mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay862
mod_vvisit_counterHôm Qua5693
mod_vvisit_counterTuần Này21583
mod_vvisit_counterTuần Trước36123
mod_vvisit_counterTháng Này85698
mod_vvisit_counterTháng Trước189436
mod_vvisit_counterTất cả8980778

We have: 130 guests online
Your IP: 54.225.16.58
 , 
Today: Aug 18, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Thiên Chúa Là Cha Của Tôi
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # BA NGOI TAO DUNG PDF Print E-mail

 

BA NGÔI HIỆN DIỆN NHIỆM MẦU TRONG VIỆC TẠO DỰNG

1- "Tất cả mọi công việc Ngài làm đều đáng qúi chuộng biết bao và chúng tỏ mình ra rực rỡ là chừng nào!... Ngài không làm gì mà không trọn vẹn... Ai có thể nắm trọn được vinh quang của Ngài? Cho dù có nói đến đâu đi nữa, chúng ta cũng không thể nói cho hết được, nên tất cả ngôn từ của chúng ta chỉ tóm lại ở chỗ: 'Ngài là tất cả mọi sự'. Chúng ta sẽ tìm đâu được sức mạnh để chúc tụng Ngài? Ngài còn cao cả hơn tất cả mọi việc Ngài làm nữa kìa..." (Sir 42:22, 24-25; 43:27-28). Bằng những lời đầy cảm thức này, Sách Huấn Ca, một cuốn sách khôn ngoan trong thánh kinh, đã chiêm ngưỡng ánh quang của tạo vật và đã hát lên những lời chúc tụng Thiên Chúa. Đó chỉ là một chút xíu trong phạm vi chiêm ngưỡng và suy niệm trải khắp các Sách Thánh, từ những giòng đầu tiên của Sách Khởi Nguyên, khi mà các tạo vật xuất phát từ cái thinh lặng của hư không theo triệu lệnh của Lời quyền năng Đấng Hóa Công.

"Thiên Chúa phán 'Hãy có ánh sáng' thì có ánh sáng" (Gn 1:3). Trong phần của trình thuật đầu tiên về việc tạo thành này Lời của Thiên Chúa đã hiện diện nơi việc tác động; Đấng mà sau này Thánh Gioan nói về Người là 'Từ ban đầu đã có Lời... Lời là Thiên Chúa... tất cả mọi sự bởi Người mà được dựng nên, không có Người không một sự gì được tạo thành" (Jn 1:1-3). Đấng mà sau này Thánh Phaolô cũng sẽ nhấn mạnh trong bản thánh ca của Bức Thư gửi Tín Hữu Côlôsê là 'tất cả mọi sự được tạo thành trong Người (Chúa Kitô), trên trời cũng như dưới đất, hữu hình cũng như vô hình, dù vương tòa hay vương trị, dù thiên phủ hay uy quyền – tất cả mọi sự đều được tạo thành nhờ Người và cho Người. Người có trước hết tất cả mọi sự, và tất cả mọi sự cùng nhau tồn tại trong Người" (Col 1:16-17). Thế nhưng, ngay giây phút đầu tiên của việc tạo dựng, Thần Linh cũng đã được thấy mờ mờ, ở chỗ "Thần Linh của Thiên Chúa di động trên mặt các giòng nước" (Gn 1:2). Theo truyền thống Kitô giáo, chúng ta có thể nói vinh quang của Ba Ngôi được tỏa sáng nơi việc tạo thành.

2- Chúng ta có thể nhìn thấy trong ánh sáng Mạc Khải tác động tạo dựng trước hết xứng hợp với "Vị Cha của ánh sáng, Đấng không đổi thay hay có một bóng mờ nào" (Jas 1:17). Ngài chiếu sáng rạng ngời trên khắp chân trời, như tác giả Thánh Vịnh hát lên: "Ôi Chúa, Chúa ơi, vinh hiển thay danh Chúa khắp trên hoàn cầu! Chúa đã nâng cao uy nghi của Chúa trên các tầng trời" (Ps 8:2). Thiên Chúa "đã dựng nên thế giới vững chắc chứ không bị lay chuyển" (Ps 96:10), và khi đối diện với hư không, được biểu hiệu bằng những giòng nước âm vang chao động, Tạo Hóa làm cho chúng nổi lên, khi ban cho chúng tính chất vững chắc và an hòa: "Ôi Chúa, các giòng nước lũ ào lên, những giòng nước lũ đã vang lên, những giòng nước đã gầm lên vang động. Chúa dũng mãnh trên cao, dũng mãnh hơn cả những sấm động của các giòng nước, dũng mãnh hơn các triều sóng của biển khơi" (Ps 93:3-4).

