mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5502
mod_vvisit_counterHôm Qua8485
mod_vvisit_counterTuần Này13987
mod_vvisit_counterTuần Trước32590
mod_vvisit_counterTháng Này71938
mod_vvisit_counterTháng Trước182520
mod_vvisit_counterTất cả11934579

We have: 67 guests online
Your IP: 54.156.39.245
 , 
Today: Oct 15, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Thiên Chúa Là Cha Của Tôi
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 42 = HANH TRINH THUONG KHO PDF Print E-mail

Hành Trình Thương Khó Nỗi Cô Đơn Kinh Khủng Nhất - Lm Nguyễn Tầm Thường
Apr 14 at 8:43 PM

Các bạn trẻ thân mến,

Nhớ lại lúc còn ở Vườn Dầu trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Giêsu đã đau buồn không ít. Những tâm tư và thổn thức trong lòng, Giêsu không biết chia sẻ cùng ai. Nghĩ đến những nhục hình, tra tấn, ai mà chả sợ. Giêsu cũng chỉ là một con người, như bao con người khác, cũng mong ước được thoải mái và an toàn cho xác thân. Một mình lặng lẽ giữa khu vườn vắng ngắt, bao nhiêu nỗi niềm, Giêsu thốt lên cùng Cha trọn vẹn. Giêsu hãi kinh trước những gì sắp xảy đến cho mình. Đã có lúc Giêsu xin Cha cho mình thoát khỏi chén rượu quá sức cay nghiệt kia. Nhưng vâng ý Cha, Giêsu chẳng thể lùi bước. Cha là sức mạnh của Giêsu, là nơi mà Giêsu có thể kín múc cho mình sức mạnh và nguồn vui.

Vâng lời Cha, chịu để cho người ta dẫn mình đi như một tên tù tội. Vâng lời Cha, Giêsu phải đứng trước một tòa án với bao nhiêu lý lẽ và nhân chứng gian trá, bị điệu từ nơi này đến nơi khác, bị người ta xem như trò hề để giải khuây, bị người ta tha hồ vả má, bạt tai, sỉ nhục, khinh bỉ. Từng đòn roi đau buốt cắm sâu vào thịt xương, như muốn rách ra từng mảnh. Những vết thương rỉ ra những giọt máu chảy tuôn không kịp ngừng. Bị phản bội, Giêsu không oán trách. Bị bán rẻ, Giêsu cũng không màng. Đinh nhọn kia đang xuyên qua bàn tay Ngài, đôi bàn tay đã làm biết bao dấu lạ, đã nắm tay người cùi để đưa họ trở về với cộng đồng, đã cứu chữa biết bao nhiêu bệnh nhân lầm lũi. Mũi đinh kia đang xuyên qua bàn chân Ngài, đôi bàn chân đã dong duổi qua khắp các nẻo đường để mang niềm vui và bình an đến cho người khác. Tất cả những đau khổ ấy, Giêsu đều chịu được hết. Ngài vẫn cắn răng chịu đựng, không một lời oán than, không một câu kêu trách.

Thế nhưng, có một nỗi đau khủng khiếp xảy đến với Ngài, một nỗi đau lớn hơn tất cả nỗi đau khác, một nỗi đau gắn liền với cả sinh mệnh Ngài. Khi chịu đòn roi đau đớn, hay khi bị sỉ vả nặng nề, Ngài đã chẳng kêu trách ai. Vậy mà Giêsu đã không chịu được một sự kinh khủng, tăm tối của linh hồn, đến độ Ngài đã phải thốt lên "lạy Cha, sao Cha bỏ con?" Trong cuộc thương khó này của Giêsu, Chúa Cha đã ẩn mình đến nỗi Giêsu dường như không hề cảm nhận được Cha mình. Xung quanh Giêsu chỉ là một màu đen u ám, dày đặc giăng kín tâm tư. Vì Cha, Giêsu có thể chịu đựng tất cả. Nhưng giờ đây, ngay cả một chút cảm nhận sự hiện diện của Cha bên cạnh để nâng đỡ mình, Giêsu cũng không có. Một nỗi cơ đơn đụng chạm đến tận hữu thể mình. Giêsu như bị bỏ mặc bởi hết tất cả mọi người, chỉ một mình chơ vơ hứng chịu tất cả. Nỗi đau vì đòn roi nào có thấm thía chi. Nỗi đau khi không cảm nhận được Cha ở kề bên mới là điều khủng khiếp. Thiên Chúa Cha đã im lặng hoàn toàn. Cái im lặng ấy của Chúa Cha đã đẩy những đau khổ của Giêsu lên đến đỉnh cao nhất. Đấy mới là thập giá thực sự của Giêsu, đấy mới là cái khiến Giêsu hy sinh tột cùng: những phút giây không cảm nhận được sự hiện diện của Cha bên cạnh mình.

Bạn thân mến,

Cái gì càng quý giá đối với chúng ta càng làm cho chúng ta đau khổ khi mất nó. Đối với Giêsu, gia sản cao quý nhất không gì có thể so sánh được là Chúa Cha. Giêsu có thể chịu đựng được tất cả những đau đớn thể xác và tinh thần mà không than oán gì, nhưng Giêsu không thể chịu đựng được một giây phút nào vắng bóng Cha. Đối với Giêsu, Cha là trên hết, là tất cả, là sự sống của mình. Còn chúng ta, cái gì là quý giá nhất? Dường như, đối với chúng ta, có Chúa hay không có Chúa cũng chẳng ảnh hưởng gì. Bỏ lễ, bỏ tham dự các bí tích cũng chẳng có chuyện gì. Ta xem nó bình thường và lắm khi còn xếp những trợ giúp thiêng liêng ấy vào hạng thứ yếu trong đời sống của chúng ta nữa. Tương quan với người khác, với gia đình, người thân, có khi cũng chẳng mấy quan trọng. Cùng lắm là không nhìn mặt nhau, không thèm nói chuyện với nhau, chả cần chi phải để ý. Đối với ta, mất đi một khoản tiền mới làm ta đau đớn, day dứt, mất ăn mất ngủ. Mất đi một chỗ đứng mới khiến ta buồn phiền, lo lắng, bất an. Ta muốn mình phải là trung tâm của vũ trụ, muốn người khác phải khen mình, nên ta chấp nhận đánh đổi tất cả để chỉ được chút công danh và vị thế. Thế nên, chúa của ta không phải là Thiên Chúa, chủ tể của trời đất, nhưng là đồng tiền, là hư danh, là quyền lực. Ta với Giêsu sao mà khác xa quá.

