mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4510
mod_vvisit_counterHôm Qua7758
mod_vvisit_counterTuần Này12268
mod_vvisit_counterTuần Trước54053
mod_vvisit_counterTháng Này214452
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11179045

We have: 109 guests online
Your IP: 54.80.198.173
 , 
Today: Jun 25, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



The News
VAN HOA VA GIA DINH # 32 = MUA VU LAN BAO HIEU PDF Print E-mail

 

MÙA VU LAN BÁO HIẾU

NHẮC ĐẾN MẸ CỦA BẠN

Mẹ của bạn mang thai bạn trong suốt chín tháng, nhiều tháng trong số chín tháng ấy, bà phải chịu đựng sự thay đổi khó chịu của cơ thể, chóng mặt và buồn nôn. Bà cũng phải chịu đựng đôi chân của mình sưng lên và da của bà cũng bị kéo giãn. Vì mang thai bạn, bà phải vật lộn mỗi khi leo cầu thang, thở dốc và mất sức rất nhanh. Bà gặp khó khăn, ngay cả khi chỉ làm một việc đơn giản như buộc dây giày.

Trong suốt chín tháng ấy, nhiều đêm bà mất ngủ vì bạn thúc và đạp, loay hoay xoay chuyển cơ thể bên trong tử cung của bà, và ngay khi bạn có "yêu cầu", bà phải trở dậy để ăn những thứ thức ăn tưởng chừng như vô lý vào lúc 2, 3 giờ sáng. Và, bà đã phải trải qua cơn đau đớn tột cùng để có thể đưa bạn vào thế giới này.

Bà đã trở thành y tá, đầu bếp, người giúp việc, tài xế, fan hâm mộ lớn nhất của bạn, giáo viên và người bạn thân nhất của bạn. Bà đấu tranh cho bạn, khóc vì bạn, chiến đấu cho bạn, đặt mình ở vị trí thứ hai vì bạn, mong muốn những điều tốt nhất cho bạn, lo lắng đến phát điên lên vì bạn... Nhưng không bao giờ có bà yêu cầu bất cứ điều gì từ bạn.

Vì bà yêu bạn và đã làm tất cả những điều ấy vì tình yêu đó, vô điều kiện ! Rất nhiều người trong số chúng ta "quên" đi mất những gì mẹ đã làm cho mình và cho rằng đó là điều đương nhiên. Nhưng cũng có những người đã không còn mẹ, hoặc thậm chí còn chưa bao giờ được nhìn thấy mẹ. Nếu bạn có một người mẹ yêu thương, người đã làm tất cả cho bạn, bạn đang rất may mắn !

Đừng bao giờ làm mẹ đau lòng, vì có ngày bạn sẽ phải hối hận vì điều ấy !

KHUYẾT DANH

-----------------

Các Mục Khác :

 

CUỘC CHIẾN TRIỀN MIÊN

Hậu quả của tội nguyên tổ quả là khủng khiếp ! Satan thật giả dối, gian ngoa, quỷ quyệt ! Con người khi đã chấp nhận buông theo sự hướng dẫn của Satan thì chắc hẳn phải đi vào chỗ chết, chết ngàn thu. Đáng buồn thay, cái chết ngàn thu ấy được Satan phác họa bằng một sự sống đầy tham vọng, giàu sang phú quí, đầy dư khoái lạc ở đời này.

Nếu Chúa Giêsu không xuống thế gian này để dùng Lời Ngài và chính cái chết của Ngài mà cứu con người được sống, thì con người vẫn mãi mãi chìm trong cái chết kinh hoàng ấy, trong cái vỏ bọc của một sự sống tưởng như là tuyệt vời !

Rõ ràng là Chúa Giêsu đã đến và khởi xướng một cuộc chiến tranh triền miên trong cõi đất này, cuộc chiến giữa Sự Sống Vĩnh Cửu và Sự Chết Ngàn Thu.

Trong khi Chúa Giêsu, Sự-Sống-Vĩnh-Cửu, muốn cho tất cả con người được sống không chỉ đời này, mà còn đời sau nữa, và đời đời trong Nước Thiên Chúa, thì Satan, Sự-Chết-Ngàn-Thu, lại lôi kéo con người ta về phía chỉ muốn sống sung túc khoái lạc ở đời này, không cần có đời sau, đời đời. Càng nhiều người quên đi, hoặc không cần có đời sau, thì Satan càng mãn nguyện, vì chúng luôn luôn chống lại Thiên Chúa.

"Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ".

Chính Lời Ngài đã mở lòng trí con người phân biệt thiện, ác; sống, chết; thật, giả... và cũng chính Lời Người là sự Thiện, Sự Thật, Sự Sống làm cho cái ác, cái chết, cái giả dối phải hổ ngươi bẽ mặt.

Cuộc chiến ấy, trước tiên ngay trong lòng mỗi người, và từng giây phút, từng ngày. Con người phải tự chia rẽ chính mình. Cũng trong một con người mà cái thiện cái ác, cái thật cái giả vẫn cùng nhau canh cánh. Bao lâu hãy còn sống đây, trên cõi đất này, thì dù là người có học cao, học rộng, có chức, có quyền, có nhiều đời nhiều năm theo đạo, sống đạo..., có ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình đang hoàn toàn thuộc về Sự Thiện, Sự Thật, Sự Sống đời đời.

Thăm viếng và giúp đỡ cụ Giacôbê trong những ngày cụ lâm bịnh nặng, chúng tôi nghe rõ lời tâm sự của cụ với từng đứa con lúc riêng tư ngồi bên cha, chăm sóc cho cha, cũng chỉ một nội dung: "Hành trình Đức Tin là một cuộc chiến triền miên nghe con. Nhớ là: ma quỷ sàng con như sàng gạo. Ma quỷ rất ác độc nhưng cũng rất dễ thương, rất hung dữ nhưng cũng rất nhỏ nhẹ, rất thô lỗ cộc cằn nhưng cũng rất ngọt ngào, nịnh nọt... Không cảnh giác, con rất dễ thua cuộc đó. Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giêsu mới chiến thắng được con à".

Thiết nghĩ cụ đang nói đến cuộc chiến triền miên trong mỗi con người. Tôi vẫn tâm đắc nhất là câu kết của cụ: "Con phải chiến thắng. Nhưng phải nhờ đến tình yêu và sức mạnh của Chúa Giêsu mới chiến thắng được con à".

Tôi có cảm giác đây là cả một kinh nghiệm chiến trường của cụ, khi cụ dùng hai từ "tình yêu và sức mạnh" của Chúa Giêsu.

Tình yêu ấy được Chúa Giê su đề cập trong đoạn đầu Tin Mừng hôm nay: "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !"

Ngọn Lửa của Thiên Chúa Cha được Chúa Giêsu mang đến cho trần gian, là lửa của Thánh Thần Chân Lý, lửa của Thánh Thần Tình Yêu: "Ai yêu mến Sự Thật, thì nghe tiếng tôi". "Ai sống trong Tình Yêu là thực sống trong Chúa".

Như vậy, phàm ai không yêu mến Sự Thật thì không nghe tiếng Chúa Giêsu, thì chống đối Chúa Giêsu. Từ đó, trong thế giới loài người xảy ra sự phân rẽ giữa những người theo Chúa và người không chấp nhận theo Chúa, theo giáo lý của Chúa, theo con đường của Chúa. Cũng vậy, ai không sống trong Tình Yêu đích thực của Thiên Chúa thì chống lại Thiên Chúa. Không phải là một sự phân chia rõ ràng, một cuộc chiến triền miên đấy sao ? Cụ thể hơn, ngay chính trong lòng mỗi người, mỗi người luôn phải ra sức chiến đấu để được sống đời đời, thì hẳn nhiên phải sẵn sàng tuyên chiến với cái giả trá điêu ngoa, với cái ác tiềm ẩn trong lòng, do ma quỷ điều khiển. Không ai có thể ỡm ờ, lấp lửng giữa Thiện và Ác, giữa Thiên Chúa và ma quỷ. Phải dứt khoát với điều Ác để đón nhận cái Thiện của Thiên Chúa.

