đến Chúa Kitô Vua, mỗi chu kỳ phụng vụ đều có một ý nghĩa khác nhau, tùy theo Bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc.

Ở chu kỳ phụng niên Năm A, chiều kích về Chúa Kitô Vua liên quan đến quyền phán xét muôn dân qua cuộc chung thẩm vào lúc Người lại đến trong vinh quang (ám chỉ Người là Vua của toàn thể nhân loại và của cả vũ trụ này), như Bài Phục Âm Thánh Mathêu ở cuối đoạn 25 hôm nay cho thấy.

Ở chu kỳ phụng niên Năm B, không theo Phúc Âm Thánh Marco như thường lệ mà là theo Phúc Âm Thánh Gioan, chiều kích về Chúa Kitô Vua liên quan đến vương quốc siêu việt không thuộc về thế gian của Người (so với quyền lực trần tục của đế quốc Rôma hiện thân nơi Tổng Trấn Philato là nhân vật lịch sử đã nghe thấy Người tuyên bố về vương quốc của Người như vậy).

Ở chu kỳ phụng niên Năm C, chiều kích về Chúa Kitô Vua liên quan đến quyền năng cứu độ của Người (được tỏ ra nơi trường hợp người trộm thống hối, chứng tỏ Nước của Người không thuộc về thế gian này mà là thuộc về một thế giới thần linh siêu nhiên bất diệt).

Trong cuộc chung thẩm được Bài Phúc Âm Thánh ký Mathêu thuật lại cho Chúa Nhật XXXIV trọng kính Chúa Kitô Vua hôm nay, Chúa Kitô chẳng những tỏ ra Người là vua trời đất (bao gồm cả các thần trời) mà còn xác định rõ Người là Vua có toàn quyền xét xử và thưởng phạt muôn dân thiên hạ như sau (những chỗ in nghiêng do người viết tự ý nhấn mạnh và chứng thực những gì đang được diễn giải):

"Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người. Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng 'Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ...'"

Tiêu chuẩn thưởng phạt công minh trong cuộc chung thẩm này đó là đức bác ái yêu thương tha nhân, một tiêu chuẩn áp dụng cho "muôn dân" thiên hạ, chứ không cho riêng gì Dân Chúa Cựu Ước (dân Do Thái) hay Tân Ước (Kitô hữu). Và thành phần tha nhân cần được tỏ lòng bác ái yêu thương đây lại là chính bản thân Người, một bản thân đã được đồng hóa với thành phần bất hạnh cần được thương xót: "các anh em bé mọn nhất của Ta".

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao Chúa Kitô Vua lại đồng hóa mình với thành phần anh em hèn mọn nhất của Người, nếu không phải vì Người đã "yêu thương những kẻ thuoôc về mình thì Người muốn chứng tỏ Người yêu họ đến cùng" (Gioan 13:1). Mà "đến cùng" đây không phải chỉ đến cùng của tình yêu của Người mà đến con người tội nhân khốn nạn cuối cùng. Bởi thế, tất cả vinh hiển và chân dung của Lòng Thương Xót vô cùng nhân hậu của Người được tỏ ra nơi những con người cùng tận này.

Tuy nhiên, cả thành phần chiên được cứu độ lẫn thành phần dê bị hư đi đều lạ lùng trả lời vị vua thẩm phán tối cao này giống như nhau: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng con thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?"

Như thế, bề ngoài thì tiêu chuẩn ở cuộc chung thẩm liên quan đến số phận đời đời của tất cả mọi người và từng người, bao gồm cả chiên lẫn dê, rõ rang đó là đức bác ái yêu thương, thế nhưng bề trong là chính đức tin, một "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6): "có bao giờ chúng con thấy Chúa". Điểm then chốt để được cứu độ ở đây là con người không thấy mà làm hay không làm, thế thôi: làm theo đức tin như chiên thì được cứu độ, còn không làm như dê bởi không tin thì bị hư mất.

Vấn đề được đặt ra ở đây là như thế thì chẳng lẽ chỉ có Kitô hữu là chiên được cứu rỗi hay sao, vì chỉ có thành phần Kitô hữu mới có đức tin, tin vào Chúa Kitô, ngoài ra, ai không phải là Kitô hữu, không tin vào Chúa Kitô thì là dê bị hư đi hay sao?