Nếu có lúc nào đó, bạn thấy đời mình như có một màn đen ụp tới, mất hết định hướng, mất hết niềm tin, mất hết tia sáng, các bạn hãy noi gương Giêsu. Thật ra, Chúa Cha vẫn ở với Giêsu chứ không hề lìa xa Ngài. Chúa Cha chỉ hiện diện theo một cách thức im lặng và ẩn mình thôi. Nếu chúng ta vẫn cố gắng kiên trì như Giêsu, vẫn vững niềm tin như Giêsu, một ngày nào đó, Chúa Cha sẽ lại tỏ hiện và thưởng công xứng đáng cho ta bằng những an ủi ngọt ngào và vĩnh cửu.

Lm. Nguyễn Tầm Thường

Kính chuyển

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 41 = TIN VA DAU KHO PDF Print E-mail

Apr 7 at 9:46 PM
The Confessions of St. Augustine
Sách Tự Thú của Thánh Augustin
Rev. Ngô tường DZũng, Texas, USA
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Chương 6
Tin và đau khổ

Việc trở lại của Augustin làm cho ngài vui mừng và thoải mái, và cũng mang lại niềm vui cho mẹ ngài. Việc chịu phép rửa tội của ngài của Alipius và của đứa con tên Adeodatus là một cuộc lễ lớn. Ðáng buồn cho Augustin là sau khi ngài được rửa tội thì mẹ ngài chết và đây là thử thách cho niềm tin mới của ngài.

Cuốn tự thú kết thúc ở đây. Người con hoang đã trở về. Người quan sát và cầu nguyện cho người con suốt cả cuộc đời đã vào chốn nghỉ ngơi hằng mong đợi.

Cuộc đời của Augustin còn tiếp tục. Ngài lập dòng tu còn tồn tại đến ngày nay. Ngài chịu chức linh mục năm 391 do giám mục Valerius thành Hippo. Rồi khi giám mục chết 4 năm sau, Augustin được chỉ định thay thế ngài. Ngài có ảnh hưởng lớn lao trên giáo hội ngày nay, đã huấn luyện hàng giáo sĩ với 12 giám mục Phi châu là người của ngài và viết rất nhiều sách phi bác lạc giáo và chứng minh Kitô giáo theo truyền thống tông đồ.

27. Hậu quả trên bạn bè

Quyết định đầu tiên của tôi sau khi trở lại là bỏ nghề giáo sư tu từ. Bây giờ tôi thấy nghề này chẳng khác gì bán cái lưỡi gian dối không hơn không kém, dùng tài lợi khẩu không phải để phục vụ luật pháp hay sự bình an, nhưng để thắng những tranh chấp luật pháp. Cuộc trở lại của tôi xảy ra ba tuần trước khi hết khoá học và dù đau đớn khi phải làm thế, tôi cảm thấy mình không đúng với các học sinh đang học tôi.

Tôi nói đau đớn theo hai ý nghĩa. Linh thiêng, vì mọi ước muốn kiếm tiền không còn nữa và đó là lý do của mọi công việc tôi đã làm. Nhưng vật chất vì tôi bị đau phổi nên khó thở. Tuy nhiên hoàn cảnh này cho phép tôi hạn chế lớp học và công việc cho nên làm cho tiến trình thôi dậy học dễ dàng hơn. Cũng tránh cho tôi phải tuyên bố rằng tôi thành Kitô hữu tôi đã bỏ chức vụ nhiều tiền và được kính trọng.

Tâm trí tôi được tự do khỏi những ham muốn và giàu sang, cũng không bị cám dỗ về không trong sạch hay tà dâm. Tôi chỉ ngồi trong phòng và tâm sự với Chúa như đứa nhỏ lắm chuyện.

Hai người bạn và đồng chí Verecundus và Nebridius không có chia xẻ kinh nghiệm trong khu vườn của chúng tôi. Verecundus rất bực bội vì ông thấy hội của chúng tôi sẽ tan vỡ. Anh bị đức tin lôi kéo nhưng anh thấy vợ anh là chướng ngại duy nhất cho việc trở lại dù cho vợ anh là người công giáo. Chỉ vì như anh nói "Tôi không muốn là Kitô hữu nhưng kém hai người vì tôi không thể là người độc thân." Chúng tôi cố gắng khuyên nhủ anh là anh có thể hoàn toàn trung thành với Chúa trong tình trạng hôn nhân hiện tại. Nhưng khi đó anh không hoàn toàn bị khuất phục.....

28. Niềm vui của Thánh Thần

Khi khoá học chấm dứt tôi có thể dành thì giờ cho việc thiêng liêng nuôi linh hồn tôi. Tôi viết nhiều thư vài thư cho Nebridius cố gắng giải thích cho anh hay Chúa đã tỏ mình ra cho chúng tôi thế nào và làm chứng cho ơn Chúa trong cuộc sống của tôi. Và Chúa hoạt động trong tôi trên sự thô kệch và kiêu ngạo, làm cho tôi tuân phục và khiêm nhường, nhiều khi với những roi vọt nhiều khi với sự ban phúc làm cho tôi vui mừng.

