mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1867
mod_vvisit_counterHôm Qua5104
mod_vvisit_counterTuần Này20771
mod_vvisit_counterTuần Trước43250
mod_vvisit_counterTháng Này140770
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10282083

We have: 136 guests online
Your IP: 54.196.215.69
 , 
Today: Feb 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Thiên Chúa Là Cha Của Tôi
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 40 = TU THU CUA TH. AUGUSTINO PDF Print E-mail


Apr 6 at 9:22 PM
The Confessions of St. Augustine
Sách Tự Thú của Thánh Augustin
Rev. Ngô tường DZũng, Texas, USA
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Chương 5
Giây phút của sự thực

Augustin trở lại năm 32 tuổi, như thế tiến trình tìm hiểu rất kéo dài. Những chuỗi ngày đưa đến việc trở lại và những biến cố hiện nay là một trong những chứng từ trong lịch sử Kitô giáo. Từ lúc ngài cầu nguyện xin Chúa "làm cho con nên thánh nhưng đừng làm ngay" cho đến khi có vài đứa nhỏ hát trong sân chơi khiến ngài mở thư thánh Phaolô và đọc, câu chuyện của ngài có tất cả mọi đặc tính của một cuốn sách đạo cổ điển. Tất cả đều được kể lại với sự bình dị. Augustine không muốn mạ vàng bông hoa huệ.

Có nhiều nhân vật danh tiếng xuất hiện trong câu chuyện của Ngài. Ambrose là một trong những nhân vật đó, làm giám mục Milan và những ca khúc của ngài hiện nay giáo hội còn dùng để ca hát. Người khác là Simplicianus sửa soạn cho Augustin chịu phép rửa. Ông là người phụ tá Ambrose trong nhiều năm và sau khi thánh nhân chết, khi chính Simplicianus trở thành ông già, thì ông kế vị thánh nhân làm giám mục thành Milan.

Nhưng ảnh hưởng quyết định do một người giáo dân mới trở lại. Marius Victorinus là một nhà trí thức thời danh trong thời đó, một triết gia theo phái Neo Plato và là nhà tu từ. Việc ông trở lại đạo và nhất là việc ông công khai tuyên bố điều đó đã làm cho cả Milan xôn xao và dĩ nhiên ảnh hưởng tới sự thống hối của Augustin lúc đó đang còn do dự.

23. Những bước đi sau cùng: sức mạnh của chứng từ

Tôi đã đi đến chỗ không thể quay trở lại. Lời Chúa đã đi vào nội tâm linh hồn tôi. Tôi cảm thấy Chúa đang bao bọc tôi tôi không còn con đường nào trốn chạy được nữa. Tôi không còn hồ nghi sự sống đời đời của Chúa, cũng như liên hệ giữa một hữu thể vật chất và linh thiêng. Tôi đã trở lại tù trong lòng tôi. Tôi không còn tìm ra chứng cớ nào chống lại chân lý. Nhưng trong cuộc sống trần gian thì chưa giải quyết được truyện gì. Trái tim tôi vẫn còn bị ảnh hưởng xấu do thế gian và xác thịt. Càng cố gắng tôi càng không thể tưởng tượng cuộc sống không có dục tình. Tôi không tìm thấy lỗi lầm gì nơi Ðấng Duy nhất là đường, là Ðấng Cứu độ thế gian nhưng tôi không thể lôi kéo mình theo cửa hẹp đưa đến sự sống.

Lúc này Chúa dẫn tôi đến với một ông già khôn ngoan, Simplicianus mà từ thời niên thiếu đã sống đạo đức. Chính ông cũng đã dẫn giám mục Ambrose đến với Chúa trong những năm trước. Lúc này, khi đã già hình như đối với tôi ông có kinh nghiệm nhiều cũng như sự sáng suốt tinh thần có thể hướng dẫn tôi qua sự lo lắng hiện tại.