Tất nhiên không phải như vậy. Thậm chí cả Kitô hữu có đức tin ấy cũng có thể bị hư đi nếu không sống "đức tin thể hiện qua đức ái". Kitô hữu không sống đức ái yêu thương bằng đức tin, thì ở một nghĩa nào đó, cũng chẳng khác gì hay hơn gì dân ngoại hay thành phần thu thuế, thành phần tội lỗi, như chính Chúa Giêsu khẳng định (xem Mathêu 5:47), nghĩa là chẳng khác gì như vô thần.

Trái lại, cho dù là dân ngoại vô thần thường sống buông thả theo tự nhiên hay là thành phần ngoại lai sống chẳng khác gì dân ngoại, điển hình là người Samaritanô nhân lành, trong Phúc Âm Thánh Luca đoạn 10 (33-34), đã tự động ra tay cứu vớt nạn nhân đáng thương lạ mặt thuần Do Thái vốn kỳ thị dân Samaria, họ vẫn là thành phần hữu thần hơn cả vị tư tế và thày levi trước đó trông thấy nạn nhân đều dửng dưng tránh né và bỏ đi.

Qua cuộc chung thẩm về đức bác ái yêu thương trong Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXXIV Trọng Kính Chúa Kitô Vua hôm nay đã cho thấy tính cách làm Vua của Chúa Kitô, ở chỗ Người đến không phải để được phục vụ mà là để phục vụ (xem Mathêu 20:28), phục vụ đoàn chiên của Người, như chính Người, qua miệng tiên tri Êzekiên trong Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"Này chính Ta săn sóc đoàn chiên của Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng. Như một mục tử kiểm điểm đoàn chiên trong ngày chúng bị tản mát, thì Ta cũng kiểm điểm đoàn chiên Ta như vậy. Ta sẽ giải thoát chúng khỏi mọi nơi mà chúng đã bị phân tán, và trong ngày mây mù đen tối. Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ, Chúa là Thiên Chúa phán như thế. Ta sẽ tìm con chiên đã mất, sẽ đem con chiên lạc về, sẽ băng bó con chiên bị thương tích, sẽ lo chữa con chiên bị ốm đau, con nào mập béo, Ta sẽ chăm sóc, và sẽ chăn dắt nó trong sự công chính".

Vì thế, nếu quả thực là chiên của vị mục tử vương giả vô cùng nhân hậu này, họ sẽ không thể nào, vào một lúc nào đó trong đời, không cảm thấy những tâm tình thiết tha cảm mến vị chủ chiên của mình như Thánh Vịnh gia đã bày tỏ và diễn tả ở Thánh Vịnh 22 trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Trên đồng cỏ xanh rì Người thả tôi nằm nghỉ.

2) Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người.

3) Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa.

4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

Thật ra, Chúa Kitô Vua đã thực sự làm Vua khi Người từ trong cõi chết sống lại, nghĩa là vào lúc Người hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và sự chết nơi chung bản thân của Người, là một ngôi vị thần linh, và nơi riêng nhân tính được Người mặc lấy: "Thày được toàn quyền trên trời dưới đất" (Mathêu 28:18). Thánh Phaolô trong Thư gửi Corintô lần đầu cũng ở Bài Đọc 2 hôm nay đã xác tín như vậy:

"Anh em thân mến, Ðức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Ðức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Ðức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Ðức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực".

Tuy nhiên, trên thực tế, cho dù theo nguyên tắc vương quốc của satan từ sau nguyên tội đã bị phá hủy bởi Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, vẫn càng ngày càng hoàng hành và lộng hành như thể Thiên Chúa đã chết hay chẳng có Chúa tể nào khác ngoài satan cùng bọn ngụy thần của hắn, khi mà con người càng văn minh về cả khoa học kỹ thuật lẫn nhân bản càng bạo loạn và tự diệt như ngày nay, không còn luân thường đạo lý gì nữa, ngoài thần tượng tự do duy nhân bản, như đ8ang xẩy ra từ và ở chính thế giới Tây phương Kitô giáo hiện nay. Đó là lý do Thánh Phaolô, trong cùng bức thư ở Bài Đọc 2 hôm nay đã phải công nhận với đầy xác tín về mầu nhiệm cánh chung thuộc về Thiên Chúa, Đấng là nguyên ủy và là cùng đích, là Alpha và Omega (xem Khải Huyền 1:8,23:13), Đấng canh tân đổi mới tất cả mọi sự (xem Khải Huyền 21:5), như sau:

