The News
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2185
mod_vvisit_counterHôm Qua8536
mod_vvisit_counterTuần Này42359
mod_vvisit_counterTuần Trước48347
mod_vvisit_counterTháng Này126582
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11578668

We have: 69 guests online
Your IP: 54.196.5.6
 , 
Today: Aug 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



The News
BANH SU SONG - THU TU TUAN 20 TN- A PDF Print E-mail

THỨ TƯ TUẦN XX THƯỜNG NIÊN A - NGÀY 23/08/2017

BÁNH SỰ SỐNG : Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Mátthêu (Mt 20: 1-16a)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thỏa thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng". Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy. Đến khoảng giờ thứ mười một, ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: "Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?" Họ thưa rằng: "Vì không có ai thuê chúng tôi". Ông bảo họ rằng: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta". Đến chiều, chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: "Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người sau hết tới người đến trước hết". Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng. Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Đang khi lãnh tiền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: "Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?" Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: "Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thỏa thuận với tôi một đồng sao?" Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng? Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hét, và kẻ trước hét sẽ nên sau hết".

Suy niệm

Có hai dự án mang tính nghiêm chỉnh nhất của cấu trúc thế giới: Chủ nghĩa xã hội và Kitô giáo. Chủ nghĩa xã hội lấy công bằng làm nguyên lý nền tảng. Người ta chỉ hưởng lương theo năng lực làm việc, làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít. Ai không làm, người đó không nhận được một đồng bạc nào. Khi mà xã hội được định hướng theo hướng "công bằng" như thế, thì thế giới mới đạt tới "chính nghĩa".

Người thợ đã làm trong vườn nho và ông ta được lãnh lương tương xứng với việc ông làm. Ông làm nhiều giờ ông được lãnh nhiều. Ai chỉ làm một tiếng, dĩ nhiên chỉ được lãnh một phần mười tiền lương so với người làm 10 giờ. Chính đấy là sự sòng phẳng, công bằng.

Thế nhưng dựa án thứ hai của cấu trúc thế giới bắt nguồn từ một tư duy khác. Tư duy này không chỉ dừng lại ở sự công bằng, nhưng còn dấn thêm một bước vượt trên sự công bằng: Tình yêu. Những ai chỉ muốn sự đối xử với nhau bằng chính thước đo sòng phẳng, những người đó đang rơi vào một tình huống mới: vô cảm, bất công. Người ta không thể chỉ lấy tiền lương để đo lường khả năng làm việc, hay đánh giá năng lực làm việc bằng chính tiền lương. Có nhiều lãnh vực chứng minh điều đó như: tài năng thiên phú cá nhân, những hội nghị soạn thảo hiến pháp, pháp luật, lòng nhiệt thành, sự cạnh tranh, tranh đua.v.v. Và vì cuộc sống luôn đối diện với nhiều tình thế phức tạp và năng lực không thể được đánh giá cách đơn giản theo thời lượng thời gian lâu hay mau. Một sự đánh giá chỉ căn cứ vào sự sòng phẳng, công bằng mà thôi, chắc chắn không thể nào thể hiện và giải quyết được sự phong phú mối tương quan trong xã hội, cộng đồng. Con người không chỉ có khối óc, nhưng còn có con tim. Một hệ thống quan hệ chỉ xây dựng trên nguyên tắc công bằng mà thôi sẽ đưa đến những ứng xử vô nhân bản.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã tỏ bày cho chúng ta biết rằng, cấu trúc thế giới chỉ có thể thành công dựa trên nền tảng tình yêu. Tình yêu đó được diễn tả qua cách ứng xử của người chủ vườn nho. Ông ta đã nói cho chúng ta biết chỉ có tình yêu là điều mà con người cần tới, đó chính là nguyên lý căn bản của đời sống. Mỗi người đều có cơ hội để trao ban tình yêu và đón nhận tình yêu. Nhờ tình yêu, người ta nhận lãnh nhiều hơn so với việc mình làm. Tình yêu của Chúa bao trùm từ người trước tiên đến người sau hết, người giàu có và người nghèo khó, người có năng lực cũng như yếu kém. Đó chính là sự công bình của Chúa.

TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG  CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, NHỜ THÁNH THẦN CHỈ BẢO chúng con hiểu được thế nào là công bằng và thế nào là tình yêu. Tình yêu đưa tới công bằng, chứ công bằng không thể tạo ra tình yêu. Mà cuộc sống chỉ có thể mang trọn vẹn ý nghĩa khi được dựng xây trên nền tảng tình yêu. Vì tình yêu làm nảy sinh sự sống, chứ công bằng làm gì tạo ra sự sống. Chúng con QUYẾT TÂM đối xử với nhau từ cái nhìn của con tim, để từ đó chúng con sẽ tạo ra một cuộc sống công bằng. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường
Kính chuyển:
Hồng