Vì thế tôi đến với ông và giải thích sự bế tắc của tôi: làm sao tôi đã kinh qua bao nhiêu kinh nghiệm, thụt lùi để tới tình trạng này, và tôi không còn thấy thoả mãn hay khoái lạc trong sự thành công ở đời hay sự tung hô của thế gian; tôi đã chán chường với kiểu sống của tôi và nhất là thân xác tôi luôn điều khiển ý chí và không có gì đem lại cho tôi niềm vui như Chúa. Nhưng tôi thêm là tôi bị mắc bẫy dục tình và rất yếu về luân lý nên luôn lựa chọn giải pháp dễ chịu và êm ái....

24. Vòng xích sắt

Câu chuyện Simplicianus kể cho tôi gây ảnh hưởng cho tôi. Tôi đột nhiên muốn hăng hái theo gương Victorinus. Sau đó trong thời hoàng đế Julian, Simplicianus cho tôi hay Victorinus phải chọn hoặc tiếp tục dậy tu từ hay chỉ học Thánh Kinh vì sắc lệnh hoàng đế không cho người Kitô hữu dậy văn chương hay tu từ. Dĩ nhiên Victorinus chọn con đường Lời Chúa. Tôi coi như ông có phước hơn là dứt khoát, khi có thể dễ dàng và rõ ràng quyết định như thế. Tôi ao ước có thể lựa chọn dễ dàng như thế. Tôi cảm thấy mình còn bị ràng buộc bằng xích sắt của Kẻ Thù dù tôi không muốn. Ðiều xảy ra cho chúng ta là những ước muốn không trong sạch phát xuất từ những tình cảm sai lạc và khi nhượng bộ chúng chúng ta tạo nên thói quen trở thành một thứ nhu cầu. Tiến trình này ràng buộc tôi như giây xích sắt. Ý chí mới của tôi muốn phụng sự Chúa không đủ mạnh để chiến thắng ý muốn cũ bị hư hoại, đã khó hơn vì thành thói quen. Vì thế hai ý muốn của tôi tranh chấp, cũ và mới, xác thịt và thần linh và cuộc tranh đấu làm cho tâm trí tôi rã rời.

Ðây là điều thánh Phaolô đã nói " Xác thịt tranh đấu cùng Thần Trí và Thần trí cùng xác thịt". Tôi dã kinh nghiệm điều mà thánh nhân và nhiều người khác đã có. Ðây không phải là điều độc đáo.

Chỉ vì ý chí tôi thất bại. Tôi như người đang ngủ thức dậy và muốn chỗi dậy và làm việc trong ngày, nhưng lại ngủ trở lại.Tâm trí bị thuyết phục nhưng thân xác không theo tín hiệu của nó.Chúa tỏ cho tôi điều tôi phải làm và tất cả câu trả lời là "Vâng, vâng, con đồng ý. Sớm sủa. Con sẽ làm ngay. Xin kiên nhẫn với con một chút nữa thôi." Nhưng thực sự cái sớm sủa càng ngày càng lâu và cái một ít nữa thôi thành một thời gian lâu....

25. "Hãy làm cho con nên thánh nhưng xin đừng làm ngay"

Câu chuyện của Victorinus có ảnh hưởng lớn trong cuộc đời của tôi và lại được củng cố do một kinh nghiệm mấy ngày sau. Một người bạn ở Phi châu tên Pontitianus thăm tôi và Alipius. Anh ta có địa vị cao trong dinh hoàng đế. Tôi không thể nhớ anh đến thăm chúng tôi vào dịp nào nhưng tôi còn nhớ rõ anh lấy cuốn sách thu thánh Phaolô trên bàn tôi. Hình như anh ngạc nhiên thấy cuốn sách ở đó và anh rất hài lòng. Khi tôi giải thích cho anh tôi dùng nhiều thời gian để học kinh thánh, anh lợi dụng dịp ấy cho tôi hay anh là người Kitô hữu và mới có dịp học hỏi những tác phẩm của một vị ẩn sĩ Ai cập là Anthony. Cả tôi và Alipius đã nghe nói về ngài cũng như sự canh tân tinh thần lớn lao kèm theo sứ vụ của ngài. Hàng ngàn người đã vào tu viện hiến thân cho việc cầu nguyện và phục vụ ngay giữa lòng sa mạc.