Tôi lại khám phá ra những thánh vịnh của vua David, những ca vịnh tuyệt diệu về niềm tin với những lời trách cứ sự kiêu ngạo. Ðó là cuốn sách tôi dùng trong thời gian ở Cassiciacum. Tôi coi thánh vịnh David như của tôi, đọc lớn tiếng, để hi vọng cả nhân loại có thể trả lời cho sứ điệp của những thánh vịnh đó.

Tôi chỉ mới là tập sinh yêu Chúa, người khách lạ mới tới trong thế giới ơn sủng như Alipius.Nhưng có mẹ tôi ở với chúng tôi, người phụ nữ có niềm tin trưởng thành, càng thêm tuổi càng kiên nhẫn, sự thông cảm dịu dàng của một người mẹ, và sự đạo đức của người Kitô hữu đích thực. Trong khi chúng tôi học giáo lý và dần dần được giáo huấn về đức tin, thì bà luôn nâng đỡ và khuyến khích chúng tôi. Tôi cũng mở lòng cho Thánh Linh. Tôi đã nhận được ơn cứu độ. Chúa đã sai Con Ngài chết cho tội, cho Ngài sống lại từ cõi chết và tôn vinh Ngài trong vinh quang từ đó theo lời Kinh Thánh "Ngài tuôn tràn Thần Khí chân lý Ðấng an ủi." Thánh Thần đã ban cho tôi, điều này đã xảy ra nhưng tôi không ý thức về Ngài. Tôi đã được tha thứ nhưng tôi chưa có sự bình an toàn diện vì tôi còn lo lắng về những chuyên quá khứ đem đến tội lỗi và nhất là vì nhớ lại những tội trong quá khứ

Tại căn nhà miền quê của Verecundus Thánh Thần bắt đầu công việc êm dịu của người và mang niềm vui cho tâm hồn tôi. Qua đau khổ tôi đến gần người hơn.....

30. Một dịp ăn mừng

Thường khi hát thánh vịnh hay thánh ca trong nhà thờ tôi thường khóc vì vui vì thấy bài hát êm dịu và ý tứ chứa đựng chân lý. Nhà thờ ơ Milan khi chúng tôi tham dự luôn có bầu khí vui mừng ca tụng. Một năm trước đây Justina mẹ của hoàng đế Valentinian còn trẻ tuổi đã theo bà Arian và mưu toan đổi giám mục Ambrose đi vì ngài phi bác hoàn toàn những lý thuyết sai lạc của Ario về bản tính của Chúa. Cả cộng đồng luôn canh gác nhà thờ và vùng phụ cận sợ tay sai của bà đến làm hại hay giết giám mục Ambrose. Mẹ tôi và những người khác suốt ngày cầu nguyện để quân thù khỏi bạo động.

Trong lúc đó nhà thờ Milan dùng thánh vịnh và ca vịnh trong phụng vụ trước đây chỉ dùng trong giáo hội đông phương. Ðem thánh vịnh vào để giảm bớt căng thẳng khi phải canh thức lâu giờ nhưng sau đó lại hạn chế và việc thực hành này hiện nay không sử dụng trên toàn thế giới.

Từ lúc đó giáo hội đã được giải thoát một cách đặc biệt. Chúa tỏ cho thánh Ambrose trong một thị kiến nơi có hài cốt hai thánh tử đạo Gervasio và Protasio được dấu ẩn trong nhiều năm. Khi nấm mộ bí mật được mở ra và thì thấy Chúa đã giữ cho hai xác không hư thối. Ambrose thu xếp đem hài cốt vào chôn cất trong nhà thờ. Chính trong lúc chuyển xác mà phép lạ thực hiện. Một người mù trong thành phố ai cũng biết xin người hướng dẫn đem anh đi rước và được phép rờ quan tài của các thánh bằng khăn tay. Khi đã làm xong anh giụi khăn vào mất và lạ lùng thay anh kêu lớn tiếng vì khỏi mù, sự kiện này ai cũng biết hết......

31. Mẹ tôi qua đời

Một anh thanh niên cùng quê tên là Euodius đã trở lại và rửa tội cùng về nhà với chúng tôi. Anh cũng muốn theo luật sống và chúng tôi định về Carthage và tìm cách phục vụ Chúa tại đấy. Chúng tôi theo đường bộ về Ostia nơi cửa sông Tiber và định ở lại sửa soạn ít lâu cho cuộc vượt biển.

Một hôm mẹ tôi và tôi đứng nơi cửa sổ nhìn ra vườn trong căn nhà ở Ostia. Như mọi khi chúng tôi nói chuyện với nhau. Chủ đề là cuộc sống vĩnh cửu và cuộc sống của các thánh trên thiên đàng. Trong khi nói hình như câu chuyện của chúng tôi vươn lên cao như ra khỏi giới hạn của tâm trí. Chúng tôi cảm phục lòng nhân hậu Chúa và tiếp tục nói và nhìn vào lòng mình thấy như có bàn tay Chúa ở đó. Chúng tôi ý thức hiện tại và ý thức hiện tại rất rõ ràng: không phải cái quá khứ hay tương lai, nhưng cái hiện tại như chính Chúa. Trong khoảnh khắc lời nói của chúg tôi không phải của con người nữa. Tôi thực sự tin là mình đã nếm thử sự đời đời. Rồi chúng tôi thở dài và trở lại với những ngôn ngữ thường ngày và những giới hạn của nó. Nhưng bằng những lời đó chúng tôi muốn bắt lấy kinh nghiệm. Hình như vĩnh cửu là khi mọi xôn xao của thế giới lắng chìm, mọi miệng lưỡi con người không nói nữa, mọi tư tưởng con người không còn, mọi tưởng tượng giấc mơ ký hiệu hay tượng trưng đều dẹp bỏ, Và trong cõi yên lặng hùng vĩ đó chỉ có Chúa nói, không qua con người, hay chữ viết, tiếng thiên thần hay dụ ngôn, nhưng hình như chính Chúa đang tỏ bày mọi sự.