, or

 
VAN HOA VA GIA DINH # 193 -LINH DAO CHO GIA DINH PDF Print E-mail

Fwd: MỘT ĐỊNH NGHĨA VÀ LINH ĐẠO CHO GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO TẠI CHÂU Á ...2
Sent

Vp CTTTHNGĐ
To:Vp CTTTHNGĐ
Bcc: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Aug 22 at 5:05 PM

MỘT ĐỊNH NGHĨA VÀ LINH ĐẠO CHO GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO TẠI CHÂU Á

1. Dẫn Nhập.

Bài trước tôi đã trình bày Sứ Điệp của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XIII (2012), khuyến khích các giáo hội tại Châu Á chọn tân phúc âm hóa bằng thực hiện ba cuộc đối thoại với những người theo các nền văn hóa, với những người theo các tôn giáo kỳ cựu và với những người nghèo chiếm đa số . Lý do là vì người công giáo tại Châu Á chỉ là thiểu số: 3% của dân số Châu Á, sống chung với những người theo các nền văn hóa và tôn giáo, mà đa số là người nghèo. Rồi Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á đã suy tư và chọn lựa để tân phúc âm hóa Châu Á bằng tiến hành ba cuộc đối thoại nói trên. Tuy nhiên, Bản Tin Hiệp Thông số 98 của HĐGM Việt Nam trang 103 cho biết: "Trong quá khứ, vì hoàn cảnh riêng, Hội Thánh Việt Nam ít liên lạc với những Văn phòng của Liên HĐGM Châu Á"... Nhưng may thay, cũng trong Bản Tin Hiệp Thông số 98, trang 22 có đăng bản dịch Sứ Điệp của Liên HĐGM Châu Á lần thứ XI, 20 – 11 – 2016, với chủ đề là "Gia đình công giáo tại Châu Á, giáo hội tại gia của người nghèo thi hành sứ vụ thương xót". Bản dịch này do Văn phòng HĐGMVN thực hiện, dài 40 trang giấy, khổ 14 x 20, đọc lướt qua thôi cũng mất hơn một giờ đồng hồ. Việc dịch để đăng Sứ điệp của Liên HĐGM Châu Á là dấu chỉ Giáo hội Việt Nam đã quan tâm đến hoạt động của Liên HĐGM Châu Á để liên lạc và thông tin.

1.1 Đọc lướt qua, tôi thấy ngay một điểm làm tôi tâm đắc đó là bản gốc tiếng Anh nói: "Family – Missionary Disciple", Văn phòng dịch là: "Gia đình – môn đệ được sai đi"; - "The whole church is missionary", Văn phòng dịch: "Toàn thể Hội thánh phải mang tính thừa sai", - "The catholic family is by identity a missionary disciple"; Văn phòng dịch là "Gia đình Công giáo tự căn tính là môn đệ được sai đi". Đang khi đó nhiều bản dịch từ lâu nay như: của Giáo hoàng học viện, của Từ điển công giáo 500 từ, của Sách giáo lý GHCG (số 850), của Phaolô Phạm Xuân Khôi vẫn dịch không đúng là: "giáo hội tự bản chất là truyền giáo", hoặc "môn đệ truyền giáo"...

1.2 Ngoài ra có ba chỗ độc giả cần lưu ý trong bản dịch của Văn phòng, để hiểu cho thật đúng:

a) Bản gốc số 3 viết: "The family is the focal point of evangelization" thì Văn phòng dịch lần 1 ở số 3 là "cứ điểm của phúc âm hóa", lần 2 ở số 22 cũng dịch là "cứ điểm", lần 3 ở số 44 thì lại dịch là "tâm điểm". Mà "cứ điểm" thì Tự Điển Việt Nam dịch là "vị trí phòng ngự có công sự vững chắc", hoặc "chỗ làm điểm tựa". Còn Từ Điển Pháp Việt thì dịch "focal point" là "tiêu điểm", nghĩa là điểm hội tụ chùm tia hình nón hình thành sau khi khúc xạ", hoặc "nơi tập trung cao độ các hoạt động khác nhau và từ đó tỏa ảnh hưởng lớn ra các nơi khác". Cái nào đúng ở đây?

b) Bản gốc số 22 viết: "Missio is the birthright of the catholic family", Văn phòng số 22 dịch là "Sứ vụ là giấy khai sinh của gia đình công giáo", Từ điển Pháp Việt dịch "The birthright" là "quyền được sở hữu, hoặc đặc quyền mà một người có khi sinh ra". Còn "birth certificate" mới là giấy khai sinh...?

c) Bản gốc số 58 E. Family – in –Mission of Mercy, Sent by the Holy Spirit", và chín dòng nữa dẫn đến linh đạo của hiệp thông, thế mà Văn phòng đã bỏ quên không dịch và in cả đoạn này.

1.3 Thực ra tôi không có ý học hỏi bản văn Sứ Điệp mà chỉ muốn giúp độc giả hiểu biết hai điều then chốt sau đây:

1) Một định nghĩa táo bạo về gia đình công giáo tại Châu Á.