"Nhưng Người còn phải cai trị cho đến khi Người đặt mọi quân thù dưới chân Người. Kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết. Khi mọi sự đã suy phục Người, bấy giờ chính Con cũng sẽ suy phục Ðấng đã bắt mọi sự suy phục mình, để Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi sự".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

CN.XXXIV.A-LeChuaKitoVua.mp3

--

 
THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI - THỨ SÁU CN3MC-A PDF Print E-mail

Tinh Cao

Thứ Sáu CN3MC-C

Lời Chúa

Bài Ðọc I: Hs 14, 2-10

"Chúng tôi sẽ không còn nói rằng: Thần minh chúng tôi là sản phẩm do tay chúng tôi làm ra".

Trích sách Tiên tri Hôsê.

Ðây Chúa phán: Hỡi Israel, hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa ngươi, vì ngươi đã gục ngã trong đường tội ác. Các ngươi hãy mang lấy lời Chúa và trở về với Chúa; các ngươi hãy thưa rằng: "Xin hãy xoá bỏ mọi tội ác, và nhận điều lành. Chúng tôi dâng lên Chúa của lễ ca tụng. Asurô sẽ không giải thoát chúng tôi, chúng tôi sẽ không cỡi ngựa và sẽ không còn nói rằng: Thần minh chúng tôi là sản phẩm do tay chúng tôi làm ra, vì nơi Chúa, kẻ mồ côi tìm được sự thương xót".

Ta sẽ chữa sự bất trung của họ và hết lòng yêu thương họ, vì Ta đã nguôi giận họ. Ta sẽ như sương sa, Israel sẽ mọc lên như bông huệ và đâm rễ như chân núi Liban. Các nhánh của nó sẽ sum sê, vẻ xinh tươi của nó như cây ô-liu và hương thơm của nó như hương thơm núi Liban. Thiên hạ sẽ đến ngồi núp dưới bóng mát của nó, họ sống bằng lúa mì và lớn lên như cây nho. Nó sẽ được lừng danh như rượu Liban.

Hỡi Ephraim, tượng thần giúp ích gì cho ngươi không? Chính Ta sẽ nhậm lời và săn sóc ngươi, cho ngươi mọc lên như cây hương nam xinh tươi. Nhờ Ta, ngươi sẽ sinh hoa kết quả.

Ai là người khôn ngoan hiểu được các việc này, ai là người sáng suốt biết được các việc đó? Vì chưng đường lối của Chúa là đường ngay thẳng và những người công chính sẽ đi trên đó, còn các người gian ác sẽ gục ngã trên đó".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 80, 6c-8a. 8bc-9. 10-11ab. 14 và 17

Ðáp: Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, hãy nghe Ta răn bảo (x. c. 11 và 9a).

Xướng: 1) Tôi đã nghe lời nói mới lạ rằng: Ta đã cứu vai ngươi khỏi mang gánh nặng, tay ngươi không còn phải mang thúng mủng. Trong cảnh gian truân ngươi cầu cứu, và Ta giải thoát ngươi. - Ðáp.

2) Ta đáp lời ngươi từ trong áng mây vang ran sấm sét, Ta thử thách ngươi gần suối nước Mêriba. Hỡi dân tộc Ta, hãy nghe Ta răn bảo, Israel, ước chi ngươi biết nghe lời Ta! - Ðáp.

3) Ở nơi ngươi đừng có một chúa tể nào khác cả, ngươi cũng đừng thờ tự một chúa tể ngoại lai: vì Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập. - Ðáp.

4) Phải chi dân của Ta biết nghe lời Ta, Israel biết theo đường lối Ta mà ăn ở: Ta sẽ lấy tinh hoa lúa mì nuôi dưỡng chúng, và cho chúng ăn no mật từ hốc đá chảy ra. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm:

Phúc cho những ai thành tâm thiện chí giữ lấy lời Chúa, và nhẫn nại sinh hoa kết quả.

Phúc Âm: Mc 12, 28b-34

"Thiên Chúa của ngươi là Thiên Chúa duy nhất, và ngươi hãy kính mến Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô.