Bên cạnh thực thể vĩnh cửu đó, mọi niềm vui của trái đất dù cho tinh tuyền nhất hay thánh thiện nhất cũng biến đi như vô ý nghĩa. Kinh nghiệm như thế ban cho con người đã là kinh nghiệm của chúng tôi trong khoảnh khắc nhận thức. Ðây có phải chu toàn lời hứa "Hãy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi?" Nhưng điều này có thể xảy ra khi ta mang thân xác thịt? Chắc chắn phải đợi cho đến khi ta sống lại, biến đổi trong khoảnh khắc" đi vào cuộc sống của sự sống lại. Rồi chúng tôi nói đến không phải với những từ ngữ như thế. Nhưng Chúa biết hôm đó chúng tôi đi vào việc chia xẻ kinh nghiệm làm cho cuộc sống cũng thành hèn hạ và chúng tôi đã diễn tả với những thành ngữ như thế. Khi xong, mẹ tôi nói....

32. Buồn sầu và tin

Khi mẹ tôi chết tôi cúi xuống vuốt mắt mẹ. Ðột nhiên buồn sầu tràn ngập tâm hồn và tôi khóc thảm thiết. Con tôi là Adeodatus thấy bà chết khóc lớn tiếng nhưng chúng tôi bảo cháu im và cháu bình tĩnh lại. Tôi đè nén không khóc và khi đưa đám chúng tôi không thích tỏ ra buồn phiền hay than khóc. Chúng tôi coi chuyện đó chỉ dành cho những người tin rằng chết là hết hay là mất mát. Dù sao mẹ tôi cũng chết sung sướng. Nghĩa là mẹ tôi không chết vì tôi biết niềm tin của mẹ sẽ đưa mẹ tôi về thiên đàng.

Ðiều làm tôi đau khổ trong lòng chính là không được ở bên mẹ thân tình, chấm dứt một cái gì quí giá và độc đáo cho chúng tôi. Mẹ gọi tôi là đứa con tốt lành nhưng mẹ còn tốt với tôi rất nhiều và những điều mẹ làm cho tôi có giá trị biết bao.

Sau khi bà chết và Adeodatus đứng yên, Euodius bắt đầu hát thánh vịnh: "Lạy Chúa tôi ca tụng Chúa nhân từ và là quan án" và cả nhà hát với chúng tôi có cả những tín hữu và trong khi người ta sửa soạn đám táng thì tôi nói với họ. Tôi nghĩ hàng xóm sẽ nghĩ là tôi không biết buồn khổ. Nhưng tôi biết trong lòng tôi như thế nào dù bên ngoài không tỏ ra dấu gì.

Tuy nhiên khi mang xác mẹ tôi đi tôi đi theo không khóc cả khi dự thánh lễ tại nhà mộ theo phong tục hồi đó. Nhưng trong lòng tôi rất buồn và tôi xin Chúa cất hết sự buồn khổ của tôi như là một sự chối bỏ niềm tin.

Tôi nhớ lại người Hilạp tin rằng đi tắm thì sẽ hết buồn nhưng không giúp gì cho tôi cả. Sau khi tắm tôi buồn ngủ và khi thức dậy buồn khổ không còn nữa. Khi còn nằm trên giường bài thánh ca của Ambrose đến với tôi và giúp an ủi tôi:

"Chúa tạo nên trái đất con yêu
Ðặt mặt trời mặt trăng ở trên
Chúa ban ánh sáng tràn ngày sống
Bóng tối cho mắt ngủ đêm thâu...

Tôi bắt đầu nhớ lại mẹ tôi khi tôi còn nhỏ: bà luôn đạo đức hiền dịu và săn sóc. Rồi tôi lại khóc. Mọi giọt lệ tôi kiềm chế không nổi lại trào ra. Chỉ mình Chúa thấy tôi khóc nhưng tôi không cho đó là tội lỗi hay bất trung với nguyên tắc của tôi....

Hãy nghỉ bình yên với chồng của mẹ là Patricius mà mẹ đã đưa về cho Chúa. Hai người, cha mẹ tôi trong cuộc đời phù du này, cũng là anh em chị em của tôi trong giáo hội, và đồng bào của tôi trên thành thánh Jerusalem mới.

(C) Copyright 1990
by Rev. Ngo tuong Dzung, Texas, USA.

Kính chuyển

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 40 = TU THU CUA TH. AUGUSTINO PDF Print E-mail


Apr 6 at 9:22 PM
The Confessions of St. Augustine
Sách Tự Thú của Thánh Augustin
Rev. Ngô tường DZũng, Texas, USA
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Chương 5
Giây phút của sự thực

Augustin trở lại năm 32 tuổi, như thế tiến trình tìm hiểu rất kéo dài. Những chuỗi ngày đưa đến việc trở lại và những biến cố hiện nay là một trong những chứng từ trong lịch sử Kitô giáo. Từ lúc ngài cầu nguyện xin Chúa "làm cho con nên thánh nhưng đừng làm ngay" cho đến khi có vài đứa nhỏ hát trong sân chơi khiến ngài mở thư thánh Phaolô và đọc, câu chuyện của ngài có tất cả mọi đặc tính của một cuốn sách đạo cổ điển. Tất cả đều được kể lại với sự bình dị. Augustine không muốn mạ vàng bông hoa huệ.

Có nhiều nhân vật danh tiếng xuất hiện trong câu chuyện của Ngài. Ambrose là một trong những nhân vật đó, làm giám mục Milan và những ca khúc của ngài hiện nay giáo hội còn dùng để ca hát. Người khác là Simplicianus sửa soạn cho Augustin chịu phép rửa. Ông là người phụ tá Ambrose trong nhiều năm và sau khi thánh nhân chết, khi chính Simplicianus trở thành ông già, thì ông kế vị thánh nhân làm giám mục thành Milan.

