mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay522
mod_vvisit_counterHôm Qua7734
mod_vvisit_counterTuần Này38698
mod_vvisit_counterTuần Trước43672
mod_vvisit_counterTháng Này92418
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12288651

We have: 82 guests, 1 members online
Your IP: 34.228.30.69
 , 
Today: Dec 15, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Bánh Sự Sống
BANH SU SONG - CN34TN-B - LỄ CHUA KITO VUA PDF Print E-mail

Chú Nhật 34 Thường Niên năm B

Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ

Lời Chúa : Ga 18.33b-37

Giáo Hội mừng vương quyền của Chúa Giêsu vào cuối năm phụng vụ để nhấn mạnh rằng Ngài là đích điểm của mọi sự, mọi sự sẽ quy về Ngài.

Nghe nói đến tước vị vua, chúng ta thường có cảm thưởng Ngài như một vua trần thế, đứng đầu một nước, được toàn dân quy phục. Không, Ngài là một vị vua ngoại hạng, một vị vua không như các vua trần thế. Ngài là Vua tuyệt đối, không chỉ là một nước mà toàn thể vũ trụ, cả trời và đất, là vua vĩnh cửu vượt mọi ranh giới thời gian, không gian. Ngài là Vua Toàn Năng, mọi sự do Ngài mà có và sẽ quy tụ dưới quyền bính tuyệt đối của Ngài. Ngài là Vua vừa là Chúa chúng ta. Chúng ta thờ lạy suy tôn Ngài, vâng theo ý Ngài, hiến dâng mọi sự cho Ngài, vì Ngài là hạnh phúc của chúng ta, là lẽ sống của chúng ta. Ngoài Ngài ra, chúng ta không có gì cả.

Ngài là Thiên Chúa, Đấng tạo thành trời đất, nhưng là Thiên Chúa nhập thể. Dù Ngài đã làm người và ở giữa chúng ta, quyền bính tuyệt đối của Ngài vẫn không suy giảm. Ngài đã chịu đóng đinh trên thập giá như một tử tội dưới thời Phôngxiô Philatô, nhưng chính lúc đó Ngài mới thật sự là vua.

Người Do thái muốn tiêu diệt Ngài, vì Ngài đã cho họ biết, Ngài là Con Thiên Chúa. Trước tòa án Caipha, khi ông nầy hỏi Ngài : “ Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng đáng chúc tụng không ?” Ngài trả lời : “Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến”. Không có lời xác quyết nào mạnh hơn !

Trước mặt Philatô, Ngài là một bị cáo, một người tù, Ngài vẫn giữ một thái độ hết sức uy nghi, như một người tự do, ngang hàng với quan tổng trấn. Trong cuộc khổ nạn, nhiều lần tước hiệu Vua Itraen được lặp đi lặp lại nhiều lần và nhất là trước mặt Philatô, khi các đầu mục Do thái buộc tội Ngài là một người phá rối trật tự an ninh và cho mình là vua thiên sai, Philatô đã hỏi Ngài : “ Vậy ông là vua dân Do thái?” Ngài trả lời một cách uy nghi : “Chính ngài công nhận tôi là vua. Và Ngài giải thích cho Philatô biết tước vị vua của Ngài là gì : “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều nầy : đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Vua của chúng ta là đây, là Vua Sự Thật. Chính Ngài đã nói trước kia : “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”.

Chúng ta là thần dân của Nước Sự Thật. Và Sự Thật sẽ giải phóng các ngươi. Sống trong Sự Thật là tự do, gian dối là nô lệ. Chúa Giêsu không cần ngai vàng để tuyên bố quyền vua vĩnh cửu của Ngài. Đứng trước hận thù, nham hiểm, gian trá, Ngài chứng minh Ngài là vua Sự Thật, và Sự Thật là vĩnh cửu. Ngài dám liều mạng vì Sự Thật để cứu chúng ta là những kẻ sống trong tăm tối tội lỗi, đưa chúng ta vào ánh sáng vĩnh cửu của Ngài. Ngai vàng của Ngài chính là Sự Thật. Vinh quang của Ngài không là quyền uy, được mọi người bái phục suy tôn. Vinh quang của Ngài là đến để phục vụ và ban mạng sống làm giá chuộc cho muôn người. Ngài đến trong trần gian để chứng minh rằng Thiên Chúa đã yêu con người đến nỗi ban Con Một cho trần gian. Ngài chính là Người Con Một đó, là tiếng nói yêu thương của Chúa Cha. Vậy Ngài chính là Vua Tình Yêu. Tình Yêu của Ngài cũng là Sự Thật. Không thể tách rời Tình Yêu và Sự Thật. Tình yêu không có sự thật thì không thể là tình yêu.