2) Một linh đạo hiệp thông cho gia đình công giáo tại Châu Á.

Hai điều này đức Hồng y Telesphore Toppo đặc sứ của đức giáo hoàng Phanxicô tại đại hội Liên HĐGM Châu Á đã có dịp chia sẻ và "mời gọi các giám mục công giáo tại Châu Á biết cảm thương và lắng nghe tiếng kêu của các gia đình với một lòng kiên nhẫn thần thánh, bằng cách tháp tùng họ trong cuộc chiến đấu của họ và những nỗi khó khăn của họ. Những ai có liên hệ trong việc mục vụ gia đình phải ra khỏi vùng tiện nghi của các thể chế, bởi vì các gia đình là niềm hy vọng của chúng ta và là những tác nhân tốt nhất trong việc phúc âm hóa và biến đổi".

2. Một Định Nghĩa Táo Bạo Về Gia Đình Công Giáo Tại Châu Á.

2.1 Đức Hồng y Toppo là tổng giám mục Ranchi, bên Ấn Độ, chính ngài xuất thân từ bộ tộc Oraon, hiện diện ở Đông Bắc Ấn Độ, được đức giáo hoàng cử làm đặc sứ tại Đại Hội Liên hiệp các HĐGM Châu Á, thứ XI, đã mời 140 giám mục có mặt, đến từ 28 HĐGM Châu Á để "định nghĩa một cái nhìn táo bạo về gia đình nhằm mục đích có thể tháp tùng và giúp đỡ các gia đình công giáo tại Châu Á. Để tới lượt họ, các gia đình có thể trở thành Giáo hội tại gia của người nghèo, trở thành những cộng đồng đẹp nhất về lòng thương xót trên trần gian". Đối với đức Hồng y, thách đố lớn nhất của các giám mục là " đề ra một cái nhìn chung về tất cả những gia đình tại Châu Á đang sống trong 48 xứ khác nhau trong một bối cảnh khác biệt lớn với nhau về văn hóa, tôn giáo và về hoàn cảnh xã hội". Đức Hồng y đã nêu bật câu đã được chọn làm đề tài của Đại Hội như là câu: "định nghĩa táo bạo của gia đình công giáo tại Châu Á", nghĩa là "gia đình công giáo là giáo hội tại gia của người nghèo và là nơi của lòng thương xót, là dụng cụ của lòng thương xót của Thiên Chúa trên trần gian". Câu định nghĩa này đã lặp lại định nghĩa về gia đình công giáo của Đức Gioan Phaolô II trong Tông Huấn về Gia Đình: Gia đình Kitô hữu là một giáo hội tại gia, thi hành ba tác vụ tiên tri, tư tế và phục vụ trong gia đình. (xem Tông Huấn gia đình số 49, 50). Định nghĩa này cũng lặp lại định nghĩa của Đức Phanxicô trong Tông Huấn Niềm Vui tình Yêu: Gia đình là nơi để hiệp thông và cầu nguyện, là trường học đích thực về Phúc Âm và là giáo hội tại gia. (Cuối Tông Huấn)

2.2 Ngoài ra Sứ điệp còn tiếp tục thêm nhiều câu "định nghĩa phụ" giúp ta tiếp cận để hiểu đầy đủ hơn về gia đình công giáo tại Châu Á, như:

· Gia đình công giáo là tiêu điểm của phúc âm hóa, hướng tới một nền văn hóa sự sống toàn vẹn (số 3).

· Là giáo hội của người nghèo, là một giáo hội chọn lựa người nghèo, liên đới với họ và cố gắng bảo vệ quyền sống và phẩm giá của họ. là một giáo hội chia sẻ và phục vụ để giúp thăng tiến công bằng xã hội cho người nghèo ở nhiều mặt (số 4).

· Gia đình tại Châu Á là giáo hội tại gia của người nghèo có thể dùng đời sống bên trong của mình để loan báo lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa (số 18).

· Gia đình công giáo là đền thánh của tình yêu và sự sống, là hình ảnh của lòng từ bi và thương xót của Chúa. Gia đình phải trở thành trường học để cầu nguyện và thờ phượng (số 20).

· Mỗi gia đình công giáo phải sống cuộc đời đơn giản và chia sẻ như các Kitô hữu đầu tiên (số 21).

· Gia đình công giáo tự căn tính là một môn đệ được sai đi. Việc được sai đi chính là quyền và sở hữu của gia đình công giáo (số 22).