Ghi nhận cảm nghiệm về một hành trình Đức Tin đã đi qua của một cụ già, thiết tưởng mỗi người chúng ta phải ngộ ra chúng ta đang là những người lính anh dũng trong cuộc chiến tranh triền miên và hơn thế nữa, phải chiến thắng để bảo vệ Đức Tin, làm chứng cho Sự Thật, cho Sự Sống đời đời. Và chỉ trong Giêsu, chúng ta mới chiến thắng trong cuộc chiến triền miên ở cõi đất này, để chúng ta dành lấy một nền hòa bình là chính sự bình an tâm hồn khi hãy còn sống và chiếm hữu một chỗ trong Nước Thiên Chúa, Nước Hòa Bình.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu, chân lý. Xin chính Ngài trở nên sức mạnh của mỗi chúng con trong cuộc chiến triền miên gian khó này. Amen.

PM. CAO HUY HOÀNG, 16.8.2013

---------------

BÌNH AN VĨNH CỬU

Nếu chỉ đọc mà không suy niệm Lời Chúa cẩn thận, có lẽ chúng ta sẽ khó hiểu được thông suốt giáo huấn của Ngài. Nhưng đọc và suy niệm dưới tác động của ơn Chúa Thánh Thần, Lời Chúa sẽ trở thành lương thực trường tồn cho chúng ta.

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu khẳng định Ngài đến thế gian không phải mang hòa bình cho trái đất, nhưng chính là đem sự chia rẽ ( x. Lc 12, 51 ). Sự chia rẽ Ngài đề cập đến ở đây chính là sự tranh đấu để sống và thực hành Lời Chúa. Đường lối của Ngài tốt lành, thánh thiện đấy, nhưng không phải đều được mọi người chấp nhận. Trong cùng một gia đình, ở nơi mỗi cá vị lại đón nhận, hiểu và thực hành Lời Chúa khác nhau. Tất nhiên mọi người đều phải chịu tác động dưới giáo huấn của Hội thánh, nhưng việc thực thi Lời Chúa cụ thể trong đời sống thường nhật lại hoàn toàn khác biệt. Không phải tất cả mọi người nghe đấy, đọc đấy, suy niệm đấy đều có thể thông suốt và thi hành hết được đâu. Bởi sống và thực hành Lời Chúa chính là đi vào con đường hẹp, con đường hoàn toàn trái ngược với đường lối của nhân loại.

Thế giới yêu chuộng tự do, đề cao nhân quyền và phục vụ hết mình cho nhu cầu bản thân, trong khi đó Đức Giêsu lại kêu gọi những ai bước theo Ngài phải từ bỏ mình, phải hy sinh, phải chết đi với chính mình để sống cho Thiên Chúa và tha nhân. Đạo lý Ngài hoàn toàn đúng đắn, đưa con người đến Sự Thật toàn vẹn về cùng đích cuộc đời. Thế nhưng, con người từ khước chỉ vì đường lối ấy khiến họ phải từ bỏ mình, phải mất mát, phải cho đi. Thế giới ngày nay ai cũng muốn thu tích về cho mình, ai cũng muốn dành phần hơn, chức vụ cao nhất, quyến lực lớn nhất, giàu có nhất, xinh đẹp nhất, tài giỏi nhất... và nếu ai cũng chiếm chỗ nhất, lấy ai làm người rốt hết đây ?

Cái chia rẽ mà Đức Giêsu nói đến chính là sự chia rẽ trong tâm hồn, là sự xa cách vì khác biệt giữa thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, chân lý và tội lỗi. Những đường lối, những quan niệm, những cách sống khác nhau, không theo chuẩn mực và đạo lý của Thiên Chúa. Bao lâu nhân loại còn tách rời với Chân Lý, thì bấy lâu chiến tranh của chia rẽ hận thù không chỉ trong gia đình, ngoài xã hội mà còn trên cả thế giới vẫn tiếp tục tiếp diễn "Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba" ( Lc 12, 52 ).

Nhưng sự chia rẽ đáng sợ hơn chính là sự chia rẽ trong tâm hồn giữa con người với Thiên Chúa. Giả như bạn không tìm được bình an trong mối thông hiệp giữa mình và Ngài, thì làm sao có được sự an bình với tha nhân. Cũng phải thôi, bạn chưa am hiểu, chưa có được sự thân tình với Thiên Chúa làm sao bạn có thể hiểu và sống được Lời Ngài với tha nhân ?

Hơn bao giờ hết, thế giới đương đại đang ngày từng ngày gióng lên những hồi chuông thảm thiết về bạo động trong gia đình. Dường như con người đang dần dần mất đi cả nhân tính, để rồi cha giết con, chồng giết vợ, con thảm sát bố mẹ. Những phương tiện truyền thông không ngừng đăng tải những tin tức động trời của khắp bốn phương trời về những bạo động trong gia đình. Nguyên nhân từ đâu ra, cũng là từ sự suy thoái đạo đức trong gia đình, khi con người loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống mình.

Lạy Chúa, mỗi ngày con càng nhận ra không gì khôn ngoan hơn việc bảo vệ Lời Chúa bằng chính đời sống. Hành động là bằng chứng hùng hồn về Đức Tin và nếu luôn biết thực thi Lời Chúa, thì không còn niềm bình an nào đích thực hơn.

Xin Chúa giúp con, khi đang tồn tại giữa một thế giới xô bồ, hỗn loạn, luôn có được niềm vui bình an đích thực trong tâm hồn, vì Lời Chúa đã chính là ánh sáng Chân Lý, là ngọn đèn Đức Tin giúp con vượt qua mọi cạm bẫy, bóng tối và sự dữ.

Ước gì con giữ được mãi niềm tin vững chắc và sự can đảm vào Lời Chúa để có thể đứng vững trước mọi cảm bẫy cuộc đời, cho dù có phải đánh mất tất cả, cũng không cướp được niềm vui an bình vĩnh cửu Thiên Chúa ban tặng nơi tâm lòng con, không gian dối, giả trá như nhân loại đang dành tặng cho nhau.

M. HOÀNG THị THÙY TRANG

------------

BÌNH AN CHỈ CÓ KHI SỰ THẬT LÊN NGÔI

Nếu Tin Mừng Chúa Nhật 18, Đức Giêsu kêu gọi hãy dùng tiền của bất chính để mua lấy Nước Trời để được hạnh phúc thật, và Chúa Nhật 19, Ngài nhấn mạnh đến thái độ "sẵn sàng"; "tỉnh thức" để đón chờ Chúa đến trong ngày Quang Lâm, thì Chúa Nhật 20 này, Đức Giêsu chuyển sang một hướng khác, một đề tài liên quan trực tiếp đến sứ mạng và chương trình cứu độ của Ngài, khi loan báo về cuộc thương khó cũng như cái chết.

Bài Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần:

- Phần I, Đức Giêsu muốn nói đến sứ mạng Thiên Sai của Ngài;

- Phần II, Ngài tiên báo về những hệ lụy do sứ mạng Ngài mang lại.

1. Sứ mạng Thiên Sai của Đức Giêsu

Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, Ngài đến để cứu độ con người, nhưng Ngài cứu độ không bằng quyền bính, mà bằng chính cái chết của mình để cứu độ nhân loại. Thật thế, qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ biết về sứ mạng của Ngài: "Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất".

Phép rửa mà Đức Giêsu muốn nói ở đây chính là sự thương khó và cái chết của Ngài. Đồng thời những ai muốn bước theo Ngài thì cũng phải đón nhận phép rửa như Ngài đã chịu, tức là từ bỏ ý riêng, để vâng theo ý Chúa, sẵn sàng hy sinh và chấp nhận cả cái chết để sống và làm chứng về những giá trị Tin Mừng.

Phép rửa và sứ mạng ấy, Đức Giêsu mong muốn cho mau đến: "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên" Ngọn "Lửa" ấy chính là Chúa Thánh Thần. Người đến để thanh luyện những tâm hồn sỏi đá, phân biệt sự thật và giả dối, Người đến còn là để xét xử trần gian.