Hơn thế nữa Pontitianus còn kể cho chúng tôi hay có một tu viện đang phát triển ở Milan ngay ngoài thành phố, dưới sự coi sóc của Ambrose. Chúng tôi sống ở Milan mà không biết gì về chuyện đó. Rồi anh tiếp tục kể anh đã đi thăm Treves với ba công chức, trong khi hoàng đế dự cuộc tranh đấu buổi chiều ở hí trường. Cả bốn người chia làm hai nhóm và tình cờ đi vào phía gần thành phố và hai người trong bọn đã vào một lều tranh nơi có nhiều kitô hữu sống hoàn toàn trong sự từ bỏ. Họ là những người có tinh thần nghèo khó sẽ được thừa hưởng nước trời.

Tại đây hai ông đọc một cuốn sách của thánh Anthony. Ðọc xong anh ta bèn quyết định sống cuộc sống như thế không phải một ngày kia, hay càng sớm càng tốt hay một lúc lâu sau, nhưng ngay tại đó và lúc đó. Anh ngỏ ý cho người bạn nói anh muốn đoạn tuyệt cuộc sống hiện tại và tham vọng và gia nhập cộng đoàn nhỏ này ngay, không trở về thành phố nữa. Anh bạn bất ngờ thay cũng muốn ở lại.....

26. Một ngày trong khu vườn

Có một khu vườn trong nhà trọ của chúng tôi, chúng tôi được tự do sử dụng vì ông chủ nhà ở chỗ khác. Một hôm trong giai đoạn tâm trí xao động, tôi vào vườn với Alipius. Tôi cảm thấy mình đang bị khủng hoảng. Tiếng tôi yếu đi và lạ kỳ, mặt tôi nóng bừng và tôi bắt đầu khóc.

Tôi nói với Alipius "Anh nhìn, nhìn xem tình trạng của chúng ta này. Người không được giáo dục và bình dân thì là những Kitô hữu dấn thân còn chúng ta, học cho nhiều vẫn còn bị xác thịt hành hạ." Chúng tôi ngồi xa căn nhà, tôi thổn thức và khóc, anh thì bối rối và bất ngờ. Lúc này tôi thấy tất cả chỉ là vấn đề của ý chí. Ta không thể làm gì nếu ta không muốn dù cho là giơ tay hay hoạch định một chương trình du lịch trên đất hay trên biển. Ta phải có ý chí muốn làm điều đó một ý chí có quyết tâm và mạnh mẽ, không phải thứ ý chí nửa chừng, do dự hay lập lờ.

Khi liên quan đến cơ thể, trừ khi bị thương tật hay yếu đuối, ý chí và năng lực để làm chuyện gì luôn là một. Tôi nghĩ đến chuyện giơ tay và tôi làm chuyện ấy.

Nhưng tại sao tâm trí lại chậm rì trong việc tuân theo ý chí? Có phải khi ta muốn chuyện gì như cử động vật lý thì ta muốn toàn diện, còn khi ta muốn làm gì về luân lý hay tâm linh, chúng ta chỉ muốn một phần hay nửa vời? Chính sự do dự làm cho không hành động được. Chúng ta không làm điều ấy vì trong nội tâm ta không chắc mình làm điều ấy.

Lúc đó tôi ngồi trong vườn trong thế giới riêng tư của riêng tôi. Bản tính cũ của tôi thừa hưởng của Adam và tội của ông, cố gắng giữ tôi lại trong khi Chúa tăng cường tiếng gọi nội tâm, gọi tôi dứt khoát với con người cũ và sống lại như con người mới. Tôi tiếp tục nói với chính mình "Nào hãy để chuyện đó xảy ra bây giờ, xảy ra bây giờ" và khi tôi nói tôi quyết định làm điều ấy. Nhưng tôi đã không làm. Tôi cũng không đi vào bản tính của mình. Tôi như đứng ngoài chính mình và nhìn xem cuộc chiến. Tôi đứng đó lưng chừng giữa chết cho cái chết và sống cho cuộc sống. Tôi ngạc nhiên vì những tập quán xấu giữ tôi lại....