Khi ấy, có người trong nhóm Luật sĩ tiến đến Chúa Giêsu và hỏi Người rằng: "Trong các giới răn, điều nào trọng nhất?"

Chúa Giêsu đáp: "Giới răn trọng nhất chính là: "Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi". Còn đây là giới răn thứ hai: "Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi". Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó". Luật sĩ thưa Ngài: "Thưa Thầy, đúng lắm! Thầy dạy phải lẽ khi nói Thiên Chúa là Chúa duy nhất và ngoài Người, chẳng có Chúa nào khác nữa. Mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh". Thấy người ấy tỏ ý kiến khôn ngoan, Chúa Giêsu bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Và không ai dám hỏi Người thêm điều gì nữa.

Ðó là lời Chúa.

SỐNG VÀ CHIA SẺ

vì chỉ có một "Thiên Chúa chân thật duy nhất" (Gioan 17:3) mà ý thức thần linh về Ngài trong nội tâm của con người cần phải trở thành một mối liên hệ thần linh với Ngài trong đời sống đức tin của họ

Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần Thứ Ba Mùa Chay, phụng vụ lời Chúa trong ngày cùng nhắm đến một thực tại thần linh duy nhất cũng là một ơn gọi duy nhất vô cùng quan trọng cho phần rỗi của con người, đó là "Thiên Chúa của ngươi là Thiên Chúa duy nhất, và ngươi hãy kính mến Người" (Bài Phúc Âm), và chính vì thế mà "chúng tôi sẽ không còn nói rằng: Thần minh chúng tôi là sản phẩm do tay chúng tôi làm ra" (Bài Đọc 1).

Thật vậy, muốn được cứu rỗi hay được sự sống đời đời con người thụ tạo và tội lỗi cần phải nhận biết Thiên Chúa (xem Gioan 17:3; 1Timothêu 2:4-5), mà là một nhận biết về một Vị Thiên Chúa như Ngài là, tức đúng như Ngài tỏ mình ra cho dân Do Thái dọc suốt giòng Lịch Sử Cứu Độ của họ, nhất là nơi chính Chúa Giêsu Kitô Con Ngài là tột đỉnh mạc khải thần linh của Ngài và là tất cả mạc khải thần linh của Ngài, "khi đến thời điểm viên trọn" (Galata 4:4), chứ không phải là một Vị Thiên Chúa như con người nghĩ tưởng hay mong muốn, như thể Thiên Chúa là một thứ ngẫu tượng của họ hơn là một Thực Tại Thần Linh Chân Thiện Mỹ mà họ phải tìm kiếm, ước vọng và hiệp thông.

Nếu loài người nhận biết Thiên Chúa đúng như Ngài tỏ mình ra cho dân Do Thái dọc suốt giòng lịch sử của họ cho tới "khi thời gian viên mãn" là thời điểm Con Ngài "được hạ sinh bởi một người nữ" (Galata 4:4), thì con người sẽ thấy như Bài Phúc Âm lập lại ý thức thần linh quan trọng nhất trong Cựu Ước, rằng: "Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất", ngoài Ngài ra không có một chúa nào khác, không có một thần nào khác trên trời hay dưới đất này.

Và chính vì thế, vì chỉ có một "Thiên Chúa chân thật duy nhất" (Gioan 17:3) mà ý thức thần linh về Ngài trong nội tâm của con người cần phải trở thành một mối liên hệ thần linh với Ngài trong đời sống đức tin của họ: "ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi".

Nghĩa là con người cần phải "yêu mến Thiên Chúa" với tất cả con người mình, hay ngắn gọn hơn, con người cần phải hết mình yêu mến Thiên Chúa. Tức là họ cần phải nhận thức được mình thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương mình, nên muốn đáp ứng tình yêu vô cùng của Thiên Chúa để được thực sự và trọn vẹn hiệp nhất nên một với Ngài, một cuộc hiệp thông thần linh là mục đích tối hậu cho việc Ngài có ý dựng nên con người.

"Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng": nghĩa là với tất cả tình yêu chân thành nhất và trọn hảo nhất của con người, ở chỗ, ít là, về phần tiêu cực, họ không xu hướng, tìm kiếm và dính bén một tạo vật nào khác, không coi một cái gì hơn Thiên Chúa, dù là sự vật (thế gian) hay sự việc (ma quỉ) hoặc chính bản thân mình (xác thịt). Đến độ, họ có được một tấm lòng như tạo vật đệ nhất về ân sủng Maria: "Tôi không hề biết đến nam nhân (ám chỉ tiêu biểu cho tất cả mọi đối tượng tạo vật không phải Thiên Chúa)" (Luca 1:34).

"Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết linh hồn": nghĩa là tâm hồn nhận biết "Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất" thì chẳng những về phần tiêu cực không xu hướng, tìm kiếm và dính bén một tạo vật nào khác, không coi một cái gì hơn Thiên Chúa, về phần tích cực chỉ có và chỉ còn một ý nguyện duy nhất đó là "nguyện danh Cha cả sáng" nơi tinh thần đơn sơ bé nhỏ, như một Trinh Nữ Nazarét Maria là "tôi tớ Chúa" (Luca 1:38).

"Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết trí khôn": nghĩa là tâm hồn nhận biết "Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất" thì chẳng những sống tinh thần đơn sơ bé nhỏ, như một Trinh Nữ Maria là "tôi tớ Chúa" (Luca 1:38), mà còn, nơi tất cả mọi suy tính, chọn lựa và quyết định của mình, làm sao để thể hiện ý "nguyện nước Cha trị đến", nghĩa là để cho Ơn Cứu Độ của Chúa Kitô qua đời mình càng gây tác dụng thần linh trên thế gian này.

"Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết sức ngươi": nghĩa là tâm hồn nhận biết "Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất" sống làm sao để chẳng những thể hiện được các ý "nguyện danh Cha cả sáng" và "nước Cha trị đến" mà còn "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" nữa, ở chỗ để cho Thánh Linh là Đấng "thấu suốt thâm cung của Thiên Chúa" (1Corinto 2:10) "dẫn vào tất cả sự thật" (Gioan 16:13) là được hiệp thông thần linh.

Và cũng chỉ khi nào tâm hồn yêu mến "Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất" hết mình như thế, ở chỗ "hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức", họ mới có thể "được hiệp nhất nên một như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21), và nhờ đó họ mới có thể "yêu nhau như Thày yêu thương các con" (Gioan 13:34,15:12), một mức độ đức ái trọn hảo là tột đỉnh của "giới răn thứ hai", một giới răn thương yêu tha nhân trong Cựu Ước chỉ đòi buộc "Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi".

Theo chiều hướng mạc khải thần linh của Thiên Chúa trong lịch sử của dân Do Thái, ở chỗ Ngài đã liên lỉ và hết cách theo khả năng tiếp nhận của dân Do Thái, tỏ mình ra cho họ thấy Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, ngoài Ngài ra không còn chúa tể hay thần linh ngẫu tượng hoặc tà thần nào khác, Thiên Chúa, qua miệng Tiên Tri Hôsê trong Bài Đọc 1 hôm nay, đã kêu gọi dân của Ngài hãy tái ý thức thần linh về Ngài, chứ đừng tiếp tục theo đuổi đường lối tội lỗi và tôn sùng ngẫu tượng của họ, hoàn toàn phản lại với mạc khải thần linh của Ngài:

"Hỡi Israel, hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa ngươi, vì ngươi đã gục ngã trong đường tội ác. Các ngươi hãy mang lấy lời Chúa và trở về với Chúa; các ngươi hãy thưa rằng: 'Xin hãy xoá bỏ mọi tội ác, và nhận điều lành. Chúng tôi dâng lên Chúa của lễ ca tụng. Asurô sẽ không giải thoát chúng tôi, chúng tôi sẽ không cỡi ngựa và sẽ không còn nói rằng: Thần minh chúng tôi là sản phẩm do tay chúng tôi làm ra, vì nơi Chúa, kẻ mồ côi tìm được sự thương xót".