Nhưng ảnh hưởng quyết định do một người giáo dân mới trở lại. Marius Victorinus là một nhà trí thức thời danh trong thời đó, một triết gia theo phái Neo Plato và là nhà tu từ. Việc ông trở lại đạo và nhất là việc ông công khai tuyên bố điều đó đã làm cho cả Milan xôn xao và dĩ nhiên ảnh hưởng tới sự thống hối của Augustin lúc đó đang còn do dự.

23. Những bước đi sau cùng: sức mạnh của chứng từ

Tôi đã đi đến chỗ không thể quay trở lại. Lời Chúa đã đi vào nội tâm linh hồn tôi. Tôi cảm thấy Chúa đang bao bọc tôi tôi không còn con đường nào trốn chạy được nữa. Tôi không còn hồ nghi sự sống đời đời của Chúa, cũng như liên hệ giữa một hữu thể vật chất và linh thiêng. Tôi đã trở lại tù trong lòng tôi. Tôi không còn tìm ra chứng cớ nào chống lại chân lý. Nhưng trong cuộc sống trần gian thì chưa giải quyết được truyện gì. Trái tim tôi vẫn còn bị ảnh hưởng xấu do thế gian và xác thịt. Càng cố gắng tôi càng không thể tưởng tượng cuộc sống không có dục tình. Tôi không tìm thấy lỗi lầm gì nơi Ðấng Duy nhất là đường, là Ðấng Cứu độ thế gian nhưng tôi không thể lôi kéo mình theo cửa hẹp đưa đến sự sống.

Lúc này Chúa dẫn tôi đến với một ông già khôn ngoan, Simplicianus mà từ thời niên thiếu đã sống đạo đức. Chính ông cũng đã dẫn giám mục Ambrose đến với Chúa trong những năm trước. Lúc này, khi đã già hình như đối với tôi ông có kinh nghiệm nhiều cũng như sự sáng suốt tinh thần có thể hướng dẫn tôi qua sự lo lắng hiện tại.

Vì thế tôi đến với ông và giải thích sự bế tắc của tôi: làm sao tôi đã kinh qua bao nhiêu kinh nghiệm, thụt lùi để tới tình trạng này, và tôi không còn thấy thoả mãn hay khoái lạc trong sự thành công ở đời hay sự tung hô của thế gian; tôi đã chán chường với kiểu sống của tôi và nhất là thân xác tôi luôn điều khiển ý chí và không có gì đem lại cho tôi niềm vui như Chúa. Nhưng tôi thêm là tôi bị mắc bẫy dục tình và rất yếu về luân lý nên luôn lựa chọn giải pháp dễ chịu và êm ái....

24. Vòng xích sắt

Câu chuyện Simplicianus kể cho tôi gây ảnh hưởng cho tôi. Tôi đột nhiên muốn hăng hái theo gương Victorinus. Sau đó trong thời hoàng đế Julian, Simplicianus cho tôi hay Victorinus phải chọn hoặc tiếp tục dậy tu từ hay chỉ học Thánh Kinh vì sắc lệnh hoàng đế không cho người Kitô hữu dậy văn chương hay tu từ. Dĩ nhiên Victorinus chọn con đường Lời Chúa. Tôi coi như ông có phước hơn là dứt khoát, khi có thể dễ dàng và rõ ràng quyết định như thế. Tôi ao ước có thể lựa chọn dễ dàng như thế. Tôi cảm thấy mình còn bị ràng buộc bằng xích sắt của Kẻ Thù dù tôi không muốn. Ðiều xảy ra cho chúng ta là những ước muốn không trong sạch phát xuất từ những tình cảm sai lạc và khi nhượng bộ chúng chúng ta tạo nên thói quen trở thành một thứ nhu cầu. Tiến trình này ràng buộc tôi như giây xích sắt. Ý chí mới của tôi muốn phụng sự Chúa không đủ mạnh để chiến thắng ý muốn cũ bị hư hoại, đã khó hơn vì thành thói quen. Vì thế hai ý muốn của tôi tranh chấp, cũ và mới, xác thịt và thần linh và cuộc tranh đấu làm cho tâm trí tôi rã rời.

Ðây là điều thánh Phaolô đã nói " Xác thịt tranh đấu cùng Thần Trí và Thần trí cùng xác thịt". Tôi dã kinh nghiệm điều mà thánh nhân và nhiều người khác đã có. Ðây không phải là điều độc đáo.

Chỉ vì ý chí tôi thất bại. Tôi như người đang ngủ thức dậy và muốn chỗi dậy và làm việc trong ngày, nhưng lại ngủ trở lại.Tâm trí bị thuyết phục nhưng thân xác không theo tín hiệu của nó.Chúa tỏ cho tôi điều tôi phải làm và tất cả câu trả lời là "Vâng, vâng, con đồng ý. Sớm sủa. Con sẽ làm ngay. Xin kiên nhẫn với con một chút nữa thôi." Nhưng thực sự cái sớm sủa càng ngày càng lâu và cái một ít nữa thôi thành một thời gian lâu....