Tóm lại: Các đức giám mục tại Châu Á đã suy tư tìm hiểu về sân khấu hay bối cảnh của các gia đình công giáo tại Châu Á, và nhận thấy các gia đình công giáo chỉ là thiểu số (3%), và sống giữa những người đa số theo nhiều tôn giáo, nhiều nền văn hóa, và nhiều hoàn cảnh xã hội khác nhau. Vì thế các ngài muốn các gia đình công giáo không phúc âm hóa những người đó bằng cách áp đặt đạo của mình cho người khác, mà phải chọn con đường gặp gỡ, đối thoại, chia sẻ đời sống với họ. Do đó gia đình công giáo phải thấu hiểu gia đình công giáo là gì cho thật đúng, rồi còn phải sống theo một linh đạo, nghĩa là một hướng dẫn về mặt thiêng liêng để họ vừa biết sống cho đúng, vừa có thể giới thiệu gia đình công giáo cho những người thân cận theo các tôn giáo hoặc các nền văn hóa khác cũng được hiểu biết gia đình công giáo là gì và sống thế nào.

3. Một Linh Đạo Cho Gia Đình Công Giáo Tại Châu Á

3.1 Đức Hồng y Toppo chia sẻ rằng: Sân khấu xã hội và văn hóa trong thế giới thời nay đã biến đổi khác trước, khiến chúng ta "phải đi tìm một linh đạo mới cho gia đình công giáo tại Châu Á, linh đạo này đặt nền tảng trên sự gặp gỡ cá vị với Chúa Kitô, để có thể giúp các gia đình trải qua những thách đố mới, nhờ có những lúc gia đình cầu nguyện, chia sẻ Lời Chúa. Và khi tập trung linh đạo của gia đình vào Bí Tích Thánh Thể, gia đình có thể sống một đời sống làm ngôn sứ, làm " môn đệ được sai đi"để tân phúc âm hóa. Ngài còn nhấn mạnh rằng: "đối với các giám mục tại Châu Á, các gia đình công giáo là những trường học trong đó mọi người học cho biết chia sẻ niềm vui Phúc Âm và thực hành lối sống tha thứ. Gia đình giúp mọi thành viên trở nên "những môn đệ thực sự của Chúa Giêsu bằng cách vượt trên những khó khăn và những thách đố của cuộc sống". Giáo hội tại Châu Á tin tưởng các gia đình công giáo có khả năng trở thành những dụng cụ của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Đức tin hiện nay của họ đã được bồi dưỡng bởi đức tin của các tín hữu của những thế kỷ trước, họ đã chịu đựng những thời kỳ khủng bố và chia rẽ. Và "bởi vì các gia đình công giáo tại Châu Á sống tiếp xúc với các tôn giáo bạn, nên chính các gia đình công giáo này được sắp đặt tốt hơn hết để loan truyền tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa".

3.2 Còn Sứ điệp đã dành phần kết luận để đề ra cho gia đình công giáo tại Châu Á một linh đạo hiệp thông: hiệp thông của tình yêu. Sứ điệp giải thích rằng: "Lời đáp trả của gia đình trước những thách đố tại Châu Á phát xuất từ chính tâm điểm của gia đình, bởi lẽ chính ở tâm điểm của gia đình mà chúng ta gặp gỡ được tình yêu chan chứa niềm vui của Thiên Chúa từ bi và thương xót. Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương gia đình và gia đình yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi – đây phải là nguồn suối ban sự sống mà từ đó trào ra mọi thứ đáp trả, mọi thái độ hoặc việc làm mà gia đình cung cấp" (số 51). Nhờ có nền tảng chủ yếu của hiệp thông với Thiên Chúa mà trong gia đình vợ chồng sống linh đạo hiệp thông với nhau, khi chăm sóc dưỡng nuôi nhau, phục vụ nhau, sẵn sàng tha thứ, chịu đựng (số 52).

Để sống linh đạo hiệp thông, Sứ Điệp chỉ dẫn rất cụ thể:

1) Cầu nguyện là điều kiện không thể bỏ qua. Có hiệp thông với Thiên Chúa nhờ việc lần chuỗi, đọc kinh trước và sau ăn cơm, đọc và suy niệm Lời Chúa... mới dễ hiệp thông với nhau. Người chồng có trách nhiệm hướng dẫn cầu nguyện trong gia đình, chọn thánh bổn mạng cho gia đình, kể chuyện các thánh tử đạo tại Châu Á (số 53, 54, 55).

2) Tôn thờ Bí Tích Thánh Thể là đỉnh cao của đời cầu nguyện, dự lễ, rước lễ, chầu Thánh Thể (số 56).

3) Từ hiệp thông với Thiên Chúa, với nhau, gia đình vươn tới những người thân cận trong xã hội, bởi lẽ gia đình là dụng cụ của lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa, được Chúa Thánh Thần sai đi để thi hành sứ vụ thương xót (số 58).

4. Để Kết.