Ngọn "Lửa" ấy cũng chính là ngọn "Lửa" của Tình Yêu, Sự Thật, Công Bình.

Như vậy, Đức Giêsu ao ước cho "Lửa" ấy bùng cháy lên để biến đổi trái đất này thành Trời mới Đất mới, những tâm hồn trai cứng thành mềm dẻo, biết yêu thương nhau, nâng đỡ và đồng hành với nhau để làm chứng cho Chúa trong sự thật, để yêu thương anh chị em như anh em một nhà.

Làm được điều đó là chúng ta đã đi vào trong quỹ đạo của Thiên Chúa, một quỹ đạo của sự thật, yêu thương, bình an và hoan lạc.

Nhưng để đạt được điều đó thật không dễ, bởi vì nó đòi hỏi ta phải sẵn sàng chấp nhận hy sinh, thử thách, đau thương; phải chấp nhận hủy mình ra không để thánh ý Thiên Chúa được thể hiện, chấp nhận hủy diệt bản thân mình như hạt lúa gieo vào lòng đất, tức là chấp nhận cái chết: chết đi cho con người cũ là con người tội lỗi, để thay vào đó là một con người mới, tâm hồn mới và thái độ mới theo hình ảnh của Đức Kitô.

2. Những hệ lụy của đời chứng nhân

Sau khi đã nói về sứ mạng của Mình, Đức Giêsu muốn đi xa hơn để tiên báo về những hệ lụy sẽ xảy đến cho cuộc đời của người môn đệ, Ngài nói: "Các con tưởng rằng Thầy đến đem hòa bình cho trần gian ? Thầy bảo cho các con biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ" ( Lc 12, 49.51 ).

Mới nghe, chúng ta có cảm tưởng rất nghịch lý và mâu thuẫn nội tại. Tức là mâu thuẫn với chính Đức Giêsu, bởi vì Ngài được mệnh danh là "Hoàng Tử Hòa Bình", hơn nữa, Ngài đến để đem bình an cho nhân loại ! Ấy vậy mà hôm nay, Ngài lại bảo: tôi đến để đem chia rẽ ?

Nhưng không ! Qua câu nói đó, Đức Giêsu muốn cho chúng ta hiểu một cách sâu xa hơn rằng: con đường bình an của Ngài là con đường hy sinh, của từ bỏ; con đường của sự chết vì chân lý. Và, muốn có được bình an thì phải đi trên con đường đó, để làm chứng cho sự thật, bảo vệ cho công lý, và xây dựng hòa bình. Chính Đức Giêsu cũng chỉ vì Sự Thật mà phải chết. Ngài không bị kết án vì đã dạy cho con người sống tốt; Ngài cũng không bị kết án vì đã làm ơn cho kẻ khác; nhưng Ngài bị kết án chỉ vì dám nói, sống và làm chứng về sự thật.

Như vậy, bình an của Chúa chỉ có thể đến được với những người có tâm hồn thật thà, ngay thẳng, biết lắng nghe, và thực hành Lời Chúa. Bình an của Đức Giêsu không phải là một thứ bình an theo kiểu người đời trao tặng cho nhau, cũng không phải là một thứ bình an làm cho con người ngủ mê... Nhưng bình an của Đức Giêsu đem đến cho nhân loại chính là thứ bình an chỉ có được qua hy sinh, được tôi luyện bằng những thử thách, và được lớn lên trong khuôn khổ thập giá.

Quả thật, hôm nay, lời của Đức Giêsu như là một lời tiên tri cho chính Ngài và sứ vụ của các môn đệ: sẽ có nhiều người chống đối vì họ không thể chấp nhận và thay đổi. Họ không muốn sống theo sự thật. Vì thế, ngay trong gia đình cũng luôn xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng vì có người theo và có người không theo; sẽ xảy ra những sự chia rẽ giữa những người tin và những người không tin: "Năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng".

Qua câu nói này, Đức Giêsu muốn dạy rằng: bình an chỉ có thể có khi sự thật, công lý được lên ngôi.

3. Bình an chỉ có được khi Sự Thật được tôn trọng

Tuy nhiên, trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta không dám nói lên sự thật chỉ vì chúng ta sợ mất lòng và bị người ta ghét bỏ. Hơn nữa, có khi chúng ta lại còn đứng về phía bất công để kết án những người lương thiện chỉ vì họ sống thật thà với một lương tâm ngay thẳng.

Trong buôn bán, có nhiều kẻ ghét những người buôn bán thật thà; người hay nói dối ( nổ ) thì lại ghét những người nói thật... trong gia đình, những đứa con hay nịnh bợ thì lại được cha mẹ yêu hơn, còn những đứa con thật thà thì lại không được yêu...

Nhưng là Kitô hữu, chúng ta muốn được bình an thực sự của Chúa, chúng ta không có con đường nào khác, đó là con đường thập giá, con đường của chính Đức Giêsu đã đi. Khi đứng về phía sự thật, là chúng ta chấp nhận những hệ lụy như chính Đức Giêsu đã chịu. Hậu quả đó có thể do ghen tức, trục lợi, hoặc chỉ vì dám nói lên những điều ngay thẳng...

Đọc chuyện các Thánh Tử Đạo Việt Nam chúng ta thấy rất rõ điều này: có những đấng bị chính con cái tố cáo, bỏ tù chỉ vì ghen ghét; có những đấng bị bắt chỉ vì người nhà, bạn bè, học trò ham tiền, trục lợi... Khi bị bắt rồi, các ngài không chịu nói dối để được tha, thậm chí còn nhân cơ hội ấy để nói và làm chứng cho vua chúa quan quyền thời bấy giờ về sự thật, thế nên các ngài đã phải đón nhận cái chết như một sự trả lẽ cho Sự Thật.

Như vậy, muốn có hòa bình thực sự là khi và chỉ khi chúng ta đã quyết liệt chiến đấu để lựa chọn. Hòa bình chỉ có được khi nó thực sự tách biệt khỏi gian dối, hận thù và ghen tương; tách bóng tối ra khỏi ánh sáng nhờ ngọn "Lửa" của Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu đã ban xuống cho nhân loại.

Mong sao, tâm tư của Đức Giêsu sớm được thực hiện trên trần gian này: "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên".

Lạy Chúa, xin giúp cho chúng con hiểu rằng: muốn có được bình an đích thực là chúng con phải từ bỏ con đường tội lỗi, hận thù và ghen ghét; đồng thời phải can đảm sống và làm chứng cho sự thật, một sự thật toàn vẹn.

Ước gì ngọn lửa của tình yêu, sự thật và lòng mến thiêu đốt tâm hồn chúng con, để tâm hồn chúng con được bình an và đáng hưởng sự sống vĩnh cửu trong cuộc sống mai hậu. Amen.

Tu Sĩ Jos. Vinc. NGỌC BIỂN

-----------------

TRUNG NGÔN NGHỊCH NHĨ

Khi cha Gioan Vianney đi rao giảng và giải tội cho Giáo Dân các Xứ, giúp các Linh Mục ở các xứ quanh đó, thì các ngài bằng lòng và khen cha Gioan là người đạo đức sốt sắng. Nhưng khi thấy con chiên trong xứ của mình đua nhau đến Họ Đạo Ars để xưng tội với cha Gioan, liền sinh lòng ghen ghét và trách cha Gioan:

"Cha Gioan dốt lắm, Latinh không biết tiếng nào, phải học đi học lại thần học hai ba lần mà không hiểu, không nhớ. Chỉ nhờ thế của cha Balley, xin bề trên cho, mới không bị đuổi khỏi Chủng Viện và được làm Linh Mục. Đúng ra cha Gioan phải biết mình kém cỏi, phải đặt mình dưới các Linh Mục khác. Ai ngờ, cha lại dám tranh quyền với các Linh Mục thông thái và thánh thiện hơn mình, và đặt mình lên làm thầy dạy dỗ, coi sóc linh hồn giáo hữu của cả miền này..."