Vì yêu thương chúng ta, Ngài đã nhập thể làm người, mang lấy kiếp người đọa đày của chúng ta. sống với chúng ta và chết cho chúng ta. Làm sao chúng ta có thể hiểu được chiều rộng cao sâu của tình yêu Ngài ? Đấng cao cả vô song đã trở thành nhỏ bé giữa trần gian ! “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”. Nhưng chúng ta vẫn tuyên xưng Ngài là Vua chúng ta. Một vì Vua khiêm nhường và hiền lành, một vì vua đầy lòng thương xót. Hạnh phúc cho chúng ta biết bao khi chúng ta đứng dưới cờ của một vì vua như thế !

Là thần dân của Vua nhân từ như thế, chúng ta hãy đi theo Ngài, sống như Ngài, yêu thương như Ngài và làm cho Nước Tình Yêu của Ngài lan rộng trong trần gian như Ngài mong ước.

Vua Giêsu không chỉ chết cho chúng ta mà thôi, Ngài luôn ở cùng TÔI mọi ngày cho đến tận thế, không chỉ ở gần mà Ngài còn cho TÔI ĂN NUỐT LỜI Ngài, . Làm sao có thể hiểu được hồng ân cao quí mà Ngài trao ban cho chúng ta ! Hãy biến tâm hồn, thành đền vàng cho Ngài để Ngài ngự trị và dùng mọi khả năng giúp mọi người nhận thấy tình yêu vô biên của Ngài và yêu mến Ngài như Ngài đáng được yêu.

Lm Trầm Phúc

Kính chuyển:

Hồng

---------------------------

 
BANH SU SONG - THU BAY CN33TN-B PDF Print E-mail

BÁNH SỰ SỐNG

Đổ máu đào vì Chúa Kitô.

24/11 – Thứ bảy tuần 33 thường niên – CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM.

Bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam. Lễ Trọng.

Kỷ niệm ngày thành lập Giáo Phận Long Xuyên: 24/11/1960 – 24/11/2018

Ngày cầu nguyện cho các Giám mục và Linh mục trong Giáo Phận đã qua đời.

"Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại biết".

* Hôm nay, phụng vụ kính nhớ 117 chứng nhân tử đạo Việt Nam. Các vị đã được tôn phong chân phước trong bốn đợt: Năm 1900, đức giáo hoàng Lê-ô XIII tôn phong 64 vị; đức giáo hoàng Pi-ô X tôn phong 8 vị năm 1906 và 20 vị năm 1909. Năm 1912, đức giáo hoàng Pi-ô XII tôn phong 25 vị. Tất cả 117 vị đều được đức giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, kể từ lúc Tin Mừng bắt đầu được loan báo tại Việt Nam, thế kỷ XVI, cho đến cuộc bách hại khốc liệt thế kỷ XIX, đã có nhiều chứng nhân anh dũng cả người Âu lẫn người Việt hy sinh thân mình vì Chúa Kitô.

Hồ sơ phong thánh và Các Giờ Kinh Phụng Vụ đặc biệt chú ý đến các tên tuổi sau: Người Việt Nam: thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục (+1839), thánh Tôma Trần văn Thiện, chủng sinh (+1838), thánh Phaolô Lê bảo Tịnh, linh mục (+1857), thánh Em-ma-nu-en Lê văn Phụng, giáo lý viên và người cha trong gia đình (+1859). Các tu sĩ Đaminh người Tây Ban Nha, thuộc Tỉnh Dòng Mân Côi: thánh Giêrônimô Hécmôxila Liêm, giám quản tông tòa địa phận Đông đàng ngoài (+1861), thánh Valentinô Beriô Ô-choa, giám mục (+1861) và một vị người Pháp thuộc Hội Thừa Sai Pari, thánh Tê-ô-phan Vêna (+1861).

Lời Chúa: Mt 10, 17-22

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết. Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì. Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì: vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con. Anh sẽ nộp em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ".