Đúng thế, chỉ ở "nơi Chúa, kẻ mồ côi tìm được sự thương xót", vì họ đã phủ nhận các thứ ngẫu tượng và tà thần mà họ tin tưởng và cậy dựa trước kia, nên họ trở thành như "kẻ mồ côi", nhưng nhờ đó mà họ lại "tìm được sự thương xót" từ chính Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ. Ở chỗ, như chính Ngài tiếp tục, ở Bài Đọc 1 hôm nay, bày tỏ tình yêu thương chăm sóc của Ngài đối với họ, nhờ đó họ được phát triển hết cỡ xứng với tầm vóc của họ như Thiên Chúa muốn như sau:

"Ta sẽ chữa sự bất trung của họ và hết lòng yêu thương họ, vì Ta đã nguôi giận họ. Ta sẽ như sương sa, Israel sẽ mọc lên như bông huệ và đâm rễ như chân núi Liban. Các nhánh của nó sẽ sum sê, vẻ xinh tươi của nó như cây ô-liu và hương thơm của nó như hương thơm núi Liban. Thiên hạ sẽ đến ngồi núp dưới bóng mát của nó, họ sống bằng lúa mì và lớn lên như cây nho. Nó sẽ được lừng danh như rượu Liban. Hỡi Ephraim, tượng thần giúp ích gì cho ngươi không? Chính Ta sẽ nhậm lời và săn sóc ngươi, cho ngươi mọc lên như cây hương nam xinh tươi. Nhờ Ta, ngươi sẽ sinh hoa kết quả".

Bài Đáp Ca hôm nay quả thực như còn văng vẳng tâm tình vô cùng yêu thương của Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất trong Bài Đọc 1 hôm nay, những tâm tình thiết tha với phần rỗi của loài tạo vật được Ngài dựng nên, với hạnh phúc chân thật của dân Ngài, những gợi nhớ để dân Ngài từ bỏ tà thần ngẫu tượng mà trở về với Ngài mà được sự sống:

1) Tôi đã nghe lời nói mới lạ rằng: Ta đã cứu vai ngươi khỏi mang gánh nặng, tay ngươi không còn phải mang thúng mủng. Trong cảnh gian truân ngươi cầu cứu, và Ta giải thoát ngươi.

2) Ta đáp lời ngươi từ trong áng mây vang ran sấm sét, Ta thử thách ngươi gần suối nước Mêriba. Hỡi dân tộc Ta, hãy nghe Ta răn bảo, Israel, ước chi ngươi biết nghe lời Ta!

3) Ở nơi ngươi đừng có một chúa tể nào khác cả, ngươi cũng đừng thờ tự một chúa tể ngoại lai: vì Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập.

4) Phải chi dân của Ta biết nghe lời Ta, Israel biết theo đường lối Ta mà ăn ở: Ta sẽ lấy tinh hoa lúa mì nuôi dưỡng chúng, và cho chúng ăn no mật từ hốc đá chảy ra.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC.TuanIII-6.mp3

--
CMC-THDC (Thân Hữu Đồng Công)
---
Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups "CMC-THDC".
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến cmc-thdc+ This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .
Để xem cuộc thảo luận này trên web, hãy truy cập https://groups.google.com/d/msgid/cmc-thdc/CAKivYHpQCD2BOoergn1eQsCabzFptCzeyraHRP4w2yUXfnUDdw%40mail.gmail.com.

 
THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI - CN3MV-A PDF Print E-mail

Tinh Cao
Dec 14 at 6:18 AM

Chúa Nhật 3 MV-A

Lời Chúa

Bài Ðọc I: Is 35, 1-6a. 10

"Chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ chúng tôi".

Trích sách Tiên tri Isaia.

Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan, và nở bông dường như khóm huệ, sẽ nảy chồi non và hoan hỉ vui mừng, và khen ngợi rằng: Ðã ban cho Israel được vinh quang của xứ Liban, huy hoàng của Carmel và Saron. Chính chúng sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa, và huy hoàng của Thiên Chúa chúng ta.

Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, và hãy làm cho tăng sức những đầu gối mỏi mòn. Phải nói cho những người nhát đảm rằng: Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi.

Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10

Ðáp: Lạy Chúa, xin đến cứu độ chúng con (x. Is 35, 4).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội. - Ðáp.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù; Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục. Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. - Ðáp.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Gc 5, 7-10

"Hãy vững lòng, vì Chúa gần đến".

Trích thư Thánh Giacôbê Tông đồ.

Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu. Vậy anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng kêu trách lẫn nhau, để khỏi phải bị kết án. Này đây quan toà đã đứng trước cửa. Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các tiên tri, là những người đã nói nhân danh Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Is 61, 1 (x. Lc 4, 12)

Alleluia, alleluia! - Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 11, 2-11

"Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi một Ðấng nào khác?"