3- Trong Sách Thánh, việc tạo dựng cũng thường có liên hệ với Lời thần linh nữa, Lời hiện diện và tác động: "Các tầng trời được tạo dựng bởi Lời Chúa, và tất cả thiên cơ của chúng đều được dựng nên bởi hơi thở của miệng Ngài... Ngài phán truyền thì nó có; Ngài truyền khiến nó được thành nên... Ngài ban bố lệnh truyền cho trái đất và lời Ngài linh hoạt khắp nơi" (Ps 33:6, 9; 147:15). Theo văn chương Khôn Ngoan của Cựu Ước, Khôn Ngoan thần linh được nhân cách hóa thành Đấng tạo thành vũ trụ, trong việc Người thi hành dự án của thượng trí Thiên Chúa (x Prv 8:22-31). Như đã nói, trong Lời Thiên Chúa và Khôn Ngoan của Thiên Chúa, Thánh Gioan và Phaolô đã thấy được tính cách tiền tác động của Chúa Kitô "nhờ Người tất cả mọi vật có và vì Người chúng ta hiện hữu" (1Cor 8:6), vì chính "qua (Chúa Kitô) (mà Thiên Chúa) cũng đã tạo thành thế gian" (Heb 1:2).

4- Ở những đoạn khác, Thánh Kinh lại nhấn mạnh đến vai trò của Thần Linh Thiên Chúa trong tác động tạo dựng: "Khi Ngài gửi Thần Linh của Ngài tới thì chúng được tạo thành; và Ngài canh tân bộ mặt trái đất" (Ps 104:30). Vị Thần Linh này được diễn tả cho thấy như là hơi thở từ miệng của Thiên Chúa. Vị Thần Linh ấy ban cho con người sự sống và nhận thức (x Gn 2:7), và làm cho họ hồi sinh, như tiên tri Êzêkiên loan báo trong một đoạn văn cho thấy Thần Linh đang thực hiện việc thở sự sống vào những khúc xương khô (x 37:1-14). Chính hơi thở này cũng đã làm chủ các giòng nước biển trong cuộc xuất Ai Cập của dân Yến Duyên (x Ex 15:8, 10). Vị Thần Linh này còn tái sinh nhân loại tạo vật nữa, như Chúa Giêsu sau này nói tới trong một đêm trao đổi với Nicôđêmô: "Thật vậy, thật vậy, Tôi nói cho ông hay, nếu không được hạ sinh bởi nước và Thần Linh thì người ta không vào được vương quốc của Thiên Chúa. Những gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, và những gì sinh bởi Thần Linh là thần linh" (Jn 3:5-6).

5- Bởi vậy, khi nhìn thấy vinh hiển của Ba Ngôi nơi việc tạo dựng, con người phải chiêm ngưỡng, ca khen và phải lấy lại được cảm thức. Trong xã hội hiện đại người ta tỏ ra lạnh lùng "không phải vì thiếu những sự lạ mà là vì thiếu cảm thức sự lạ" (G. K. Chesterton). Đối với tín hữu, chiêm ngưỡng việc tạo thành cũng là việc họ nghe thấy một sứ điệp, là việc họ lắng nghe một tiếng nói âm thầm có vẻ mâu thuẫn, như nhận định của bài "Thánh Vịnh về mặt trời" cho thấy: "Các tầng trời loan truyền vinh quang Thiên Chúa; và bầu trời loan báo công việc tay Ngài làm ra. Ngày này sang ngày khác nó lên tiếng nói, đêm này đến đêm kia nó ý thức được. Dù không lên tiếng gì cả, dù không phát ra một lời nào; chẳng ai nghe thấy tiếng của chúng; thế mà tiếng chúng cũng vang khắp cùng bờ cõi trái đất và lời chúng vang tới tận cùng thế gian" (Ps 19:1-5).

Như thế, thiên nhiên trở thành một cuốn phúc âm nói với chúng ta về Thiên Chúa, ở chỗ "từ nét cao cả và mỹ lệ của các sự vật được tạo thành mà đã có được nhận thức tương xứng về Đấng Hóa Công của chúng" (Wis 13:5). Thánh Phaolô dạy chúng ta rằng "ngay từ khi thế gian được tạo thành, bản tính vô hình của Ngài (Thiên Chúa), tức quyền năng và thần tính hằng hữu của Ngài, đã được rõ ràng nhận thấy nơi những gì được dựng nên" (Rm 1:20). Thế nhưng, khả năng chiêm ngưỡng và nhận thức này, việc khám phá ra sự hiện diện siêu việt tính nơi các sự vật được tạo thành ấy cũng phải dẫn chúng ta tới việc tái khám phá ra mối tương giao của chúng ta đối với trái đất nữa, tức với những gì chúng ta có liên hệ với từ lúc chúng ta được tạo thành (x Gn 2:7). Đó chính là mục tiêu theo chiều hướng của Cựu Ước muốn thấy nơi Cuộc Mừng Kỷ Niệm của dân Do Thái, thời điểm đất đai được xả hơi cũng là thời điểm con người ăn những gì ruộng đồng theo tự nhiên cống hiến cho họ (x Lev 25:11-12). Nếu thiên nhiên không bị vi phạm và bị làm hư hại thì nó sẽ lại trở thành chị em của con người.

(Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ Tuần san L'Osseervatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 2/2/2000

 

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TÔI # CHIA SE DUONG HY VONG 3 PDF Print E-mail

 

CHIA SẺĐƯỜNG HY VỌNG 3

BÀI 3

3. Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước.

Cha ơi! Điều kiện này với con thật khó khăn vô cùng. Bỏ lại sau lưng những tiện nghi, vật chất, của cải, con có thể chịu đựng được, như khi con đi khai hoang lập ấp, khi chịu cực nhọc lên rừng làm nương rẫy. Nhưng bỏ chính mình, bỏ hết đam mê, bỏ hết thú vui, bận tâm, thì con thấy khó quá.

Con đã quen với nhiều hoàn cảnh sống, khi khó khăn thiếu thốn, đói khát, khi làm ăn thất bại ê chề, khi nợ nần chồng chất...Nhưng con vẫn kín đáo kiêu hãnh về bản lãnh vững chãi, về tánh chịu đựng kiên cường, về sự thích nghi mềm mỏng, phù hợp với môi trường sống khắc nghiệt. Con tích lũy được nhiều kinh nghiệm, đối phó với cuộc đời đầy biến động. Hình như con càng ngày càng dày dạn phong sương. Con tự trấn an, tự mãn đã mạnh mẽ chống đỡ bao phen bão táp, bao lần rủi ro, bao đe dọa đến mạng sống của chính mình và của người thân.

Bây giờ, cha bảo con bỏ chính bản thân con, bỏ hết đi những điều con hãnh diện, những thành đạt hay thanh danh, bỏ đi những mối quan hệ xa gần, để dứt khoát ra đi theo Chúa gọi. Quả thật khó khăn quá!

Thế nhưng đó lại điều kiện tiên quyết nếu muốn ra đi theo Chúa, nếu muốn thẳng tiến trên Đường Hy Vọng. "Kẻ nào đến với Ta, mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình và cả mạng sống mình nữa, ắt không thể làm môn đệ của Ta" (Lc 14, 26)

Cha ơi!

Con thật kinh hãi, run sợ trước yêu cầu quá khắt khe của Chúa Giêsu. Người đòi hỏi con hy sinh bỏ đi tất cả những gì đang vấn vương, ràng buộc, những gì con đã tích lũy, góp nhặt bấy lâu nay, kể cả tình cảm thân bằng, huyết tộc, nếu con muốn theo Người. Một sự bỏ mình tuyệt đối. Không còn bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì trên thế gian này. Chắc con không theo Chúa nổi đâu.

Nhưng cha đã kịp an ủi con, nêu gương sáng cho con theo, từ các chứng nhân đến chính cuộc đời cha. Cha kể cho con gương Cha Henri Denis, tên dòng là Frère Benoit ( Cố Thuận) đã ra đi theo Chúa thật ngoạn mục. Vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời 15/8/1918, ngài cùng với một số anh em Linh mục mở một bữa tiệc gia đình cuối cùng, đầy đủ thịt, cá, rượu. Sau đó, ngài từ biệt nếp sống cũ, cùng với một ngưởi bạn, lên núi Phước Sơn, Quảng Trị khai phá rừng hoang, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và lao động, lập nên Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam vẫn đang còn tồn tại đến nay. (Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng)

Như thế Cha Henri Denis đã làm một cuộc lột xác, hy sinh nếp sống cũ, để toàn tâm, toàn ý đi theo Chúa. Con rất mến phục, tâm phục, nhưng không dám theo chân ngài, vì con còn hèn nhát quá.

Tuy nhiên, với ơn Chúa giúp, con hy vọng có thể từ bỏ dần những thói hư tật xấu, gia tăng những việc đạo đức tốt lành, hướng lòng về với Chúa, về với tha nhân hơn. Xin cha cầu bầu cho con thực hiện được quyết định này.