Chúng ta đều nhận thấy Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn các vị chủ chăn giáo hội, nhất là từ Công Đồng Vatican II đến nay, các ngài luôn tập trung quy về Chúa Kitô và phúc âm của Người, để hiệp thông với Người và với nhau mà đáp ứng các thách đố của xã hội và thế giới luôn đổi mới. Đức Phaolô VI đã chọn cho giáo hội tầm nhìn là: Giáo hội vừa phúc âm hóa chính mình, vừa phúc âm hóa thế giới. Đức Gioan Phaolô II đã khởi xướng cuộc tân phúc âm hóa cho phù hợp với thời đại. Đức Biển Đức XVI và đức Phanxicô cùng với các giám mục thế giới tiến hành việc tân phúc âm hóa thế giới, trong đó các ngài đã khuyến khích các giáo hội địa phương, đặc biệt là các giáo hội tại Châu Á thực hiện việc tân phúc âm hóa bằng tiến hành ba cuộc đối thoại: đối thoại với những người theo các tôn giáo khác (đối thoại liên tôn), theo nhiều nền văn hóa (đối thoại về văn hóa), thuộc nhiều thành phần xã hội mà đa số là người nghèo. Đang khi đó Liên Hội Đồng Giám Mục tại Châu Á, từ nhiều chục năm nay đã có những Văn phòng chuyên trách để suy tư, nghiên cứu, và năm 2016 đã đưa ra những đề nghị cho các Hội Đồng giám mục tại Châu Á: tổ chức các Ban Mục Vụ về gia đình công giáo, giúp các gia đình công giáo tại Châu Á trở thành những giáo hội tại gia của người nghèo và những nơi thi hành lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, đáp ứng những thách đố riêng biệt mà sân khấu xã hội và văn hóa của Châu Á đang đặt ra. Đề nghị này thật táo bạo và mới mẻ, nâng cao phẩm giá của gia đình công giáo, giúp họ ý thức mình là giáo hội tại gia của người nghèo, là giáo hội tại gia được Chúa Thánh Thần sai đi làm dụng cụ của lòng Chúa thương xót, để tân phúc âm hóa xã hội.

Ước mong giáo hội tại Việt Nam là thành viên của Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á, chọn lựa những đề nghị phù hợp với bối cảnh, với sân khấu của xã hội và văn hóa của Việt Nam, để làm cho gia đình công giáo tại Việt Nam đổi mới thành những giáo hội tại gia của người nghèo, những giáo hội là môn đệ được Chúa sai đi vì lòng thương xót.

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục Cần Thơ 2017

--

MỘT ĐỊNH NGHĨA VÀ LINH ĐẠO CHO GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO TẠI Á CHÂU.docx
19.6kB

Nguyen Dinh
To:Vp CTTTHNGĐ
Aug 22 at 6:12 PM
TẠ ƠN CHÚA!!! BÀI BÀI NÀY RẤT CẦN THIẾT ĐỂ SỐNG ĐẠO VÀ LÀ NỀN TẢNG VĂN HÓA&ĐẠO ĐỨC CHO CÁC GIA ĐÌNH CGVN.

*ƯỚC MONG CT TTHNGĐ CHO THÀNH CT HỌC TẬP TRONG CAC KHÓA HN CĂN BẢN, ĐỂ ÁP DỤNG THỰC HÀNH.
*NHỜ THÁNH THẦN CHÚA CANH TÂN, MONG LẮM THAY!!!???

MỜI ĐỌC ND # 8 VÀ 24
Đầy tớ: JB Maria Định Nguyễn-Huyền Đồng

-----------------------------------
Moi Tham WebSite
www.ChiaSeLoiChua.com
Pho Te Dinh

----------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 192 = 400 NAM GP QUY NHON PDF Print E-mail

THÔNG BÁO TIN VUI # 93 - Website ChiaseLoiChua.com

   *Giáo phận Qui Nhơn kỷ niệm 400 năm đón nhận Tin Mừng*

 - Tin từ Việt Nam - 31-7-2017

Người Công giáo ở giáo phận Qui Nhơn vừa khai mạc năm thánh mừng 400 năm đón nhận Tin Mừng và tưởng nhớ các vị anh hùng đã hy sinh tính mạng để loan truyền đức tin. - Đã có trên 20.300 Tín hữu tử vì đạo trong cac thế kỷ từ 17 đến 19.

Khoảng 10.000 người Công giáo đã tham dự lễ khai mạc năm thánh hôm 26-7 mừng 400 năm đạo Công giáo được truyền vào giáo phận Qui Nhơn, tại chủng viện Làng Sông thuộc tỉnh Bình Định.

Hiện diện tại sự kiện này còn có Đức Tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh của Tổng giáo phận Huế, chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam, năm giám mục khác và hàng trăm linh mục.

Trong bài giảng Đức cha Khôi Giáo phận Quy Nhơn cho biết từ cư sở này, các thừa sai bắt đầu giới thiệu đạo Công giáo cho người dân trong vùng và các vùng phụ cận, và sáng tạo chữ quốc ngữ mà ngày nay trở thành ngôn ngữ chính thức của dân tộc.

Lễ kỷ niệm này nhằm "ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân đã hiến dâng mạng sống, nước mắt mồ hôi, cho công cuộc loan báo Tin Mừng trên quê hương đất mẹ Qui Nhơn", Đức cha Khôi cho biết.