Làm chứng - Lc 9,23-29

Lâm nguy mới rõ tôi trung, vào sinh ra tử anh hùng ghi tên. Đó là lòng dũng cảm của hơn một trăm ngàn nhân chứng đức tin mà Giáo Hội Việt Nam mừng kính ngày hôm nay. Từ ngày đạo Chúa được rao giảng, lúc nào cũng có những tấm gương anh dũng như vậy.

Trong Cựu Ước, cụ già Eleazarô và bảy mẹ con Machbêo đã chết để làm vinh danh Chúa. Trong Tân Ước, khởi đầu bằng cuộc tàn sát các trẻ thơ vùng Belem, rồi đến việc chém đầu Gioan Tiền hô, tiếp đến là cuộc tử nạn của Chúa. Rồi từ Chúa, qua các tông đồ và mãi mãi về sau, ở mọi nơi và trong mọi lúc đều có những cuộc bách hại và cũng đều có những tấm gương anh dũng và bất khuất, mà hơn 100.000 các bậc tử đạo Việt Nam ngày hôm nay là một bằng chứng cụ thể.

Vậy các thánh tử đạo Việt Nam là những ai? Các ngài là những người như chúng ta, cũng biết đau khổ, cũng yêu mến sự sống, cũng sợ hãi trước cái chết. Và thực sự các ngài đã chết chỉ vì muốn trung thành với Chúa. Phần xác tuy chết nhưng tinh thần của các ngài vẫn bừng cháy trong dòng thời gian.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là ai? Các ngài là những Giám mục như Đức Cha Vinh, Đức cha Xuyên. Các ngài là những linh mục như cha Tịnh, cha Hưởng. Các ngài là những tu sĩ như thầy Khang, chú Bột. Các ngài là những viên chức phần đời như ông án Khảm, ông lý Mỹ. các ngài là những chức sắc phần đạo như ông trùm Đích, các ngài là những quân nhân như binh Thể, binh Huy, binh Đạt. Các ngài là những phụ nữ như bà Thành mà chúng ta quen gọi là thánh Đê. Các ngài đã ra đi với sự tự do tuyệt đối, với nụ cười tha thứ và với niềm tin kiên vững.

Trong suốt thời gian bị giam giữ, bị tra tấn và bị hành quyết, các ngài đã tỏ ra thái độ mến Chúa và yêu người ở một mức độ cao, khiến cho bọn lý hình cũng phải cảm phục và suy tư. Cha Triệu bị giam trong tù, ngài rất băn khoăn khi nghĩ đến mẹ già. Ngài xin được phép về quê thăm mẹ, và chú lính đi theo đã hỏi: Ngài yêu mẹ như thế, sao không chối đạo để về nuôi mẹ. Ngài trả lời: tôi yêu mẹ tôi lắm. Nhưng trên mẹ tôi còn có Thiên Chúa.

Hôm nay gặp được mẹ tôi trước ngày ra đi chịu chết, tôi thấy đã giữ trọn giới luật của Chúa. Tại pháp trường Bảy Mẫu tỉnh Nam định, bọn lý hình được lệnh xử lăng trì Đức cha Tuyên, chúng chặt tay chặt chân rồi đút một miếng thịt vào miệng ngài, Đức cha ngạc nhiên và nói: Tôi không ngờ người Việt Nam mà lại có thể độ như thế hay sao? Lời nói này làm cho một người trong bọn lý hình cảm động và trở lại. Vậy đâu là nguyên nhân đem lại cho các ngài sức mạnh và tình thương như thế?

Tôi xin thưa đó là chính Thiên Chúa. Thực vậy Đức Kitô đã nói với chúng ta: Các con đừng sợ những người có quyền giết xác nhưng hãy sợ Đấng có quyền giết cả xác lẫn hồn. Chúa dạy và Chúa ban cho những ai vâng giữ lời Ngài. Bởi thế từ Eleazarô, bảy mẹ con Macbêo cho đến Gioan Tẩy Giả và mãi mãi về sau, đều có một sức mạnh và một tình thương như thế. Các ngài tin rằng khi chịu cực hình, thì không chịu lẻ loi một mình, mà còn có Chúa ở bên cạnh.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Bởi thế thánh Phaolô đã nói: Tôi không có gì để khoe khoang ngoài sự yếu đuối, nhưng tôi lại có thể làm được mọi sự trong Đấng nâng đỡ tôi. Nhân ngày mừng kính các thánh tử đạo Việt Nam, BẠN VÀ TÔI hãy suy nghĩ như thế, hãy tin tưởng như thế, hãy cầu xin như thế, để khi gian nguy xảy đến, chúng ta sẽ có đủ sức mạnh và tình thương để làm chứng cho Chúa.