AM Fiat

Chuyển từ:http://www.cungmedonghanh.com/chia-se-duong-hy-vong-3/

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # CHIA SE DUONG HY VONG PDF Print E-mail

 

2013/4/22 Hong Nguyen chuyển

CHIA SẺ ĐHYVONG Bài 1

CHIA SẺ ĐƯỜNG HY VỌNG

HY Nguyễn Văn Thuận

Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã để lại di sản thật vô giá. Đó là tác phẩm Đường Hy Vọng, mà ngài coi đó là tâm sự của một người cha.

Cha không nói gì mới mẻ với con. Cha chỉ nhắc lại những lời nhăn nhủ thắm thiết và chí tình, đã biết bao lần nhẹ nhàng đổ vào tay con, đổ vài tim con, giữa những náo động của trần thế. Con hãy bình tĩnh suy nghĩ đôi lời thâm tình của cha.

Mong những tư tưởng đơn thành này tỏa sáng và an hòa, biến con nên hồn tông đồ, hồn cầu nguyện, hồn yêu mến. Ân sủng và bình an Chúa ở với con trên Đường Hy Vọng. (ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận, ĐHV, Lời nói đầu)

Những bài viết dưới đây là những cảm nhận và suy tư riêng tư của một người cháu, bắt đầu chập chững lần bước theo Đường Hy Vọng. CMĐH mong nhận được những phản hồi tích cực, cùng đồng cảm và đồng hành với người viết, để cùng trở nên hồn tông đồ, hồn cầu nguyện và hồn yêu mến như ĐHY Fx đã hy vọng.

Cùng Mẹ Đồng Hành

BÀI 1

1. Chúa "dắt con trên đường, để con ra đi, và thu được nhiều hoa trái."

Đường ấy là "đường hy vọng", vì chan chứa hy vọng, vì "đẹp như hy vọng." Sao không hy vọng khi con đi với Chúa Giêsu, khi con về cùng Đức Chúa Cha?

Chúa đã gọi con theo Chúa từ khi con mới hoài thai trong dạ mẹ. Chúa cho con gia nhập Hội Thánh qua bí tích Rửa Tội. Rồi qua các phép bí tích khác nữa, Xưng Tội, Thêm Sức và nhất là bí tích Thánh Thể, Chúa dưỡng nuôi con khôn lớn, khỏe mạnh.

Thế nhưng lâu nay, con lại không để Chúa dìu dắt con trên đường đời, mà con cứ mải mê chuyện thế gian, mưu sinh, vật lộn với bao khó khăn để tồn tại và thăng tiến, con đã quên mất nghĩa vụ thu được nhiểu hoa trái.

Hôm nay nhìn lại bản thân, con chợt bừng tỉnh cơn mê. Đồng tiền tâm linh của Chúa gửi gấm cho con, chẳng sinh lợi chút gì, vì con đã chôn kỹ dưới đất từ hồi nào!

Vậy từ bây giờ, xin Chúa đừng nỡ buồn giận con vô ơn bạc nghĩa. Xin Chúa thức tỉnh con luôn, để con can đảm, dám dân thân vào Đường Hy Vọng.

AM Fiat

Chuyển từ:

http://www.cungmedonghanh.com/chia-se-dhyvong-bai-1/

Hồng - Lucy - Gc

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # SU SONG PDF Print E-mail

  

SỰ SỐNG

Sự sống thật mầu nhiệm ! Không ai có quyền trên sự sống ngoài đấng ban sự sống và cũng là đấng có quyền trên sự sống.

Quan niệm về sự sống thì mỗi người, mỗi dân tộc có quyền tự do để suy nghĩ về sự sống của mình. Với người Kitô hữu thì sự sống thuộc về Chúa và ở trong tay Chúa.

Xét về mặt khoa học, sinh học thì dĩ nhiên khi người nam và người nữ gần nhau và có điều kiện thì sẽ hình thành mầm sống. Thế nhưng, cái điều kiện có mầm sống hay không có mầm sống đều nằm trong lòng bàn tay của Thiên Chúa. Có ai biết được ngày mình cất tiếng khóc chào đời và có ai nào đó biết ngày mình từ giã cõi đời này không ?

Có người đi xem vận mệnh, có người đi xem tuổi thọ, có người đi xem ngày mình ra đi nhưng ai có thể quyết định được ngày đó. Xem, tìm, kiếm nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi bàn tay của Thiên Chúa. Và vì vậy, sự sống vẫn là mầu nhiệm và Thiên Chúa mới là chủ trên sự sống của con người.