Vị giám chức cũng thúc giục cộng đoàn "noi gương các bậc tiền nhân, tiếp tục làm cho hạt giống đức tin mà các ngài đã dày công gieo vãi được trổ sinh hoa trái dồi dào".

Ngài nói các cuộc bách hại người Công giáo liền xảy ra sau khi các thừa sai đến rao giảng Tin Mừng.

Trên 20.300 người đã tử đạo trong ba thế kỷ từ 17 đến 19. Trong số họ có Thầy giảng Anrê Phú Yên (1625-1644), người chứng đầu tiên đã chết vì đức tin Công giáo ngày 26-7-1644. Ngài được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước ngày 5-3-2000. Lễ kính thánh Anrê Phú Yên, bổn mạng giáo lý viên ở Việt nam, được mừng ngày 26-7 hàng năm.

Ba thánh tử đạo khác gồm Linh mục Phanxicô  Kính, Trùm cả Anrê Nguyễn Kim Thông and Giám mục Stêphanô Thể được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong thánh ngày 19-6-1988.

Trong Thánh lễ, giáo dân cũng dâng hương trước bàn thờ các tiền nhân và thưởng thức chương trình văn nghệ diễn tả lại những khó khăn và đau khổ của giáo dân trong dòng lịch sử của giáo phận.

Giáo phận Qui Nhơn ngày nay là phần còn lại của giáo phận Đàng Trong được thành lập năm 1659. Ba giáo phận Kon Tum, Nha Trang và Đà Nẵng được tách ra từ giáo phận này.

Giáo phận bao gồm ba tỉnh Bình Định, Phú Yên và Quảng Ngãi có 72.733 giáo dân trong 60 giáo xứ và giáo họ biệt lập, do 124 linh mục và 280 nữ tu phục vụ.

Đầy tớ Định Nguyễn - Mời thăm: Website ChiaseLoiChua.com

------------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 191 - KHONG NOI 10 CAU NAY PDF Print E-mail

 

 Ác ngôn xuất khẩu, Hung thần giám lâm (2)

>>> Khẩu đức quyết định vận may, người thông minh không nói 10 câu này

KIM VU CHUYỂN
>>> Miệng có thể nói lời đẹp như hoa hồng, miệng cũng có thể nói lời độc như gai ma vương.
>>> Khẩu đức tốt mới có thể gặp vận may tốt, vận may tốt mới có thể ít đi đường vòng, thành tựu nhiều hơn. Không nói lời ác độc, không nghe lời thô lỗ. Đây là cách tu dưỡng mà chúng ta nên có.
>>>
>>> Xuất ngôn bất cẩn, tứ mã nan truy (Nghĩa:"nói ra lời bất cẩn, lấy lại không còn kịp") , hại người hại mình, vận may chắc chắn càng ngày càng kém. Bỏ được 10 cách nói chuyện tệ hại dưới đây, có được sự tu dưỡng này, bạn sẽ có thể hóa thảm cảnh thành thần kỳ, phong thủy sinh khởi vận may đến.
>>> Bỏ đa ngữ (bỏ nói nhiều)
>>>
>>> Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra. Nói chuyện không nên nói quá nhiều, nói nhiều là bị thiệt.
>>>
>>> Trong Mặc Tử có ghi, học sinh của Mặc Tử là Cầm, hỏi Mặc Tử: "Nói nhiều có ích lợi không?"
>>>
>>> Mặc Tử trả lời: "Con cóc, con ếch, cả ngày lẫn đêm đều kêu không ngừng, kêu đến khô mồm mỏi lưỡi, nhưng không có ai để tâm đến tiếng kêu của nó cả. Sáng sớm nhìn thấy con gà trống đó, gáy đúng giờ vào lúc bình minh, trời đất đều chấn động (mọi người đều thức dậy sớm). Nói nhiều thì có ích lợi gì chứ? Chỉ có lời nói được nói ra trong tình huống hợp thời cơ mới có tác dụng thôi. "
>>> Mặc Tử muốn nói với chúng ta, lời không cần nhiều, người biết nói chuyện luôn nói những lời thích đáng vào thời cơ thích đáng.
>>> Bỏ khinh ngôn (bỏ lời nói dễ dãi)
>>> Lời nói không thể nói dễ dàng, nếu thay đổi lời đã nói, chi bằng không nói. Lời không được hứa dễ dàng, nếu hứa rồi lại thay đổi, chi bằng đừng hứa. Gặp chuyện đừng tùy tiện phát ngôn, nếu không sẽ mang họa vào thân; cũng đừng dễ dàng hứa hẹn với người khác, nếu không sẽ mất chữ tín.
>>> Bỏ cuồng ngôn (bỏ lời nói ngông cuồng)
>>>
>>> Không nên không biết nặng nhẹ, mà nói bậy nói càng. Nói bậy nói càng, thường xuyên phải hối hận. Sơn Âm Kim tiên sinh thời nhà Thanh từng nói: " Làm người hành sự đừng ngông cuồng, họa phúc sâu dày tự gánh chịu ". Ngông cuồng hay khiêm tốn, điều này trực tiếp liên quan đến họa-phúc của một người. Cái mà con người thể hiện trước mặt người khác không gì khác là lời nói và hành vi, mà lời nói thì lại trực tiếp nhất, cho nên nói chuyện kỵ nhất là lời ngông cuồng. Cuồng gây chú ý, cuồng gây căm ghét, rất dễ gây ra chuyện tai họa.