Lại có đấng khác nói những lời nặng hơn:

"Cha Gioan tình tình lạ lùng, khác thường, không theo cách ăn ở của Linh Mục. Cha ăn chay hãm mình, mặc áo cũ rich, lấy cái vẻ bề ngoài cho người ta kính trọng và khen ngợi, làm mồi nhử người đến xưng tội với mình. Ai đến xưng tội thì bỏ bùa nó, khiến những kẻ đó xưng tội với cha Gioan về, luôn khen cha là nhân đức, là thánh sống, và chỉ nghe theo lời cha dạy bảo, không còn nghe lời cha xứ của mình dạy bảo nữa."

Có cha còn cấm hẳn Giáo Dân của mình đến Họ Đạo Ars xưng tội với cha Gioan. Có nhiều cha khi giảng lễ Chúa Nhật, vừa khuyên vừa cấm con chiên của mình đi xưng tội với cha xứ Ars, và nói nhiều điều xấu làm hại thanh danh cha Gioan.

Giáo Dân thấy cha xứ của mình nói xấu, bôi nhọ cha Gioan, liền nghi cha xứ mình ghen tức, nên càng không tin, không nghe lời các cha ấy; lại rủ nhau đến Ars xưng tội với cha Gioan đông hơn, họ đi từng đoàn năm mươi người, một trăm người đông hơn trước. Có nhiều Linh Mục chánh xứ thấy mình không bảo được Giáo Dân, viết thư trình Đức Giám Mục, xin Đức Cha giải quyết vụ này. Nhưng Đức Giám Mục làm ngơ, không viết thư hồi âm, cũng không thông báo gì ( Cha Lương, M. Cardo, "Cuộc đời Thánh Gioan Vianney" ).

Đức Giám Mục sở tại đã âm thầm điều tra về cha Gioan, sau này còn lên tiếng công khai bênh vực và khen ngợi lòng đạo đức của Cha Gioan Vianney. Từ đó tình thân giữa các Linh Mục quanh vùng mới dần chớm nở với lòng rộng lượng thánh thiện của cha Gioan.

Phải chăng Đức Giêsu đem đến sự chia rẽ, đố kỵ, bất an giữa ngay đoàn chiên, như Tin Mừng theo Thánh Luca Chúa Nhật hôm nay ?

Chia rẽ

"Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ" ( Lc 12, 51 ).

Quả thật, vì Cha Gioan Vianney nhiệt thành sống đúng theo Lời Chúa, làm đúng vai trò mục tử nhân lành, nên mới xảy ra chia rẽ với các mục tử khác. Nếu Cha Gioan e sợ các lời dị nghị, dèm pha, quy kết của các đấng, mà lơ là, sao nhãng mục vụ, thực thi Lời Chúa, thì hẳn cha Gioan đã ưu ái lãnh nhận bình an thế gian.

Đức Giêsu đến trần gian, cũng chẳng cần hưởng sự bình an thế gian. Dù Người không đến phân rẽ tôn ti trật tự xã hội, không gây bè kéo cánh, tổ chức chống đối chính quyền hay phe phái nào, nhưng vì Người mà thế gian chia rẽ, xã hội phân rẽ, cộng đoàn phân cực, gia đình lủng củng, kình chống lẫn nhau.

Thoạt tiên, Đức Giêsu mới bắt đầu giảng dạy, thì xã hội Do Thái bấy giờ liền bắt đầu rúng động. Phái Pharisiêu, các luật sĩ, tư tế đều liên minh chống lại giáo lý tân kỳ của Người. Vì quyền lợi, chức tước, thanh danh của họ bị thách thức và có nguy cơ tổn hại, hay sứt mẻ.

Khi Người kêu gọi, thâu nạp các môn đệ, thì các ông liền hăng hái đi theo Người, xa lìa vợ con, bỏ cả nghề nghiệp mưu sinh. Vào thời Roma bách hại, tín hữu theo Chúa phải trốn tránh trong những hang toại đạo. Hơn nữa, những gia đình nào theo đạo Kitô, còn bị hàng xóm, láng giềng, bạn bè thân hữu tẩy chay, tố giác. Cũng như thời Văn Thân dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đã có biết bao Kitô hữu cũng chịu sự ruồng bắt, tàn sát dã man, khốc liệt không kém.

Hôm nay, tuy không còn cấm đạo công khai, nhưng sống giữa xã hội điên đảo, gian manh và hưởng thụ, ai quyết tâm sống chân thành theo Lời Chúa, khiêm hạ, bác ái, phục vụ tận tình, thì hầu như bị coi là khùng điên, dị nhân, quái nhân. Ngay chính gia đình, vợ hay chồng, con cái, cộng đoàn, cũng khó chấp nhận, huống chi bên ngoài xã hội.

Bình thường, Đức Giêsu luôn ôn hòa, hiền lành, nhưng với sứ mạng Nước Trời, Người cứng rắn tuyên bố những điều kiện đi theo Chúa. Người không dùng những lời hoa mỹ mỵ dân, xuê xoa, gian trá, hòng mê hoặc lôi kéo tín hữu. Người không ba hoa, xảo ngôn, dùng lời có cánh để lấy lòng người nghe. Người nói thẳng nói thật, cùng muốn người nghe phải, dứt khoát chấp nhận hay không, phải quyết tâm theo Người hay không. Trung ngôn nghịch nhĩ, lời nói trung thực thì khó nghe, hay thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng. Lời Người bộc trực đánh động lương tâm suy xét, ăn năn hối cải, hầu được ơn cứu độ.

Người minh bạch vạch ra đường phân rẽ giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thiện và ác, giữa ma quỷ và thần thánh, giữa Thiên Chúa và thế gian. Người không chấp nhận sự nhập nhằng, thỏa hiệp, hay đi nước đôi. "Nóng thì nóng hẳn, lạnh thì lạnh hẳn, chứ hâm hâm Ta mửa ra ngoài" ( Kh 3, 15 ).

Người phân biệt chiên với dê, hay chiên thật với sói đội lốt chiên. Những ai sống theo Lời Chúa thì xa lìa những quyến rũ thế gian, những cám dỗ thân xác, những tham lam thế tục. Người kêu gọi hiếu đễ với cha mẹ, yêu thương bạn đời, con cái và mọi người, nhưng luôn ưu tiên thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa, thực hành Lời Chúa và đón nhận Thánh Ý Chúa.

Nhưng trong gia đình không phải luôn luôn có sự đồng thuận như thế, trong cộng đoàn hay xã hội cũng vậy. Những ai can đảm lội ngược dòng đời, mới theo Chúa được, mới làm chứng nhân thực sự. Vì thế Người mới mời gọi: "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được" ( Lc 14, 26 – 27 ).

Nguyên nhân gây chia rẽ trong gia đình, cộng đoàn, Giáo Xứ hay xã hội, chính là có sẵn sàng đón nhận Người hay khước từ Người. Có thành khần đem thực hành và áp dụng chính xác Lời Người hay không.

Hiệp nhất

"Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy bùng cháy lên" ( Lc 12, 49 ).

"Xin cho chúng nên một như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" ( Ga 17, 20 – 21 ).

Sau khi chia rẽ tỏ tường chánh tà, thật ảo, phù phiếm và trường cửu, Đức Giêsu đem lửa tình yêu đến thế gian đang giá lạnh, đem lửa tinh luyện những tâm hồn sám hối, đem lửa thánh hóa những kẻ hướng thiện. Người mong ước con người hòa giải với Thiên Chúa và tha nhân, đề hưởng được bình an.

Không phải thứ bình an thế gian, đặt trên nền tảng vị kỷ, kêu căng, tham lam, giả dối và bất công. Nhưng bình an của Chúa đem đến dựa trên sự thật, công lý và nhân ái, thuận thiên nhân hòa, hòa hợp nhuần nhuyễn với cả Thiên Chúa lẫn con người.

Nhờ cuộc tử nạn, Máu hy tế của Chúa Giêsu đổ ra trên Thánh Giá, đã thanh tẩy con người khỏi tội lỗi, để được giao hòa cùng Thiên Chúa và tha nhân. Đó chính là sự hiệp nhất, sự bình an đích thực mà Đức Giêsu ban tặng.