Khỏi cần phải nói mẹ tôi vui mừng khôn tả. Như bà nói "Chúa còn làm hơn cả những điều ta xin hay nghĩ tới." Bà nói thế vì bà chỉ giới hạn lời cầu nguyện cho tôi trở lại. Nhưng Chúa đã làm quá cho tôi khiến tôi quên cả tham vọng, ngay cả ước muốn có vợ, và quyết định dấn thân cho qui luật cuộc sống Chúa đã tỏ cho mẹ tôi trước đây bao nhiêu năm trước khi tôi chấp nhận, một sự chấp nhận mẹ không thể tin có thể xảy ra.

(C) Copyright 1990
by Rev. Ngo tuong Dzung, Texas, USA.

Kính chuyển

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 39 = SU THAT VA SU SONG PDF Print E-mail

Feb 25 at 6:45 PM
Ðạo, Sự Thật và Sự Sống
Linh Mục Nguyễn Công Ðoan, SJ, Việt Nam
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Tôi có đạo và đạo có tôi,
tôi ở trong đạo và đạo ở trong tôi,
Tôi có đạo không phải như có tiền có bạc.
Ðạo có tôi không phải như có chó có mèo.
Tôi có đạo cũng như tôi có xác có hồn,
xác cũng là tôi mà hồn cũng là tôi,
cả hai mới là tôi trọn vẹn,
vì cả xác hồn là cuộc sống, là tôi.
Tôi có đạo khi thành cuộc sống của tôi,
Ðạo có tôi khi tôi như một hiện thân của đạo.

Từng hơi thở, lời nói, cử động của tôi, đều là hơi thở, lời nói, cử chỉ của đạo. "Dù ăn, dù uống, dù làm chi đi nữa, thì hãy làm tất cả vì vinh danh Chúa" (1 Cor 10,31). Chỉ một mình Con Thiên Chúa mới có thể tự xưng "Ta là Ðạo". Và những người tự xưng có đạo nhưng đạo không thành cuộc sống trong họ thì ÐẠO sẽ nói vào mặt họ rằng: "Ta không biết các ngươi là ai" - nghĩa là "Ðạo không có các ngươi!"

Tôi có đạo, nghĩa là đạo ở trong tôi và đạo có tôi nghĩa là tôi ở trong Ðạo. Tôi ở trong đạo khi đạo thành sự thật trong tôi. Ðạo ở trong tôi khi tôi thành một hiện thân của Ðạo. Chỉ có Con Thiên Chúa mới được:

"TA LÀ SỰ THẬT"

còn tôi thì chỉ có thể ở trong sự thật và sự thật ở trong tôi. Tôi có thể thuộc về Sự Thật chứ Sự Thật không thể thuộc về tôi. Nếu tôi sống như Ngài đã sống (1 Jn 2,6) và yêu Ngài như Ngài đã yêu (1 Jn 3,16-19) thì tôi thuộc về sự thật ở trong tôi.

Tôi có đạo nghĩa là tôi có con đường đưa tới sự sống.

Nhưng có đường mà không đi thì cũng chẳng đến đâu. Không phải đi hết con đường mới được sống, mà bước lên đường là bắt đầu sống rồi: "Tôi viết cho anh em những điều này để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời, anh em là những người tin vào Danh của Con Thiên Chúa ấy mà" (1 Jn 5,13). "Thiên Chúa đã gởi Con Một của Ngài đến trần gian để chúng ta sống nhờ Người" (1 Jn 4,9).

Tin vào Con Thiên Chúa là theo Ðạo, mà theo Ðạo là có sự sống rồi, sự sống của Thiên Chúa ấy, cho nên:

"Hãy xem Cha đã ban cho ta Tình Yêu lớn lao thế nào, để ta được gọi là con Thiên Chúa và chúng ta thật sự là như thế" (1 Gio 3,1).

... Ngay từ bây giờ chúng ta là con Thiên Chúa rồi... Bởi vì Chúa Giêsu Con Thiên Chúa là ÐƯỜNG ÐI (ÐẠO), SỰ THẬT và SỰ SỐNG.

Nên khi bước theo Ngài, và Ngài bắt đầu thành sự thật trong tôi thì sự sống cũng bắt đầu trong tôi: tôi sống nhờ sự sống Thiên Chúa tuôn chảy từ trái tim Ngài. Và khi sự sống Ngài thấm nhuần, chiếm đoạt mọi đường gân thớ thịt, mọi hơi thở của tôi, khi trái tim Ngài đập trong tôi chứ không phải tim tôi nữa, thì đó là lúc "tôi sống mà không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi".