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Gioan ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô. Ông sai môn đệ đến thưa Ngài rằng: "Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?" Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".

Khi những người được sai đến đã đi rồi, Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan rằng: "Các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy các ngươi đi xem gì? Một người ăn mặc lả lướt ư? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua. Vậy các ngươi đi xem gì? Một tiên tri ư? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng: "Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con". Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông".

Ðó là lời Chúa.

SỐNG VÀ CHIA SẺ

Chính Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cũng trông đợi được Chúa Kitô cứu độ

Chủ đề chung Mùa Vọng là "Lời đã hóa thành nhục thể" lại càng hiện tỏ hơn vào Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng hôm nay là thời điểm Chúa gần đến, như phụng vụ hôm nay của Giáo Hội mang một mầu hồng tươi vui chứ không còn mầu tím xám hối nữa.

Đúng thế, ngay trong Tuần Ba Mùa Vọng này, Giáo Hội sẽ bắt đầu tuần bát nhật trước Giáng Sinh, từ ngày 17 đến hết 24 tháng 12, một thời điểm với những bài Phúc Âm trực tiếp liên quan đến biến cố nhập thể và giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế.

Bởi vậy, Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng hôm nay đây chẳng khác gì như một dạo khúc về mầu nhiệm và biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), Đấng sắp đến với dân của Chúa là thành phần đang trông đợi (thậm chí cho đến bây giờ) Người đến như một Vị Thiên Sai Cứu Độ.

Đó là lý do chúng ta thấy Bài Đọc 1 và 2, kể cả bài Đáp Ca đều có nội dung hân hoan vui mừng và đều kêu gọi dân Chúa hãy vui lên.

Bài Đọc 1 hôm nay Tiên Tri Isaia đã cho thấy một bầu khí hãy vui lên tràn đầy hy vọng như sau:

"Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan, và nở bông dường như khóm huệ, sẽ nảy chồi non và hoan hỉ vui mừng, và khen ngợi rằng: Ðã ban cho Israel được vinh quang của xứ Liban, huy hoàng của Carmel và Saron. Chính chúng sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa, và huy hoàng của Thiên Chúa chúng ta.... Bấy giờ mắt người mù sẽ nhìn thấy, và tai những người điếc sẽ được nghe. Bấy giờ người què sẽ nhảy nhót như nai, những người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về, và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn; rên siết sẽ trốn xa".

Bài Đáp Ca hôm nay Thánh Vịnh gia cũng đã vang lên niềm hân hoan bằng lòng xác tín tin tưởng của mình về một Vị Thiên Chúa cứu độ như thế này:

1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù; Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục. Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua tự đời này sang đời khác.

Ở Bài Đọc II Thánh Giacôbê Tông Đồ, theo chiều hướng của Bài Đáp Ca, đồng thanh kêu gọi dân Do Thái hãy tin tưởng chờ đợi Vị Thiên Chúa cứu độ đã đến nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng "sẽ xuất hiện lần thứ hai để mang ơn cứu độ cho những ai thiết tha trông đợi Người" (Do Thái 9:28): "Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu. Vậy anh em hãy bền chí và vững tâm, vì Chúa đã gần đến".

Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến chính bản thân của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đang ngồi trong tù sai các môn đệ hỏi Chúa Giêsu là Đấng ngài đã loan báo đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài, rằng "Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?" Qua câu trả lời của Chúa Giêsu cho các môn đệ của vị tiền hô này rằng "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó", Người chẳng những chứng tỏ rằng Người quả thật đúng như những gì vị tiền hô đã làm chứng, là Đấng đúng như Thánh Vịnh gia và các vị tiên tri đã nói đến, như được thấy ngay trong Bài Đọc I và Bài Đáp Ca hôm nay, mà còn củng cố đức tin cho chính vị tiền hô này nữa, khi ngài "ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô", nhưng cảm thấy hình như cũng chẳng cao trọng hay quyền năng hơn ngài gì hết. Đó là lý do ở cuối câu trả lời của mình, Chúa Giêsu đã cảnh giác như thế này: "phúc cho ai không vấp ngã vì Ta".