-------------------------------

 
BANH SU SONG -ONE BREAD, ONE BODY 21-11-2018 PDF Print E-mail

One Bread, One Body

Presentation of Mary

Revelation 4:1-11
View Readings Psalm 150:1-6 Luke 19:11-28
Similar Reflections

OUR PATRONAL FEAST

"A man of noble birth went to a faraway country to become its king, and then return. He summoned ten of his servants and gave them sums of ten units each." —Luke 19:12-13

Jesus has revealed to us the following principles of stewardship:

Stewardship is about meeting God's standards and not about comparing ourselves to others. "More will be asked of a man to whom more has been entrusted" (Lk 12:48).
Faithful stewards will be given greater responsibilities (Lk 19:17, 19).
Faithful stewards will receive the resources originally given to unfaithful stewards (Lk 19:24).
Thus, unfaithful stewards lose what they had (Lk 19:26). The old saying is true: "If you don't use it, you lose it."
Bad stewardship is often a matter of rebellion (see Lk 19:14, 27).
Bad stewardship will be punished (Lk 19:27).

Today is the patronal feast day of Our Lady of Presentation Ministries, who publishes One Bread, One Body. We have tried to be faithful stewards of our gifts, our time, and your money. Please pray that we will remain faithful. Thanks to all those who have worked hard for many years without pay in order to proclaim God's Word and invite all of us to live the Eucharist. We thank God for you and thank Him for the privilege of being His stewards.

Prayer: Father, may all members of Presentation Ministries be sanctified.
Promise: "Let everything that has breath praise the Lord! Alleluia." —Ps 150:6
Praise: Praise You, Jesus, for giving us Mary as our mother and model discipler. We glorify You in prayer and worship.

-----------------------------

 
BÁNH SỰ SỐNG - ONE BREAD, ONE BODY 20-11-2018 PDF Print E-mail

One Bread, One Body

Revelation 3:1-6, 14-22
View Readings Psalm 15:2-5 Luke 19:1-10
Similar Reflections

SEEING THE BLINDNESS

"Today salvation has come to this house." —Luke 19:9

Salvation came to Zacchaeus' house when Jesus, the Savior, came to his house and when Zacchaeus said: "I give half my belongings, Lord, to the poor. If I have defrauded anyone in the least, I pay him back fourfold" (Lk 19:8). Zacchaeus accepted Jesus and salvation by loving the poor, making radical changes in his lifestyle, and admitting that he may have defrauded others.

When we sin, we become spiritually blind and even blind to being blind. Nevertheless, Zacchaeus inferred that he may have been blind to injustices that he had done. This is a great grace when someone prays to be cleansed of their unknown faults (Ps 19:13) and thereby admits at least the possibility of spiritual blindness. Paul had this grace when he stated: "Mind you, I have nothing on my conscience. But that does not mean that I am declaring myself innocent" (1 Cor 4:4). Paul did not rule out the possibility of spiritual blindness. In contrast, the church of Laodicea did not realize how wretched, pitiable, poor, naked, and blind it was (Rv 3:17). This church needed to have its sight restored by smearing the ointment of repentance on its eyes (see Rv 3:18). However, like some of the Pharisees, the church of Laodicea said: "But we see," and their sin remained (Jn 9:41).

Eventually, blindness to spiritual blindness can become the unforgivable sin of blasphemy against the Spirit (Mt 12:31). How can we ask forgiveness when we've lost the sense of sin! With Zacchaeus, let us admit the possibility of spiritual blindness in our lives. This is part of accepting salvation into our houses.

Prayer: Father, open the eyes of our hearts (Eph 1:18 in the Greek) and of all who read this.
Promise: "I will never erase his name from the book of the living, but will acknowledge him in the presence of My Father." —Rv 3:5
Praise: Belinda repented deeply of years of living a lifestyle of sexual sins. She has since been receiving Jesus daily in the Eucharist for years.