25. "Hãy làm cho con nên thánh nhưng xin đừng làm ngay"

Câu chuyện của Victorinus có ảnh hưởng lớn trong cuộc đời của tôi và lại được củng cố do một kinh nghiệm mấy ngày sau. Một người bạn ở Phi châu tên Pontitianus thăm tôi và Alipius. Anh ta có địa vị cao trong dinh hoàng đế. Tôi không thể nhớ anh đến thăm chúng tôi vào dịp nào nhưng tôi còn nhớ rõ anh lấy cuốn sách thu thánh Phaolô trên bàn tôi. Hình như anh ngạc nhiên thấy cuốn sách ở đó và anh rất hài lòng. Khi tôi giải thích cho anh tôi dùng nhiều thời gian để học kinh thánh, anh lợi dụng dịp ấy cho tôi hay anh là người Kitô hữu và mới có dịp học hỏi những tác phẩm của một vị ẩn sĩ Ai cập là Anthony. Cả tôi và Alipius đã nghe nói về ngài cũng như sự canh tân tinh thần lớn lao kèm theo sứ vụ của ngài. Hàng ngàn người đã vào tu viện hiến thân cho việc cầu nguyện và phục vụ ngay giữa lòng sa mạc.

Hơn thế nữa Pontitianus còn kể cho chúng tôi hay có một tu viện đang phát triển ở Milan ngay ngoài thành phố, dưới sự coi sóc của Ambrose. Chúng tôi sống ở Milan mà không biết gì về chuyện đó. Rồi anh tiếp tục kể anh đã đi thăm Treves với ba công chức, trong khi hoàng đế dự cuộc tranh đấu buổi chiều ở hí trường. Cả bốn người chia làm hai nhóm và tình cờ đi vào phía gần thành phố và hai người trong bọn đã vào một lều tranh nơi có nhiều kitô hữu sống hoàn toàn trong sự từ bỏ. Họ là những người có tinh thần nghèo khó sẽ được thừa hưởng nước trời.

Tại đây hai ông đọc một cuốn sách của thánh Anthony. Ðọc xong anh ta bèn quyết định sống cuộc sống như thế không phải một ngày kia, hay càng sớm càng tốt hay một lúc lâu sau, nhưng ngay tại đó và lúc đó. Anh ngỏ ý cho người bạn nói anh muốn đoạn tuyệt cuộc sống hiện tại và tham vọng và gia nhập cộng đoàn nhỏ này ngay, không trở về thành phố nữa. Anh bạn bất ngờ thay cũng muốn ở lại.....

26. Một ngày trong khu vườn

Có một khu vườn trong nhà trọ của chúng tôi, chúng tôi được tự do sử dụng vì ông chủ nhà ở chỗ khác. Một hôm trong giai đoạn tâm trí xao động, tôi vào vườn với Alipius. Tôi cảm thấy mình đang bị khủng hoảng. Tiếng tôi yếu đi và lạ kỳ, mặt tôi nóng bừng và tôi bắt đầu khóc.

Tôi nói với Alipius "Anh nhìn, nhìn xem tình trạng của chúng ta này. Người không được giáo dục và bình dân thì là những Kitô hữu dấn thân còn chúng ta, học cho nhiều vẫn còn bị xác thịt hành hạ." Chúng tôi ngồi xa căn nhà, tôi thổn thức và khóc, anh thì bối rối và bất ngờ. Lúc này tôi thấy tất cả chỉ là vấn đề của ý chí. Ta không thể làm gì nếu ta không muốn dù cho là giơ tay hay hoạch định một chương trình du lịch trên đất hay trên biển. Ta phải có ý chí muốn làm điều đó một ý chí có quyết tâm và mạnh mẽ, không phải thứ ý chí nửa chừng, do dự hay lập lờ.

Khi liên quan đến cơ thể, trừ khi bị thương tật hay yếu đuối, ý chí và năng lực để làm chuyện gì luôn là một. Tôi nghĩ đến chuyện giơ tay và tôi làm chuyện ấy.

Nhưng tại sao tâm trí lại chậm rì trong việc tuân theo ý chí? Có phải khi ta muốn chuyện gì như cử động vật lý thì ta muốn toàn diện, còn khi ta muốn làm gì về luân lý hay tâm linh, chúng ta chỉ muốn một phần hay nửa vời? Chính sự do dự làm cho không hành động được. Chúng ta không làm điều ấy vì trong nội tâm ta không chắc mình làm điều ấy.

Lúc đó tôi ngồi trong vườn trong thế giới riêng tư của riêng tôi. Bản tính cũ của tôi thừa hưởng của Adam và tội của ông, cố gắng giữ tôi lại trong khi Chúa tăng cường tiếng gọi nội tâm, gọi tôi dứt khoát với con người cũ và sống lại như con người mới. Tôi tiếp tục nói với chính mình "Nào hãy để chuyện đó xảy ra bây giờ, xảy ra bây giờ" và khi tôi nói tôi quyết định làm điều ấy. Nhưng tôi đã không làm. Tôi cũng không đi vào bản tính của mình. Tôi như đứng ngoài chính mình và nhìn xem cuộc chiến. Tôi đứng đó lưng chừng giữa chết cho cái chết và sống cho cuộc sống. Tôi ngạc nhiên vì những tập quán xấu giữ tôi lại....

Khỏi cần phải nói mẹ tôi vui mừng khôn tả. Như bà nói "Chúa còn làm hơn cả những điều ta xin hay nghĩ tới." Bà nói thế vì bà chỉ giới hạn lời cầu nguyện cho tôi trở lại. Nhưng Chúa đã làm quá cho tôi khiến tôi quên cả tham vọng, ngay cả ước muốn có vợ, và quyết định dấn thân cho qui luật cuộc sống Chúa đã tỏ cho mẹ tôi trước đây bao nhiêu năm trước khi tôi chấp nhận, một sự chấp nhận mẹ không thể tin có thể xảy ra.

(C) Copyright 1990
by Rev. Ngo tuong Dzung, Texas, USA.