Lời đã thành xác phàm
Ngài đã thành một người
giống như chúng tôi
đã cắm lều, đã sống giữa chúng tôi:
ÐỨC GIÊSU KITÔ, CON THIÊN CHÚA,

và Ngài lại trở thành Lời vang đến tai tôi qua miệng các Tông Ðồ và đường dây Hội Thánh dài suốt 20 thế kỷ và còn kéo dài mãi đến tận thế. Ngài muốn lại thành xác phàm trong tôi để sự sống của Ngài tuôn chảy trong tôi, để Ngài lại có thể toát ra từ trong tôi mà thông sự sống của Ngài cho những ai gặp được.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa là Ðạo, là Sự Thật và Sự Sống
Xin hãy đến trong con
và trong thật nhiều người, mọi người
cho ÐẠO sáng lên
cho SỰ THẬT hiển hiện
cho SỰ SỐNG tuôn trào

đến mọi người
và mọi cảnh vực
của thế giới hôm nay.

Lạy Chúa con đây
xin Chúa nhận lấy...

Lm Nguyễn Công Đoan, SJ

Kính chuyển

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 37 = MOT NGUOI CHA PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] THIÊN CHÚA LÀ MỘT NGƯỜI CHA
Anthony Quang Dinh
Feb 4 at 11:01 PM

THIÊN CHÚA LÀ MỘT NGƯỜI CHA KHÔNG BAO GIỜ TỪ BỎ CON CÁI MÌNH
ĐỨC THÁNH CHA KHẲNG ĐỊNH
By Elise Harris
Vatican City, ngày 04-02-2014/02:14pm (EWTN News/CN A)

Trong Thánh Lễ hàng ngày , Đức Thánh Cha đã so sánh tình yêu của Thiên Chúa với hai người cha trong những bài đọc hôm nay, kể rằng Thiên Chúa là cha mẹ "khóc lóc" con cái và ước múôn chúng sống gần gũi với minh'.

"Đây là tấm lòng của một người cha, không bao giờ từ chối con minh'," Đức Thánh Cha nói trong Thánh Lễ ngày 04-02-2014, dựa vào sự tích trong sách Cựu Ước về sự bùôn rầu của vua Davit khi nghe con chết.

Dùng hình ảnh của ông Davit trong bài đọc thứ nhất, trích trong Quỷên sách thứ hai của Samuen, đức Thánh Cha trình bầy cho những người tập họp trong nhà nguỵên Thánh Martha của nhà khách Vatican, làm nổi bật sự bùôn rầu của Davit vè cái chết của đứa con trai, Ap-sa-lom. Mặc dù sự vịêc anh ta phản bội cha của anh ta,

Vua Davit đã thắng trận , nhưng ông đã không quan tâm vào sự chíên thắng, chỉ vì đứa con trai, Đưc Thánh Cha giải thích, nhấn mạnh rằng, mặc dù Ông Davit là hòang đế, ông cũng còn là một người cha, đấy là lý do tại sao ông đã đi lên phòng ở trên lầu và đã khóc lóc khi nghe tin Ap-sa-lom chết.

Trong lúc "ông đang đi ở xa, ông kêu lên "Ôi con tôi! Ap-sa-lom, Con tôi! Con tôi! Ap-sa-lom! Cha ước ao thế nào Cha đã ước chết thay con!" DTC nhớ lại, ghi nhận rằng :Davit không từ bỏ vai trò của một người cha của ông," nhưng thay vào đó "Ông khóc"

"Ông Davit khóc con hai lần, trong trường hợp này là một và một lần khác khi đứa con do ngọai tình mà có chết," DTC nhận thấy, vào trường hợp đó nữa, ông đã ăn chay va ăn năn thống hối để cứu mạng sống cho đứa con trai, "Vì Ông là một người cha!"

Trở lại bài đọc Phúc Âm theo ngày, trích Phúc Âm theo Thánh Mac-cô, DTC kéo sự chú ý đế ông Giai-rô, ông đến gần Chúa Giêsu ở trong Hội đường và xin Chúa chữa đứa con gái của ông.