Lửa của Người đem đến qua Đức Chúa Thành Thần củng cố niềm Tin, Cậy, Mến nơi các Thánh Tông Đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần, cũng vẫn còn tiếp tục qua Bí Tích Thêm Sức nhiệm mầu cho Kitô hữu hôm nay.

"Khó nghèo, vâng phục, hãm mình, nhịn nhục, bác ái, tha thứ, khiêm tốn đều là dại trước mặt người đời, nhưng cao trọng trước mặt Chúa. Thế gian cho là xui, Chúa cho là Phúc Thật" ( Đường Hy Vọng, số 110 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng chúng con ngọn lửa nhiệt thành để sống đạo và truyển đạo đến mọi người.

Lạy Mẹ Maria, xin biến đổi chúng con trở nên nhiệt thành với Nước Chúa, nồng nhiệt cháy lửa yêu thương, nóng bỏng lửa phục vụ, để chúng con thêm sức mạnh tự cải hóa và cám hóa tha nhân. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

-----------------

LÀM SAO NHẬN BIẾT Ý CHÚA ?

Cuộc sống đầy những chuyện chúng ta phải quyết định. Chúa có buồn khi tôi bê trễ công việc ? Chúng ta có những khái niệm về sự thật, nhưng làm sao chúng ta biết chắc rằng các ý tưởng đó xuất phát từ Thiên Chúa ? Đôi khi rất khó phân biệt ý Chúa hay ý mình.

Nếu sự thôi thúc của chúng ta thực sự do kẻ thù của linh hồn chứ không từ Thiên Chúa thì sao ? Làm sao chúng ta "bắt mọi tư tưởng phải đầu hàng để đi tới chỗ vâng phục Đức Kitô" ( 2Cr 10, 5 ) khi chúng ta không chắc các ý tưởng đó xuất phát từ đâu ? Thiên Chúa nói với mỗi người bằng nhiều cách. Ngài biết chúng ta sẽ đáp lại thế nào và Ngài sẽ dùng bất kỳ cách nào cần thiết để đạt tới chúng ta.

Có 3 cách Thiên Chúa thường giao tiếp với chúng ta: Qua lời cầu nguyện, qua Kinh Thánh, và qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Cũng vậy, Thiên Chúa có thể dùng một người khuyên nhủ ( Cn 12, 15 ). Nếu Thiên Chúa muốn nói với chúng ta, không gì có thể ngăn cản Ngài. Ngài có thể dùng một cách, mọi cách, hoặc kết hợp các cách để chúng ta nhận biết Ngài, nhưng có một điều tương tự: Trách nhiệm của chúng ta là LẮNG NGHE và VÂNG LỜI.

CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là đối thoại với Thiên Chúa, là cuộc nói chuyện hai chiều, chúng ta nói thì Chúa nghe và chúng ta im lặng khi Chúa nói – tức là lắng nghe Chúa. Khi cầu nguyện, chúng ta "phải cầu xin với lòng tin không chút do dự, vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống" ( Gc 1, 6 ). Nếu không có lòng tin, chúng ta sẽ "không nhận được cái gì của Chúa" ( Gc 1, 7 ). Chúng ta phải kiên trì cầu nguyện ( Mt 13, 16 – 17 ).

Hãy nói chuyện với Thiên Chúa qua lời cầu nguyện và chăm chú lắng nghe cách trả lời của Ngài. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng đôi khi Ngài không trả lời theo ý chúng ta muốn. Ngài biết những gì chúng ta cần vào bất kỳ thời điểm nào, và Ngài sẽ cho chúng ta biết vào lúc tốt nhất.

TÌM HIỂU LỜI CHÚA

Đọc Kinh Thánh là cách tốt nhất để nhận biết Chúa và cách xử lý của Ngài qua lịch sử cuộc đời. Kinh Thánh được Chúa Thánh Thần linh hứng: "Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành" ( 2Tm 3, 16 – 17 ). Càng quen biết với cách hoạt động của Thiên Chúa, ý muốn của Ngài, và những điều Ngài đã nói trong quá khứ, chúng ta càng có thể nhận biết điều Ngài đang nói với chúng ta trong hiện tại. Khi chúng ta nói với Ngài qua việc cầu nguyện, Ngài sẽ thường xuyên nói với chúng ta qua Lời Chúa ( Kinh Thánh ). Khi đọc Lời Chúa thì chúng ta phải lắng nghe.

LẮNG NGHE CHÚA THÁNH THẦN

Thánh Thần là Thiên Chúa – Thần Linh có trí tuệ, cảm xúc và ý muốn, Ngài luôn ở bên chúng ta, không thể trốn khỏi Ngài ( Tv 139, 7 – 8 ). Mục đích của Ngài là can thiệp giúp chúng ta ( Rm 8, 26 – 27 ) và quyết định để làm lợi cho Hội Thánh ( 1Cr 12, 7 – 11 ). Nếu chúng ta cầu xin thì Ngài sẽ ban cho Đấng Bảo Trợ ( Ga 14:16 ).

Khi chúng ta cảm thấy được Thiên Chúa hướng dẫn, chúng ta cần duy trì khôn ngoan ( Cn 4, 7 ), và phải "cân nhắc các thần khí" ( 1 Ga 4, 1 ). Thế gian đầy sự ồn ào và sự xao lãng, và trí óc chúng ta cũng vậy. Sự sống trên trái đất là cuộc chiến đấu tâm linh. Kẻ thù luôn tìm cách làm chúng ta xa rời Thiên Chúa, vì thế mà phải cảnh giác: "Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1Pr 5, 8 ). Chúng ta phải cảnh giác để biết rõ điều chúng ta nghe chứ không là cảm xúc, tức là điều thực sự từ Thiên Chúa.

Hãy nhớ rằng Thiên Chúa muốn cho chúng ta biết con đường đúng đắn mà đi. Ngài không giấu ý Ngài đối với những ai tìm kiếm Ngài. Ngôn sứ Isaia nói: "Khi ngươi lưỡng lự không biết quẹo phải hay trái, tai ngươi sẽ được nghe một tiếng nói từ phía sau: "Đây là đường, cứ đi theo đó !" ( Is 30, 21 ).

Đây là vài điều cần thiết khi chúng ta muốn biết có phải Ý Chúa hay không: "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa gây hỗn loạn, nhưng là Thiên Chúa tạo bình an" ( 1 Cr 14, 33 ), và: "Hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa" ( Gl 5, 16 ).

Ngoài việc cầu nguyện, tìm hiểu Lời Chúa và lắng nghe Chúa Thánh Thần, có thể bạn cần lời khuyên của một người bạn, của gia đình, của người cố vấn hoặc linh hướng: "Thiếu bàn bạc, chương trình đổ vỡ; nhiều cố vấn, ắt sẽ thành công" ( Cn 15, 22 ).

Thiên Chúa không muốn chúng ta thất bại. Chúng ta càng lắng nghe Chua, chúng ta càng có thể phân biệt tiếng Chúa với tiếng của thế gian. Chúa Giêsu đã nói: "Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh" ( Ga 10, 4 ). Ngài xác định: "Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ" ( Ga 10, 8 ). Chúng ta càng nhận biết Chúa Chiên Lành, chúng ta càng ít chú ý tiếng nói sai trái.

TRẦM THIÊN THU, chuyển ngữ từ GotQuestions.org

 
VAN HOA VA GIA DINH # 31 = DAU HOI NGA TRONG VAN CHUONG VN PDF Print E-mail

 

Anthony Quang Dinh

To

This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 Dấu "Hỏi Ngã" Trong Văn Chương Việt Nam

Tác giả bài viết Dấu "Hỏi Ngã" Trong Văn Chương Việt Nam, Ông Cao Chánh Cương. Ông có nói " Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung. Ông cho biết, ông là người miền Trung.

Mời cùng học... cho vui.

Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau : Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính tri... , nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn.

Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.

Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung (người viết bài này là người miền Trung).May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi...

Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.

Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.

A. LUẬT BẰNG TRẮC

Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau.

1. Luật lập láy

Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả.

Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang...

2. Luật trắc

Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi).

Thí dụ:

Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.

Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.

Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.

Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.

Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang,...

3. Luật bằng

Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).