Có những người tin vào một quyền năng nào đó, một thế lực nào đó để rồi canh giờ cho người thân của mình ra đi để cho con cháu "làm ăn" thành đạt. Có dịp tiếp xúc được một số nhân viên y tế làm việc ở những bệnh viện lớn chia sẻ rằng có những gia đình gửi tiền để nhân viên y tế rút ống bệnh nhân nặng để cho bệnh nhân chết theo "giờ" gia đình đã định. Với những người có niềm tin và có lương tâm sẽ chẳng bao giờ làm cái việc bất nhân thất đức đó. Những nhân viên y tá có lương tâm đã chia sẻ với tôi rằng nếu như đưa cả chục triệu để làm cái chuyệt rút ống thì nhân viên cũng chẳng bao giờ làm. Vì làm như thế chẳng khác nào trở thành một kẻ sát nhân.

Những ngày này, chúng tôi lại đang được sống thực tại mầu nhiệm sự sống của một người cha, một người anh. Bác sĩ đã trả về, đã chê nhưng hình như Chúa chưa nhận. Chúa chưa nhận để rồi cứ phải chờ thời gian vì lẽ thời gian là của Chúa và sự sống cũng là của Chúa.

Đứng trước trường hợp hết sức đặc biệt như thế này thì lắm người nhiều ý. Kẻ thì vâng theo ý Chúa, người thì muốn bất tuân. Vâng theo thì đi theo cho đến cùng khi người bệnh tắt hơi. Bất tuân là rút ống để ra đi êm dịu. Ra đi êm dịu như thế chẳng khác gì là loại trừ sự sống của anh chị em đồng loại. Quan điểm và lập trường của những người có niềm tin vẫn là vâng theo ý Chúa cho đến cùng vì luôn luôn tin tưởng và xác tín rằng sự sống là của Chúa, bởi Chúa và do Chúa.

Không phải đây là trường hợp đầu tiên và duy nhất. Đã và đang có cụ trong nhà dòng nằm trên giường bệnh suốt mười mấy năm ròng rã nhưng anh em vẫn tín thác vào sự quan phòng, tình thương của Thiên Chúa. Đứng trước những trường hợp như vậy, Cha Giám Tỉnh và Hội Đồng Tỉnh không quyết định điều gì khác là vâng theo thánh ý Chúa cho đến cùng.

Vẫn là sự giằng co của tiền bạc, của công sức, của tốn kém ... Dẫu rằng tiền bạc, công sức ra đi rất nhiều để lo cho người bệnh nhưng không vì thế mà ta định đoạt sự sống trên anh chị em đồng loại của ta được.

Chỉ một mình Thiên Chúa mới làm chủ sự sống của con người mà thôi.

Anmai, CSsR

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI = CHUA NHAT 4 MC- C PDF Print E-mail

Cảm nghiệm Tình Chúa yêu tôi

BÀI HỌC THA THỨ 

Chúa Nhật IV Mùa Chay-Năm C = THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI

(Joshua 5:9a, 10-12; 2Corinthians 5:17-21; Luke 15:1-3, 11-32)

Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Tin Mừng thánh Luca đoạn 15 nói về "những gì bị mất được tìm thấy" như ngụ ngôn chiên đi lạc (c.1-7), đồng bạc bị mất (c. 8-10), rồi tuyệt đỉnh là câu chuyện người cha nhân hậu và đứa con hoang đàng trong bài Phúc Âm hôm nay (c.11-32).

Câu chuyện đứa con hoang đàng là một câu chuyện rất đặc biệt, không chỉ vì ý nghĩa của nó mà còn vì tài kể truyện của thánh Luca. Thánh Luca kể chuyện rất điêu luyện, giống như một họa sĩ tài ba biết dùng mầu sắc một cách linh động để gây cảm súc của người coi tranh. Màu sắc, hình ảnh và vẻ uyển chuyển của câu chuyện đã đánh động, gây từ hồi hộp đến ngỡ ngàng cho người đọc cũng như người coi tranh. Tuy nhiên, tác dụng đó nhiều hay ít còn tùy vào kinh nghiệm sống và tài văn chương, mắt nghệ thuật của đương sự. Vì vậy câu chuyện đã gây tranh cãi khá sôi nổi. Có người khen kẻ chê người cha cũng như có người ghét kẻ tỏ lòng khoan dung đối với đứa con hoang đàng. Còn về người anh cả thì sao?

Thực vậy, cuộc sống của mỗi chúng ta có nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi người đều cố sống để thích hợp với từng giai đoạn. Khi còn ở tuổi vị thành niên chắc chắn ta phải sống khác với tuổi thanh niên, lúc đã lập gia đình rồi có con, lúc đứng tuổi, và lúc tuổi đã xế chiều... Trong câu chuyện đứa con hoang đàng này, ta thấy người con út đã bê bối, đi hoang, ăn chơi trác táng đến không còn đồng xu dính túi, đói khổ phải đi ở đợ. Người cha, xem bề ngoài có vẻ lẩm cẩm, tỏ ra quá dễ dãi, tha thứ một cách vô tội vạ. Người con cả thì tỏ ra có trách nhiệm, biết cần cù chăm chỉ làm ăn, thấy người cha đối xử quá ân cần quảng đại với thằng em đi hoang, thì nổi sùng trách móc cha mình vì không thể chịu nổi cái bế bối của thằng em.