Ông không e ngại sấp minh' dưới chân Chúa Giêsu mà cầu xin :Con gái bé bỏng của con đang chết dần, làm ơn đến và đặt tay trên nó như vậy nó được cứu và sống lại," DTC ghi chú, làm nổi bật rằng ông không quan tâm đến đìêu người ta nói, bởi vì ông là một người cha.

Dựa vào cả ông Davit và ông Giai-rô, DTC phanxicô dĩên tả "Vì họ có vấn đề quan trọng nhất là con trai, con gái của họ! không có vấn đề gì khác nữa. Đây là chỉ co một vấn đề quan trọng!"

Gợi lại những lời trong kinh Tin Kính khi ta tuyên xưng rằng "Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha tòan năng," DTC đã nhận thấy rằng "đìêu này khíên cho ta nghĩ đến địa vị người cha của Thiên Chúa," và "đối với ta Thiên Chúa tương tự như một người cha!"

Mặc dù một số người có thể nói rằng Thiên Chúa không tương tự như vậy, và không khóc lóc, DTC xác nhận "Có chứ, Chúa khóc!" và đã nhớ lại "Chúa đã khóc như thế nào khi hướng về thành Giê-ru-sa-lem," than rằng "Giêrusalem! Giêrusalem! Bíêt bao lần Ta đã ước ao tập họp con cái ngươi, như gà mẹ ủ ấp con dưới cánh?"

"Thiên Chúa khóc! Đức Giêsu đã khóc vì ta, và sự khóc của Đức Giêsu cách chính xác của Người Cha khóc, Người ước múôn mọi người đến với Chúa."

Nhấn mạnh rằng "Cha chúng ta nhận lời" của ta ngay cả trong những khó khăn của ta, DTC nói về ông Ap-ra-ham và I-sa-ac trong khi họ vác bó củi leo lên núi để híên tế.

"Ông I-sa-ac không phải là một người ngu ngốc." DTC giãi thích "ông đã ý thức rằng ông vác bó củi, mang lửa, nhưng không có con chiên híên tế. Ông đã nghĩ ra với sự lo bùôn trong lòng! Và ông đã nói đìêu gì? 'Thưa Cha!' Người đáp lại ngay "Cha đây, con!'"

Sau đó DTC nhận xét rằng chúng ta thấy một ván đề tương tự với Chúa Giêsu ở trong Vườn Giệt-si-ma-ni, người cầu nguỵên "với sự lo bùôn đau đơn ấy ở trong long :"Lậy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải úông chén này!"'

Nhớ lại rằng Thiên Chúa đã sai thiên thần đến yên ủi Chúa Giêsu, DTC nhắc lại "Đó là phương pháp Cha chúng ta dĩên ra: Người là một người Cha và một Người Cha tương tự như thế này.!"

"Vai trò một ngừơi Cha chúng ta," mà cả những người cha phần thể xác cũng như vai trò một người cha thiêng liêng của những giám mục, linh mục "phải trở nên như thế này," ĐTC giải nghĩa, và nói thêm rằng "một Người Cha có" một lọai "xức dầu thánh đến từ người con trai, người không tự hỉêu bíêt chính minh' mà không có con của minh'!"

Vì lý do này, người ghi chú, một người cha "càn có con của minh, người đang chờ đợi đứa con, yêu mến đứa con, tìm kíêm đứa con, tha thứ cho đứa con, múôn cho đứa con gần gũi minh', gần gũi đúng như con gà mẹ múôn ủ áp gà con dưới cánh."

Kết lụân bài giảng, Đức Thánh Cha khuýên khích những người có mặt tíêp tục suy gẫm những hình ảnh về ông Davit và Giai-rô, kể rằng "với hai hình tượng này, 'chúng ta hãy thưa :"Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha tòan năng."

"Để có thể nói về Thiên Chúa là 'CHA' trong long ta là một ân hụê của Chúa Thánh Thần," DTC đã suy nịêm, "Nào chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho đìêu này."

QQ gõ xong 04022014/07:30pm

__._,_.___

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 36 = DEM ANH SANG PDF Print E-mail

Đêm Ánh Sáng

Đêm Giáng sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc. Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng tình yêu.

Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đi tìm con người. Thiên chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên Chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên Chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên Chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên Chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên Chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên Chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Ánh sáng Giáng sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên Chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên Chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hêrôđê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Ánh sáng đã bao phủ các ngài. Ánh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Ánh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy "một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" và các ngài đã tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên Chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên Chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Ánh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên Chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hi vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này". Tin mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Anh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 35 = DUC GIESU LA SU SONG PDF Print E-mail

This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

ĐỨC GIÊSU CÓ NGHĨA LÀ SỰ SỐNG, LÀ LỊCH SỰ,
ĐỨC THÁNH CHA THUÝÊT GIẢNG LỄ GIÁNG SINH
Vatican City, ngày 24-12-2013.06:29pm (EWTN News)

Đức Thánh Cha Phanxicô giảng trong lễ vọng Giáng sinh, đã tập trung vào sự quan trọng sự nhập thể của Đức Giêsu như một bíên cố xác thực và đầy ý nghĩa.

"Một ân sủng đã mặc khải trong thế giới chúng ta là Đức Giêsu, sinh bởi Dức Trinh Nữ Maria, là người thật và là Thiên Chúa Thật. Người đã đi vào lịch sử của chúng ta; người đã chia sẻ hành trình của ta. Người đã đến để giải cứu cúng ta khỏi cảnh tối tăm và ban cho chúng ta sự sáng," Đức Thánh Cha nói ngày 24 tháng 12 trong Thánh lễ tổ chức tại Đại Thánh Đường Thánh Phêrô.

"Người đã mặc khải ân sủng, long thương xót, và tình yêu dịu dàng của Đức Chúa Cha: Đức Giêsu là tình yêu nhập thể. Người không chỉ đơn thùân là thầy dậy khôn ngoan, người không phải là một lý tưởng vì đó mà chúng ta gắng sức dù sự hỉêu bíêt rằng chúng ta vẫn tuỵêt vọng xa cách đìêu ấy. Người là sự sống, là lịch sử, Người đã dựng lều ở giữa chúng ta.

Dưới đây là tòan văn bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô:

"Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hòang" (Is 9:1)

Lời tiên tri Isaia không bao giờ chấm dứt chạm đấn chúng ta. Đặc bịêt khi chúng ta nghe đìêu ấy được công bố trong phụng vụ Đêm Giáng sinh. Đây không chỉ đơn thùân là một vấn đề cảm xúc hay cảm động. Đìêu ấy khích động chúng ta, bởi vì nó sắp đặt một tình trạng có thực ở sâu trong đìêu chúng ta sống, mọi người đi lại, tất cả xung quanh ta - và bên trong ta nữa – có sự tối tăm và sự sáng. Trong đêm nay, khị thần khí tối tăm bao trùm thế giới, về vịêc ấy nhận phận sự một lần nữa một sự kịên luôn luôn làm cho chúng ta sửng sốt ngạc nhiên ; mọi người đi trông thấy ánh sáng huy hòang. Một ánh sách làm cho chúng ta suy nịêm về mầu nhịêm này, một mầu nhịêm về dáng đi và nhận thức.

Dáng đi. Động tứ này khíên chúng ta suy nghĩ về dòng lịch sử, hành trình dài ấy nó là lịch sử sự cứu rỗi linh hồn, bắt đầu với ông Ap-ra-ham, tổ phụ về đức tin của ta, người mà Chúa đã kêu gọi để sắp đặt. để đi lạ từ từ quê hương hướng đến mien đất mà người sr4 chỉ cho ông ta. Kể từ ngày ấy, bản chất của chúng ta như những tín hữu đã từng là dân như thế đó tạo ra con đường hành hương hướng về đất hứa. Lịch sử này luôn luôn được tháp tùng bởi Chú! Người luôn luôn trung tín với giao ước và lời hứa của nguời. "Chúa là sự sáng,, và nơi người không có sự tối tăm nào cả" (1 Jn 1:5) Song le về phần dân chúng co thời gian cho cả sự sáng và sự tối tăm, sự trung tín và sự bất trung, sự tuân phục,, và nổi lọan, Những thời gian này con người hành hương, và thời gian này người ta phiêu bạt.