>>> Bỏ trực ngôn (bỏ lời nói thẳng thừng)
>>> Không nên nói thẳng không che đậy mà không nghĩ đến hậu quả, nếu không sẽ gây ra phiền toái. Lời thẳng thắn, phải nói vòng vo một chút, lời nói lạnh lùng như băng, phải tăng thêm nhiệt khi nói, nghĩ đến sự tự tôn của người khác, đặt sự tự tôn của người khác lên vị trí số một.
>>> Bỏ tận ngôn (bỏ nói lời cạn kiệt)
>>> Nói chuyện phải súc tích, đừng nói mà không chừa đường lui. Biết hết cũng không cần nói hết, chừa chút đường lui cho người khác, để chút khẩu đức cho chính mình. Trách người không cần trách khắc khe, khoan dung với người khác một chút cũng chính là cho mình một phần linh động, một đường lui.
>>> Bỏ lậu ngôn (nói lộ chuyện)
>>> Không được tiết lộ cơ mật. Sự dĩ mật thành, ngôn dĩ lậu bại (chuyện thành do giữ bí mật, nói lộ chuyện dễ gây ra thất bại). Đối với chuyện của người khác, tuyệt đối không được tiết lộ, đây là vấn đề nhân phẩm và nguyên tắc làm người, nó cũng dễ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Khi sự việc vẫn chưa thể chắc chắn, cũng không được nói những lời quả quyết, để tránh tạo ra ảnh hưởng không tốt, làm người khác cảm thấy phù phiếm và hà khắc.
>>> Bỏ ác ngôn (lời nói ác độc)
>>> Không nói những lời vô lễ và độc ác để làm tổn thương người khác. Người xưa nói, "Đao cắt dễ lành, ác ngôn khó tan". Sự tổn thương bạn gây ra trong tâm gan người khác còn đau đớn hơn vạn lần vết thương gây ra trên thân thể.
>>>
>>> Bỏ căng ngôn (lời nói kiêu căng)
>>>
>>> Căng chính là tự đại, tự cho mình là đúng. Lão Tử nói: "tự phạt giả vô công, tự căng giả bất trưởng" . Người tự mình khoe tài ngược lại mất hết công lao, người tự đề cao bản thân sẽ không có tiến triển. Người nói lời kiêu căng, không phải kiêu ngạo thì là vô tri, dù là loại nào thì cũng đều bất lợi với sự trưởng thành của chính mình, và cũng dẫn đến sự chán ghét của người khác. Thần Hàm Quang cuối nhà Minh đầu nhà Thanh sở dĩ nói: "Tự khiêm tắc nhân dũ phục, tự khoa tắc nhân tất nghi" (tự khiêm tốn người khác phải phục, tự khen mình người khác chắc chắn nghi ngờ). Nói chuyện, không nên kiêu ngạo tự mãn, tự cho mình là đúng. Tự kiêu tự khen, là biểu hiện của thiếu bồi dưỡng phẩm tính.
>>> Bỏ sàm ngôn (lời nói bịa đặt)
>>>
>>> Sàm ngôn chính là nói những lời chê bai, những lời không tốt đằng sau lưng người khác gây ly gián, nghi kị. Người xưa cho rằng, người nói lời sàm ngôn, đều là tiểu nhân. Triết học gia Vương Sung của Đông Hán từng nói: "Sàm ngôn thương thiện, thanh dăng ô bạch" có nghĩa là không nên nói xấu sau lưng người khác bởi nó sẽ làm cho thiên hạ đều không được yên ổn.
>>> Bỏ nộ ngôn (bỏ lời nói tức giận)
>>> Lúc tức giận không nên nói gì cả, vì lời nói được nói ra vào lúc này thường không được suy xét kĩ lương nên sẽ làm tổn thương mình và người khác.
>>>
>>> NguyenDacSongPhuong H21

--------------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 190 = DI CHO TINH TIEN PDF Print E-mail