Thí dụ:

Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.

Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.

Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.

Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,...

B. CHỮ HÁN VIỆT

Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ,... tất cả đều do chữ Hán mà ra.

Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:

Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, các chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.

Thí dụ:

Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.

Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.

Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.

Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.

Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.

Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,...

Để có thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:

"Dân Là Vận Mệnh Nước"

để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.

C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC

1. Trạng từ (adverb)

Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:

Thôi thế cũng được.Trạng từ cũng viết với dấu ngã.

Xin anh đừng trách em nữa.Trạng tự nữa viết với dấu ngã.

Chắc anh đã mệt lắm rồi.Trạng từ đã viết với dấu ngã.

2. Tên họ cá nhân và quốc gia

Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.

Thí dụ:

Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến...

Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.

Nước Mỹ, A phú Hãn,...

Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.

3. Thừa trừ

Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.

Thí dụ:

Anh bỏ em đi lẻ một mình.Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.

Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.

D. KẾT LUẬN

Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.

Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam.Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.

CAO CHÁNH CƯƠNG

Trích tài liệu khóa Tu nghiệp Sư phạm 1991 Của các Trung tâm Việt ngữ Miền Nam

__._,_.___

 
VAN HOA VA GIA DINH # 30 = LICH SU CHU QUOC NGU PDF Print E-mail

LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ  

      Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC). Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa. 

      Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt. Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ. Trong sách Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... " Sách này còn viết rằng: "Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện."  

      Sử xưa cũng ghi lại rằng: " Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…" Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu. Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu. Chữ Việt cổ trên thân Trống Đồng Lũng Cú. Tuy nhiên, với chí khí bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.  

     Nhìn chung Việt Nam vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1) nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân gian và ngày càng phong phú, súc tích. Trong quá trình xã hội phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.

    Vào thế kỷ XV. Sứ thần Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt. (*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt Nam từng phải triều cống. Giai đoạn năm 939, thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. 

    Tổ tiên ta luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du, là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại. Tuy nhiên, chữ Nôm vì được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng rộng rãi. Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du (Sách cổ viết chữ Nôm) Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533.

    Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát triển nhanh chóng. Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên) http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt. Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ. Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ. Bản Kinh lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau: Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651. Từ điển Việt-Bồ-La Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu) Hình bìa “Sách Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày” Link sách DOWN LOAD (Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày) (Tài liệu lưu trữ 88.3 MB dạng (pdf) https://www.dropbox.com/s/3eg88d2zf720bf2/PHEP%20GIANG%208%20NGAY%20%28TVST%29%20%20-%20%20Cathechismvs%20%20%20Alexandre%20de%20Rhodes.pdf    

    Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam. Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt. Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang. Sách không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes http://en.wikipedia.org/wiki/Alexandre_De_Rhodes Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học. Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ. Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo.

   Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi. NGHE & Down load (AUDIO BOOK THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM) Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có thể chia làm 3 giai đoạn sau: (Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Nghiên cứu của linh mục Ðỗ Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972). Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626): Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa. Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm 1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ. Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ: - Annam = An Nam - Unsai = Ông Sãi - Ungue = Ông Nghè - Bafu = Bà Phủ - doij = đói - scin mocaij = xin một cái - Sayc Chiu = Sách chữ - Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết Giai Ðoạn Hai (1631-1648) Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này, đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ.

    Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như: · Nghệ An · Bố Chính Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác · Thính hoa: Thanh Hóa · oũ bà phủ: Ông bà Phủ · hụyen: huyện · sãy: sãi Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) . Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) . Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình. Giai Ðoạn Ba (1649-1651): Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc Lộ (7) . Hai cuốn ấy là: · Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° · Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn) Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình) Mãi cho đến ngày 18 tháng 9 năm 1924 (Giai đoạn Pháp thuộc), toàn quyền Đông Dương Martial Merlin (1923-1925) đã ký quyết định chính thức cho dạy chữ Quốc Ngữ ở ba năm đầu cấp tiểu học, được phổ biến rộng rãi toàn quốc.  

     Sự ra đời và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt Nam, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây qua sách báo, nâng cao nhận thức, dân trí phát triển cao hơn và nhanh hơn so với các nước trong vùng. Cũng nhờ từ đấy, người Việt, tiếng Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng chính sách Hán hóa của Trung Hoa đã đô hộ nước ta trong suốt gần 1000 năm. Học sinh trường Công giáo tỉnh Nam Định Tinh thần sĩ phu (Nho giáo) xưa, ít nhiều bị lệ thuộc chẳng những Nho giáo mà cả văn hóa Trung Hoa. Việc bãi bỏ Nho học và thay đổi chữ viết từ chữ Nho (chữ Hán ) sang Quốc ngữ, đã giúp Việt Nam chấm dứt vĩnh viễn giai đoạn lệ thuộc chữ Hán và văn hóa Trung Hoa. Vì đắm chìm lâu đời trong văn hóa Trung Hoa, nên có người lầm tưởng rằng văn hóa Trung Hoa là văn hóa dân tộc, và những anh hùng, liệt nữ Trung Hoa là khuôn vàng thước ngọc cho văn hóa Việt, lịch sử Việt. Các tác giả chữ Nho xưa thường dùng điển tích về những vua quan, anh hùng, thần thánh, phong tục, tập quán của Trung Hoa để làm mẫu mực cho người Việt. Nhưng từ khi có chữ Quốc ngữ, dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi văn hóa Trung Hoa, nhiều người mới có cơ hội tìm thấy lại cội nguồn, trở lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.    

     Từ đấy, nền văn hóa dân tộc càng ngày càng được đề cao trong nền văn học Quốc ngữ, trong Sử sách giáo khoa: Hai Bà Trưng, Triệu Nữ Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung mới là những anh hùng đích thực, những tấm gương sáng trong lịch sử của người Việt Nam. Nhưng bất hạnh thay cho đất nước Việt Nam ngày hôm nay, (Hiểm Họa Mất Nước) mà mọi người Việt Nam khắp nơi đang phải lên tiếng báo động khi nhìn thấy cầm quyền cộng sản Việt nam đã và đang đưa dân tộc ta trở về vòng u tối của lịch sử. Nhiều lễ hội trang trí với hình thức, màu sắc nặng tính chất Trung Hoa, những phim ảnh Trung Hoa 24/24 giờ tràn ngập trên truyền hình, lập "viện nghiên cứu Khổng Tử", mưu tính để chính thức đưa chương trình tiếng Hoa (Hán ngữ) vào trường phổ thông toàn quốc nhằm mục đích Hán hóa người Việt trong nước hiện nay cùng với nhiều hình thức khác. Song song là việc "Bộ giáo dục" cho xuất bản, in ấn trên "Sách Giáo Khoa Lịch Sử" với những hình ảnh bôi bác, bất kính, miệt thị, xúc phạm các bậc tiền nhân,tổ tiên của dân tộc Việt. Và còn nhiều chuyện đã xảy xa mới đây trong chủ trương Hán hóa, mà những ai đang quan tâm đến vận mệnh đất nước đều biết rõ. http://laodong.com.vn/Van-hoa/Hai-Ba-Trung-ma-nhu-vay-sao/30916.bld Lễ Gọi hồn Mã Viện chứng giám Hai Bà Trưng sang chuộc tội ở Quảng Tây (Buổi lên đồng của đoàn văn công Việt nam biểu diễn tại Quảng Tây, Trung quốc) Hai Bà Trưng dâng rượu chuộc tội với Mã Viện (Buổi lên đồng của đoàn văn công Việt nam biểu diễn tại Quảng Tây, Trung quốc) Trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam Trường Trung học Adran (Collège d'Adran) (3) Là trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở ở Sài gòn từ năm 1861 - 1887. Trường ADRAN Sài Gòn, đến năm 1954 được chia thành 2 Trường Trung Học : Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương. Hình một lớp học trong buổi thực nghiệm ngoài trời. Chấm dứt thời kỳ của nền giáo dục chữ Hán, chữ Nôm: Lối học từ chương. Một lớp học trong giờ Địa lý.  