Kính chuyển

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 39 = SU THAT VA SU SONG PDF Print E-mail

Feb 25 at 6:45 PM
Ðạo, Sự Thật và Sự Sống
Linh Mục Nguyễn Công Ðoan, SJ, Việt Nam
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Tôi có đạo và đạo có tôi,
tôi ở trong đạo và đạo ở trong tôi,
Tôi có đạo không phải như có tiền có bạc.
Ðạo có tôi không phải như có chó có mèo.
Tôi có đạo cũng như tôi có xác có hồn,
xác cũng là tôi mà hồn cũng là tôi,
cả hai mới là tôi trọn vẹn,
vì cả xác hồn là cuộc sống, là tôi.
Tôi có đạo khi thành cuộc sống của tôi,
Ðạo có tôi khi tôi như một hiện thân của đạo.

Từng hơi thở, lời nói, cử động của tôi, đều là hơi thở, lời nói, cử chỉ của đạo. "Dù ăn, dù uống, dù làm chi đi nữa, thì hãy làm tất cả vì vinh danh Chúa" (1 Cor 10,31). Chỉ một mình Con Thiên Chúa mới có thể tự xưng "Ta là Ðạo". Và những người tự xưng có đạo nhưng đạo không thành cuộc sống trong họ thì ÐẠO sẽ nói vào mặt họ rằng: "Ta không biết các ngươi là ai" - nghĩa là "Ðạo không có các ngươi!"

Tôi có đạo, nghĩa là đạo ở trong tôi và đạo có tôi nghĩa là tôi ở trong Ðạo. Tôi ở trong đạo khi đạo thành sự thật trong tôi. Ðạo ở trong tôi khi tôi thành một hiện thân của Ðạo. Chỉ có Con Thiên Chúa mới được:

"TA LÀ SỰ THẬT"

còn tôi thì chỉ có thể ở trong sự thật và sự thật ở trong tôi. Tôi có thể thuộc về Sự Thật chứ Sự Thật không thể thuộc về tôi. Nếu tôi sống như Ngài đã sống (1 Jn 2,6) và yêu Ngài như Ngài đã yêu (1 Jn 3,16-19) thì tôi thuộc về sự thật ở trong tôi.

Tôi có đạo nghĩa là tôi có con đường đưa tới sự sống.

Nhưng có đường mà không đi thì cũng chẳng đến đâu. Không phải đi hết con đường mới được sống, mà bước lên đường là bắt đầu sống rồi: "Tôi viết cho anh em những điều này để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời, anh em là những người tin vào Danh của Con Thiên Chúa ấy mà" (1 Jn 5,13). "Thiên Chúa đã gởi Con Một của Ngài đến trần gian để chúng ta sống nhờ Người" (1 Jn 4,9).

Tin vào Con Thiên Chúa là theo Ðạo, mà theo Ðạo là có sự sống rồi, sự sống của Thiên Chúa ấy, cho nên:

"Hãy xem Cha đã ban cho ta Tình Yêu lớn lao thế nào, để ta được gọi là con Thiên Chúa và chúng ta thật sự là như thế" (1 Gio 3,1).

... Ngay từ bây giờ chúng ta là con Thiên Chúa rồi... Bởi vì Chúa Giêsu Con Thiên Chúa là ÐƯỜNG ÐI (ÐẠO), SỰ THẬT và SỰ SỐNG.

Nên khi bước theo Ngài, và Ngài bắt đầu thành sự thật trong tôi thì sự sống cũng bắt đầu trong tôi: tôi sống nhờ sự sống Thiên Chúa tuôn chảy từ trái tim Ngài. Và khi sự sống Ngài thấm nhuần, chiếm đoạt mọi đường gân thớ thịt, mọi hơi thở của tôi, khi trái tim Ngài đập trong tôi chứ không phải tim tôi nữa, thì đó là lúc "tôi sống mà không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi".

Lời đã thành xác phàm
Ngài đã thành một người
giống như chúng tôi
đã cắm lều, đã sống giữa chúng tôi:
ÐỨC GIÊSU KITÔ, CON THIÊN CHÚA,

và Ngài lại trở thành Lời vang đến tai tôi qua miệng các Tông Ðồ và đường dây Hội Thánh dài suốt 20 thế kỷ và còn kéo dài mãi đến tận thế. Ngài muốn lại thành xác phàm trong tôi để sự sống của Ngài tuôn chảy trong tôi, để Ngài lại có thể toát ra từ trong tôi mà thông sự sống của Ngài cho những ai gặp được.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa là Ðạo, là Sự Thật và Sự Sống
Xin hãy đến trong con
và trong thật nhiều người, mọi người
cho ÐẠO sáng lên
cho SỰ THẬT hiển hiện
cho SỰ SỐNG tuôn trào

đến mọi người
và mọi cảnh vực
của thế giới hôm nay.

Lạy Chúa con đây
xin Chúa nhận lấy...

Lm Nguyễn Công Đoan, SJ

Kính chuyển

Hồng

 
THIEN CHUA LA CHA CUA TOI # 37 = MOT NGUOI CHA PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] THIÊN CHÚA LÀ MỘT NGƯỜI CHA
Anthony Quang Dinh
Feb 4 at 11:01 PM

THIÊN CHÚA LÀ MỘT NGƯỜI CHA KHÔNG BAO GIỜ TỪ BỎ CON CÁI MÌNH
ĐỨC THÁNH CHA KHẲNG ĐỊNH
By Elise Harris
Vatican City, ngày 04-02-2014/02:14pm (EWTN News/CN A)

Trong Thánh Lễ hàng ngày , Đức Thánh Cha đã so sánh tình yêu của Thiên Chúa với hai người cha trong những bài đọc hôm nay, kể rằng Thiên Chúa là cha mẹ "khóc lóc" con cái và ước múôn chúng sống gần gũi với minh'.

"Đây là tấm lòng của một người cha, không bao giờ từ chối con minh'," Đức Thánh Cha nói trong Thánh Lễ ngày 04-02-2014, dựa vào sự tích trong sách Cựu Ước về sự bùôn rầu của vua Davit khi nghe con chết.