> " Đi chợ tính tiền "là một bài ca dao lục bát.
>
> Bài đã được in làm Bài HọcThuộc Lòng cho học sinh lớp "sơ đẳng" (tức lớp 3) trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư năm 1948. Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về,phải trình bày minh bạch ,rõ ràng việc chi tiêu với chồng.
>
> Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa,đồng thời nêu bật tính đảm đang,khéo vén của người phụ nữ xưa....sau đó yêu cầu học sinh học thuộc.Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ,có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958,chưa được vào trường công lập,người viết học với Ông giáo... ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn,không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?)đồng tiền cũng đã đổi thay, hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.
>
> Đã hơn năm mươi năm, bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng... một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn, nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thửa ấy.Bèn tìm giấy giải thử.
>
> Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn."Một quan tiền tốt mang đi".Một quan là bao nhiêu? Quan là đồng tiền cổ,những người muôn năm cũ giờ không còn,biết hỏi ai đây? Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:
>
> Một quan là sáu trăm đồng.
> Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.(Thơ của Nguyễn Bính).
>
> Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia,đảo xuôi ngược,lên xuống...mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền!
>
> Lại phải đi tìm trong lịch sử.Trong một ngàn năm Bắc thuộc,dân Việt không có đồng tiền riêng . Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ,dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968,Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân ,lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng,niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo.Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt.Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo .
>
> Đơn vị để tính tiền xưa gồm có :quan,tiền ,đồng.Mỗi quan có giá trị là 10 tiền,mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại.Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:
> 1/ Năm 1225,vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 70 đồng.
> 2/ Năm 1428 vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên.1 quan bằng 10 tiền.1 tiền bằng 50 đồng.
> 3/ Năm 1439,vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền ,1 tiền bằng 60 đồng.
>
> Như vậy 1 quan=10 tiền=600 đồng.
>
> Từ đó các triều đại về sau,mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này,cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.
>
> Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo.
> Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.
>
> Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được. Ghi lại như sau, bên phải là các phép tính đã giải.
>
> ĐI CHỢ TÍNH TIỀN
>
> Một quan tiền tốt mang đi, 600
> Nàng mua những gì chàng tính chẳng ra.
> Thoạt tiên mua ba tiền gà, 3x60 = 180
> Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu. 60+30+3 = 93
> Trở lại mua sáu đồng cau, = 6
> Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng. (1,5x60)+10 = 100
> Có gì mà tính chẳng thông?
> Tiền rưỡi gạo tẻ,sáu đồng chè tươi. 60+30+6 = 96
> Ba mươi đồng rượu chàng ơi, = 30
> Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng. 30+20 = 50
> Hai chén nước mắm rõ ràng,
> Hai bảy mười bốn,kẻo chàng hồ nghi. 2x7 = 14
> Hăm mốt (21) đồng bột nấu chè, = 21
> Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan. = 10
> CỘNG = 600
>
> Trong sách QVGKT, bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa, ghi nguyên văn như sau:
> "GIẢI NGHĨA: Tiền tốt =tiền tiêu được.
> Vàng =đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.
> Hồ nghi =ngờ vực,không biết rõ".
>
> Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm, dễ hiểu,dễ nhớ. Đi chợ tất phải đem theo tiền, tiền phải có giá trị trong mua bán... là chuyện đương nhiên. Nhưng sao gọi làtiền tốt? Một bài cao dao được lưu truyền, được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi, không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.
>
> Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm.Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm. Chiêu Hổ gởi tiền đến, đếm hoài vẫn chỉ thấy có 3 quan. Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:
>
> Sao nói rằng năm chỉ có ba.
> Trách người quân tử hẹn sai ra.
> Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.
> Nhớ hái cho xin nắm lá đa.
>
> Chiêu Hổ họa lại:
> Rằng gián thì năm,quý có ba.
> Bởi người thục nữ tính không ra.
> Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.
> Cho cả cành đa lẫn củ đa.
>
> Trong bài họa của Chiêu Hổ có chữ gián và quý.Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã "có công tất ...chồng không phụ", kết quả đã tìm được:
>
> Khoảng thế kỷ 18, dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành. Đó là tiền quý và tiền gián, tỷ lệ như sau: 1quan quý = 600đồng. 1 quan gián chỉ bằng 360 đồng.
>
> Khi hỏi mượn tiền, Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan, không nói là quan gì. Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống, nhưng vẫn đủ 5 quan:
>
> Quan quý : 3x600 =1800 đồng
> 1800:360 = 5 quan gián
>
> Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào? Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng.
> -Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.
> -Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.
> -Lính, thơ lại, phục dịch ...lương mỗi tháng 1quan tiền, 1 phương gạo.
>
> Đồng quan ngày xưa nó to thế. Chẳng trách người ta bỏ ...quan ra để mua phẩm hàm ,chức tước...để được làm quan! Chẳng trách người phụ nữ " thời xưa"(tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh qui về làng... cùng nhau trãi trọn trong một đêm trăng!
>
> Qua những số liệu vừa tìm được, ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng. Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền TỐT"mang đi. Tiền tốt chính làtiền quý, phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn. Cũng thấy được,người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính. Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn, kỵ giỗ chi đây!
>
>
> Thật thú vị, để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao, đã phải đi loanh quanh, lòng vòng. Gặp những bài thơ hay, giai thoại đẹp, biết thêm vài điều về lịch sử... Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ? Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm, những thư viện phải đi đến... đã thấy chồn chân chẳng muốn trèo !
>--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 28