Mỗi người chúng ta chắc hẳn cũng có những tâm trạng như trên. Nhưng câu chuyện ngụ ngôn này chủ ý nhắm vào tâm tư con người vào thời Chúa Giêsu lúc đó. Họ cảm thấy bất nhẫn trước hành động của người cha. Chúng ta thử tìm hiểu xem chúa Giêsu muốn nhắn nhủ chúng ta điều gì qua chuyện ngụ ngôn này.

Trong tông huấn 1984 về "Hòa Giải và Thống Hối/Reconciliatio et Paenitentia", Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã viết: "Câu chuyện ngụ ngôn đứa con hoang đàng là câu chuyện nói về tình yêu tuyệt vời không thể nào diễn tả nổi của Thiên Chúa Cha đối với người con khi nó trở lại với mình; Người đã cho hắn một tặng phẩm là sự hòa giải hoàn toàn. (....) Vì vậy câu chuyện nhắc nhở chúng ta là cần phải cải đổi tâm hồn vì lòng khoan dung của Người Cha rồi quyết tâm lướt thắng bỏ qua mọi thù nghịch, oán hận đối với mọi người."

BA HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI CON HOANG ĐÀNG

Theo truyền thống xưa của Do Thái, người "con cả" có quyền được thừa hưởng hai phần gia tài của cha mình. Như vậy, người con thứ chỉ được hưởng chừng 1/3 gia sản của cha mà thôi. Nhưng dù sao đi nữa, hành động của người con thứ đòi chia gia tài (c.12) là một xúc phạm nặng nề đối với người cha, vì hắn nghĩ là cha mình "còn lâu mới chết", hắn không còn nhẫn nại đủ để đợi đến khi ông già qua đời.

Thế là khi được chia phần cho mình rồi, người con thứ đã thoát ly gia đình (c.13), không còn coi trọng gia phong tập quán của quê hương mình nữa. Anh ta đã đi quá xa, nghĩ rằng mình có thể tìm thấy hạnh phúc lạc thú kỳ lạ ở phương trời xa mà ở gia đình tổ quốc mình không có. Kết quả đã ngược lại. Khi tiêu sài hết cả tiền bạc, hắn phải đi ở đợ, trở thành nô lệ, đi chăn heo, một loại súc vật được coi là dơ bẩn không được xếp vào loại thức ăn[1], đến độ quá đói khổ chỉ mong có được thức ăn heo (c.17) mà ăn cho no bụng cũng không có.

Câu chuyện kể rằng anh chàng "ăn tiêu phung phí hết cả phần tài sản của mình" (c.13). Ở đây ngoài nghĩa đen ta còn có thể hiểu theo nghĩa bóng là tư cách của "chính hắn" cũng bị tiêu tan. Không phải anh chàng chỉ tiêu sài tiền bạc bất kể đời mà còn trác táng không cần biết đến nhân cách, mình là ai và là cái gì nữa!

Đến đây anh chàng "hồi tâm lại" (c.17), nghĩ đến thời gian ở với gia đình được sung sướng biết bao. Quả là mình đã quá điên khùng mới đi đến "nông nỗi này". Đó là bước đầu của sự hối hận, cho dù tự nó chưa phải là thống hối thực sự.

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU

Quang cảnh nổi bật nhất ở "người cha" là, ông đã đi bước trước, khi vừa nhìn thấy con mình từ xa đang đi lại, thất thểu, bệ rạc, sợ hãi (c.20), ông liền chạy lại ôm chằm lấy con mà hỏi han, thay vì đợi con lê lết vào nhà.

Cứ lẽ bình thường, cử chỉ của người cha như vậy xem ra không thích hợp và có vẻ kỳ cục, bởi vì hành xử như vậy là quá đáng đối với một đứa con hư. Nhưng đó lại là cử chỉ chứng tỏ tình yêu thương của một người cha, tình yêu đầy âu yếm với lòng trắc ẩn. Ông"ôm con, hôn con lên trán, lên cổ, lên má, vuốt ve mặt mũi con tỏ vẻ lo âu sao con mình gầy gò ốm yếu, xanh sao dơ bẩn thế này". Ông lại truyền cho gia nhân đem quần áo mới ra mặc cho cậu, giày mới cho cậu đi như không có chuyện gì xẩy ra cả (c.22). Đó là dấu hiệu của Tự Do, hình ảnh của Gia Đình, của cái gì mất bây giờ tìm lại được !