    Hình Thầy đồ và các học sinh ngày xưa. Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912) Giấy Khai Sinh năm 1938 còn sử dụng 4 ngôn ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ và Pháp) Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ lần đầu tiên phát hành tại Sài Gòn, ngày 15/4/1865. Trương Vĩnh Ký - Pétrus Ký (1837-1898) Khi nói đến chữ Quốc ngữ, và Báo Chí Việt Nam thì cũng không thể quên công lao của Ông Trương Vĩnh Ký, ông là người đầu tiên sáng lập,khai sinh nền Báo Chí Quốc ngữ của Việt Nam, ông là Tổng biên tập tờ Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên: Ông Pétrus - Trương Vĩnh Ký đã viết một bài khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, trong đó có đoạn như sau: “…Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo (văn phạm) dạy tiếng Lang Sa (Pháp), có làm ra chữ Quốc ngữ (sic) để người ta dễ học. Những người ký lục (thư ký) giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ (khó dễ) cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ Quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết…”      

    Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, và chuyên khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.Với tri thức uyên bác, am tường và nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên ông được: - Tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp. - Được nêu tên trong Bách khoa Tự điển Larousse http://www.larousse.fr/archives/pages/recherche.aspx?keyword=Truong%20Vinh%20Ky , - Đứng vào vị trí " Toàn Cầu Bác Học Thập Bát Quân Tử" tức là một trong 18 nhà bác học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 19. - Đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới, ông viết và đọc thông thạo 27 ngoại ngữ, một nhà thông thái biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam... (4) Ông đã để lại cho kho tàng Văn học Việt Nam hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật... Nhưng ngay sau tháng 4 năm 1975, khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, nhiều sách của ông đã bị cộng sản tiêu hủy trong chiến dịch "Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy, Phản Động", trường trung học Trương Vĩnh Ký bị đổi tên là Lê Hồng Phong, và tượng đài vinh danh ông đặt cạnh Nhà Thờ Đức Bà - Sài Gòn bị cộng sản phá hủy. Tượng đài lịch sử, vinh danh ông Trương Vĩnh Ký cạnh Nhà Thờ Đức Bà trước 1975. http://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=VA030117 Mãi đến thời gian gần đây, phần tượng lịch sử còn lại của ông được đem ra triển lãm "mỹ thuật" trong Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM.     

    Các nhà khoa bảng, trí thức, cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, kết hợp với nhiều nhà trí thức cấp tiến thời đó, khởi xướng ra các phong trào Duy Tân, Đông Du nhằm vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho (Hán) học, kêu gọi việc học Quốc ngữ để nâng cao dân trí, với lý do đơn giản: Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho (Hán). Các ông đã vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (Trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục,1907). Trong một bài thơ khuyến khích việc học quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết: “… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước, Phải đem ra tỉnh trước dân ta, Sách các nước, sách Chi-na, Chữ nào nghĩa ấy, dịch ra cho tường…” Các sĩ phu của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Khi phong trào Duy Tân, và Đông Kinh Nghĩa Thục ngày càng lớn mạnh, khiến cầm quyền thuộc địa Pháp lo ngại tinh thần yêu nước và chống thực dân Pháp của đồng bào Việt Nam. Việt Nam Vong Quốc Sử của nhà ái quốc Phan Bội Châu xuất hiện lúc bấy giờ là một trong những tiếng chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc. Làn sóng yêu nước nổi lên khắp nơi, làm thực dân Pháp phải lo sợ, nên đã ngưng trợ cấp và đóng cửa một số trường. Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu. (Không có gì đau bằng người mất nước, cũng không có gì đau bằng người bị mất nước mà bàn việc nước! Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng đã bao phen lệ cạn huyết khô, mà cơ hồ không viết nổi chữ nào...)  

    Chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này vẫn ngày càng phổ biến, đã giúp dân chúng dễ dàng học, hiểu biết những sơ đẳng cần thiết trong đời sống, theo dõi sát các tin tức thời sự, các chuyển biến thời cuộc chính trị trong nước và thế giới qua sách báo, truyền đơn.Từ năm 1925 nhiều đảng phái chống Pháp được thành lập, truyền đơn, lời kêu gọi, sáng tác thơ văn yêu nước… đều viết bằng chữ Quốc ngữ. Nền văn học Việt Nam vào năm 1933 chuyển biến mạnh, xuất hiện một thể loại Văn mới, là Văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ do ông Nguyễn Tường Tam, bút hiệu Nhất Linh và nhóm văn sĩ thành lập lấy tên: Tự Lực Văn Đoàn, với 10 năm sáng tác và hoạt động báo chí, khai sinh nên dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Nổi trôi trong những diễn biến lịch sử bất lợi, khó khăn của thời cuộc đất nước lúc bấy giờ, nhưng nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã cống hiến nhiều vào sự phát triển Văn Học của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Toàn bộ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vẫn được lưu truyền tự do và được đưa vào trong giáo trình giảng dạy Văn học tại các trường Trung học miền Nam sau 1954 mãi cho tới 1975. Lớp học Mẫu giáo trong giờ Tập Viết, giáo dục miền Nam trước 1975 Trước năm 1975, ở miền Nam hầu như không có tranh cãi gì nhiều về tiếng Việt, chữ Việt, ngoại trừ một vài tranh cãi nhỏ về chữ I và Y , Lí do hay Lý do, quý vị hay quí vị …) hoặc có G hay không có G (sáng lạng hay xán lạn). Học sinh miền Nam khi học lên đến lớp 5 (Tiểu học), lớp 6 (Trung học) mà còn viết sai lỗi chính tả là một điều không thể chấp nhận được.

    Nhưng từ khi Việt cộng cưỡng chiếm được miền Nam, thì Tiếng Việt, Chữ Việt đã bị Việt cộng thay đổi rất nhiều, và đôi lúc trở nên thứ ngôn ngữ quái thai. Thực ra thì chữ Việt đã được thay đổi từ lâu, ngay từ 1945 khi cộng sản còn ẩn núp dưới hai chữ Việt Minh đã dùng bạo lực,súng đạn để cưỡng đoạt, cướp đoạt chính quyền hợp pháp của chính phủ Trần Trọng Kim. Không phải trong chế độ cộng sản Việt Nam không có người khá, người giỏi. Nhưng hầu hết những người này lại chẳng có quyền hạn gì, trong khi đó thì hầu hết bọn lãnh đạo lại ngu dốt, độc tài, ngoan cố, bạo lực nên chúng muốn nói ngang nói ngược, người dân ai cũng phải nghe theo, chẳng ai dại gì mà lên tiếng, phê phán hay cải sửa để bị chụp mũ là phản động và bị bỏ tù cải tạo, mang hoạ vào thân. Để tạm kết thúc cho bài viết này, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại nền Văn hóa Vẹm, ngôn ngữ Vẹm ngày nay đang tiến bao xa, qua những hình dẫn chứng dưới đây: Nhành Dẻ (Hình trích từ Sách Giáo Khoa) (Cấm Lái Xe ......Cài Quai) Đèn Đỏ Được Đi Thẳng !!! ??? (XE THÔ SƠ) (... NẤU BÁNH CHƯNG , GIÃ BÁNH DÀY ) (Làng Văn Hóa Xóm ... ! ! ) (Thường Xẩy ra tai nạn) (Xử Lý...) (LÃNG PHÍ) (BÁN HÀNG RONG...) (Thích Quảng Đức) (Nóng Lòng chờ hỗ trợ) (Sông Sâu Chớ Lội) (Tấm Gương...) HCM chưa bao giờ là Danh nhân Văn Hóa Thế Giới như VC tuyên truyền Thay vì in là DANH NHÂN để tuyên truyền lừa gạt, thì VC in sai là DOANH NHÂN.         