Chắc là nhờ lời chứng của Chúa Kitô này mà Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã kiên trung cho đến cùng, đã tiếp tục làm chứng cho Chúa Kitô là "chân lý" (Gioan 14:6) bằng chính cái đầu của mình, và cái chết mất đầu của ngài đã ám chỉ cuộc tử nạn của Chúa Kitô là Đầu của ngài, Đấng đến sau nhưng cao trọng hơn ngài, nhờ đó ngài được nên giống Chúa Kitô hơn ai hết.

Thật vậy, nếu ngay từ ban đầu, khi vừa mới được cưu mang trong lòng thai mẫu 6 tháng, vị tiền hô này đã được Chúa Kitô mang ơn cứu độ đến cho ngài, nên ngài đã hân hoan nhẩy mừng trong lòng mẹ thế nào (xem Luca 1:41), thì trước khi chết, ngài cũng được Chúa Kitô mang ơn cứu độ đến cho ngài như vậy, bằng chính chứng từ của Người, giúp ngài thêm tin tưởng vào Đấng đến sau.

Không biết Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả có nghĩ rằng nếu nhân vật Giêsu Nazarét là Đấng Thiên Sai, là Đấng đến sau cao trọng và quyền năng hơn mình mà tại sao không ra tay cứu ngài khỏi bị ngục tù hay chăng, nhưng quả thực Chúa Kitô đã cứu ngài thoát khỏi ngục tù ngờ vực bằng chính lời của Người trong bài Phúc Âm hôm nay. Trong trường hợp này, Chúa Giêsu đã đóng vai trò "quan toà đã đứng trước cửa" ngục thất của vị tiền hô, như Tông Đồ Giacôbê đã đề cập đến trong Bài Đọc II hôm nay.

Việc Chúa Kitô củng cố niềm tin cho Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đang cảm thấy bối rối về chính Đấng đến sau ngài cũng nên trọn những lời tiên tri Isaia trong Bài Đọc I hôm nay về chung dân Do Thái, trong đó bao gồm cả chính bản thân của vị tiền hô này, như trong Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: "Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay rời rã, và hãy làm cho tăng sức những đầu gối mỏi mòn. Phải nói cho những người nhát đảm rằng: Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi".

Nhờ được Chúa Kitô củng cố đức tin cho Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả chẳng những tiếp tục sứ vụ làm chứng cho Đấng đến sau ngài bằng mạng sống của ngài mà còn nhờ đó ngài củng cố đức tin cho chung những ai đã đến lãnh nhận phép rửa của ngài ở Sông Jordan cũng như cho riêng thành phần môn đệ của ngài, nhờ đó, với tư cách là một vị tiên tri, vị tiên tri đệ nhất trong các tiên tri, ngài mới xứng đáng trở thành gương mẫu như Tông Đồ Giacôbê đã nêu lên trong Bài Đọc II hôm nay: "Anh em hãy học gương kiên nhẫn và chịu đựng trong gian khổ của các tiên tri, là những người đã nói nhân danh Chúa".

Như thế, chính Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả được sai đến trước Chúa Kitô để dọn đường của Người và cho Người cũng sống trong niềm tin tưởng của Mùa Vọng đợi trông. Tuy ngài đã được tận mắt thấy Đấng đến sau ngài, đã làm chứng về Đấng ấy, và đã làm phép rửa cho Người, theo ơn gọi và sứ vụ tiền hô của mình, nhưng tự bản thân của mình, ngài vẫn phải sống đức tin, bất khả châm chước, như chính Đức Maria Mẹ Chúa Kitô đầy ơn phúc đã phải trải qua cuộc sống đức tin, hay như các tông đồ được sống ngay bên cạnh Chúa Kitô cũng bị thử thách đức tin, một đức tin liên quan đến chính thực tại thần linh nơi nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, tức đến chính sự thật về con người Giêsu Nazarét này, một sự thật đã được Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở trong tù đặt lại vấn đề: "Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác?", một sự thật đã được vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô tuyên xưng vô cùng chính xác: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), nhưng vị này vẫn chối bỏ Người 3 lần, một sự thật cuối cùng đã được Tông Đồ Toma tuyên xưng trước Đấng Phục Sinh từ trong cõi chết "là Chúa và là Thiên Chúa" (Gioan 20:28), nhưng là một Thiên Chúa ở cùng chúng ta - Emmanuel.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MV.CNIII-A.mp3

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 34