Trong lịch sử của cá nhân chúng ta nữa, có cả những khỏanh khắc sáng sủa và tối tăm, những ánh sáng và những bong dâm. Nếu chúng ta yêu mên Thiên Chúa và anh chị em chúng ta, là chúng ta đi trong ánh sáng, nhưng nếu tâm hồn chúng ta bị đóng lại, nếu như chúng ta bị tính kiêu căng, luờng gạt, ích kỷ thống trị, sau đó sự tối tăm rũ xúông ta và bap bọc ta. "Kẻ nào mà ghét anh em nó – Thánh Gioan víêt – là ở trong sự tối tăm, người ấy đi trong tối tăm, và không bíêt đường đ336 đi, bởi vì sự tối tăm đã làm mù mắt nó. (1 Jn 2:11)

Vào đêm hôm nay, tương tự như sự bùng lên một ánh sáng rực rỡ, ở đấy chuông rung lên sự công bố của các Tông đồ: "Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được bỉêu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người." ( Tt 2:11)

Ân sủng đã được mặc khải cho thế gian chính là Đức Giêsu sinh bởi Đức Nữ Trinh Maria, là người thật và Thiên Chúa thật. Chúa đến trong lịch sử chúng ta, chia sẻ hành trình của chúng ta. Người đến để giải thoát chúng ta khỏi bóng đêm và ban cho chúng ta ánh sáng. Nơi Người, ân sủng, lòng từ bi, sự dịu dàng của Chúa Cha xuất hiện: Chúa Giêsu là Tình Thương nhập thể. Người không phải chỉ là một tôn sư hiền triết, không phải là một lý tưởng mà chúng ta hướng tới và chúng ta biết mình xa xăm vô tận đối với Người, Người là ý nghĩa cuộc sống và lịch sử, Người đã 'cắm lều' giữa chúng ta. 3. Các mục tử là những người đầu tiên đã thấy căn "lều" ấy, đã đón nhận tin Chúa Giêsu sinh ra. Họ là những người đầu tiên vì họ thuộc vào số những người rốt cùng, những người bị gạt ra ngoài lề. Họ là những người đầu tiên vì đã canh thức trong đêm, canh giữ đoàn vật. Cùng với họ, chúng ta hãy dừng lại trước Chúa Hài Đồng, dừng lại trong thinh lặng. Cùng với họ, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban cho chúng ta Chúa Giêsu, cùng với họ chúng ta hãy để cho lời chúc tụng lòng trung tín của Chúa trào dâng từ thẳm sâu con tim của chúng ta: Lạy Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, chúng con chúc tụng Chúa, Chúa đã hạ mình xuống vì chúng con. Chúa là Đấng vô biên, nhưng đã trở nên bé nhỏ; Chúa giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo túng: Chúa toàn năng, nhưng đã trở nên yếu ớt".

"Trong đêm này, chúng ta chia sẻ niềm vui Tin Mừng: Thiên Chúa yêu thương chúng ta, yêu chúng ta đến độ đã ban Con của Ngài như người anh của chúng ta, như ánh sáng trong đêm đen của chúng ta. Chúa lập lại với chúng ta: "Các con đừng sợ" (Lc 2,10). Và tôi cũng lập lại với anh chị em: Anh chị em đừng sợ! Cha chúng ta là Đấng kiên nhẫn, yêu thương chúng ta, Ngài ban cho chúng ta Chúa Giêsu để hướng dẫn chúng ta trong hành trình hướng về đất hứa. Ngài là ánh sáng chiếu soi rạng ngời trong đêm tối. Ngài là an bình của chúng ta. Amen"
Cuối thánh lễ, ĐTC đã bồng tượng Chúa Hài Đồng Giêsu đi rước tới hang đá tại nhà nguyện rửa tội trong Đền thờ Thánh Phêrô. Tại đây 10 em bé từ 6 đến 10 tuổi, đại diện cho 5 châu, đặt hoa trước tượng Chúa Hài Đồng

__._,_.___

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 Next > End >>

Page 28 of 30