Thực ra, người cha có quyền đuổi người con đi, không cho vào nhà, vì đã hư đốn không nghe lời cha, tự mình bỏ nhà đi hoang, không chỉ làm mất danh giá gia đình, đồi bại gia phong mà còn nêu gương xấu cho xóm làng. Họ sẽ chê trách, thù oán cha mình vì con họ có thể sẽ bắt chước gương xấu đó mà hư thân như vậy.

BỆNH TỰ KỶ ÁM THỊ

Đối với người anh cả, phản ứng của anh (c.25-29) không có gì là sai trái. Đó là một phấn nộ hợp lý. Phát ngôn của anh rõ ràng cho thấy, anh đã chu toàn đầy đủ bổn phận làm con, mà cha anh không tỏ lộ gì là yêu thương quảng đại với anh. Trái lại, anh cảm thấy anh bị lạm dụng,"làm thân trâu ngựa" cho cha từ bao năm nay mà không được đền đáp thưởng công gì cả. Điều anh có ý nói cho cha anh biết là: không phải anh kể công những điều anh đã làm, nhưng anh cảm thấy anh thiếu thốn cái gì ấy. Anh đau khổ vì bệnh tự kỷ ám thị !

Quả vậy, người con cả rất thực tế khi kết án tư cách của người em đã "tiêu sài hết tiền bạc của cải với bọn đĩ điếm" (c.30). Trước hai nghịch cảnh đó, thiên hạ sẽ nghĩ sao, đồn đãi gì về đứa con út của ông chủ trại đi hoang, nay tàn tệ lại trở về với gia đình và xóm làng? Hay người con cả chỉ biết nghĩ xấu cho em mình, cho hắn là loại người tồi tệ nhất với những cáo buộc cay đắng nhất?

Người con cả đã nhất quyết "đá văng em mình ra khỏi lòng mình" và cho rằng nó là "con của người cha thôi", không phải là em của mình. Đúng vậy, như chúa Giêsu đã từng nói: Bề ngoài là con đấy, nhưng trong tâm thực sự lại không phải là con, như người anh cả đã biểu lộ qua cử chỉ và tâm tư ý nghĩ của anh.

Giống như kiểu lý luận, một người nghĩ là mình không có tự do, thì tự cảm thấy mình giống như nô lệ? Và người nào sống trong gia đình với cha mình mà lại cảm thấy không vừa ý, coi mình như người xa lạ, thì sẽ không cảm thấy mình là con, là người nhà ?

NỚI RỘNG PHẠM VI

Nhân mùa chay, tôi có đọc một quyển sách nhan đề "Love Alone is Credible" của Hans Urs Von Balthasar (Ignatius Press, 2004), thấy có ít lời khá ý nghĩa, đáng cho chúng ta suy nghĩ nên xin được trích ra đây để bạn đọc cùng đọc và suy niệm, nhân câu chuyện ngụ ngôn trong bài Phúc Âm hôm nay.

"Có lần kia, một người tìm học cách đọc những dấu hiệu của tình yêu và rồi tin như vậy, tình yêu đã dẫn đưa anh ta vào khung trời rộng mở ở bất cứ đâu mà anh ta có thể yêu.

"Nếu người con hoang đàng không tin rằng cha mình đã sẵn sàng chờ đón hắn thì hắn sẽ không trở về -ngay cả khi cha hắn đón hắn một cách mà hắn không bao giờ dám nghĩ tới.

"Vấn đề quyết định là người có tội đã nghe biết về tình yêu là thứ có thể và thực sự đang dành cho hắn; Hắn không phải là người phải tự mình đi đến để đứng vào hàng ngũ với Thiên Chúa; Thiên Chúa thì luôn luôn nhìn hắn như một kẻ tội lỗi không có tình yêu, một đứa trẻ đáng được yêu và Ngài ngước mắt nhìn hắn,ban cho hắn được ơn xứng đáng yêu dưới ánh sáng của tình yêu ấy". (p.103)

MỤC VỤ HÒA GIẢI LÀ BỔN PHẬN CỦA CHÚNG TA

Bài đọc 2 thư thánh Phaolo gửi giáo dân Corinthians (2Cr 5:17-21) tóm gọn một cách rất tài tình câu chuyện ngụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng. Thánh Phaolo cho biết cử chỉ hòa giải của Thiên Chúa được thể hiện bằng nhiều cách, đúng như kiểu hành văn của ngài thật uyển chuyển, tiến lui rất nhẹ nhàng từ hành động của Thiên Chúa đến công tác mục vụ của chính ngài.