Dùng hình ảnh của ông Davit trong bài đọc thứ nhất, trích trong Quỷên sách thứ hai của Samuen, đức Thánh Cha trình bầy cho những người tập họp trong nhà nguỵên Thánh Martha của nhà khách Vatican, làm nổi bật sự bùôn rầu của Davit vè cái chết của đứa con trai, Ap-sa-lom. Mặc dù sự vịêc anh ta phản bội cha của anh ta,

Vua Davit đã thắng trận , nhưng ông đã không quan tâm vào sự chíên thắng, chỉ vì đứa con trai, Đưc Thánh Cha giải thích, nhấn mạnh rằng, mặc dù Ông Davit là hòang đế, ông cũng còn là một người cha, đấy là lý do tại sao ông đã đi lên phòng ở trên lầu và đã khóc lóc khi nghe tin Ap-sa-lom chết.

Trong lúc "ông đang đi ở xa, ông kêu lên "Ôi con tôi! Ap-sa-lom, Con tôi! Con tôi! Ap-sa-lom! Cha ước ao thế nào Cha đã ước chết thay con!" DTC nhớ lại, ghi nhận rằng :Davit không từ bỏ vai trò của một người cha của ông," nhưng thay vào đó "Ông khóc"

"Ông Davit khóc con hai lần, trong trường hợp này là một và một lần khác khi đứa con do ngọai tình mà có chết," DTC nhận thấy, vào trường hợp đó nữa, ông đã ăn chay va ăn năn thống hối để cứu mạng sống cho đứa con trai, "Vì Ông là một người cha!"

Trở lại bài đọc Phúc Âm theo ngày, trích Phúc Âm theo Thánh Mac-cô, DTC kéo sự chú ý đế ông Giai-rô, ông đến gần Chúa Giêsu ở trong Hội đường và xin Chúa chữa đứa con gái của ông.

Ông không e ngại sấp minh' dưới chân Chúa Giêsu mà cầu xin :Con gái bé bỏng của con đang chết dần, làm ơn đến và đặt tay trên nó như vậy nó được cứu và sống lại," DTC ghi chú, làm nổi bật rằng ông không quan tâm đến đìêu người ta nói, bởi vì ông là một người cha.

Dựa vào cả ông Davit và ông Giai-rô, DTC phanxicô dĩên tả "Vì họ có vấn đề quan trọng nhất là con trai, con gái của họ! không có vấn đề gì khác nữa. Đây là chỉ co một vấn đề quan trọng!"

Gợi lại những lời trong kinh Tin Kính khi ta tuyên xưng rằng "Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha tòan năng," DTC đã nhận thấy rằng "đìêu này khíên cho ta nghĩ đến địa vị người cha của Thiên Chúa," và "đối với ta Thiên Chúa tương tự như một người cha!"

Mặc dù một số người có thể nói rằng Thiên Chúa không tương tự như vậy, và không khóc lóc, DTC xác nhận "Có chứ, Chúa khóc!" và đã nhớ lại "Chúa đã khóc như thế nào khi hướng về thành Giê-ru-sa-lem," than rằng "Giêrusalem! Giêrusalem! Bíêt bao lần Ta đã ước ao tập họp con cái ngươi, như gà mẹ ủ ấp con dưới cánh?"

"Thiên Chúa khóc! Đức Giêsu đã khóc vì ta, và sự khóc của Đức Giêsu cách chính xác của Người Cha khóc, Người ước múôn mọi người đến với Chúa."

Nhấn mạnh rằng "Cha chúng ta nhận lời" của ta ngay cả trong những khó khăn của ta, DTC nói về ông Ap-ra-ham và I-sa-ac trong khi họ vác bó củi leo lên núi để híên tế.

"Ông I-sa-ac không phải là một người ngu ngốc." DTC giãi thích "ông đã ý thức rằng ông vác bó củi, mang lửa, nhưng không có con chiên híên tế. Ông đã nghĩ ra với sự lo bùôn trong lòng! Và ông đã nói đìêu gì? 'Thưa Cha!' Người đáp lại ngay "Cha đây, con!'"

Sau đó DTC nhận xét rằng chúng ta thấy một ván đề tương tự với Chúa Giêsu ở trong Vườn Giệt-si-ma-ni, người cầu nguỵên "với sự lo bùôn đau đơn ấy ở trong long :"Lậy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải úông chén này!"'

Nhớ lại rằng Thiên Chúa đã sai thiên thần đến yên ủi Chúa Giêsu, DTC nhắc lại "Đó là phương pháp Cha chúng ta dĩên ra: Người là một người Cha và một Người Cha tương tự như thế này.!"

"Vai trò một ngừơi Cha chúng ta," mà cả những người cha phần thể xác cũng như vai trò một người cha thiêng liêng của những giám mục, linh mục "phải trở nên như thế này," ĐTC giải nghĩa, và nói thêm rằng "một Người Cha có" một lọai "xức dầu thánh đến từ người con trai, người không tự hỉêu bíêt chính minh' mà không có con của minh'!"

Vì lý do này, người ghi chú, một người cha "càn có con của minh, người đang chờ đợi đứa con, yêu mến đứa con, tìm kíêm đứa con, tha thứ cho đứa con, múôn cho đứa con gần gũi minh', gần gũi đúng như con gà mẹ múôn ủ áp gà con dưới cánh."

Kết lụân bài giảng, Đức Thánh Cha khuýên khích những người có mặt tíêp tục suy gẫm những hình ảnh về ông Davit và Giai-rô, kể rằng "với hai hình tượng này, 'chúng ta hãy thưa :"Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha tòan năng."

"Để có thể nói về Thiên Chúa là 'CHA' trong long ta là một ân hụê của Chúa Thánh Thần," DTC đã suy nịêm, "Nào chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho đìêu này."

QQ gõ xong 04022014/07:30pm

__._,_.___

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 Next > End >>

Page 29 of 31