       Tóm lại, ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) là phương cách để con người giao tiếp, thông tin với nhau, hoặc diễn đạt tư tưởng của mình cho người khác biết. Ngôn ngữ cũng là một phần của văn hoá, là linh hồn của một dân tộc. Trải qua thời gian và không gian, ngôn ngữ không ít, nhiều đã phải thay đổi để cho phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và đà tiến hoá của xã hội. Những tác phẩm văn học, thơ ca, những bài hát, tranh tượng, hình ảnh nghệ thuật, của miền Nam trước 1975 một thời đã từng bị xé nát,đốt sạch trong chiến dịch bài trừ "Văn Hóa Đồi Trụy" của Việt cộng năm xưa.Ngày nay vẫn đang là những sách hiếm,quý trong tủ sách của những người dân Việt có tư duy, trình độ văn hóa, nhận thức. Việc thay đổi chữ cũ vì thô tục, vì thiếu nghĩa, vì không trong sáng, tạo lập thêm chữ mới để thay thế những chữ cũ không còn hợp thời hay không có, là một việc nên làm và còn là một trách nhiệm để làm phong phú cho chữ Quốc ngữ. Nhưng nếu chỉ vì mục đích chính trị ngông cuồng, tự đại, hay chỉ vì lòng tự ty mặc cảm ngu dốt muốn che đậy sự tụt hậu của hệ thống văn hóa, giáo dục hiện nay mà Việt cộng thay đổi từ ngữ một cách nhố nhăng, vô tội vạ, làm cho chữ Việt trong nước ngày nay càng trở nên thô tục, kỳ cục hoặc tối tăm, sai lạc ý nghĩa, thì đó không những là một điều sai lầm mà còn có tội ác đối với dân tộc.    

     (1)- Ca Dao: Câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian - Tục Ngữ: Câu nói có tính cách răn dạy hay châm biếm chuyện đời - Châm Ngôn: Lời văn có vần điệu để khuyên đời - Cách Ngôn: Lời nói làm khuôn phép (cách kiểu mẫu, khuôn mẫu) - Ngạn Ngữ: Câu nói ngắn gọn của dân gian với mục đích răn dạy - Phong Dao: Lời ca câu hát dân gian, diễn tả phong tục tập quán các địa phương. - Phương Ngôn: Lời nói thông dụng của từng địa phương có ý nghĩa như câu tục ngữ - Thành Ngữ: Những câu nói ngắn gọn, dùng khi nói hay viết đã được trau chuốt. - Dân Ca: Những bài ca phát âm tiếng địa phương dân tộc, dễ hiểu và tâm tình dân tộc (2) Văn “Tế cá sấu” Ngặc ngư kia hỡi mày có hay Biển Đông rộng rãi là nơi này Phú Lương đây thuộc về thánh vực Lạc lối đâu mà lại đến đây Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa Dân quen chài lưới chẳng tay vừa Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy Xuống nước giao long cũng phải chừa Thánh thần nối dõi bản triều nay Dấy từ Hải Ấp ngôi trời thay Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh Biển lặng sông trong mới có rày Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy Nhân vật đều yên đâu ở đấy Ta vâng đế mạng bảo cho mày Hãy vào biển Đông mà vùng vẫy. (3) Adran: Là Tước Hiệu của Phu tá Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) (4) Petrus - Trương Vĩnh Ký : Ông đã được nhận các chức vụ và huân huy chương: Huy chương Dũng sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã ngày 1 tháng 10 năm 1863. Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội nhân chủng học, Hội Giáo dục Á châu. Huy chương Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha ngày 27 tháng 6 năm 1886. Thành viên Hội chuyên khảo về Văn hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876. Hội viên Hội chuyên học địa dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878. Huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng của Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883. Huy chương Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long Khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886. Huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886. Huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887 Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng gia Cam Bốt. Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ. Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri. Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư. --

 
VAN HOA VA GIA DINH # 29 = 9 CAU HOI RAT KHO PDF Print E-mail

        VĂN HÓA VÀ GIA ĐÌNH #29

9 Câu hỏi rất khó

9 câu trả lời tuyệt vời.

Một trí giả thích ngụy biện đến gặp Socrates nhà hiền triết xứ Hy Lạp và đặt nhiều câu hỏi khó với mục đích làm cho Ngài bối rối. Nhưng nhà hiền triết xứ Milet có thừa khả năng để trả lời. Sau đây là các câu hỏi:

1.- Trong các vật hiện hữu, cái gì xưa nhứt?

- Thượng Đế, vì ở thời đại nào, Ngài cũng hiện hữu.

2. - Trong các vật, vật nào đẹp nhứt?

- Vũ trụ, vì vũ trụ là công trình của Thượng Đế.

3. - Trong các vật, vật nào lớn nhứt?

- Không gian, vì nó chứa tất cả những gì sáng tạo.

4. - Trong các vật, vật gì vững bền nhứt?

- Hy vọng, vì khi con người mất hết, nó vẫn còn.

5. - Trong các vật, vật nào tốt nhứt?

- Đức hạnh, vì thiếu nó không có một việc gì tốt đẹp.

6. - Trong các vật, vật chi di chuyển mau nhứt?

- Tư tưởng, vì trong một giây nó có thể đến tận bên kia vũ trụ.

7. - Trong các vật, vật chi mạnh nhứt?

- Nhu cầu, vì nó giúp ta san bằng các khó khăn to lớn nhứt.

8. - Trong các việc, việc chi dễ làm nhứt?

- Khuyên bảo.

9. - Trong các việc, việc nào khó nhứt?

- Tự biết mình.

 

Trích Bản Tin Dũng Lạc 13-1-2013

 
VAN HOA VA GIA DINH # 28 = XIN THAY DAY CON TOI PDF Print E-mail


XIN THẦY DẠY CON TÔI

 

Trungly3 chuyễn

 

 

Con tôi sẽ học tất cả những điều nầy : Rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin Thầy hãy dạy cho cháu biết : cứ mỗi một kẽ vô lại ta gặp trên đường phố, thì ở đâu đó, sẽ có một con người chính trực; bên cạnh một chính trị gia ích kỹ, sẽ xuất hiện một nhà lãnh đạo tận tâm.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết rằng cứ mỗi một kẻ thù ta gặp ở nơi nầy thì ở nơi khác ta lại tìm thấy một người bạn. Bài học nầy sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin Thầy hãy dạy cho cháu hiễu rằng một đồng đôla kiếm đượcdo công sức của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với năm đôla nhặt được trên đường phố.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu cách chấp nhận thất bại và cách tận hưỡng niềm vui chiến thắng.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu tránh xa sự đố kỵ. Xin dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác là những kẽ dễ bị đánh bại nhất.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết đến thế giới kỳ diệu của sách...

Nhưng cũng để cho cháu có đủ thời gian để lạng lẽ suy tư về sự bí ẫn muôn thuỏ của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng, và những bong hoa nỡ ngát trên đồi xanh.

Ở trường, xin Thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi đi thi. Xin hãy tạo cho cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, chho dù tất cã mọi người chung quanh đều cho rắng ý kiến đó là ngược ngạo...

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết cách đối xữ dịu dàng với những người hòa nhã và cứng rắng đối với những kẽ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chạy theo thời thế.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết phải lằng nghe tất cã mọi người nhưng xin Thầy cũng hãy dạy cho Cháu biết cần phải sang lọc những gì nghe được qua một tấm lưới Chân Lý để cháu chĩ đón nhận những gì tốt đẹp mà thôi.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết cách mĩm cười khi buồn bã ..

Xin Thày hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hỗ trong những giọt nước mắt. Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẽ yếm thế và cẫn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin Thầy hãy dạy cho Cháu biết rằng có thể bán bắp thịt và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ được để cho air a giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết ngoãnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét ... và biết đứng thẳng người bảo vệ lẽ phải.

Xin Thầy hãy đối xữ dịu dàng nhưng đừng vuốt ve nuôn chìều cháu bởi vì chĩ có sự thữ thách của lữa mới tôi luyện nên những thanh sắt cứng rắn. Xin Thầy hãy gíúp cháu có can đãm biễu lộ sự thiếu kiên nhẫn và có đủ kiên nhẫn để biểu lộ sự can đãm.

Xin Thầy hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa Thầy, nhưng xin Thầy cố gắng hết sức mình ....

Con trai tôi sẽ là một cậu bé tuyệt vời!

Tổng Thống Abraham Lincoln gỡi cho Thầy của con mình.

__._,_.___

 
<< Start < Prev 21 22 23 24 25 26 27 Next > End >>

Page 24 of 27