----------------------------

 
BANH SU SONG - THU HAI CN33TN-B PDF Print E-mail

THỨ HAI TUẦN XXXIII THƯỜNG NIÊN B - NGÀY 19/11/2018

BÁNH SỰ SỐNG: TIN MỪNG Luca Lc 18: 35-43 - ANH MÙ ĂN XIN BÊN VỆ ĐƯỜNG

                  THƯA NGÀI, CHO TÔI ĐƯỢC XEM THẤY (câu 41)

Khi Đức Giêsu đến gần thành Giêrikhô, thì có một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường, khi nghe tiếng đám đông đi qua anh liền hỏi có chuyện gì đó. Người ta nói cho anh biết có Đức Giêsu Nagiarét đang đi qua. Bấy giờ anh liền kêu lên rằng: "Lạy ông Giêsu con vua Đavid, xin thương xót tôi". Những người đi trước mắng bảo anh nín đi, nhưng anh lại càng kêu lớn tiếng hơn: "Lạy con vua Đavid, xin thương xót tôi". Vậy Chúa Giêsu dừng lại, truyền dẫn anh đến cùng Người. Khi anh đến gần bên Người, Người hỏi anh: "Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?". Anh thưa: "Lạy Ngài, xin cho tôi được xem thấy". Chúa Giêsu bảo anh: "Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi". Tức khắc anh thấy được và anh đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa. Thấy vậy toàn dân liền ca ngợi Thiên Chúa.

Suy niệm/ GẶP ĐƯỢC LỜI CHÚA CON ĐÃ NUỐT VÀO (Gr 15, 16)

Thật là một sự trớ trêu, người mù hai mắt này chưa bao giờ gặp Chúa Giêsu, thế mà hôm nay khi thấy Người đi qua lại mạnh dạn tuyên xưng danh hiệu và sứ mạng của Người: “Lạy Con Vua Đavit, xin thương xót con” trong khi các môn đệ ở gần Chúa trong suốt những năm tháng dài lại không nhận ra sứ mệnh của Người.

Thì ra người không có mắt thân xác lại có mắt đức tin sáng chói. Chính sức mạnh của đức tin này đã mang lại sự sáng thể xác, như lời Chúa Giêsu nói: Đức tin của anh đã cứu chữa anh. Khi được sáng mắt, anh đã phấn khởi nhập vào đoàn người ca tụng tôn vinh Chúa.

Thứ đến, điều làm chúng ta ngạc nhiên là tại sao Chúa lại hỏi: anh muốn tôi làm gì cho anh? Câu hỏi xem ra thừa thãi. Vì người mù thì còn gì để muốn hơn là được xem thấy ánh sáng. Nhưng ý Chúa Giêsu muốn chính bệnh nhân xác định ý muốn của mình cách tự ý, công khai. Vì bệnh nhân cần phải nhận ra và ý thức về căn bệnh của mình. Nếu hệ thần kinh suy nhược thì không còn khả năng báo động về tình trạng bệnh tật của thân xác.

Về mặt tâm linh còn quan trọng hơn. Người tội lỗi trước hết cần nhận thấy tội lỗi của mình, đó là khởi đầu cho bước đường trở về, nếu trái tim đã xơ cứng, lương tâm đã chai lỳ không còn nhận được tội lỗi của mình nữa thì tình trạng tâm hồn đó thật nguy kịch. Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cảnh giác: nguy hiểm nhất của thời đại này là đánh mất ý thức về tội lỗi. Sau khi biết rõ con người yếu kém tội lỗi của mình, chúng ta cần phó thác tất cả vào lòng thương xót của Chúa, như anh mù thành Giêricô: ”Lạy Con Vua Đavit, xin thương xót con.”

Lạy Chúa, NHỜ THÁNH THẦN mở mắt tâm hồn con để nhận ra con người yếu đuối tội lỗi của mình. Như anh mù thành Giêricô QUYẾT TÂM XIN  CHÚA CHO được sáng mắt THỂ XAC VÀ TÂM HÔN ĐỂ hân hoan bước theo Chúa. Chúng con sau khi lãnh nhận được ơn thánh Chúa, cũng sẵn sàng bước theo Chúa để làm chứng BẰNG VIỆC LÀM về tình yêu Chúa cho mọi người. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

Kính chuyển:

Hồng

-------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 134