Nếu chúng ta hòa giải được với Thiên Chúa, với chính chúng ta và với tha nhân, và rồi mang cái "tâm hòa giải" của mình và sự hòa giải của Thiên Chúa áp dụng vào xã hội, trong cộng đồng của chúng ta, thì có thể nói được chúng ta là sứ giả của Hoàng Tử Hòa Bình. Bởi vì Thiên Chúa đã sai con một Người xuống trần để hòa giải với loài người thì Ngài cũng muốn chúng ta bắt chước Người cải đổi thế gian cho mọi sự được hòa điệu giữa một thế giới đổ nát, gia đình tang thương và Giáo Hội chia rẽ.

Chớ gì, Chúa Nhật 4 Mùa Chay này, chúng ta là những người được tha thứ nhiều, hãy đến với những người anh chị em, hàng xóm láng giềng, bạn bè, những kẻ tội lỗi, vui với họ, hân hoan hòa giải cùng họ, tha thứ cho nhau trong bí tích hòa giải và bí tích Thánh Thể.

Trên đường hành trình Mùa Chay đi về nhà Cha, chớ gì bài ca tạ ơn và niềm vui

hòa giải bùng lên trong những tâm hồn hoang dại, sa mạc hận thù, lòng trai đá và ác quái của chúng ta. Xin Thiên Chúa chỉ dạy chúng ta biết đọc và nhận ra những dấu chỉ của tình yêu, biết vui trong lòng khi Lời Chúa đến với chúng ta trên đường đi tới hòa giải và an bình.

ĐÔI LỜI KẾT: THIỆN CHÍ HÒA GIẢI

Câu chuyện ngụ ngôn này của thánh Luca có hai điểm đặc biệt: 1-Thiên Chúa hoan nghênh, đón chào những kẻ tội lỗi và những kẻ mà xã hội, tôn giáo coi như không thể chấp nhận được. 2-Ca ngợi, Vui mừng là những cử chỉ tiếp theo hành động đón chào. Đó là một hồi đáp cho sự ăn năn thống hối mà Thiên Chúa luôn luôn mời gọi, khuyến khích mỗi người chúng ta thực hành.

Người cha quảng đại hân hoan đón chào đứa con hoang đàng, nhưng không từ bỏ người con cả, vẫn còn ở với hắn và trung thành với hắn, yêu thương hắn, dù hắn đã phản đối tính nhân hậu của mình. " Con à! -Người cha nói với anh ta- lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con" (c.31). Sửa đổi em con là đứa "đã chết nay sống lại", "đã mất nay tìm lại được"(c.32) không làm giảm giá trị lòng trung thành của con đối với cha. Người em, nay được sát nhập trở lại gia đình, phải khởi sự cuộc sống trung tín từ đầu. Người cha ở đây tượng trưng cho Thiên Chúa. Hòa giải với người cha, tức hòa giải với Thiên Chúa, cả hai người con phải dàn xếp với nhau và hòa giải với nhau trước.

Nguời anh sau cùng có làm hòa với em mình và đón chào hắn trở về không? Anh ta có thực sự trong lòng muốn tha thứ cho người em không? Có chia sẽ niềm vui hân hoan với cha mình không? Hay là, kết thúc câu chuyện, anh ta cũng coi mình như người xa lạ còn hơn em mình nữa? Trong câu chuyện này, người mẹ ở đâu? Phản ứng của người mẹ thế nào? Chúng ta chờ mong ở kết thúc của câu chuyện, nhưng Chúa Giêsu đã không cho biết. Đó là tất cả câu chuyện ngụ ngôn về người cha nhân lành. Nó mời gọi tất cả chúng ta đào sâu vấn đề để tìm ra những giải đáp cho chính cuộc sống của chúng ta, ở thời đại của chúng ta.

Câu chuyện "Người Con Hoang Đàng" hay "Người Cha Nhân Hậu" hoặc "Người Anh Phẫn Nộ" có thể gây thắc mắc cho chúng ta như là nó xẩy ra cho chính chúng ta vậy? Có phải người cha nhân lành đã vung vãi tình yêu của mình vào những việc nhỏ nhặt, những cái ác quái, đa nghi và kiêu hãnh của chúng ta? Bài học tha thứ !

Fleming Island, Florida

March 11, 2013 –

NTC

[1] Theo tục lệ và luật Do Thái, một số súc vật bị cấm không được ăn thịt như heo, gà, lạc đà, dê, ếch nhái...vì coi là đồ dơ bẩn. Trường hợp này, đứa con hoang đàng lại đi chăn heo, ăn cả đồ ăn heo...là lỗi luật vô cùng.

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 Next > End >>

Page 27 of 28